1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn luật cạnh tranh đề tài điều chỉnh hành vi định giá hủy diệt bằng luật cạnh tranh và thực tiễn tại việt nam

23 725 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 578,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. KHÁI NIỆM CHUNG ................................................................................................................................... 3 1. Lý thuyết về hành vi định giá hủy diệt ................................................................................................... 3 2. Xác định hành vi định giá hủy diệt ......................................................................................................... 4 II. PHÁP LUẬT CHỐNG ĐỊNH GIÁ HỦY DIỆT CỦA EU VÀ HOA KỲ ............................................. 6 1. Các quy tắc và khái niệm liên quan đến định giá hủy diệt ................................................................... 6 1.1. Quy tắc cơ bản ................................................................................................................................. 6 1.2. Khái niệm vị trí thống lĩnh, quyền lực thị trường và quyền lực độc quyền ................................ 6 1.3. Khái niệm thị trường liên quan ...................................................................................................... 6 2. Một hình thức định giá lạm dụng: Định giá hủy diệt ............................................................................ 6 3. Định giá hủy diệt – một mô hình phân tích định giá hủy diệt .............................................................. 7 4. Biện pháp xử lý hành vi định giá hủy diệt ở EU và Hoa Kỳ ............................................................... 11 III. PHÁP LUẬT CHỐNG ĐỊNH GIÁ HỦY DIỆT CỦA VIỆT NAM, SO SÁNH VỚI EU VÀ HOA KỲ 12 1. Các quy tắc cơ bản và khái niệm có liên quan ..................................................................................... 12 1.1. Quy tắc cơ bản của pháp luật cạnh tranh Việt Nam .................................................................. 12 1.2. Các khái niệm ................................................................................................................................ 12 1.2.1. Thỏa thuận nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh ..................................................................... 12 1.2.2. Hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường ....................................................................................................................... 14 1.2.2.1. Xác định vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền của doanh nghiệp ........... 14 1.2.2.2. Xác định mức giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ loại bỏ đối thủ cạnh tranh ... 15 1.2.3. Thị trường liên quan ............................................................................................................. 20 2. Hình thức định giá hủy diệt theo pháp luật Việt Nam ......................................................................... 20 3. Biện pháp xử lý hành vi định giá hủy diệt ............................................................................................. 21 IV. KẾT LUẬN .............................................................................................................................................. 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO ...

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT o0o

TIỂU LUẬN MÔN HỌC: LUẬT CẠNH TRANH

1 Nguyễn Thị Thùy Linh 33141020925

2 Ngô Bảo Toàn 33140120923

Giảng viên: Trần Thăng Long

TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 9 năm 2015

Trang 2

MỤC LỤC

I KHÁI NIỆM CHUNG 3

1 Lý thuyết về hành vi định giá hủy diệt 3

2 Xác định hành vi định giá hủy diệt 4

II PHÁP LUẬT CHỐNG ĐỊNH GIÁ HỦY DIỆT CỦA EU VÀ HOA KỲ 6

1 Các quy tắc và khái niệm liên quan đến định giá hủy diệt 6

1.1 Quy tắc cơ bản 6

1.2 Khái niệm vị trí thống lĩnh, quyền lực thị trường và quyền lực độc quyền 6

1.3 Khái niệm thị trường liên quan 6

2 Một hình thức định giá lạm dụng: Định giá hủy diệt 6

3 Định giá hủy diệt – một mô hình phân tích định giá hủy diệt 7

4 Biện pháp xử lý hành vi định giá hủy diệt ở EU và Hoa Kỳ 11

III PHÁP LUẬT CHỐNG ĐỊNH GIÁ HỦY DIỆT CỦA VIỆT NAM, SO SÁNH VỚI EU VÀ HOA KỲ 12 1 Các quy tắc cơ bản và khái niệm có liên quan 12

1.1 Quy tắc cơ bản của pháp luật cạnh tranh Việt Nam 12

1.2 Các khái niệm 12

1.2.1 Thỏa thuận nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh 12

1.2.2 Hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường 14

1.2.2.1 Xác định vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền của doanh nghiệp 14

1.2.2.2 Xác định mức giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ loại bỏ đối thủ cạnh tranh 15

1.2.3 Thị trường liên quan 20

2 Hình thức định giá hủy diệt theo pháp luật Việt Nam 20

3 Biện pháp xử lý hành vi định giá hủy diệt 21

IV KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 3

ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI ĐỊNH GIÁ HỦY DIỆT BẰNG LUẬT CẠNH TRANH

VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM

I KHÁI NIỆM CHUNG

1 Lý thuyết về hành vi định giá hủy diệt

Từ khi việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có sự cạnh tranh về giá, khái niệm định giá hủy diệt đã ra đời Khi một doanh nghiệp lựa chọn phương pháp giảm giá sản phẩm để làm giá sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh khác không thể cạnh tranh được

do giá cao tương đối trước nhu cầu của khách hàng Chính điều này đặt các đối thủ cạnh tranh vào tình huống hoặc chạy đua giảm giá sản phẩm hoặc chấp nhận mất dần thị trường do không thể giảm giá Việc một doanh nghiệp giảm giá bán sản phẩm có hai trường hợp có thể xảy ra: hoặc doanh nghiệp có khả năng cải thiện kỹ thuật, năng lực để tạo ra sản phẩm với giá thành thấp hơn nên giảm giá bán (cạnh tranh lành mạnh

về giá); hoặc doanh nghiệp bán sản phẩm với mức giá đủ thấp để không thể có lãi (thậm chí đã lỗ trong một thời gian đủ dài nhằm làm suy yếu hoặc loại bỏ đối thủ cạnh tranh, đây chính là hành vi định giá hủy diệt

Định giá hủy diệt là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh và bị cấm bởi luật pháp của nhiều nước

Theo Ủy ban cạnh tranh và tiêu dùng Australia (ACCC):

“Định giá hủy diệt là cách mà một doanh nghiệp có thể lạm dụng (misuse) sức mạnh thị trường của nó

Định giá hủy diệt là khi một công ty có sức mạnh thị trường hoặc thị phần nhất định định giá sản phẩm tại một mức độ đủ thấp nhằm mục đích:

- Loại bỏ hoặc gây thiệt hại đáng kể cho đối thủ cạnh tranh

- Ngăn cản đối thủ tham gia vào thị trường đó cũng như bất kỳ thị trường nào

- Ngăn chặn các đối thủ tham gia cạnh tranh trên thị trường

Trang 4

Kết quả là sẽ khiến cho các công ty này có ít đối thủ trên thị trường, sau đó họ không cần quan tâm đến thị trường, có thể nâng giá và thu lợi từ khách hàng”

Nói tóm lại, Định giá hủy diệt là việc các doanh nghiệp có quyền lực thị trường ấn

định giá bán sản phẩm quá thấp trong một khoảng thời gian đủ dài nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường hoặc (và) ngăn cản không cho các đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường Sau khi hoàn tất mục đích ngăn cản hoặc loại bỏ, doanh nghiệp sẽ tăng giá một cách đáng kể nhằm bù đắp lại các khoản lỗ và các khoản lợi nhuận đã bỏ qua bởi mức độ cạnh tranh trên thị trường đã bị giảm

2 Xác định hành vi định giá hủy diệt

Mức giá có khả năng hủy diệt đối thủ có thể là kết quả hoặc của quá trình cạnh tranh lành mạnh về giá, hoặc của hành vi định giá hủy diệt Sẽ là cạnh tranh lành mạnh nếu các doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận mà vẫn hạ giá bán hàng hóa bằng cách giảm chi phí sản xuất, kinh doanh Khi giá bán có thể gây lỗ cho đối thủ thì mức giá đó được suy đoán là có khả năng hủy diệt

Việc xác định khả năng hủy diệt của hành vi tập trung vào:

- Thứ nhất, hành vi bán hàng hóa với mức giá thấp có khả năng chi phối đến giá thị trường khi doanh nghiệp có quyền lực thị trường (doanh nghiệp có thị phần đủ lớn

để gây ảnh hưởng đến thị trường, có khả năng chi phối giá thị trường) và hành vi được thực hiện như một chiến lược kinh doanh trong một thời gian đáng kể Như vậy, việc bán bán sản phẩm với giá thấp trở thành định giá hủy diệt khi doanh nghiệp thực hiện hành vi này có khả năng chi phối thị trường

- Thứ hai, xác định sự bất hợp lý của giá bán thực tế Chúng ta cần xác định được đâu là hạ giá để cạnh tranh lành mạnh và đâu là định giá hủy diệt Để làm được việc này, thông thường người ta xác định một mức chi phí giả định hợp lý trong điều kiện bình thường để tạo ra sản phẩm, nếu xác định giá bán thấp hơn chi phí hợp lý thực tế tạo ra sản phẩm thì có thể kết luận là có hành vi định giá hủy diệt Tuy nhiên, việc so sánh này cũng tồn tại nhiều bất cập, và thực tế khó xác định được đây có phải là hành

vi định giá hủy diệt hay không khi vẫn tồn tại nhiều trường hợp dù giá bán thấp hơn chi phí nhưng đây không phải là hành vi hủy diệt đối thủ mà chỉ là các hành vi để bảo

Trang 5

vệ doanh nghiệp của mình, ví dụ như là hạn chế thua lỗ, phản ứng lại các sức ép cạnh tranh về giá của các đối thủ Các lý thuyết kinh tế đặt ra những tình huống đặc biệt của việc đặt giá thấp đến mức gây lỗ nhưng không mang mục đích hủy diệt đối thủ cạnh tranh bằng nguyên tắc định giá tối đa hóa lợi nhuận theo chi phí biên và nguyên tắc đóng cửa: (i) Doanh nghiệp tính toán sai lầm về sản lượng sản xuất nên chi phí biên của hàng hóa cao hơn mặt bằng giá trên thị trường Khi đó, doanh nghiệp không thể định giá sản phẩm của họ theo chi phí bởi nếu làm như vậy sẽ mất khách hàng Để có thể tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp buộc bán lỗ theo giá thị trường cho dù bị lỗ (ii) Thị trường có những suy thoái như biến động về cầu, sự dư thừa về sản lượng …làm cho các doanh nghiệp trên thị trường gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm buộc họ phải xem xét lại các điều kiện sản xuất, mua bán cho phù hợp, thậm chí phải chấp nhận lỗ để giữ chân khách hàng nếu họ muốn tồn tại Sẽ không là định giá hủy diệt nếu giá bán thấp hơn chi phí sản xuất của doanh nghiệp nhưng vẫn cao hơn giá bán của đối thủ cạnh tranh hoặc chỉ là phản ứng tự vệ trước hành vi chủ động định giá thấp của đối thủ khác đã thực hiện trước đó

Từ góc độ kinh tế, có thể nói định giá hủy diệt mang cả ý nghĩa tích cực và tiêu cực Người tiêu dùng được hưởng lợi do mua hàng hóa với giá rẻ trong giai đoạn hành vi được thực hiện và tình trạng cạnh tranh sinh tử về giá Tuy nhiên, khi mục đích tiêu diệt đối thủ đã đạt được, doanh nghiệp thực hiện hành vi củng cố được vị trí trên thị trường liên quan và khai thác lợi thế bằng các chiến lược bóc lột khách hàng hòng bù đắp những gì đã mất trong quá khứ Việc hành vi định giá hủy diệt bị cấm là do những

lo ngại về việc tăng giá, giảm sản lượng và gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng trong tương lai Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế hoài nghi lý luận về sự cướp đoạt (hủy diệt đối thủ) vì họ không tin việc này có thể thành, họ cho rằng thực tế trên thị trường sẽ luôn

có rất nhiều đối thủ cạnh tranh, và cũng có nhiều đối thủ cạnh tranh mới muốn gia nhập thị trường Vì thế, cho dù hành vi bán hàng hóa với giá thấp có triệt tiêu đối thủ cạnh tranh thì nó vẫn đem lại lợi ích cho người tiêu dùng nên không cần thiết phải cấm đoán, cạnh tranh cho dù bị triệt tiêu trong ngắn hạn nhưng sẽ được hồi sinh ở tương lai khi giá bán tăng trở lại Cũng có quan điểm cho rằng nhiệm vụ của pháp luật là là bảo đảm hiệu quả của cạnh tranh trên thị trường nên nó chỉ ngăn chặn khả năng tăng giá trong tương lai Khi doanh nghiệp thực hiện hành vi định giá hủy diệt có cơ hội thực hiện mục đích bóc lột khách hàng thì pháp luật mới cần can thiệp để loại bỏ hành vi

Trang 6

II PHÁP LUẬT CHỐNG ĐỊNH GIÁ HỦY DIỆT CỦA EU VÀ HOA KỲ

1 Các quy tắc và khái niệm liên quan đến định giá hủy diệt

1.1 Quy tắc cơ bản

Định giá hủy diệt chính là một hình thức định giá lạm dụng

Pháp luật EU và Hoa Kỳ liên quan định giá lạm dụng có hai quy tắc cơ bản giống nhau Một là, Luật Cạnh tranh EU và Luật Chống Độc quyền Hoa Kỳ chống tất cả hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, bao gồm nhưng không giới hạn trong các hành vi định giá lạm dụng Hai là, pháp luật chống định giá lạm dụng của EU và Hoa Kỳ bảo

vệ cạnh tranh, không bảo vệ đối thủ cạnh tranh

1.2 Khái niệm vị trí thống lĩnh, quyền lực thị trường và quyền lực độc

quyền

Ở EU và Hoa Kỳ, thuật ngữ “quyền lực thị trường” được sử dụng phổ biến, còn “vị trí thống lĩnh” theo pháp luật EU thì có bản chất tương tự “quyền lực độc quyền” trong pháp luật Hoa Kỳ Theo đó, vị trí thống lĩnh hay quyền lực độc quyền của một doanh nghiệp là việc có “quyền lực thị trường lớn” trong một “khoảng thời gian lâu bền” Về tổng quát, cả hai hệ thống đều nhận dạng vị trí thống lĩnh/quyền lực độc quyền dựa vào hai yếu tố cơ bản: thị phần và rào cản gia nhập thị trường Ngoài ra, EU còn đưa thêm yếu tố quyền lực đối lại của khách hàng vào hệ thống cơ sở đánh giá vị trí thống lĩnh

1.3 Khái niệm thị trường liên quan

Mặc dù không có một công thức cố định chung cho việc xác định vị trí thống lĩnh (hay quyền lực độc quyền), cả Hoa Kỳ và EU đều coi bước thiết yếu đầu tiên trong việc này

là xác định thị trường liên quan Thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Quan điểm và cách thức xác định thị trường liên quan ở EU và Hoa Kỳ về cơ bản giống nhau

2 Một hình thức định giá lạm dụng: Định giá hủy diệt

Trang 7

Mặc dù không có định nghĩa chung, định giá hủy diệt thường được hiểu là hành vi của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh định giá bán sản phẩm ở mức rất thấp – chịu lỗ để loại bỏ đối thủ cạnh tranh Sau khi đối thủ đã bị loại bỏ, doanh nghiệp tăng giá đến mức quá đáng để thu bù lại khoản lỗ Ở Hoa Kỳ, tòa án kết hợp hai phép kiểm tra để xác định hành vi định giá hủy diệt: (1) Doanh nghiệp có chủ động chịu lỗ trong ngắn hạn hay không (Kiểm tra Giá – Chi phí), và (2) Doanh nghiệp có khả năng thu bù lại khoản lỗ hay không (Kiểm tra khả năng thu bù lỗ) Trong đó phép Kiểm tra khả năng thu bù lỗ là tiền đề cho việc xác định định giá hủy diệt Trong khi đó EU coi phép Kiểm tra Giá – Chi phí là tiền đề Khi phép Kiểm tra Giá – Chi phí cho thấy doanh nghiệp thống lĩnh định giá dưới một mức chi phí nhất định, tòa án EU có thể xem xét thêm bằng chứng về chủ ý hủy diệt đối thủ của doanh nghiệp để đi đến kết luận về hành vi vi phạm

Lý luận và án lệ ở cả hai hệ thống pháp luật EU và Hoa Kỳ đều xem chi phí khả biến bình quân (AVC) là điểm chuẩn trong phép kiểm tra Giá – Chi phí để xác định hành vi định giá hủy diệt Gần đây, lý luận kinh tế và lập luận của cơ quan có thẩm quyền về cạnh tranh ở hai hệ thống đều đề xuất một điểm chuẩn khác cho phép kiểm tra này, đó

là chi phí tránh được bình quân (AAC)

Để làm rõ hơn về cách xác định hành vi định giá hủy diệt, có thể xem thêm bài nghiên

cứu về Mô Hình Phân Tích Định Giá Hủy Diệt của Paul L Joskowt and Alvin K

Klevorickt trong phần tiếp theo (Phần 3, mục II)

3 Định giá hủy diệt – một mô hình phân tích định giá hủy diệt

Phương pháp hai giai đoạn để xác định định giá hủy diệt, có thể phù hợp được với nhiều cấu trúc thị trường khác nhau giúp giảm các kết luận nhầm lẫn: có hành vi định giá hủy diệt nhưng kết luận là không; không có hành vi định giá hủy diệt nhưng kết luận là có

Trong giai đoạn đầu tiên, chúng ta sẽ kiểm tra đặc điểm “cấu trúc” của thị trường và sức mạnh thị trường của công ty bị cáo buộc định giá hủy diệt; để làm rõ xem liệu họ

có khả năng tạo ra việc định giá hủy diệt và dẫn đến thiệt hại kinh tế đáng kể cho xã hội Trong giai đoạn này, nếu sử dụng những khái niệm thông thường về sức mạnh độc

Trang 8

quyền sẽ dễ tạo nên những trường hợp định giá hủy diệt ảo Việc cáo buộc định giá hủy diệt không chỉ dựa trên những bằng chứng mơ hồ như: “cố ý” hoặc định giá “dưới chi phí”; việc độc quyền hóa thông qua định giá hủy diệt chỉ tồn tại khi có những bằng chứng chắc chắn

Giai đoạn thứ hai sẽ cung cấp một phương thức để tránh những sai lầm thực tiễn khi kết luận có định giá hủy diệt nhưng thực tế lại không Dựa trên quan điểm rằng việc định giá hủy diệt chỉ có thể được xác định bằng cách so sánh trực tiếp mối tương quan giữa những vấn đề cấu trúc độc quyền với những hành vi nhằm duy trì sức mạnh độc quyền

Với hướng tiếp cận hai giai đoạn bằng lý thuyết mô hình quyết định này, các công ty trong thị trường mà không có bằng chứng rõ ràng về vấn đề độc quyền có thể làm bất

cứ điều gì họ muốn với giá Ngược lại với những thị trường còn lại thì công ty sẽ phải hành động cẩn thận hơn để tránh bị cáo buộc cản trở sự phát triển của thị trường cạnh tranh

A Giai đoạn 1: Các yếu tố trong phân tích cấu trúc

Xem xét ba trường hợp công ty bị cáo buộc định giá hủy diệt sau:

TRƯỜNG HỢP 1:

(1) Sức mạnh độc quyền ngắn hạn:

(a) Công ty chiếm 70% thị phần, và ba công ty khác, mỗi công ty có 10%

(b) Công ty có ưu thế này là một công ty có khả năng chi phối giá cả thị trường lâu dài

(c) Số lượng và kích thước của các công ty duy trì, gần như không đổi trong 10 năm

(d) Lợi nhuận rõ ràng là ổn định và cơ bản cao hơn mức cạnh tranh

(2) Những điều kiện gia nhập thị trường:

(a) Việc gia nhập mà hoạt động hiệu quả đòi hỏi đầu tư tối thiểu $200 triệu (b) Không có công ty mới nào gia nhập thị trường trong 10 năm vừa qua Những công ty gia nhập trước đây rất lớn và đa ngành

Trang 9

(c) Công ty đưa ra một “mức giá cao cấp” cho một sản phẩm không khác gì so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh

(d) Công ty sử dụng số lượng lớn “hình ảnh” quảng cáo nhấn mạnh vào thương hiệu của sản phẩm chứ không phải là sự khác biệt về chất lượng so với sản phẩm của dối thủ

(3) Sự ảnh hưởng tổng hợp của sự cạnh tranh lên chi phí và sản phẩm:

(a) Ba công ty nhỏ hơn trong thị trường tiên phong trong việc đổi mới quy trình

(b) Thị phần của công ty giảm dần theo thời gian

(c) Khi công ty cố “đi đầu” việc tăng giá, nhu cầu sản phẩm của công ty bị giảm đáng kể

(d) Lợi nhuận của công ty vẫn lớn hơn chi phí vốn trong bốn năm trở lại đây, nhưng khả năng sinh lời đã giảm đi

(2) Những điều kiện gia nhập thị trường:

(a) Việc gia nhập mà hoạt động hiệu quả đòi hỏi đầu tư tối thiểu $10 triệu

(b) Ba công ty mới gia nhập thị trường thành công trong năm năm qua và tăng trưởng nhanh Hai công ty khác cũng gia nhập và thất bại

(c) Những sản phẩm được bán bởi nhiều nhà công ty và khá đồng nhất, và chi phí quảng cáo không chiếm một phần lớn trong tổng chi phí Không có bằng chứng về những sản phẩm có lợi thế “thương hiệu cao cấp”

(3) Sự ảnh hưởng tổng hợp của sự cạnh tranh lên chi phí và sản phẩm:

(a) Thị trường này không có đặc điểm thay đổi công nghệ nhanh

(b) Sự thay đổi công nghệ tập trung vào phát triển sản phẩm mới và cải tiến sản phẩm, và công ty lớn nhất là tiên phong sáng tạo sản phẩm mới

TRƯỜNG HỢP 3:

(1) Sức mạnh độc quyền ngắn hạn:

Trang 10

(a) Công ty bị cáo buộc hủy diệt chiếm 60% tổng thị phần và bốn công ty nhỏ hơn chiếm phần còn lại Trong một số thị trường địa lý, một trong số những công ty nhỏ hơn kia có thị phần lớn hơn công ty lớn nhất

(b) Thị phần của công ty chiếm trung bình 60% trong mười năm qua, nhưng thị phần lại biến động đáng kể theo từng năm

(c) Khi công ty cố gắng “đi đầu” trong việc tăng giá, có khi các công ty khác tăng theo, nhưng khi họ không tăng theo thì công ty sẽ quay ngược lại vì nhu cầu sản phẩm của nó giảm mạnh

(d) Lợi nhuận trung bình của công ty vẫn lớn hơn chi phí vốn, nhưng có xu hướng giảm nhẹ

(2) Những điều kiện gia nhập thị trường:

(a) Việc gia nhập mà hoạt động hiệu quả đòi hỏi đầu tư tối thiểu $200 triệu để gia nhập cùng lúc vào tất cả thị trường địa lý chính Việc gia nhập vào các thị trường địa lý phụ cần khoản đầu tư ban đầu $20 triệu

(b) Ba công ty mới đã gia nhập và một số vùng địa lý trong năm năm qua, nhưng chỉ một công ty còn tồn tại

(c) Thị trường có đặc điểm: các sản phẩm có sự khác biệt và chi phí quảng cáo trên trung bình, nhưng sản phẩm của công ty nói chung không có giá

“thương hiệu cao cấp”

(3) Sự ảnh hưởng tổng hợp của sự cạnh tranh lên chi phí và sản phẩm:

(a) Thị trường đặc trưng bởi sự thay đổi công nghệ tiết kiệm chi phí khá nhanh (b) Cả công ty lớn, hai công ty đối thủ và một công ty mới gia nhập đều giới thiệu quy trình sản suất chi phí thấp mới

Trong giai đoạn này chúng ta không xác định có ty có chịu trách nhiệm hay không; mà dựa trên các yếu tố cấu trúc để xác định vấn đề độc quyền có đủ lớn để cần thiết phải

có thêm điều tra về hành vi của công ty

Rõ ràng rằng trong trường hợp 1 cần phải có thêm phân tích điều tra về hành vi của công ty Trong khi trường hợp 2 lại không cần thiết nữa Còn trường hợp 3 phải xử lý thế nào lại không rõ ràng lắm; trong những trường hợp như thế này cần phải thực hiện thêm phân tích hành vi của công ty để xác định hành vi của công ty có quyền lực thị trường này có nhằm đạt được vị thế độc quyền hay không

Trang 11

B Giai đoạn 2: Phân tích hành vi

(1) Định giá thấp hơn Chi Phí Biến Đổi Bình Quân

Mức giá thấp hơn chi phí biến đổi bình quân là bất hợp lý vì mức giá đó không thể dẫn tới sự tối đa hoá lợi nhuận hay sự tối thiểu hoá tổn thất trong bất cứ bối cảnh thị trường nào, vì thế đó chính là điều kiện đủ cho định giá hủy diệt

(2) Định giá giữa Chi Phí Biến Đổi Bình Quân và Chi Phí Toàn Bộ Bình Quân

Mức giá nằm ở khoảng giữa chi phí toàn bộ bình quân và chi phí biến đổi bình quân (cao hơn chi phí biến đổi bình quân và thấp hơn chi phí toàn bộ bình quân) có thể bị coi là định giá huỷ diệt nhưng cũng có thể được chấp nhận nếu như chứng minh được rằng doanh nghiệp đang thực hiện chiến lược tối đa hoá lợi nhuận trong những điều kiện đặc biệt của thị trường, ví dụ nhu thời kỳ nhu cầu thị trường bị giảm sút… Bởi lẽ, mặc dù doanh nghiệp không tìm kiếm được lợi nhuận với mức giá đó nhưng doanh nghiệp cũng đã có thể trang trải được các chi phí sản xuất trực tiếp và một phần bù đắp cho các khoản đầu tư cố định hòng duy trì sản xuất trong điều kiện khó khăn của thị trường

(3) Định giá cao hơn Chi Phí Toàn Bộ Bình Quân

Mức giá cao hơn chi phí toàn bộ bình quân sẽ không bị coi là định giá huỷ diệt cho dù mức giá đó có thể dẫn đến loại bỏ doanh nghiệp khác ra khỏi thị trường Lý giải về điều này, các nhà làm luật của Canada cho rằng, mức giá cao hơn chi phí toàn bộ bình quân là mức giá bình thường bởi trong đó đã bao gồm một khoản lợi nhuận hợp lý cho

dù mức giá đó có thấp hơn giá bán của doanh nghiệp khác Lúc này, giá bán phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong cạnh tranh về giá so với đối thủ

4 Biện pháp xử lý hành vi định giá hủy diệt ở EU và Hoa Kỳ

Hệ thống biện pháp xử lý của EU và Hoa Kỳ có ba mục đích giống nhau, đó là chấm dứt hành vi vi phạm, ngăn chặn khả năng tái phạm, và tái lập cơ hội cho cạnh tranh trong thị trường bị ảnh hưởng Do đó, các lập luận lý thuyết và hệ thống các biện pháp hành vi, biện pháp cấu trúc thực tế ở EU và Hoa Kỳ được xây dựng và phát triển khá giống nhau Tuy nhiên, đối với các biện pháp xử phạt, khắc phục bằng tiền giữa EU và

Ngày đăng: 12/08/2016, 10:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w