1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kỹ năng tư vấn luật đất đai

12 86 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 671,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông K có một người con gái duy nhất là H. Vợ ông đã mất từ năm 1990, con gái ông đã lấy chồng và cả 2 vợ chồng đều ở cùng ông. Năm 2008 ông K mất, có di chúc để lại cho vợ chồng chị H căn nhà và quyền sử dụng 2ha đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm ở ngay phía sau ngôi nhà ( khi ông còn sống, con gái ông vẫn giúp cha trồng cấy trên mảnh đất đó và đến khi ông mất con gái ông vẫn tiếp tục sử dụng đất đó). Nhưng theo quy hoạch, thời gian tới, tỉnh chủ trương mở khu công nghiệp tại đây, vì vậy căn nhà và 2ha đất sẽ bị thu hồi. Theo thông báo của UBND xã về Quyết định phê duyệt phương án tổ thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng đã được UBND huyện phê duyệt thì vợ chồng chị H sẽ chỉ được bồi thường phần đất có ngôi nhà; còn 2ha đất nông nghiệp thì không được bồi thường, do thời gian còn sống, ông K chưa thực hiện xong nghĩa vụ tài chính về đất đai, mặt khác vợ chồng chị H không được thừa kế 2ha đất nông nghiệp vì chồng chị H là cán bộ nhà nước.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: KỸ NĂNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC ĐẤT

ĐAI

ĐỀ BÀI: TÌNH HUỐNG

Hà Nội, 2021

Trang 2

ĐỀ BÀI

Câu 1: Lý thuyết (4 điểm)

Hãy phân tích mục đích và ý nghĩa của kỹ năng thu thập thông tin, tài liệu trong tư vấn pháp luật đất đai?

Câu 2: Bài tập (6 điểm)

Ông K có một người con gái duy nhất là H Vợ ông đã mất từ năm 1990, con gái ông đã lấy chồng và cả 2 vợ chồng đều ở cùng ông Năm 2008 ông K mất, có di chúc để lại cho vợ chồng chị H căn nhà và quyền sử dụng 2ha đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm ở ngay phía sau ngôi nhà ( khi ông còn sống, con gái ông vẫn giúp cha trồng cấy trên mảnh đất đó

và đến khi ông mất con gái ông vẫn tiếp tục sử dụng đất đó) Nhưng theo quy hoạch, thời gian tới, tỉnh chủ trương mở khu công nghiệp tại đây, vì vậy căn nhà và 2ha đất sẽ bị thu hồi Theo thông báo của UBND xã về Quyết định phê duyệt phương án tổ thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng đã được UBND huyện phê duyệt thì vợ chồng chị H sẽ chỉ được bồi thường phần đất có ngôi nhà; còn 2ha đất nông nghiệp thì không được bồi thường, do thời gian còn sống, ông K chưa thực hiện xong nghĩa vụ tài chính về đất đai, mặt khác vợ chồng chị H không được thừa kế 2ha đất nông nghiệp vì chồng chị H là cán bộ nhà nước

Hỏi:

1 Với tư cách là chuyên gia tư vấn pháp lý, Anh (Chị) hãy xác định những vấn đề pháp lý mấu chốt trong vụ việc này để tư vấn cho gia đình chị H bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của mình?

2 Anh (Chị) hãy giúp gia đình chị H phác thảo đơn khiếu nại về chủ trương bồi thường, giải phóng mặt bằng của UBND cấp huyện đã phê duyệt?

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I, Phân tích mục đích và ý nghĩa của kỹ năng thu thập thông tin, tài liệu trong tư vấn pháp luật đất đai 1

1 Khái niệm 1

2 Đặc điểm 1

3 Mục đích và ý nghĩa của kỹ năng thu thập thông tin, tài liệu 1

II, Tư vấn cụ thể 4

1, Xác định vấn đề 4

2, Đơn khiếu nại 6

KẾT LUẬN 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO 9

Trang 4

MỞ ĐẦU

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư hiện nay quản lý về đất đai nhà

ở đang là vấn đề mang tính thời sự nóng bỏng mà Đảng và nhà nước ta quan tâm hàng đầu Trên thực tế cho thấy trong những năm gần đây việc khiếu nại của công dân, của các tổ chức kinh tế -xã hội về tranh chấp đất đai, bồi thường đất đai diễn ra ngày càng nhiều và với tính chất ngày càng phức tạp Nguyên nhân của việc khiếu nại trên là nhân dân chưa hiểu biết về luật và các văn bản luật, bên cạnh đó cũng không ít trường hợp do cơ quan thẩm quyền chưa thực hiện đúng chức năng dẫn đến một số vụ kiện trở nên rắc rối và kéo dài làm mất lòng tin của nhân dân vào đảng và Nhà Nước ta Vì vậy hiện nay khi có xảy ra vẫn đề về tranh chấp hay bồi thường đất đai cần làm rõ thì người dân thưởng tim đến các văn phòng tư vấn chuyên về lĩnh vực đất đai để được giải rõ hơn về vấn đề đang bức xúc và nhận được những hướng giải quyết thỏa đáng

NỘI DUNG

I, Phân tích mục đích và ý nghĩa của kỹ năng thu thập thông tin, tài liệu trong tư vấn pháp luật đất đai

1 Khái niệm

Thu thập thông tin nghĩa là tìm kiếm, góp nhặt và tập hợp lại Thu thập thông tin là quá trình tập hợp thông tin theo những tiêu chí cụ thể nhằm làm rõ những vấn đề, nội dung liên quan đến lĩnh vực nhất định

Kỹ năng thu thập thông tin, tài liệu là kỹ năng xác định nhu cầu thông tin, tìm nguồn thông tin, thực hiện tập hợp thông tin theo yêu cầu nhằm đáp ứng mục tiêu đã được định trước Thu thập thông tin và tài liệu trong tư vấn pháp luật là sự tương tác về mặt thông tin giữa người tư vấn và khách hàng Kỹ năng thu thập thông tin, tài liệu từ khách hàng trong tư vấn pháp luật được coi là kỹ năng tương tác thông tin, tài liệu được thực hiện bằng sự biểu hiện các hành vi: thu thập tài liệu, hành vi đặt câu hỏi và hành vi lắng nghe

2 Đặc điểm

Kỹ năng thu thập thông tin, tài liệu là hoạt động có mục đích Quá trình thu thập thông tin phải giải đáp cụ thể các câu hỏi: Thông tin này thu thập để làm gì, phục vụ cho công việc gì, liên quan đến những khía cạnh nào của vấn đề?

Kỹ năng thu thập thông tin, tài liệu phụ thuộc vào nhiều nguồn tìm kiếm khác nhau

3 Mục đích và ý nghĩa của kỹ năng thu thập thông tin, tài liệu

Trang 5

Thứ nhất, kỹ năng đặt câu hỏi

Mục đích: thu thập thông tin để hiểu bản chất sự việc; hiểu mong muốn, yêu cầu của khách

hàng; hiểu cơ sở để giải quyết vấn đề

“Đặt câu hỏi”được hiểu là việc đưa ra các thông điệp nhất định tác động đến người khác để

họ cung cấp những thông tin cần thiết Trong tư vấn pháp luật, đặt câu hỏi giúp cho người tư vấn thu được thông tin đầy đủ và chính xác về sự việc và hiểu được yêu cầu của khách hàng

Vì vậy, trước khi đặt câu hỏi, người tư vấn phải xác định được đầy đủ các nội dung cần hỏi Hành vi này giúp người tư vấn hình dung được cần phải đặt các câu hỏi về vấn đề nào, trình

tự tìm hiểu về các vấn đề đó Như vậy, xác định nội dung các vấn đề cần hỏi không chỉ cho phép người tư vấn tìm hiểu đủ và chính xác thông tin, mà còn tạo ra những điều kiện để người tư vấn có thể nhìn nhận và đánh giá vấn đề theo một trình tự logic Có nhiều loại câu hỏi được sử dụng trong tư vấn pháp luật Kỹ năng đặt câu hỏi thể hiện ở hành vi sử dụng câu hỏi phù hợp điều kiện và mục đích Khi cần thu thập được nhiều thông tin để hiểu khái quát vấn đề thì người tư vấn có thể sử dụng “câu hỏi mở” “Câu hỏi mở” là câu hỏi gợi ra câu trả lời theo bất kỳ độ dài nào Trong trường hợp cần thu được thông tin chính xác, cụ thể thì người tư vấn có thể sử dụng “câu hỏi đóng” “Câu hỏi đóng” là câu hỏi gợi ra câu trả lời

“có”hoặc “không”hoặc một từ cụ thể như "đúng”, “sai”, “chính xác”, “không chính xác” Việc sử dụng các loại câu hỏi trong tư vấn pháp luật đòi hỏi sự kết hợp logic của các câu hỏi theo những trình tự khác nhau Thông thường, người tư vấn bắt đầu bằng câu hỏi mang tính chung chung để khách hàng mô tả khái quát lại toàn bộ vấn đề, sau đó mới đặt câu hỏi về từng tình tiết cụ thể Một số chuyên gia khuyên rằng, hãy bắt đầu bằng một câu hỏi dễ trả lời

để tạo sự tự tin cho người trả lời Hành vi đặt câu hỏi khi thu thập thông tin giúp người tư vấn thông qua các câu hỏi tổ chức và điều khiển hành vi và quá trình tư duy của khách hàng theo những nội dung thông tin cần làm sáng tỏ Nếu khách hàng trình bày lan man thì nên đặt câu hỏi đóng để họ trả lời cụ thể, còn với khách hàng “nói ít”thì lại nên đặt nhiều câu hỏi

mở để kích thích họ cung cấp nhiều thông tin hơn Việc sử dụng ngôn ngữ và biểu cảm phi ngôn ngữ cũng có ý nghĩa quan trọng Khi tiếp nhận câu hỏi, người được hỏi sẽ thông qua cách thể hiện ngôn ngữ, biểu cảm nét mặt và cử chỉ phi ngôn ngữ để thông dịch câu hỏi và ý nghĩa của nó Vì vậy, việc sử dụng các biểu cảm ngôn ngữ và phi ngôn ngữ khi đặt câu hỏi thường có tác dụng gây chú ý đặc biệt đến nội dung trọng tâm của câu hỏi, đặc biệt là các câu hỏi dài Như vậy, đặt câu hỏi là hành vi tổ chức quá trình cung cấp thông tin trong tư vấn pháp luật Biết sử dụng câu hỏi phù hợp sẽ làm rõ được các nội dung thông tin cần thiết

Thứ hai, kỹ năng lắng nghe;

Lắng nghe trong tư vấn pháp luật của người tư vấn là hành vi tiếp nhận và hiểu thông tin một cách có chủ ý, có mục đích Để lắng nghe tốt, người tư vấn cần kết hợp với tư duy để

2

Trang 6

đánh giá, phân tích thông tin Như vậy, hành vi lắng nghe của người tư vấn là sự kết hợp tri giác với tư duy, kinh nghiệm để đánh giá tính chính xác và đầy đủ đối với những thông tin

mà khách hàng trình bày Hành vi đánh giá thông tin sẽ giúp cho luật sư xác định được thông tin nào quan trọng, thông tin nào hỗ trợ và sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định Điều này cho phép phân loại vụ việc cần tư vấn, tìm kiếm các văn bản pháp luật tương ứng, các tài liệu có liên quan để giải quyết Ở đây, lắng nghe giúp cho người tư vấn vạch được kế hoạch cho các bước tiếp theo của tư vấn pháp luật Lắng nghe trong tư vấn pháp luật còn là hành vi quan sát sự tinh tế, điệu bộ, cử chỉ, cách biểu cảm của khách hàng Hành vi quan sát khách hàng giúp cho luật sư hiểu được thái độ, quan điểm của khách hàng đối với sự việc, hiểu được một số các đặc điểm nhân cách của họ Điều này có ý nghĩa cho việc lựa chọn ngôn từ, hành vi phù hợp để giao tiếp với khách hàng Cũng cần chú ý rằng, khi quan sát, người tư vấn không chú trọng vào cảm xúc, trạng thái tâm lý hay lý giải các nguyên nhân trong tâm lý khách hàng, mà chú ý vào các thông tin biểu cảm phi ngôn ngữ cần cho sự tương tác về thông tin giữa người tư vấn và khách hàng Các thông tin cần thiết cho quá trình tư vấn phải được nghiên cứu và xem xét một cách hệ thống Hành vi lắng nghe trong tư vấn pháp luật được kết hợp với sự ghi chép lại thông tin Hành vi này không chỉ giúp lưu giữ thông tin, tạo cơ sở cho việc xem xét, nghiên cứu sự việc, mà còn thể hiện thái độ quan tâm đến vấn đề của khách hàng, khuyến khích họ cung cấp thông tin Khi ngừi tư vấn ghi chép, người cung cấp thông tin sẽ cảm thấy mình đang được chú ý lắng nghe, do đó họ sẽ cung cấp nhiều thông tin cho người tư vấn Lắng nghe được thể hiện qua sự phản hồi bằng hành vi

và cách biểu cảm của người tư vấn để khích lệ khách hàng Các kỹ thuật biểu cảm phi ngôn ngữ của người tư vấn khi lắng nghe như tư thế cơ thể, cử chỉ, nét mặt thể hiện thái độ cởi

mở, chăm chú và mong muốn lắng nghe Những hành vi này thể hiện người tư vấn hướng cả thể chất lẫn tinh thần về thân chủ, sẵn sàng lắng nghe và chia sẻ với thái độ không phán xét Chính điều này sẽ có vai trò khích lệ khách hàng tự tin và tích cực trong việc trình bày vấn

đề của họ Lắng nghe còn đựơc biểu thị bằng kỹ thuật diễn giải lại bằng ngôn ngữ những gì khách hàng đã cung cấp và thể hiện Những biểu hiện này không những làm cho khách hàng thấy được sự chia sẻ, sự đồng cảm mà đó còn là cách để luật sư kiểm tra lại tính đúng đắn trong nhận thức của mình về thông tin Qua đó, người tư vấn sẽ giúp khách hàng biết những

gì người tư vấn đã rõ, những gì chưa rõ và cần phải bổ sung Khi đưa ra những phản hồi trong tư vấn pháp luật, người tư vấn cần phải thận trọng, phải thể hiện thái độ trung lập đối với sự việc, tránh đưa ra những nhận xét làm ảnh hưởng tới việc cung cấp thông tin của khách hàng Sự im lặng cũng là biểu hiện của lắng nghe Nó không chỉ thể hiện sự quan tâm, tôn trọng mà còn tạo điều kiện cho người nói giãi bày những thông tin cần thiết Các chuyên gia cho rằng, để thu thập được nhiều thông tin, người hỏi không nên nói quá 25% thời gian tiếp xúc Như vậy, sử dụng kỹ năng nghe, người tư vấn không chỉ thu nhận thông tin, mà còn ảnh hưởng tới khách hàng, khích lệ họ cung cấp thông tin

Trang 7

Thứ ba, kỹ năng huy động các nguồn thông tin tài liệu có liên quan

Kiểm tra xem xét các tài liệu, có liên quan đến sự việc, yêu cầu khách hàng cung cấp các tài liệu liên quan đến vấn đề cần tư vấn Những giấy tờ tài liệu này phản ánh trực tiếp đến diễn biến của quá trình tranh chấp hoặc bản chất vụ việc mà khách hàng yêu cầu tư vấn Nếu khách hàng chưa cung cấp đủ giấy tờ, tài liệu cần thiết để giải quyết vụ việc, luật sư có thể

đề nghị khách hàng bổ sung đầy đủ vào lần gặp tới Việc thu thập tài liệu nhằm xác minh sự việc một cách khách quan, chính xác vấn đề tư vấn, từ đó giúp việc tư vấn nhanh và hiệu quả hơn

Mặt khác, nhờ việc thu thập thông tin thực sự phù hợp với yêu cầu của khách hàng, tư vấn

viên sẽ có cái nhìn tổng quát nhất về vụ việc, từ đó tìm ra được hướng giải quyết đúng trọng tâm, sát thực tiễn và thích hợp nhất đối với yêu cầu của khách hàng

II, Tư vấn cụ thể

1, Xác định vấn đề

Qua dữ kiện của đề bài thì được hiểu gia đình chị H được hưởng di sản thừa kế của bố chị H (ông K) để lại, bao gồm 2ha đất nông nghiệp và mảnh đất có nhà hiện tại đang ở Bản di chúc của ông K để lại là hợp pháp, hai mảnh đất của chị H cũng đầy đủ giấy chứng nhận và không có tranh chấp

Thứ nhất, vấn đề thừa kế

Việc vợ chồng chị H không được thừa kế 2ha đất nông nghiệp vì chồng chị H là cán bộ nhà nước là sai Vì ông K chết đã để lại di chúc cho cả chị H và chồng chị H, theo Điều 626 Bộ luật dân sự 2015 về Quyền của người lập di chúc

Người lập di chúc có quyền sau đây:

1 Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.

2 Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.

3 Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.

4 Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.

5 Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Như vậy người thừa kế di sản trong di chúc ông K để lại là vợ chồng chị H

Và theo khoản 3 Điều 191 Luật đất đai 2013 về trường hợp không được nhận chuyển nhượng thì:

4

Trang 8

“Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển

nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa”.

Trường hợp này chỉ chồng chị H do không trực tiếp sản xuất nông nghiệp, còn chị H vẫn là

người người trực tiếp sản xuất nông nghiệp Như vậy gia đình chị H có quyền hưởng di sản nhận chuyển nhượng mảnh đất này và việc cho rằng chồng chị H là cán bộ Nhà nước nên vợ chồng chị H không được thừa kế 2 ha đất nông nghiệp là không hợp lý Vì như đã nêu ở trên chị H là người có đủ điều kiện để hưởng thừa kế 2 ha đất nông nghiệp đó theo quy định của pháp luật Chị H không phải là cán bộ Nhà nước, khi ông K còn sống, chị H vẫn giúp cha trồng cấy trên mảnh đất đó, đến khi ông mất chị H vẫn tiếp tục sử dụng mảnh đất đó Hơn nữa, trong các điều khoản của pháp luật không quy định nếu chồng hoặc vợ là cán bộ Nhà nước thì không được quyền thừa kế quyền sử dụng đất Vợ chồng chị H có nhu cầu sử dụng đất và chị H có điều kiện trực tiếp sử dụng mảnh đất đó đúng mục đích cho nên họ được quyền thừa kế phần diện tích 2 ha đất nông nghiệp đó Như vậy, vợ chồng chị H đã thỏa mãn những điều kiện mà pháp luật quy định để được thừa kế 2 ha diện tích đất nông nghiệp

Thứ hai, vấn đề bồi thường, giải phóng mặt bằng

Ủy ban nhân dân huyện tiến hành thu hồi đất (2ha và căn nhà) đối với gia đình chị H là đúng, theo điểm a khoản 2 Điều 62 Luật đất đai 2013 quy định về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như sau:

“Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các trường hợp sau đây:

2 Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm:

a,Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)”.

Và vì vậy quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân huyện là đúng

Nhưng việc chị H không được bồi thường 2ha đất nông nghiệp vì lý do ông K chưa thực hiện xong nghĩa vụ tài chính là sai Theo khoản 4 Điều 93 Luật đất đai 2013 về chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, quy định như sau:

“Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường để hoàn trả ngân sách nhà nước”

Như vậy chị H vẫn được bồi thường mảnh đất đó, cho dù chưa thực hiện xong ngĩa vụ tài chính Số tiền mà chị chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính sẽ được trừ vào số tiền được nhà

Trang 9

nước bồi thường, để hoàn trả nhà nước Việc khấu trừ đối với mảnh đất này được quy định chi tiết tại khoản 1,2 Điều 30 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP như sau:

“1 Việc trừ khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai vào số tiền được bồi thường quy định tại Khoản 4 Điều 93 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

a) Khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước nhưng đến thời điểm thu hồi đất vẫn chưa nộp;

b) Số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính quy định tại Điểm a Khoản này được xác định theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

Trường hợp số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính đến thời điểm có quyết định thu hồi đất lớn hơn số tiền được bồi thường, hỗ trợ thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó; nếu hộ gia đình, cá nhân được bố trí tái định cư thì sau khi trừ số tiền bồi thường, hỗ trợ vào số tiền để được giao đất ở, mua nhà ở tại nơi tái định cư mà số tiền còn lại nhỏ hơn số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó;

c) Tiền được bồi thường để trừ vào số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính gồm tiền được bồi thường về đất, tiền được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có) Không trừ các khoản tiền được bồi thường chi phí di chuyển, bồi thường thiệt hại về tài sản, bồi thường do ngừng sản xuất kinh doanh và các khoản tiền được hỗ trợ vào khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai.

2 Đối với trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở, nhà ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền theo quy định sau:

a) Trường hợp tiền bồi thường về đất lớn hơn tiền đất ở, nhà ở hoặc tiền nhà ở tại khu tái định cư thì người tái định cư được nhận phần chênh lệch đó;

b) Trường hợp tiền bồi thường về đất nhỏ hơn tiền đất ở, nhà ở hoặc tiền nhà ở tái định cư thì người được bố trí tái định cư phải nộp phần chênh lệch, trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 22 của Nghị định này”

Như vậy thông báo của Ủy ban nhân dân xã về việc không bồi thường 2ha đất nông nghiệp

vì lý do ông K chưa thực hiện xong nghĩa vụ tài chính là sai, không đúng pháp luật

Để giải quyết được hai vấn đề trên và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của gia đình chị H, thì gia đình chị H cần làm đơn khiếu nại gửi đến Ủy ban nhân dân huyện, khiếu nại quyết định bồi thường giải phóng mặt bằng và yêu cầu giải quyết cho chị được thừa kế và bồi thường 2ha đất nông nghiệp của gia đình chị

Căn cứ vào Điều 7,8,18,21 Luật khiếu nại 2011, thì gia đình chị H có thể khiếu nại bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp, nếu việc giải quyết khiếu nại của cấp huyện đến lần thứ hai mà gia đình chị vẫn chưa đồng ý, thì gia đình chị có thể khiếu nại lên cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính

2, Đơn khiếu nại

6

Trang 10

Căn cứ khoản 2 Điều 8 Luật khiếu nại 2011 về khiếu nại bằng đơn, anh chị hãy làm theo mẫu dưới đây:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ĐƠN KHIẾU NẠI

(Về Quyết định số /QĐ-UBND của Ủy Ban nhân dân huyện )

Kính gửi: Chủ tịch UBND huyện

Tên tôi là: H (tên đầy đủ); Sinh ngày tháng năm

Nơi cấp: huyện

Thường trú tại:

Số CMND/CCCD: Ngày cấp

Hiện đang (làm gì, ở đâu):

Tôi làm đơn này xin trình bảy một vấn đề như sau: Bố tôi là K; Mẹ tôi là: (đã chết năm1990) Bố mẹ tôi có một người con gái duy nhất là tôi ( H) Tôi đã lập gia đình và cả hai vợ chồng tôi đều ở cùng bố Năm 2008 bố tôi chết, có di chúc để lại cho vợ chồng tôi căn nhà và quyền sử dụng 2 ha đất nông nghiệp để trồng cây hàng nằm ở ngay phía sau ngôi nhà (khi bố tôi còn sống, tôi vẫn giúp cha trồng cây trên mảnh đất đỏ và đền khi ông chết tôi vẫn tiếp tục sử dụng mảnh đất đất đó) Nhưng theo quy hoạch thời gian tới tỉnh chủ trương mở khu công nghiệp tại đây, vì vậy căn nhà và 2 ha đất nông nghiệp sẽ bị thu hồi Theo thông báo của UBND xã thì vợ chồng tôi sẽ chỉ được bồi thường phần đất có ngôi nhà, còn 2 ha đất nông nghiệp thì không được bồi thường Theo UBND xã thông báo là do thời gian còn sống bố tôi chưa thực hiện xong nghĩa vụ tài chính về đất đai, mặt khác vợ chồng tôi không được thừa kế 2 ha đất nông nghiệp vì chồng tôi là cán bộ Nhà nước Tôi được biết theo quy định của Pháp luật thì thông báo của UBND là sai và không đúng pháp luật Việc không được bồi thường 2 ha đất nông nghiệp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của chúng tôi đã xâm phạm quyền lợi hợp pháp của chúng tôi Nay tôi làm đơn này kính mong cơ quan có thẩm quyền thẩm tra, xác minh, giải quyết lại theo đúng pháp luật, để bảo vệ đúng quyền lợi hợp pháp của chúng tôi Tôi xin cam đoan trước cơ quan tổ chức, về nội dung khiếu nại trên là đúng sự thật và xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung đã khiếu nại Mong quý cơ quan sớm xét và giải quyết để bảo vệ quyền lợi cho chúng tôi Tôi xin chân thành cảm ơn quý cơ quan! (Địa danh ) ngày tháng năm

Ngày đăng: 06/12/2021, 10:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w