Khái niệm, đối tượng áp dụng hợp đồng lao động Khái niệm về hợp đồng lao động Để thiết lập quan hệ lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động, phải có một hình thức nào đó
Trang 1
MÔN: LUẬT LAO ĐỘNG
ĐỀ TÀI: HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
GVHD: PHAN NHẬT TÀI
NHÓM : 4 LỚP: LAW 283 A
ĐÀ NẴNG ,THÁNG 9 NĂM 2021
Trang 2STT MSSV HỌ VÀ TÊN NỘI DUNG CÔNG VIỆC ĐÁNH GIÁ
1 1740 Nguyễn Thị Thanh Nhi Mở đầu, kết luận, slide 100%
2 3134 Nguyễn Thị Bích Ngọc Nội dung, hình thức, các
loại HĐLĐ, slide
100%
3 6382 Nguyễn Thành Nhân Khái niệm, đối tượng áp
dụng, nguyên tắc giao kết 100%
4 3775 Nguyễn Hải Quân Thực trạng áp dụng HĐLĐ,
5 8560 Đặng Thị Minh Ngọc Những sai sót khi giao kết
HĐ, tổng hợp word, bổ sung nội dung HĐLĐ và thực trạng
100%
6 6388 Nguyễn Thị Thanh Xuân Khác biệt giữa tuyển dụng
LĐ theo biên chế Nhà nước
và theo chế độ HĐLĐ, thuyết trình
100%
Trang 3MỤC LỤC
MỞ BÀI 4
1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 5
1.1 Khái niệm, đối tượng áp dụng hợp đồng lao động 5
1.2 Nội dung, hình thức, các loại hợp đồng lao động 6
1.3 Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động 8
2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 8
2.1 Những sai sót thường gặp khi giao kết hợp đồng lao động 8
2.2 Thực trạng áp dụng hợp đồng lao động hiện nay 9
2.3 Sự khác biệt giữa tuyển dụng lao động theo biên chế Nhà nước và tuyển dụng lao động theo chế độ Hợp đồng lao động 11
KẾT BÀI 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 4MỞ BÀI
Hợp đồng lao động không còn quá xa lạ với mọi người khi hợp đồng lao động là một trong những nền kinh tế thị trường còn có ý nghĩa rất quan trọng hiện nay Tuy nhiên vẫn có rất nhiều trường hợp thiếu hiểu biết về hợp đồng lao động gây ra những thiệt hại đáng kể đặc biệt là cho người lao động - những người thường yếu thế hơn so với người
sử dụng lao động Hợp đồng lao động có vai rò rất quan trọng Thông qua hợp đồng lao động, quyền và nghĩa vụ giữa người lao động và người sử dụng lao động được thiết lập,
là cơ sở để giải quyết các tranh chấp Ngoài ra hợp đồng lao động cũng là một trong những hình thức pháp lí nhất để công dân thực hiện quyền làm chủ của mình, thể hiện qua việc tự do lựa chọn công việc, chỗ làm, mức lương phù hợp Lao động là nhu cầu, là đặc trưng cho hoạt động sống của con người Hoạt động lao động giúp con người hoàn thiện bản thân và phát triển xã hội Khi xã hội đã đạt đến mức độ phát triển nhất định thì
sự phân hóa, phân công lao động xã hội diễn ra như một tất yếu và ngày càng sâu sắc Chênh lệch về lợi ích của quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động với người lao động làm thuê vốn có nay càng khắc họa rõ nét hơn Do vậy, mỗi người không còn có thể tiến hành hoạt động lao động, sinh sống theo lối tự túc, đơn lẻ mà quan hệ lao động trở thành một quan hệ xã hội có tầm quan trọng đặc biệt, không chỉ đối với mỗi cá nhân
mà là sự phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia, của toàn cầu Vì vậy, cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật đối với quan hệ này Quan hệ lao động ngày càng được thiết lập theo nhiều cách thức khác nhau Hiện nay, “ hợp đồng lao động” đã trở thành cách thức
cơ bản, phổ biến nhất để thiết lập quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường Chính vì thế, chế định hợp đồng lao động cũng là tâm điểm của pháp luật nước ta nước ta
Trang 51 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
1.1 Khái niệm, đối tượng áp dụng hợp đồng lao động
Khái niệm về hợp đồng lao động
Để thiết lập quan hệ lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động, phải
có một hình thức nào đó để làm phát sinh mối quan hệ giữa hai bên chủ thể của quan hệ lao động, hình thức đó chính là hợp đồng lao động Thực chất của hợp đồng động là sự thỏa thuận giữa hai bên, một bên là người lao động đi tìm việc làm, còn bên kia là người
sử dụng lao động cần thuê mướn người làm công Trong đó người lao động không phân biệt giới tính và quốc tịch, cam kết làm một công việc cho người sử dụng lao động, không phân biệt là thể nhân hoặc pháp nhân, công pháp hay tư pháp, bằng cách tự nguyện đặt hoạt động nghề nghiệp của mình dưới quyền quản lý của người đó để đổi lấy một số tiền công lao động gọi là tiền lương Hợp đồng lao động đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế và xã hội Hợp đồng lao động là cơ sở để các để các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức tuyển chọn lao động phù hợp với yêu cầu của mình Mặt khác, hợp đồng lao động là một trong những hình thức pháp lý chủ yếu nhất để công dân thực hiện quyền làm việc, làm tự do, tự nguyện lựa chọn việc làm
Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động
về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động (Điều 13 Bộ luật lao động) Như vậy ta thấy có ba yếu tố cấu thành hợp đồng lao động :
1 Có sự cung ứng một công việc;
2 Có sự trả công lao động dưới dạng tiền lương;
3.Có sự phụ thuộc về mặt pháp lý của người lao động trước người sử dụng lao động
Phạm vi và đối tượng áp dụng hợp đồng lao động
* Đối tượng áp dụng:
Hợp đồng lao động áp dụng cho các đối tượng người lao động làm công ăn lương sau đây:
- Người lao động (không phải là công chức nhà nước) làm việc trong các đơn vị kinh tế quốc doanh, doanh nghiệp quốc phòng, các đơn vị kinh tế của lực lượng vũ trang nhân dân
- Người lao động làm việc trong các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh, làm việc cho các cá nhân, hộ gia đình, làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Người lao động làm việc trong các công sở nhà nước từ trung ương đến tỉnh, huyện và cấp tương đương, nhưng không phải là công chức nhà nước Những đối tượng khác, do tính chất và đặc điểm lao động và mối quan hệ lao động có những điểm khác biệt nên không thuộc đối tượng áp dụng hợp đồng lao động mà áp dụng hoặc sử dụng những phương thức tuyển dụng và sử dụng lao động khác theo quy định của pháp luật
Trang 6* Phạm vi áp dụng:
Các tổ chức, cá nhân sau đây khi sử dụng lao động phải tiến hành giao kết hợp đồng lao động:
a) Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;
b) Doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
c) Các cơ quan hành chính, sự nghiệp có sử dụnglao động không phải là công chức, viên chức nhà nước;
d) Các tổ chức kinh tế thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân sử dụng lao động không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ;
đ) Hợp tác xã (với người lao động không phải là xã viên), hộ gia đình và cá nhân có
sử dụng lao động;
e) Các cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao ngoài công lập;
g) Cơ quan, tổ chức, cá nhân, nước ngoài hoặc quốc tế đóng trên lãnh thổ Việt Nam
có sử dụng lao động là người Việt Nam trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác;
h) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam sử dụng lao động nước ngoài, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác
1.2 Nội dung, hình thức, các loại hợp đồng lao động
Nội dung của hợp đồng lao động
Nội dung của hợp đồng lao động là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của các bên được ghi nhận trong các điều khoản của hợp đồng
Một số nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động:
Thứ nhất, là công việc và địa điểm công việc Công việc: những công việc mà người
lao động phải thực hiện Địa điểm làm việc của người lao động: địa điểm, phạm vi người lao động làm công việc theo thỏa thuận; trường hợp người lao động làm việc có tính chất thường xuyên ở nhiều địa điểm khác nhau thì ghi đầy đủ các địa điểm đó
Thứ hai, làm rõ thời hạn của hợp đồng lao động Thời gian thực hiện hợp đồng lao
động (số tháng hoặc số ngày), thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc thực hiện hợp đồng lao động (đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động theo mùa
vụ hoặc theo một công việc nhất định); thời điểm bắt đầu thực hiện hợp đồng lao động (đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn)
Thứ ba, mức lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác Mức lương theo công việc hoặc chức danh: ghi mức lương tính theo
thời gian của công việc hoặc chức danh theo thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động; đối với người lao
Trang 77 động hưởng lương theo sản phẩm hoặc lương khoán thì ghi mức lương tính theo thời gian
để xác định đơn giá sản phẩm hoặc lương khoán
Phụ cấp lương theo thỏa thuận của hai bên như sau:
+ Các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ;
+ Các khoản phụ cấp lương gắn với quá trình làm việc và kết quả thực hiện công việc của người lao động
Các khoản bổ sung khác theo thỏa thuận của hai bên như sau:
+ Các khoản bổ sung xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương;
+ Các khoản bổ sung không xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động, trả thường xuyên hoặc không thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương gắn với quá trình làm việc, kết quả thực hiện công việc của người lao động
Đối với các chế độ và phúc lợi khác như thưởng theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật Lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân
bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác thì ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động
Hình thức trả lương do hai bên xác định theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật Lao động
Thứ tư, thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi Thời giờ làm việc trong ngày,
trong tuần; ca làm việc; thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của ngày, tuần hoặc ca làm việc; số ngày làm việc trong tuần; làm thêm giờ và các điều khoản liên quan khi làm thêm giờ Thời gian, thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc nghỉ trong giờ làm việc; thời gian nghỉ hằng tuần, nghỉ hằng năm, nghỉ lễ, tết, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương
Thứ năm, vấn đề trang bị bảo hộ lao động cho người lao động, những loại phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động theo thỏa thuận của hai bên hoặc theo thỏa ước lao
động tập thể hoặc theo quy định của người sử dụng lao động và quy định của pháp luật về
an toàn, vệ sinh lao động
Thứ sáu, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế Tỷ lệ % tính trên
tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động và của người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế Phương thức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế của người sử dụng lao động và của người lao động
Hình thức của hợp đồng lao động
Trang 8Hợp đồng lao động được giao kết dưới 2 hình thức sau:
Hợp đồng lao động bằng văn bản, được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản (có thể giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử) Hình thức lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, thì có thể giao kết bằng lời nói, trừ hợp đồng lao động với người lao động là người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người này, người lao động là người giúp việc gia đình, đại diện nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên thì bắt buộc phải được giao kết bằng văn bản
Như vậy thì việc ký kết hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản nhằm đảm bảo tính xác thực của cả hai bên Tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng phải giao kết bằng văn bản vì có trường hợp ngoại lệ Chính là trong trường hợp công việc tạm thời dưới 3 tháng thì có thể giao kết hợp đồng bằng lời nói mà không phải bằng văn bản
Các loại hợp đồng lao động:
Điều 20 Bộ luật Lao động 2019:
Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng
Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
1.3 Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
Hợp đồng nói chung và hợp đồng lao động nói riêng về bản chất là sự thoả thuận của các bên nên sự tự nguyện của các bên trong giao kết hợp đồng là điều tất yếu Cùng với yếu tố tự nguyện, việc giao kết hợp đồng lao động còn phải đảm bảo yếu tố bình đẳng Hai yếu tố này thường đi liền với nhau bởi chỉ khi các bên thực sự bình đẳng với nhau mới đảm bảo cho các bên tự nguyện khi giao kết hợp đồng và hợp đồng mới thực sự
là kết quả của sự thương lượng, thoả thuận giữa các bên Ngoài sự tự nguyện và bình đẳng, việc giao kết hợp đồng còn phải đảm bảo yếu tố thiện chí, hợp tác, trung thực Để các bên có thể thương lượng, thoả thuận được với nhau cũng như việc giao kết hợp đồng lao động để đi đến kết quả cần đạt được Sau đây là những ý chính trong nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động:
- Hợp đồng lao động được giao kết trực tiếp giữa người lao động với người sử dụng lao động
- Hợp đồng lao động có thể được ký kết giữa người sử dụng lao động với người được uỷ quyền hợp pháp thay mặt cho nhóm người lao động; trong trường hợp này hợp đồng có hiệu lực như ký kết với từng người
- Người lao động có thể giao kết một hoặc nhiều hợp đồng lao động, với một hoặc nhiều người sử dụng lao động, nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các hợp đồng đã giao kết
Trang 9- Công việc theo hợp đồng lao động phải do người giao kết thực hiện, không được giao cho người khác, nếu không có sự đồng ý của người sử dụng lao động
2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
2.1 Những sai sót thường gặp khi giao kết hợp đồng lao động
Không hiểu biết về luật có thể là nguyên nhân khiến nhiều người lao động mắc phải những sai sót trong quá trình ký kết hợp đồng Vì thế, để phòng tránh thì nên chủ động cập nhật các thông tin về luật lao động hiện hành trước khi ký kết hợp đồng lao động chính thức Ngoài việc giúp phòng tránh những sai sót thì nắm vững các quy định về luật lao động hiện thời giúp đàm phán tốt hơn với doanh nghiệp, nhằm đảm bảo quyền lợi của của người lao động Các lỗi thông thường là người không phải là người đại diện theo pháp luật của công ty nhưng vấn đứng ra thay mặt công ty ký các hợp đồng mà không có văn bản ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của công ty Tuy nhiên, có một sai sót mà ít ai để ý Đó là khi giao kết các hợp đồng có giá trị lớn, nhất là các hợp đồng đầu
tư (mua cổ phần của công ty khác )
Nội dung của hợp đồng trái pháp luật là sai sót phổ biến nhất Bởi vì, các bên nhiều
khi không nắm được hết các qui định của luật điều chỉnh Nhiều hợp đồng lao động, người sử dụng lao động buộc người lao động phải đặt cọc tiền và hàng tháng trích 15% lương để làm tiền đặt cọc, …
Kỹ thuật soạn thảo thường bị mắc lỗi ở nhiều hợp đồng, có thể là cố ý cũng có thể
là vô ý, tùy từng hoàn cảnh Các lỗi kỹ thuật phổ biến là: ngôn ngữ sử dụng không rõ ràng, trong sáng và nhất quán, sử dụng những câu không rõ nghĩa hoặc gây ra nhiều cách hiểu khác nhau; sử dụng sai thuật ngữ; các nội dung, điều khoản trong hợp đồng mẫu thuẫn nhau; không tương thích hóa nội dung của hợp đồng chuẩn với luật áp dụng; hợp đồng quá sơ sài, đại khái không có giá trị trong việc giải quyết các vướng mắc, tranh chấp
Bỏ qua một số thủ tục bắt buộc Một số hợp đồng muốn có hiệu lực thì phải được
thông qua một số thủ tục luật định như công chứng, đăng ký, phê chuẩn tại bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nhưng các bên lại bỏ qua các thủ tục quan trọng này
2.2 Thực trạng áp dụng hợp đồng lao động hiện nay
Hiện nay, hợp đồng lao động là hình thức pháp lý của quan hệ lao động cá nhân, là
cơ sở pháp lý phát sinh quan hệ lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động Chính vì vậy, hợp đồng lao động luôn giành được sự quan tâm từ khía cạnh luật pháp cũng như từ phía các chủ thể thực thi, áp dụng hợp đồng lao động Qua các lần sửa đổi, bổ sung bộ luật lao động thì trong hợp đồng lao động là chương có số lượng điều luật sửa đổi, bổ sung nhiều nhất Điều này đánh giá được rằng mức độ của Hợp đồng lao động trong thực tiễn áp dụng và phát sinh cần sửa đổi và bổ sung Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về HĐLĐ cũng phát sinh nhiều vấn đề bất cập Việc giao kết sai loại hợp đồng còn diễn ra phổ biến, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động Nội dung giao kết trong hợp đồng lao động còn sơ sài, không bảo đảm các nội dung tối thiểu theo quy định của pháp luật Tình trạng chấm dứt hợp đồng lao động, sa thải người lao động trái pháp luật diễn ra khá phổ biến, dẫn tới việc nhiều tranh chấp lao động phát sinh
Trang 10Thực trạng hiện nay là quyền lợi hợp pháp của lao động hiện vẫn chưa được người
sử dụng lao động thực hiện đầy đủ Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do một bộ phận người sử dụng lao động lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người lao động và kẻ hở của pháp luật để lách luật nhằm thu lợi cho mình Không ích công ty, xí nghiệp , để xây dựng được những hợp đồng “ưu việt” nhằm bẫy khách hàng, các công ty thường thuê nhiều luật sư giỏi về lách luật, về câu chữ để khi xảy ra những sự cố do khách quan hoặc chủ quan thì chủ đầu tư cũng có lợi trong khi đó đại bộ phận người lao động lại bị thiệt thòi
Phổ biến là người sử dụng lao động không kí hợp đồng với người lao động Điều này là vi phạm pháp luật nhưng lao động nhưng do sự thiếu hiểu biết của người lao động nên các công ty, doanh nhiệp, … vẫn ung dung thu lợi mà không ảnh hưởng gì, chỉ khi có
sự cố “ngoài ý muốn” thì sự việc mới lộ ra Trong khi người lao động bị thiệt thòi bấy lâu nay thì doanh nghiệp chỉ bị xử lí chưa thấm vào đâu Một số doanh nghiệp còn tìm cách kéo dài thời gian thử việc quá quy định, gây thiệt thòi cho người lao động
Một tình trạng nữa là người sử dụng lao động ký hợp đồng lao động với người lao động theo mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định mà không theo thu nhập thực tế như hai bên đã thỏa thuận Phần chênh lệch giữa thu nhập thực tế và mức lương ký trong hợp đồng được diễn giải bằng một loạt phụ cấp, trợ cấp với nhiều tên gọi, mức áp dụng, hình thức áp dụng khác nhau như: phụ cấp chuyên cần, phụ cấp hiệu quả công việc, phụ cấp vị trí công việc Ðiều này có lợi nhiều cho doanh nghiệp, gây thiệt hại không nhỏ cho người lao động Trước mắt, người sử dụng lao động giảm được tiền bảo hiểm xã hội tính trên tỷ lệ tiền lương được ghi trong hợp đồng và khi cần họ có quyền giảm bớt thu nhập của người lao động bằng cách cắt giảm hợp pháp các khoản phụ cấp Như vậy, người lao động bị "thiệt đơn, thiệt kép"
Họ vừa bị giảm thu nhập, vừa phải nhận lương thấp sau nhiều năm làm việc Trong trường hợp rơi vào tình trạng mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động phải hưởng trợ cấp từ Quỹ bảo hiểm xa hội thì thu nhập của họ rất thấp
Không chỉ có vậy, một số người sử dụng lao động không ký kết đúng loại hợp đồng lao động, hình thức hợp đồng lao động, không ghi rõ các khoản phụ cấp Nhiều doanh nghiệp ký hợp đồng lao động với người lao động một cách hình thức, không ghi cụ thể và
rõ ràng các điều khoản về chức danh công việc, mức lương, phụ cấp, số ngày nghỉ hằng năm…
Thêm vào đó tình trạng doanh nghiệp không đóng bảo hiểm cho người lao động, không đảm bảo các chế độ nghỉ phép, thai sản, tiền thưởng cho người lao động là phổ biến Thực chất khoản tiền mà doanh nghiệp sử dụng lao động chi trả cho doanh nghiệp cho thuê lao động cũng không bao gồm các khoản chi phí này Bởi vậy, ở đây, doanh nghiệp sản xuất né tránh được các nghĩa vụ với người lao động Có ý kiến lên án hoạt động này là “kinh doanh trên nước mắt người lao động”, trong đó doanh nghiệp cho thuê lao động là “cai thầu ngồi mát ăn bát vàng” và cùng với doanh nghiệp sử dụng lao động tạo thành “liên minh trục lợi”