1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰ đề TÀI CHẾ ĐỊNH ĐỒNG PHẠM NỘI DUNG VÀ ý NGHĨA

17 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 374,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦUTrong các vấn đề về Hình sự, đồng phạm cũng như phạm tội có tổ chức được xem như là một trong các vấn đề có tính phức tạp cả về lý luận và thực tiễn.. Đồng phạm là hình thức p

Trang 1

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA LUẬT QUỐC TẾ

-TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

HỌC PHẦN: LUẬT HÌNH SỰ

ĐỀ TÀI: CHẾ ĐỊNH ĐỒNG PHẠM: NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Lan

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thảo Trang Lớp : LQT47C2

Mã số sinh viên : LQT47C1 - 0299

Hà Nội

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 2

PHẦN NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1 3

CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁC HÌNH THỨC ĐỒNG PHẠM 3

1.1 KHÁI NIỆM ĐỒNG PHẠM 3

1.2 CÁC HÌNH THỨC ĐỒNG PHẠM 4

1.3 NHỮNG LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHẠM 7

CHƯƠNG 2 11

CÁC VẤN ĐỀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH ĐỒNG PHẠM TẠI VIỆT NAM 11

2.1 THỰC TIỄN TÌNH HÌNH TỘI PHẠM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỒNG PHẠM Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 11

PHẦN KẾT 13

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS Bộ luật Hình sự

TNHS Trách nhiệm Hình sự

PLHS

Pháp luật Hình sự

CTTP Cấu thành tội phạm

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong các vấn đề về Hình sự, đồng phạm cũng như phạm tội có tổ chức được xem như là một trong các vấn đề có tính phức tạp cả về lý luận và thực tiễn Đồng phạm là hình thức phạm tội khá “đặc biệt”, vấn đề này yêu cầu những điều kiện riêng đi kèm, không giống với bất cứ trường hợp phạm tội riêng lẻ nào khác về cả số lượng người tham gia phạm tội, mối liên hệ giữa các đối tượng trong cùng một vụ án cũng như động cơ, mục đích của nhóm tội phạm Trong đồng phạm, mỗi người khi thực hiện tội phạm giữ vai trò khác nhau

Sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa những người cùng tham gia thực hiện tội phạm càng củng cố quyết tâm phạm tội đến cùng của cả nhóm, chỉ riêng điều này đã thể hiện tính chất và mức độ nguy hiểm đáng kể của những tội phạm có đồng phạm Dù là nhìn ở góc độ pháp lý hay góc độ đạo đức, xã hội thì đồng phạm so với tội phạm do một người thực hiện thường nguy hiểm hơn, khi một nhóm nhiều hơn một người cùng cố ý tham gia thực hiện hành vi phạm tội, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội sẽ tăng lên đáng kể, nhất là khi có sự tổ chức chặt chẽ, chuẩn bị cẩn thận và lên kế hoạch từ trước

Hiện nay, ở nước ta, sự xuất hiện của các băng nhóm tội phạm đang ngày càng tăng lên cả về số lượng, sự công khai cũng như mức độ nguy hiểm của chúng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến an sinh xã hội và nhiều mặt khác của xã hội Chính vì vậy, việc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm dưới hình thức đồng phạm nói riêng là việc làm thường xuyên, cấp bách, luôn nhận được sự quan tâm, chú trọng đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề, em quyết định chọn “Chế định Đồng phạm: Nội dung

và Ý nghĩa” làm đề tài cho bài tiểu luận kết thúc học phần của mình

Tiểu luận gồm có phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Phần nội dung chủ yếu bao gồm các vấn đề lý luận cơ bản về

Trang 6

chế định đồng phạm; các vấn đề thực tiễn về việc áp dụng pháp luật về các hình thức đồng phạm tại Việt Nam

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁC HÌNH THỨC ĐỒNG PHẠM

1.1 KHÁI NIỆM ĐỒNG PHẠM

Tìm hiểu dọc theo tiến trình lập pháp hình sự của nước ta, có thể thấy vấn đề đồng phạm đã được xuất hiện và quy định từ rất sớm Trong Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) đã đề cập đến vấn đề đồng phạm tại các điều 35, 36,

116, 411, 412, 454, 469 Tuy nhiên, đó mới chỉ là sự xem xét ở một số khía cạnh nhất định, chưa hề có quy định cụ thể về khái niệm đồng phạm Bộ luật thời đó mới chỉ thể hiện tính đồng phạm thông qua các nguyên tắc trừng trị tội phạm:

“Những kẻ mưu phản nước theo giặc thì xử chém, nếu đã hành động thì xử tội

bêu đầu, kẻ biết việc ấy thì cũng đồng tội” (Điều 412).1

Ngoài ra, các Bộ luật, văn bản luật khác như Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ) hay Hoàng Việt hình luật (1933) cũng có đề cập đến vấn đề đồng phạm, song, vẫn chưa có quy định nào về khái niệm đồng phạm

Đến tận năm 1985, Bộ luật Hình sự của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 với năm lần sửa đổi, bổ sung (1989, 1991, 1992, 1997, 2017),

quy định tại khoản 1, Điều 17: “Hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một

tội phạm là đồng phạm”.2 Đồng phạm ở đây chỉ sự kiện đồng phạm, quan hệ đồng phạm, người đồng phạm bao gồm cả người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức - khác với nghĩa người đồng phạm chỉ là người

1 Quốc triều hình luật (1995), Nxb Chính trị quốc gia.

2 Bộ luật Hình sự năm 1985.

Trang 7

đồng thực hành trong các Bộ luật, văn bản luật được ban hành trước đó Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc đưa ra quy định cụ thể, rõ ràng về khái niệm đồng phạm Sau BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 tiếp tục quy định khái

niệm pháp lý về đồng phạm tại khoản 1, Điều 20: “Đồng phạm là trường hợp

có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”3

Từ khái niệm pháp lý trên về đồng phạm và thực tiễn xét xử cho thấy, đồng phạm đòi hỏi phải có những dấu hiệu pháp lý về cả mặt khách quan và chủ quan:

❖ Dấu hiệu về mặt khách quan:

Đòi hỏi phải có sự cùng tham gia của từ hai người trở lên vào việc thực hiện tội phạm, những người này đều có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS; những người đồng phạm phải cùng chung hành động, có nghĩa là hành vi của mỗi người trong số họ đều nhằm thực hiện tội phạm, hoặc góp phần thực hiện tội phạm; giữa hành vi phạm tội của mỗi người và hậu quả phạm tội chung xảy

ra phải có mối quan hệ nhân quả

❖ Dấu hiệu về mặt chủ quan:

Đòi hỏi có sự cùng cố ý của tất cả những người phạm tội tham gia vào thực hiện tội phạm do cố ý với các dấu hiệu: những người cùng tham gia đều biết được hoạt động phạm tội của mỗi người; tất cả đều ý thức được hành vi phạm tội của mình và hành vi phạm tội của người khác; những người đồng phạm cùng mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả chung nguy hiểm cho xã hội xảy ra

Tóm lại, từ những phân tích trên, dưới góc độ pháp luật hình sự, có thể đưa ra

khái niệm về đồng phạm như sau: “Đồng phạm là hình thức phạm tội do hai

người trở lên cố ý cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm”.

3 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Trang 8

1.2 CÁC HÌNH THỨC ĐỒNG PHẠM

Hình thức đồng phạm là dạng biểu hiện bên ngoài, là phương thức tồn tại và phát triển của đồng phạm đồng thời là mối quan hệ tương đối bền vững giữa

những người đồng phạm Có thể hiểu, “hình thức đồng phạm là sự thể hiện mối

quan hệ giữa những người đồng phạm qua mức độ phối hợp và phân công việc thực hiện hành vi đồng phạm”.

Khoa học luật hình sự Việt Nam căn cứ vào những đặc điểm của mối quan hệ

giữa những người đồng phạm về mặt chủ quan và khách quan để phân loại các hình thức đồng phạm

1.2.1 Căn cứ vào dấu hiệu khách quan, đồng phạm được phân loại thành đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp.

❖ Đồng phạm giản đơn (đồng phạm đồng thực hành)

Theo khoa học luật hình sự Việt Nam: “Đồng phạm giản đơn là hình thức

đồng phạm, trong đó những người cùng tham gia vào vụ phạm tội đều có vai trò là người thực hành”4

Ví dụ: A, B, C tổ chức đi uống bia tại quán của chị D Sau khi say rượu, A

gây rối và cãi nhau với chị H, đập phá đồ đạc ở quán của chị Anh E hàng xóm thấy sự chẳng lành nên xang can ngăn nhưng hai tên A và B vẫn tiếp tục chửi bới, đập phá cho đến khi công an đến can thiệp Tòa án nhân dân đã tuyên bố A

và B phạm tội gây rối trật tự công cộng Đây có thể xem là hình thức đồng phạm giản đơn, cả hai tên A và B đều là người cùng thực hành

❖ Đồng phạm phức tạp

Theo giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Đồng phạm phức tạp là

hình thức đồng phạm, trong đó có một hoặc một số người tham gia giữ vai trò người thực hành, còn những người đồng phạm khác giữ vai trò xúi giục, tổ chức hay giúp sức”5

4 Trường đại học Luật Hà Nội (2000), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân.

5 Trường đại học Luật Hà Nội (2000), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân.

Trang 9

Ví dụ: A muốn có tiền để mua quà tặng bạn gái nhân ngày Valentine nên đã

nảy sinh ý định cướp giật tài sản trên cầu Y A đã rủ rê, lôi kéo B và C thực hiện hành vi cướp giật cùng mình Do đã có sự quan sát từ nhiều ngày trước, A biết anh D là người có tiền, thường xuyên đi thu tiền trọ về qua cầu Y vào buổi xế chiều Vì vậy, A giao nhiệm vụ cho B giả vờ bị anh H đâm vào khi anh này đi lên trên cầu để anh H dừng lại và xuống xe, giao nhiệm vụ cho C đánh anh H bất tỉnh, sau đó A đâm một vào bụng anh H rồi cướp toàn bộ số tiền trên người anh H và chiếc xe máy SH của anh H Trong vụ án này, tòa án kết luận, A, B, C đồng phạm tội cướp tài sản; A giữ vai trò người tổ chức và người thực hành, B

và C giữ vai trò người thực hành và người giúp sức

1.2.2 Căn cứ vào dấu hiệu chủ quan, đồng phạm được phân loại thành đồng phạm có thông mưu trước và đồng phạm không có thông mưu trước.

❖ Đồng phạm không có thông mưu trước

Đồng phạm không có thông mưu trước được hiểu là hình thức đồng phạm trong đó giữa những người đồng phạm không có sự thỏa thuận, bàn bạc trước về tội phạm cùng thực hiện

Ví dụ: A, B, C và D đang trên đường về nhà sau khi đi nhậu với nhau về A

thấy khát nước nên tạt vào cửa hàng tiện lợi gần đó mua nước uống, B, C, D ở bên ngoài chờ Trong khi đang chờ A thì thấy một đôi học sinh nam nữ đi qua,

B, C, D buông lời chọc ghẹo em học sinh nữ và giữ em lại không cho em đi tiếp Thấy vậy, em học sinh nam lên tiếng can ngăn thì bị B, C, D lao vào đánh tới tấp A mua nước xong đi ra ngoài thấy bạn mình đang đánh người thì cũng lao vào đấm đá vào người em học sinh nam Tổ chức giám định pháp y tỉnh đã tiến hành giám định thương tích đối với em học sinh nam và xác định tỷ lệ thương tật 17% Tòa án kết luận A, B, C, D đồng phạm tội cố ý gây thương tích

Ở đây, cả bốn tên đều là người đồng thực hành, chúng nhất trí với nhau ở hiện trường và thực hiện tội phạm ngay lập tức tại thời điểm đó Trường hợp này có

Trang 10

thể thấy rõ tính chất đồng phạm không thông mưu khi có người đang thực hiện tội phạm thì người khác mới tham gia

❖ Đồng phạm có thông mưu trước

Đồng phạm có thông mưu trước là hình thức đồng phạm trong đó giữa những người đồng phạm đã có sự thỏa thuận, bàn bạc trước về tội phạm cùng thực hiện Do có sự bàn bạc, thỏa thuận, tính toán kỹ càng chu đáo từ trước nên giữa những người đồng phạm có mối liên hệ chặt chẽ trong việc cùng tham gia thực hiện tội phạm chung Do vậy, hình thức đồng phạm có thông mưu trước có độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn hình thức đồng phạm không có thông mưu trước

1.3 NHỮNG LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHẠM

Khoản 2, Điều 17 BLHS năm 1985 lần đầu tiên chính thức quy định về người

đồng phạm như sau: “Người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người

giúp sức đều là những người đồng phạm” Khoản 3, Điều 17 BLHS năm 2015

tiếp tục giữ nguyên quy định này của BLHS năm 1985

Như vậy, có thể hiểu, người đồng phạm là người thỏa mãn các dấu hiệu chủ thể của tội phạm, đã cố ý tham gia vào việc thực hiện tội phạm do cố ý cùng với người khác

Tóm lại, có thể nói rằng cơ sở để phân biệt những loại người đồng phạm là vai trò, tính chất sự tham gia của họ vào việc thực hiện tội phạm BLHS nước ta

đã dựa trên cơ sở khoa học này để quy định những loại người đồng phạm là người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức

1.3.1 Người thực hành

Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự nước ta đã cho thấy, các quy định của PLHS Việt Nam cho đến trước khi ban hành BLHS năm 1985 cũng đã đề cập đến người thực hành với các cách gọi khác nhau như: chính phạm, đồng phạm, bọn tham gia v.v

Trang 11

Khoản 2, Điều 17 BLHS năm 1985 và khoản 3, Điều 17 BLHS năm 2015 đã

chính thức quy định định nghĩa pháp lý của người thực hành: “Người thực hành

là người trực tiếp thực hiện tội phạm” Từ định nghĩa có thể thấy, trong bất kỳ

vụ đồng phạm nào cũng đều phải có người thực hành Nếu không có người thực hành thì tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mục đích phạm tội chưa được thực hiện, hậu quả vật chất của tội phạm chưa xảy ra

Trong khoa học pháp lý hình sự, khái niệm người thực hành trong đồng phạm được hiểu là người tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP hoặc là người thực hiện hành vi đó qua hành vi của người khác mà người này không phải chịu TNHS vì những lý do khác nhau Người thực hiện tội phạm cũng được hiểu là người tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP hoặc là người không tự mình thực hiện hành vi đó mà thông qua người khác nhưng người này không phải chịu TNHS vì những lý do khác nhau Có thể thấy, về hành vi khách quan, người thực hiện phạm tội và người thực hành trong đồng phạm là giống nhau Tuy nhiên, hành vi của người thực hành trong đồng phạm phải là thực hiện toàn bộ (hoặc một phần) hành vi khách quan được mô tả trong CTTP của loại tội cố ý, còn hành vi của người thực hiện tội phạm luôn luôn là thực hiện toàn bộ hành vi khách quan được mô tả trong CTTP của một loại tội bất kỳ Trên đây là sự khác biệt cơ bản giữa người thực hiện phạm tội và người thực hành trong đồng phạm

Nhìn chung, người thực hành có hai dạng:

Dạng 1: Tự mình thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành

tội phạm (như trực tiếp thực hiện hành vi đâm, bắn)

Dạng 2: Không tự mình trực tiếp thực hiện hành vi khách quan mà có hành

vi tác động đến người khác để người này trực tiếp thực hiện hành vi khách quan

Trang 12

Nhưng người bị tác động là người trực tiếp thực hiện hành vi khách quan không phải chịu trách nhiệm hình sự Chúng thuộc các trường hợp phổ biến sau:

➔ Do người thực hiện hành vi không có năng lực trách nhiệm hình sự

➔ Họ không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý

➔ Họ bị cưỡng bức về tinh thần trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự

1.3.2 Người tổ chức

Khoản 2 Điều 17 BLHS năm 1985 cũng như khoản 3 Điều 17 BLHS năm

2015 quy định về người tổ chức như sau: “Người tổ chức là người chủ mưu,

cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm”

❖ Người chủ mưu: là người chủ động về mặt tinh thần trong việc gây ra tội

phạm, có sáng kiến thành lập các băng, ổ, nhóm tội phạm, đề xuất những âm mưu và vạch ra đường lối, phương hướng hoạt động chung cho tổ chức tội phạm, đồng thời thúc đẩy đồng bọn hoạt động phạm tội

❖ Người cầm đầu: là người đứng ra thành lập các băng, ổ, nhóm phạm tội

hoặc tham gia vào việc soạn thảo kế hoạch, phân công, giao trách nhiệm, đôn đốc đồng bọn thực hiện tội phạm

❖ Người chỉ huy: là người giữ vai trò trực tiếp điều khiển việc thực hiện

hoạt động phạm tội cụ thể của các băng, ổ, nhóm tội phạm; trực tiếp đôn đốc đồng bọn làm theo mệnh lệnh của mình hay theo kế hoạch phạm tội mà tổ chức vạch ra

Có thể nói, người tổ chức là người đồng phạm thành lập nhóm tội phạm hoặc điều khiển nhóm tội phạm thực hiện tội phạm cụ thể dưới dạng chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy

Trang 13

1.3.3 Người xúi giục

Trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất BLHS năm 1985, khái niệm người xúi giục đã từng được đề cập với các tên gọi: người xúi giục, người gây việc v.v BLHS năm 1985 tại khoản 2, Điều 17 cũng như BLDS năm 2015 tại khoản 3,

Điều 17 quy định: “Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người

khác thực hiện tội phạm”.

Xúi giục được hiểu là hành vi tác động đến tư tưởng người khác, làm xuất hiện ý định phạm tội và thúc đẩy việc thực hiện ý định đó Hành vi xúi giục được thể hiện rất đa dạng thông qua các hành vi như: kích động, dụ dỗ, lừa đảo,

đe dọa, mua chuộc v.v… Nhìn chung, hành vi xúi giục được thể hiện qua hai phương thức chính: phương thức thuyết phục và phương thức bắt buộc

Phương thức thuyết phục là phương thức dùng lý lẽ, vật chất để người khác

tin theo mà thực hiện tội phạm

Ví dụ: Vì nghi ngờ chị A ngoại tình với anh B, bà C mẹ chồng chị A đã xúi

giục con trai mình là anh D gây thương tích cho anh B và chị A để cảnh cáo, đồng thời xúi giục anh bỏ vợ, hứa hẹn sẽ cưới vợ mới cho anh và cho anh một căn nhà

Phương thức bắt buộc là phương thức buộc người khác phải thực hiện tội

phạm như đe dọa, cưỡng ép

Ví dụ: Sau khi chia tay được một thời gian, anh H đến tìm chị E, yêu cầu chị

E phải cung cấp tài liệu cơ mật của cơ quan cho anh ta, nếu không anh H sẽ phát tán những hình ảnh và video nóng trước đây giữa hai người ra ngoài

1.3.4 Người giúp sức

BLHS năm 2015 tại khoản 3, Điều 17 quy định: “Người giúp sức là người

tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm”.

Ngày đăng: 16/12/2021, 20:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w