đề tài Pháp luật về hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics và thực tiễn thực hiện tại công ty Schenker Việt Nam Tính cấp thiết của đề tài LỜI MỞ ĐẦU Dịch vụ logistics tuy còn là một hoạt động thương mại khá mới mẻ ở Việt Nam nhưng lại có vai trò lớn đối với hoạt động của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế trong việc đmar bảo thời gia, chất lượng hàng hóa, chi phí vận chuyển, bảo quản và phân phối hàng hóa trên cơ sở tối ưu hóa các khâu trong chuỗi cung ứng, mang lại giá trị kinh tế cho các doanh nghiệp. Trong điều kiện hội nhập quốc tế và khu vực, vai trò và tầm quan trọng của dịch vụ logistics càng được khẳng định và trở thành cầu nối cho sự phát triển, mở rộng giao lưu thương mại không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn vươn ra tầm quốc tế. Nhận thức điều đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định vai trò của logisitics trong “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020” là một trong các dịch vụ có giá trị cao và cần “hiện đại hóa và mở rộng các dịch vụ có giá trị gia tăng cao như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, logistics và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác.” Với mục tiêu tìm hiểu kỹ hơn về những quy định của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ logistics cũng như thực tiễn áp dụng tại các công ty logistics hiện hành, em xin chọn đề tài “Pháp luật về hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics và thực tiễn thực hiện tại công ty Schenker Việt Nam”. Do sự hạn chế về thông tin tìm kiếm nên bài viết còn rất nhiều những sai sót không đáng có, rất mong thầy/cô bỏ qua cho em. Mục tiêu nghiên cứu + Nghiên cứu các cơ sở lý luận, thực tiễn và các cơ sở pháp lý trong kinh doanh dịch vụ logistics. + Phân tích vai trò, vị trí của dịch vụ logistics; đánh giá thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics của Việt Nam để nêu ra được những bất cập còn tồn tại. 2 + Đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện về kinh doanh dịch vụ logistics của Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu + Những quy định cơ bản của pháp luật Việt Nam về kinh doanh dịch vụ logistics được quy định ở các bộ luật khác nhau như Luật Thương mại 2005, Bộ luật Hàng hải 2005, Nghị định 163/2017/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ logistics, Nghị định 140/2007/NĐ-CP, Nghị định 128/2007/NĐ-CP. + Thực tiễn áp dụng pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics của công ty Schenker Việt Nam. Bộ cục và kết cấu của bài Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, bài gồm 3 chương: Chương I: Cơ sở lý luận pháp luật về hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics Chương II: Thực trạng áp dụng pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics tại công ty schenker Chương III: Một số giải pháp, khuyến nghị nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về dịch vụ logistics ở Việt Nam.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
Tính cấp thiết của đề tài 2
Mục tiêu nghiên cứu 2
Phạm vi nghiên cứu 3
Bộ cục và kết cấu của bài 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS 4
1: Logistics và dịch vụ logistics 4
2: Pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics 7
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY SCHENKER 17
1: Giới thiệu chung về công ty Schenker 17
2: Đánh giá thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics của công ty logistics và thực tiễn áp dụng tại công ty Schenker 19
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS Ở VIỆT NAM 25
1: Những bất cập trong quy định pháp luật Việt Nam về dịch vụ logistics 25
2: Các giải pháp cụ thể để hoàn thiện những bất cập 26
Kết luận 26
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài
Dịch vụ logistics tuy còn là một hoạt động thương mại khá mới mẻ ở Việt Nam nhưng lại
có vai trò lớn đối với hoạt động của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế trong việc đmar bảo thời gia, chất lượng hàng hóa, chi phí vận chuyển, bảo quản và phân phối hàng hóa trên cơ sở tối ưu hóa các khâu trong chuỗi cung ứng, mang lại giá trị kinh tế cho các doanh nghiệp
Trong điều kiện hội nhập quốc tế và khu vực, vai trò và tầm quan trọng của dịch vụ logistics càng được khẳng định và trở thành cầu nối cho sự phát triển, mở rộng giao lưu thương mại không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn vươn ra tầm quốc tế Nhận thức điều đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định vai trò của logisitics trong “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020” là một trong các dịch vụ có giá trị cao và cần
“hiện đại hóa và mở rộng các dịch vụ có giá trị gia tăng cao như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, logistics và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác.”
Với mục tiêu tìm hiểu kỹ hơn về những quy định của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ logistics cũng như thực tiễn áp dụng tại các công ty logistics hiện hành, emxin chọn đề tài “Pháp luật về hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics và thực tiễn thực hiện tại công ty Schenker Việt Nam” Do sự hạn chế về thông tin tìm kiếm nên bài viết còn rất nhiều những sai sót không đáng có, rất mong thầy/cô bỏ qua cho em
Mục tiêu nghiên cứu
+ Nghiên cứu các cơ sở lý luận, thực tiễn và các cơ sở pháp lý trong kinh doanh dịch vụ logistics
+ Phân tích vai trò, vị trí của dịch vụ logistics; đánh giá thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics của Việt Nam để nêu ra được những bất cập còn tồn tại
Trang 3+ Đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện về kinh doanh dịch vụ logistics của Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu
+ Những quy định cơ bản của pháp luật Việt Nam về kinh doanh dịch vụ logistics được quy định ở các bộ luật khác nhau như Luật Thương mại 2005, Bộ luật Hàng hải 2005, Nghị định 163/2017/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ logistics, Nghị định
140/2007/NĐ-CP, Nghị định 128/2007/NĐ-CP
+ Thực tiễn áp dụng pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics của công ty Schenker Việt Nam
Bộ cục và kết cấu của bài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, bài gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận pháp luật về hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics
Chương II: Thực trạng áp dụng pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics tại công ty schenker
Chương III: Một số giải pháp, khuyến nghị nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về dịch
vụ logistics ở Việt Nam
Trang 4NỘI DUNGCHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS
Căn cứ cơ sở pháp lý
- Bộ luật dân sự năm 2015
- Luật thương mại năm 2005
- Luật đầu tư năm 2014
- Nghị định 163/2017/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ logistics
1: Logistics và dịch vụ logistics
a: Logisitics và các hoạt động trong logistics
Logistics là quá trình lên kế hoạch, áp dụng và kiểm soát các luồng dịch chuyến hàng hóahay các thông tin liên quan đến nguyên nhiên liệu vật tư (đầu vào) và sản phẩm cuối cùng(đầu ra) từ điểm xuất phát tới điểm tiêu thụ Hiểu đơn giản nhất, Logistics là một phần của Chuỗi cung ứng bao gồm tổng thể các hoạt động liên quan đến hàng hóa như đóng gói, vận chuyển, lưu kho, bảo quản, cho tới khi hàng được lưu chuyển đến người tiêu dùng cuối cùng
Chúng ta có thể khái quát các hoạt động của logistics qua sơ đồ sau:
Qua sơ đồ, ta có thể hiểu rằng, hoạt động logisitics là một chuỗi các hoạt động cung ứng nguyên vật liệu và phân phối hàng hóa đúng số lượng, đúng nơi, đúng thời điểm nhằm tiết kiệm chi phí và tạo ra giá trị lợi nhuận cho doanh nghiệp ứng dụng logistics trong sảnxuất kinh doanh Vì đây là hoạt động dây chuyền, nên nếu logistics được tối ưu thì quá trình kinh doanh cũng được tối ưu Khi sản phẩm được vận chuyển tới tay khách hàng,
Nơi cung
cấp nguyên
vật liệu
Kho chứa nguyên vật liệu
Nhà máy sản xuất
Kho chứa thành phẩm
Thị trường tiêu dùng
Trang 5giá trị và tính cạnh tranh thương hiệu sẽ tăng lên Hiệu quả cảu logistics không chỉ áp dụng cho các hoạt động thương mại trong nước mà nó còn có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia trên thế giới.
b: Khái niệm dịch vụ logistics
Trong điều kiện phát triển của kinh tế thị trường, các hoạt động thương mại phát triển phong phú, đa dạng và đan xen lẫn nhau Việc một doanh nghiệp chỉ bằng năng lực của mình thực hiện tất cả các quá trình giao lưu thương mại ngày càng trở nên ít dần Để chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng thường phải trải qua rất nhiều công đoạn khác nhau, nên nếu tự mình tiến hành tất cả các công việc nêu trên thì doanh nghiệp
sẽ không đủ năng lực chuyên môn cũng như kinh phí để thực hiện Do vậy dịch vụ
logistics ra đời
Theo điều 233, Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Dịch vụ logisitics là hoạt động thương mại, theo đó các thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm: nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, thủ tục giấy tờ khác,
tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao Dịch vụ
logistics được phiên âm ra tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc.”
Xét một cách tổng quan, dịch vụ logistics là một hoạt động thương mại “trọn gói” trong kinh doanh logistics, từ việc lên kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát hàng hóa, vận chuyển hàng hóa đến nơi tiêu thụ cuối cùng, nhằm thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, an toàn, liên tục, hiệu quả với một mức chi phí tối thiểu Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics được khách hàng trả tiền công và các khoản chi phí hợp lý khác từ việc cung ứng dịch vụ Đây là một loại dịch vụ mang tính liên hoàn, chuỗi các dịch vụ gắn kết tương đối chặt chẽ với nhau
Dịch vụ logistics được phân chia thành 3 nhóm chính là: dịch vụ logistics chủ yếu; dịch
vụ logistics vận tải và dịch vụ logistics liên quan
Dịch vụ logistics chủ yếu bao gồm:
Trang 6 Bốc dỡ hàng hóa: đóng hàng lên container, dỡ hàng từ container
Dịch vụ kho bãi: lưu trữ hàng hóa (tính cả kinh doanh cho thuê kho bãi
Dịch vụ đại lý vận tải: thực hiện thủ tục hải quan, bốc dỡ hàng hóa, đóng gói, đóngthùng gỗ chèn lót cho hàng hóa,
Dịch vụ bổ trợ: bảo quản hàng hóa lưu kho, xử lý đơn hàng bị khách hoàn trả, kiểm tra hàng lưu kho, kiểm tra và xử lý hàng hóa quá hạn, lỗi mốt, cho thuê, mua bán container, tái phân phối hàng hóa,
Nhóm dịch vụ vận tải bao gồm:
Dịch vụ vận tải hàng hóa
Dịch vụ vận tải nội thủy địa
Dịch vụ vận tải đường hàng không
Dịch vụ vận tải đường sắt
Dịch vụ vận tải đường bộ
Dịch vụ vận tải đường ống
Nhóm dịch vụ logistics liên quan khác bao gồm:
Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật
Dịch vụ bưu chính
Dịch vụ thương mại buôn bán
Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối và giao hàng
Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác
Dịch vụ logistics đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo thuận lợi cho thương mại nói riêng và cho việc phát triển kinh tế của một quốc gia nói chung Nó là huyết mạch trong toàn bộ quá trình lưu thông hàng hóa nội địa và quốc tế, cụ thể:
Dịch vụ logistics giúp tiết kiệm chi phí trong quá trình vận chuyển, phân phối hàng hóa trên thị trường Dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho chi
Trang 7phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông Do đó, giảm thiểu được chi phí này sẽ góp phân làm cho giá cả hàng hóa trên thị trường giảm giúp, mang lạinhiều lợi ích cho khách hàng, tăng yếu tố cạnh tranh trong doanh nghiệp.
Dịch vụ logistics góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế Các nhà sản xuất muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình cần phải có sự hỗ trợ củadịch vụ logistics Dịch vụ này có tác dụng như cầu nối trong vận chuyển hàng hóa trên các tuyến đường đến các thị trường mới theo đúng yêu cầu về thời gian, địa điểm
Ngoài ra, dịch vụ logistics góp phần làm giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế, góp phần nâng cao hiệu quả pháp lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp, góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp giao nhận
2: Pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics
Pháp luật về kinh doanh dịch vụ logisitics là một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành Luật kinh tế (Luật thương mại, Luật Kinh doanh) bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật, các quy tắc xử sự, hệ thống các quy định do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể tiến hành các hoạt động kinh doanh dịch
vụ logistics
Nội dung của pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics
a: Chủ thể thực hiện kinh doanh dịch vụ logistics
Chủ thể của quan hệ dịch vụ bao gồm hai bên là người làm dịch vụ logistics và khách hàng Người làm dịch vụ phải là thương nhân, có đăng ký kinh doanh để thực hiện dịch
vụ logistics Thủ tục đăng ký kinh doanh được thực hiện theo các đạo luật đơn hành, phụ thuộc vào hình thức pháp lý của thương nhân Băng chứng của việc đăng ký kinh doanh
là thương nhân này được cơ quan đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trong đó ghi rõ ngành nghề kinh doanh là dịch vụ logistics
Khách hàng là những người có hàng hóa cần gửi hoặc nhận và có nhu cầu sử dụng dịch
vụ logistics Khách hàng có thể là người nhận, người gửi, người vận chuyển, hay cũng có
Trang 8thể là người làm dịch vụ logistics khác Nhu vậy, khách hàng có thể là thương nhân hoặc không phải thương nhân, có thể là chủ sở hữu hàng hóa hoặc không phải chủ sở hữu hànghóa.
b: Điều kiện kinh doanh hoạt động dịch vụ logisitcs
Điều kiện kinh doanh là những yêu cầu mà Nhà nước đặt ra buộc các chủ thể kinh doanh phải đáp ứng được khi thực hiện kinh doanh trong những ngành nghê kinh doanh có điều kiện Đây là công cụ giúp Nhà nước quản lý nền kinh tế
Điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới các hình thức như: giấy phép kinh doanh, các điều kiện về tiêu chuẩn môi trường, các điều kiện về vệ sinh an toàn thức phẩm, các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, trật tự xã hội, an toàn giao thông,
Theo quy định tại điều 4 Nghị định của Chính phủ số 163/2017/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch logisitics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
1 Thương nhân kinh doanh các dịch vụ cụ thể thuộc dịch vụ logistics quy định tại Điều 3Nghị định này phải đáp ứng các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luậtđối với dịch vụ đó
2 Thương nhân tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng
mở khác, ngoài việc phải đáp ứng theo quy định của pháp luật đối với các dịch vụ cụ thể quy định tại Điều 3 Nghị định này, còn phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử
3 Điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics:
Ngoài việc đáp ứng các điều kiện, quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, nhà đầu tư nước ngoài thuộc nước, vùng lãnh thổ là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới được cung cấp dịch vụ logistics theo các điều kiện sau:
Trang 9a) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển (trừ vận tảinội địa):
Được thành lập các công ty vận hành đội tàu treo cờ Việt Nam hoặc góp vốn, mua
cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49% Tổng số thuyền viên nước ngoài làm việc trên các tàu treo cờ quốc tịch Việt Nam (hoặc được đăng ký ở Việt Nam) thuộc sở hữu của cáccông ty này tại Việt Nam không quá 1/3 định biên của tàu Thuyền trưởng hoặc thuyền phó thứ nhất phải là công dân Việt Nam
Công ty vận tải biển nước ngoài được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua
cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp
b) Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ vận tải biển (có thể dành riêng một số khu vực để cung cấp các dịch vụ hoặc áp dụng thủ tục cấp phéptại các khu vực này), được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50% Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
c) Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu
tư nước ngoài không quá 50%
d) Trường hợp kinh doanh dịch vụ thông quan thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.đ) Trường hợp kinh doanh các dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải, được
Trang 10thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước.
e) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%
g) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ, đượcthực hiện thông qua hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51% 100% lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam
h) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thực hiện theo quy định của pháp luật về hàng không
i) Trường hợp kinh doanh dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật
Đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ được thực hiện dưới hình thức doanh nghiệp trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước sau ba năm hoặc dưới hình thức doanh nghiệp trong đó không hạn chế vốn góp nhà đầu tư nước ngoài sau năm năm, kể từ khi nhà cung cấp dịch vụ tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó
Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các
phương tiện vận tải
Việc thực hiện dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng
Trang 114 Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng áp dụng của các điều ước quốc tế
có quy định khác nhau về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics, nhà đầu tư được lựa chọn áp dụng điều kiện đầu tư quy định tại một trong các điều ước đó
c: Hình thức thỏa thuận giữa chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics và chủ thể thuê dịch vụ logistics
Trong hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics luôn cần có sự tham gia của hai bên chủ thể
là bên cung cấp dịch vụ logistics và bên sử dụng dịch vụ logistics Vậy nên, để đảm bảo mối quan hệ mua – bán này được diễn ra suôn sẻ, đúng pháp luật, có lợi cho đôi bên, các bên tham gia mối quan hệ này phải có một sự thỏa thuận với nhau Sự thỏa thuận đó chính là hợp đồng dịch vụ logistics Đây cũng là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp nếu có phát sinh trong quá trình hợp tác giữa hai bên
Trong một cuốn sách tựa đề The handbook of Logistics Contract (Sổ tay hợp đồng
logistics): Joan Jane and Alfonso de Ochoa 2006 có đoạn viết: Về mặt khái niệm, có thể định nghĩa hợp đồng dịch vụ logistics là một hợp đồng dưới tên một bên thứ ba, gọi là nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba - 3PL, chịu trách nhiệm trước một bên khác để cung cấp các dịch vụ logistics mà họ cần về sau, đổi lại nhà cung cấp được trả những lợi ích kinh tếkhác Điều quan trọng để đưa ra định nghĩa một cách rõ ràng như vậy vì sự đa dạng của hoạt động này có thể bao gồm, giới hạn dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ này có thể được yêu cầu và sẽ làm mất đi tính tự nhiên của cụm từ “logistics.”
3PL - Third party logistics: Người cung cấp dịch vụ sẽ thay mặt chủ hàng quản lý và thựchiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận, 3PL gồm nhiều các dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin… và có tính tích hợp vàodây chuyền cung ứng của khách hàng
Theo pháp luật Việt Nam, tại điều 513 Bộ luật Dân sự năm 2015: Hợp đồng dịch vụ là sựthỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ Đối
Trang 12tượng của hợp đồng dịch vụ là một công việc cụ thể, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Luật Thương mại năm 2005 quy định: Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo
đó bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận Như vậy, HĐDV thể hiện tính thương mại rõ ràng Cung ứng dịch vụ là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bên cung ứng thực hiện việc cung ứng để thu lợi nhuận và bên còn lại trả tiền
Như vậy, dưới góc độ pháp lý và căn cứ vào những quy định pháp luật Việt Nam và những lí luận trên đây, ta có thể khái quát định nghĩa hợp đồng logistics như sau: hợp đồng kinh doanh dịch vụ logistics là thỏa thuận giữa các bên, có hiệu lực bắt buộc thực hiện về một đối tượng xác định có liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics,
từ đó phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên
Do tính chất phức tạp của dịch vụ logistics nên thực thế, hợp đồng dịch vụ logistics bắt buộc phải bằng văn bản Hợp đồng dịch vụ logistics là một hợp đồng phức tạp với một chuỗi các dịch vụ gắn liền với quyền lời và trách nhiệm của các bên, phí dịch vụ, thời điểm dịch chuyển rủi ro, các trường hợp miễn trách nhiệm của người chuyên chở, các vănbản quy phạm pháp luật có liên quan có quy định bắt buộc hợp đồng phải được lập bằng văn bản Nếu không tuân thủ điều kiện về hình thức này thì hợp đồng có thể bị vô hiệu, hoặc khi có tranh chấp xảy ra các sẽ không có căn cứ để giải quyết các vấn đề tranh chấp.Hợp đồng dịch vụ logistics là toàn bộ các điều khoản mà các bên đã giao kết trên cơ sở tựnguyện, tự do ý chí, dựa trên các quy định của pháp luật Luật Thương mại 2005 không quy định cụ thể về các nội dung chủ yếu của hợp đồng dịch vụ logistics nhưng với tính chất của hợp đồng dịch vụ thì hợp đồng dịch vụ logistics có các nội dung chủ yếu sau: đối tượng, phí dịch vụ, kết quả của dịch vụ, chế tài phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại,giới hạn trách nhiệm và các trường hợp miễn trách nhiệm đối với người làm dịch vụ, chấm dứt hợp đồng dịch vụ, các trường hợp bất khả đáng, cơ chế giải quyết tranh chấp,
Trang 13Hợp đồng dịch vụ logistics là một công cụ, là cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp thực hiện và quản trị hoạt động kinh doanh của mình Thông qua hợp đồng, doanh nghiệp xác định được chi phí giá cả trong một thời gian nhất định, tránh được những rủi ro tiềm ẩn xảy ra tranh chấp trong tương lai.
d: Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của bên cung cấp dịch vụ logistics
Theo điều, Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
1 Thương nhân có quyền được hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thực hiện các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng với mục đích được hưởng thù lao, do đó, đây là quyền cơ bản và quan trọng nhất đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Trong quá trình thực hiện dịch vụ, có thể phát sinh những chi phí khác do thay đổi của khách hàng, thay đổi chính sách, thay đổi về điều kiện thực hiện, những chi phí này được khách hàng chi trả Tuy nhiên, nếu những chi phí phát sinh mà khách hàng cho rằng không hợp lý, khách hàng có thể từ chối chi trả
2 Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng Khi xảy ra trường hợp
có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng để xin chỉ dẫn Sự chỉ dẫn của khách hàng là những yêu cầu riêng biệt của khách hàng trong quá trình thực hiện dịch
vụ logistics được liệt kê trong hợp đồng dịch vụ logistics bao gồm: chỉ dẫn trong bốc xếp hàng hoá, chỉ dẫn trong giao nhận, chỉ dẫn trong vận chuyển hàng hoá, Trong quá trình thực hiện dịch vụ, thương nhân phải thực hiện đầy đủ các chỉ dẫn của kháchhàng Trong một số trường hợp, thương nhân sau khi cân nhắc một cách cẩn thận, tính toán hợp ỉí và thấy có những việc phải thực hiện để đảm bảo lợi ích cho khách hàng, thương nhân có thể thực hiện khác với chỉ dẫn nhưng phải thông báo ngay cho