1. KHÁI NIỆM VỀ THỊ PHẦN 3 2. CÁCH XÁC ĐỊNH THỊ PHẦN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH 3 3. TÁC ĐỘNG CỦA THỊ PHẦN TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH 5 4. SO SÁNH QUY ĐỊNH THỊ PHẦN TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH CỦA CÁC NƯỚC 5 5. Ý NGHĨA CỦA QUY ĐỊNH THỊ PHẦN TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH 7 6. KẾT LUẬN 10 TÀI LIỆU THAM KHẢO 11 1. KHÁI NIỆM VỀ THỊ PHẦN 3 2. CÁCH XÁC ĐỊNH THỊ PHẦN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH 3 3. TÁC ĐỘNG CỦA THỊ PHẦN TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH 5 4. SO SÁNH QUY ĐỊNH THỊ PHẦN TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH CỦA CÁC NƯỚC 5 5. Ý NGHĨA CỦA QUY ĐỊNH THỊ PHẦN TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH 7 6. KẾT LUẬN 10 TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 1KHOA LUẬT KINH DOANH
ĐỀ TÀI:
THỊ PHẦN VÀ Ý NGHĨA CỦA THỊ PHẦN ĐỐI VỚI HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH
GVHD: TS TRẦN THĂNG LONG SVTH:
1 Huỳnh Thanh Nhân
2 Nguyễn Hải Long An
3 Nguyễn Khánh Toàn
4 Nguyễn Hữu Phương
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Đề tài 15
Trang 2Học phần : LUẬT CẠNH TRANH
Lớp LKD VB2 (15C13110307202) tại giảng đường B511 (Tối thứ 4)
ĐỀ TÀI:
THỊ PHẦN VÀ Ý NGHĨA CỦA THỊ PHẦN ĐỐI VỚI
HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH PHÂN CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA NHÓM
Họ và tên Nhiệm vụ được phân công Đánh giá của Trưởng nhóm
1 HUỲNH THANH NHÂN
MSSV: 33131021455 - VB16LA003
LẬP DÀN Ý TÌM TÀI LIỆU THAM KHẢO Hoàn thành tốt & đúng hạn
2 NGUYỄN HẢI LONG AN
MSSV: 33131022026 - VB16LA003
NỘI DUNG 1, 2, 3 Hoàn thành tốt & đúng hạn
3 NGUYỄN KHÁNH TOÀN
MSSV: 33131021646 - VB16LA003
NỘI DUNG 6 TỔNG HỢP BÀI TIỂU LUẬN
Hoàn thành tốt & đúng hạn
4 NGUYỄN HỮU PHƯƠNG
MSSV: 33121026028 - VB15LA004
NỘI DUNG 4, 5 Hoàn thành tốt & đúng hạn
MỤC LỤC
1 KHÁI NIỆM VỀ THỊ PHẦN 3
Trang 32 CÁCH XÁC ĐỊNH THỊ PHẦN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH 3
3 TÁC ĐỘNG CỦA THỊ PHẦN TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH 5
4 SO SÁNH QUY ĐỊNH THỊ PHẦN TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH CỦA CÁC NƯỚC 5
5 Ý NGHĨA CỦA QUY ĐỊNH THỊ PHẦN TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH 7
6 KẾT LUẬN 10 TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 41 KHÁI NIỆM VỀ THỊ PHẦN
Thị phần là tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường của một doanh nghiệp trên một thị trường nhất định
Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hoá, dịch vụ nhất định là tỷ
lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ
đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm (Theo Khoản 5 Điều 3 Luật cạnh tranh 2004)
Thị phần kết hợp: là tổng thị phần trên thị trường liên quan của các doanh
nghiệp tham gia vào thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế
Thị phần của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp trong tổng thị phần về một hàng hóa, dịch vụ nhất định trên thị trường liên quan là căn cứ để xác định các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm; xác định doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường; xác định các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm
2 CÁCH XÁC ĐỊNH THỊ PHẦN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH
Theo quy định tại Điều 1 của Luật cạnh tranh 2004, lĩnh vực áp dụng (phạm
vi điều chỉnh) được áp dụng đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp
xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh và theo Nghị định 116/2005/ NĐ-CP hướng dẫn, chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh và tố tụng cạnh tranh
Hành vi hạn chế cạnh tranh
Theo Luật Cạnh tranh, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi
Trang 5thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế
Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được quy định trong Luật Cạnh tranh gồm 8 loại thoả thuận sau:
Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ;
Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ;
Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;
Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận;
Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ
Đối với những hành vi từ 1 đến 5, nếu các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên thì sẽ bị cấm Luật cũng cấm các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đối với các hành vi từ 6 đến 8
Đối với việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp được coi là
có vị trí này khi doanh nghiệp đó có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể
Đối với nhóm doanh nghiệp, họ được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau:
- Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;
- Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;
Trang 6- Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan.
3 TÁC ĐỘNG CỦA THỊ PHẦN TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH
Theo Luật Cạnh tranh, doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền khi trên thị trường liên quan không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ đối với hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó đang kinh doanh Để ngăn ngừa những doanh nghiệp lợi dụng vị trí độc quyền trong kinh doanh, Luật Cạnh tranh nêu rõ những hành vi bị cấm như bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành nhằm mục đích loại bỏ đối thủ, áp đặt những điều kiện, cách thức bất lợi buộc doanh nghiệp khác phải chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến hợp đồng, ngăn cản việc tham gia thị trường của doanh nghiệp mới Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước hay cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích thì được Nhà nước kiểm soát thông qua các quyết định giá mua, giá bán, số lượng, phạm vi thị trường khi các doanh nghiệp tham gia các hoạt động này
Đối với việc tập trung kinh tế, Luật Cạnh tranh xác định có bốn loại hành vi chính, đó là: sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh giữa các doanh nghiệp Theo đó, các hành vi này sẽ bị cấm khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% thị phần liên quan trừ khi một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong tình trạng phá sản, giải thể hoặc khi tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu, góp phần phát triển kinh tế
-xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ Trường hợp các doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì không bị xác định là tập trung kinh tế
4 SO SÁNH QUY ĐỊNH THỊ PHẦN TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH CỦA CÁC NƯỚC
Thị phần là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh: Thị phần = doanh số bán hàng của doanh nghiệp / Tổng doanh số của thị trường ;
Trang 7Thị phần = Số sản phẩm bán ra của doanh nghiệp / Tổng sản phẩm tiêu thụ của thị trường
Thị phần nói rõ phần sản phẩm tiêu thụ của riêng doanh nghiệp so với tổng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường Để giành giật mục tiêu thị phần trước đối thủ, doanh nghiệp thường phải có chính sách giá phù hợp thông qua mức giảm giá cần thiết, nhất là khi bắt đầu thâm nhập thị trường mới
Ví dụ: trong nghành ngân hàng, thị phần về cho vay của một ngân hàng chính
là doanh số cho vay của ngân hàng đó so với tổng dư nợ của toàn nghành ngân hang
Doanh nghiệp nào chiếm được thị phần lớn sẽ có lợi thế thống trị thị trường Tùy theo tính chất nghành nghề c ũng như sản phẩm, dịch vụ khác nhau, có các định nghĩa khác nhau phù hợp về thị phần
Về cơ bản, các quy định về thị phần của các nước trên thế giới đều dẫn đến kết quả là sức mạnh của các doanh nghiệp trên thị trường, và thị phần còn được gọi là thước do sức mạnh của một doanh nghiệp trên thị trường
“Chiếm vị trí thống lĩnh thị trường (mà độc quyền chỉ là trường hợp đặc biệt khi không còn đối thủ cạnh tranh), vẫn luôn là mục tiêu và động lực của doanh nghiệp, vì ở vị thế này, họ có thể dễ dàng đạt lợi nhuận tối ưu nhất Cuộc chạy đua giành vị trí thống lĩnh thị trường cũng góp phần thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả Vì vậy, không ai cấm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường cả Luật Cạnh tranh chỉ cấm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và không cho phép hình thành vị trí thống lĩnh thị trường nào có nguy cơ lạm dụng cao
Việt nam chưa có định nghĩa thế nào là "vị trí thống lĩnh thị trường" Theo cách nhìn của Tòa án Châu Âu - được hầu hết các nước phát triển đồng tình - một cách tổng quát nhất, thì đó là vị trí quyền lực (sức mạnh) trên thị trường của một doanh nghiệp cho phép nó cản trở việc duy trì sự cạnh tranh thực sự trên thị trường liên quan Luật cạnh tranh của ta chỉ nêu hai yếu tố để coi một dianh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường là có thị phần từ 30% trở lên, hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh
Trang 85 Ý NGHĨA CỦA QUY ĐỊNH THỊ PHẦN TRONG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH
Như đã đề cập phần trên, thị phần còn được xem là thước do sức mạnh của một doanh nghiệp trên thị trường
Một khi xác định được thị phần của một doanh nghiệp, tức là xác định doanh nghiệp đang đứng ở đâu trong thị trường, từ đó doanh nghiệp sẽ xây dựng cho mình một chiến lược marketing phù hợp nhằm đáp ứng các mục tiêu của doanh nghiệp đó, xem liệu việc hy sinh các chi phí lớn cũng như các lợi ích khác để đánh đổi lấy một thị phần lớn hơn , để có một số lợi ích và có thõa đáng cho sự đánh đổi này không
Trong nền kinh tế thị trường, việc cạnh tranh là không thể tránh khỏi, các doanh nghiệp cố gắng chiếm thị phần càng cao càng tốt, để tang sức mạnh thị trường , từ đó có thể hạn chế sản lượng, tang giá bán trên mức cạnh tranh và kiếm lợi nhuận độc quyền Chúng ta có thể thấy việc này là doanh nghiệp có thể tang doanh thu từ việc tang giá bán sản phẩm hoặc tang giá bán sản phẩm mà doanh thu không bị giảm
Vì thế, khi xuất hiện các trường hợp này, người tiêu dung sẽ chịu tổn thất nhiều nhất Và để hạn chế việc canh tranh không lành mạnh từ việc độc quyền, luật pháp các nước có quy định riêng, nước ta có luật canh tranh, trong đó sẽ hạn chế một số doanh nghiệp độc quyền nhằm tạo ra môi trường canh tranh tương đối lành mạnh cho thị trường
LIÊN HỆ THỰC TẾ
Cạnh tranh vốn là một hiện tượng ’’xưa như trái đất’’ trong lịch sử cuộc sống
xã hội loài người Hoạt động cạnh tranh diễn ra khi nhiều người cố gắng đạt được cùng một mục đích Cạnh tranh xuất hiện trong rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống Cạnh tranh được đề cập đến ở đây là Cạnh tranh trong kinh tế
“Thực tế xây dựng và áp dụng Luật chống Cạnh tranh không lành mạnh
với những kết quả đáng buồn (giảm đáng kể đầu tư nước ngoài, phá hỏng môi trường cạnh tranh qua việc hình thành-một cách không kiểm soát được- những
Trang 9trung tâm độc quyền…) ở một số nước đang phát triển cho thấy tầm quan trọng không thể bỏ qua của việc xác định Luật này cần bảo vệ ai và bảo vệ cái gì?
a) Gốc rễ Pháp lý của Luật chống Cạnh tranh không lành mạnh chính là một trong những quyền cơ bản của con người được Hiến pháp các nước công nhận
và bảo vệ: Quyền tự do phát triển nhân cách và cuộc sống của mình.Từ đó mà mỗi người đều có quyền tự do hoạt động kinh tế theo hình thức và phương thức do mình tự do lựa chọn Nhưng quyền tự do hoạt động kinh tế này sẽ phải dừng lại ở nơi nó có thể hạn chế, xâm phạm quyền tự do ấy của người khác Luật chống Cạnh tranh không lành mạnh qui định những hoạt động cạnh tranh bị cấm vì chúng có thể hạn chế quyền tự do của người khác Như vậy, Luật chống Cạnh tranh không lành mạnh bảo vệ những người cạnh tranh trong thị trường, mà cụ thể
là bảo vệ quyền tự do hoạt động kinh tế bình đẳng của mỗi người
b) Chỉ mới gần đây, người tiêu thụ mới được công nhận là thành phần tham gia hoạt động thị trường và vì vậy, quyền tự do căn bản của họ cũng phải được bảo vệ Trong khuôn khổ của Luật Cạnh tranh, quyền tự do này thể hiện qua quyền tự do quyết định dùng hay không dùng hàng hóa, dịch vụ Luật chống Cạnh tranh không lành mạnh chỉ bảo vệ quyền tự do quyết định này của người tiêu thụ nên không thể thay thế Luật bảo vệ người tiêu thụ
c) Cạnh tranh mặc dù diễn ra giữa những người cạnh tranh trong những lĩnh vực cụ thể nhưng có một tác động xã hội rất lớn Nó không những ảnh hưởng đến những người cạnh tranh trong các lĩnh vực khác, mà còn tác động đến quyền lợi của tất cả mọi người tham gia hoạt động thị trường Và vì thế, quyền lợi và những quan tâm chung của xã hội cũng là đối tượng bảo vệ của Luật chống Cạnh tranh không lành mạnh Do đó trong một số trường hợp, Nhà nước với tư cách người đại diện quyền lợi chung của xã hội cũng có thể là người khởi kiện
d) Mỗi người cạnh tranh đều có quyền tự do hoạt động kinh tế, vì vậy không ai được phép cản trở người khác thực hiện hoạt động thu hút người tiêu thụ như chính mình muốn làm Luật chống Cạnh tranh không lành mạnh không cho phép cạnh tranh chống nhau, mà chỉ cho phép cạnh tranh bên nhau nhằm thu hút người tiêu thụ Và bởi cuộc cạnh tranh này không được phép ảnh hưởng tiêu cực hay xâm phạm quyền tự do quyết định của người tiêu thụ ( nghĩa là phải loại bỏ sự
Trang 10lừa dối dẫn đến ngộ nhận, loại bỏ cưỡng ép vật lý và tâm lý lên người tiêu thụ), nên công cụ duy nhất được công nhận trong Cạnh tranh lành mạnh chính là Hiệu quả hoạt động sản xuất-kinh doanh của mỗi người cạnh tranh (Cạnh tranh Hiệu quả) Cạnh tranh Hiệu quả (chẳng hạn nâng cao chất lượng đồng thời hạ giá thành sản phẩm v…v.) là cuộc cạnh tranh mang ý nghĩa tích cực, chủ động, thúc đẩy hoạt động mở rộng khả năng tiêu thụ bằng chính sức lực của người cạnh tranh Nó không cản trở hoạt động chào hàng của người cùng cạnh tranh khác và vì vậy khuyến khích mở rộng, khai thác thị trường mới Ngược lại, cạnh tranh không thông qua Hiệu quả là cuộc cạnh tranh cản trở mang ý nghĩa tiêu cực Người hoạt động cạnh tranh cản trở chỉ nhằm cản trở người cùng cạnh tranh khác để mở đường tiêu thụ hàng hóa của mình Kiểu cạnh tranh này loại bỏ khả năng chào hàng của người cùng cạnh tranh và dẫn đến đóng cửa thị trường Như vậy, đối tượng bảo vệ của Luật chống Cạnh tranh không lành mạnh chính là Cạnh tranh Hiệu quả Có thể nói Cạnh tranh Hiệu quả cũng là Cạnh tranh lành mạnh
Bên canh đó, Một số nguyên nhân chủ yếu, thường được nhắc đến, khiến cho
Luật chống Cạnh tranh không lành mạnh (chống độc quyền) trở thành lực
cản trong hoạt động kinh tế ở các nước đang phát triển là:
a) Trong soạn thảo luật:
– Cố gắng bao quát hết mọi hành vi bị cấm bằng những định nghĩa cụ thể: Tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự đan quyện ngày càng chặt chẽ giữa các thị trường quốc gia, quốc tế sẽ làm cho những qui định như vậy nhanh chóng trở thành lạc hậu và không thể áp dụng Một ví dụ: Luật chống Cạnh tranh không lành mạnh của CHLB Đức ra đời năm 1834 đã định nghĩa cụ thể hầu như toàn bộ hành vi cạnh tranh bị cấm Vì vậy nó không theo kịp sự phát triển kinh tế, không bao quát nổi những hành vi không lành mạnh mới xuất hiện và nhanh chóng mất tác dụng Khắc phục nhược điểm này, Luật chống Cạnh tranh không lành mạnh nổi tiếng của Đức (UWG ) ra đời năm 1909 đã áp dụng một nguyên tắc soạn thảo khác hẳn, nên bao quát được mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong mọi giai đoạn phát triển kinh tế và đến nay vẫn không bị lạc hậu, mặc dù nó ra đời đã gần 100 năm nay
– Chưa xác định rõ ràng mục tiêu bảo vệ cụ thể: