1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Kinh tế chính trị tiểu luận

9 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 23,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý luận địa tô tư bản chủ nghĩa của Marx không chỉ vạch rõ bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mà còn là cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách kinh tế li

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU Trong quá trình sản xuất, nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải thuê , mướn ruộng đất của địa chủ và thuê công nhân để tiến hành sản xuất Do đó nhà tư bản phải trích một phần giá trị thặng dư do công nhân tạo ra để trả cho chủ đất dưới hình thức địa tô Nhưng giai cấp tư sản vẫn bóc lột người công nhân để tạo ra giá trị thặng dư, một phần sẽ nộp cho địa chủ và phần còn lại, nhà tư bản chiếm không.

Trên cơ sở trình bày, phân tích những quan điểm cơ bản của C Mác về quyền sở hữu ruộng đất để phát triển nông nghiệp, bài viết rút ra một số điểm cần lưu ý, liên quan trực tiếp đến thực trạng quản lý và sử dụng ruộng đất ở nước ta hiện nay.

Công tác quản lý sử dụng đất đai ngày càng được quan tâm chú trọng của Đảng, nhà nước và các đối tượng sử dụng, đối tượng có nhu cầu sử dụngđất đai Việc quản lý và sử dụng đất đai đã có nhiều chuyển biến và thay đổi theo hướng tích cực, từng bước phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bên cạnh đó chính sách quản lý và sử dụng đất vẫn còn một số tồn tại cần được giải quyết Mới chỉ nghe về đất thì ta tưởng chừng như đây là vấn đề của nông nghiệp nhưng thực tế hoàn toàn khác đây là một trong những vấn đề quan trọng trong dự án phát triển kinh tế sau này, thuê đất ở đâu để kinh doanh, tiền thuê đất như thế nào, hay khi kinh doanh nông nghiệp thì tiền thuê đất là bao nhiêu, nghĩa vụ như thế nào? Để hiểu rõ vấn đề này chúng ta phải phân tích những lí luận về địa tô của Mác, từ đó tìm hiểu xem nhà nước ta đã vận dụng

ra sao và đề ra những quy định, hạn mức gì? Chính vì vậy mà em chọn đề tài: “Vận dụng lý luận địa tô của C.Mác trong việc quản lý đất đai ở Việt Nam hiện nay”.

1 Lý luận về địa tô của C.Mác

1.1 Khái niệm và bản chất của địa tô

– Trong chủ nghĩa tư bản, người thực sự canh tác ruộng đất không phải là chủ tư bản mà là những người lao động làm thuê Nhà tư bản thuê đất của địa chủ để kinh doanh, coi nông nghiệp là một lĩnh vực đầu tư kinh doanh Số tiền mà nhà tư bản trả cho người sở hữu ruộng đất theo hợp đồng để được

sử dụng đất trong một thời gian nhất định là địa tô tư bản chủ nghĩa.

Giống như các nhà tư bản kinh doanh trong công nghiệp, thương nghiệp, các nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp cũng phải thu được lợi nhuận bình quân Nhưng vì phải thuê ruộng của địa chủ nên ngoài lợi nhuận bình quân, nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp còn phải thu thêm được một phần giá trị thặng dư dôi ra nữa, tức là lợi nhuận

Trang 2

siêu ngạch Lợi nhuận siêu ngạch này tương đối ổn định và lâu dài và nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải trả cho địa chủ dưới hình thái địa tô tư bản chủ nghĩa.

Vậy, địa tô tư bản chủ nghĩa là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận binh quân mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ Thực chất, địa tô tư bản chủ nghĩa chính là một hình thức chuyển hóa của giá trị thặng

dư siêu ngạch hay lợi nhuận siêu ngạch.

– Địa tô tư bản chủ nghĩa thể hiện mối quan hệ giữa người công nhân làm thuê, nhà tư bản chủ nghĩa và địa chủ Khoản địa tô có được do nhà tư bản bóc lột người công nhân làm thuê để thuê lợi nhuận bình quân Do vậy muốn kéo dài thời gian sử dụng đất để thu lợi nhuân nhiều hơn Tuy nhiên chủ đất luôn tìm cách khống chế nhà tư bản bằng cách tăng khoản địa tô hoặc rút ngắn thời gian sử dụng đất.

1.2 Các hình thức địa tô tư bản

a Địa tô chênh lệch

Địa tô chênh lệch là phần địa tô thu được ở trên những ruộng đất có lợi thế về điều kiện sản xuất (độ màu mỡ của đất đai tốt hơn, vị trí gần thị trường, gần đường hơn, hoặc ruộng đất để đầu tư để thâm canh)

Địa tô chênh lệch = Giá cả sản xuất chung – Giá cả sản xuất cá biệt

Thực chất của địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch Nguồn gốc của nó là một phần giá trị thặng dư do công nhân nông nghiệp làm thuê tạo ra Địa tô chênh lệch gắn với chế độ độc quyền kinh doanh ruộng đất theo lối tư bản chủ nghĩa.

Địa tô chênh lệch có hai loại địa tô:

+ Địa tô chênh lệch (I): là địa tô chênh lệch thu được trên những ruộng đất có

độ màu mỡ tự nhiên thuộc loại trung bình và tốt, có vị trí gần thị trường hoặc gần đường giao thông.

+ Địa tô chênh lệch (II): là địa tô chênh lệch thu được do thâm canh mà có Thâm canh là việc đầu tư them tư bản vào một đơn vị diện tích ruộng đất để

Trang 3

nâng cao chất lượng canh tác của đất, nhằm tăng độ màu mỡ trên thửa ruộng

đó, nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện tích.

b Địa tô tuyệt đối là

Địa tô tuyệt đối là loại địa tô mà tất cả các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp đều phải nộp cho địa chủ, cho dù ruộng đất là tốt hay xấu Đây là loại địa tô thu trên mọi thứ đất Địa tô tuyệt đối là lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, được hình thành do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp luôn thấp hơn cấu tạo hữu cơ của tư bản trong công nghiệp, nó là số chênh lệch giữa giá trị nông phẩm và giá cả sản xuất chung

Ngoài những loại địa tô trên thì còn có các loại địa tô khác như: địa tô về cây đặc sản, địa tô về hầm mỏ, địa tô về các bãi cá, địa tô về đất rừng, thiên nhiên,…

Ngoài hai hình thức trên, trong nền kinh tế TBCN còn có địa tô đất hầm mỏ, địa tô đất xây dựng, địa tô độc quyền là những địa tô thu được trên các loại đất đặc biệt.

Lý luận địa tô tư bản chủ nghĩa của Marx không chỉ vạch rõ bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mà còn là cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách kinh tế liên quan đến thuế, đến điều tiết các loại địa tô, đến giải quyết các quan hệ đất đai Nhằm kết hợp hài hòa các lợi ích, khuyến khích thâm canh, sử dụng đất đai tiết kiệm, phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa sinh thái bền vững.

3 Ý Nghĩa

Lý luận địa tô tư bản chủ nghĩa của Marx không chỉ vạch rõ bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mà còn là cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách kinh tế liên quan đến thuế, đến điều tiết các loai địa tô, đến giải quyết các quan hệ đất đai Nhằm kết hợp hài hòa các lợi ích, khuyến khích thâm canh, sử dụng đất đai tiết kiệm, phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa sinh thái bền vững.

2 Vận dụng lý luận địa tô trong việc quản lý đất đai ở Việt Nam hiện nay

Ngày nay, khi đất nước ta trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những lý luận địa tô đó được đảng và nhà nước ta vận dụng một cách sáng tạo trong thực tiễn để xây dựng đất nước giàu mạnh trong thực tiễn để đất nước trở nên giàu mạnh Lý luận này đã trở thành cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách thuế đối với nông nghiệp và các ngành khác có liên quan nhằm kích thích phát triển nông nghiệp và các ngành trong nền kinh tế.

Trang 4

2.1 Vận dụng trong luật đất đai

Đất đai là một tài nguyên quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân

cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá – xã hội, an ninh – quốc phòng Ngày nay, đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước giao đất, rừng cho các tổ chức kinh tế hay đơn vị vũ trang

để sử dụng Để bổ sung cho nguồn ngân sách và thông qua ngân sách thực hiện một số chính sách phát triển nông nghiệp, những người thuê đất phải đóng thuế cho nhà nước Thuế này khác xa với địa tô tư bản chủ nghĩa và địa

tô phong kiến vì nó tập trung vào ngân sách đem lại lợi ích cho toàn dân, nó không mang bản chất bóc lột của địa tô phong kiến và địa tô tư bản chủ nghĩa.

Ở mỗi chế độ, đất đai lại thuộc về thuộc về mỗi giai cấp khác nhau như: sở hữu của thực dân Pháp, của địa chủ và quan lại quý tộc phong kiến,… Và cuối cùng Mác cũng đã kết luận: “mỗi bước tiến của nông nghiệp tư bản chủ nghĩa là một bước tiến không những trong nghệ thuật bóc lột người lao động

mà còn là bước tiến về mặt làm cho đất đai bị kiệt quệ mà sự bóc lột đó được thực hiện dưới nhiều hình thức, trong đó có địa tô.

Nhà nước đã ban hành luật đất đai để quy định một cách rõ ràng quyền và nghĩa vụ của người dân theo những điều khoản như: điều 1, điều 4, điều 5, điều 12, điều 22, điều 79 luật đất đai Ngoài ra, trong pháp luật về đất đai của nhà nước ta hiện nay cũng ban hành những quy định để người dân phải trả tiền thuê đất (một hình thức của địa tô) khi sử dụng đất một cách tự nguyện Hiện nay, đất được cấp cho dân, dân có quyền sử dụng đất vào mục đích của mình Nếu đối với đất ở thì người dân chỉ phải nộp một khoản tiền thuê đất rất nhỏ so với thu nhập của họ Còn đối với đất để làm nông nghiệp thì người dân phải nộp thuế nhưng họ có thể tự do kinh doanh trên đất của mình sao cho thu được lợi nhuận cao nhất Chẳng hạn như có vùng trồng lúa, có vùng lại trồng đay và có vùng lại trồng cà phê, điều, bông,….

2.2 Vận dụng trong thuế đất nông nghiệp

Thuế nông nghiệp ở đây không phải thể hiện sự bóc lột đối với nông dân mà

đó là quyền và nghĩa vụ của mỗi công

Để khuyến khích sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả; thực hiện công bằng, hợp lý sự đóng góp của tổ chức, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp vào ngân

Trang 5

sách Nhà nước; căn cứ vào điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Luật này quy định thuế sử dụng đất nông nghiệp, cụ thể ở các điều 1 đến điều 10, điều 19, điều 21, điều 22, điều 23,…

Việc miễn giảm thuế cho những người dân có hoàn cảnh đặc biệt là một việc khác xa so với việc thu địa tô tư bản chủ nghĩa Đây là một sự sáng tạo của đảng ta trong việc vận dụng lý luận về địa tô khi đề ra chính sách thuế nông nghiệp, động viên thúc đẩy người dân sản xuất Hiện nay, tổng cục thuế đã ban hành quy trình miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp số 137 TCT/ QD/ NV7 ngày 21/8/2001 cho các đối tượng chính sách xã hội như: hộ gia đình

có công với cách mạng, hộ gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, hộ gia đình có nhiều khó khăn,…(báo pháp luật số 159 ra ngày 29/8/2001)

Sự khác biệt lớn nhất của việc quản lý đất đai và thu thuế bây giờ so với giai đoạn tư bản chủ nghĩa là đất đai là của dân Nhà nước trực tiếp quản lý và điều hành, nhà nước giao đất cho dân làm nông nghiệp, thu thuế nhưng tạo mọi điều kiện cho người dân sản xuất Mặt khác nhà nước còn đưa ra một số quy định cho thấy thuế trong nông nghiệp bây giờ giảm đi rất nhiều mà chủ yếu là tăng thuế trong việc thuê đất để hoạt động phi nông nghiệp

+ Nếu chuyển quyền sử dụng đất đai mà được phép chuyển mục đích từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp thì thuế từ 20% – 40%, nếu đất nông nghiệp chuyển sang xây dựng các công trình công nghiệp từ 40% sang 60%

+ Đối với các tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân sử dụng đất vào mục đích nông nghiệp thì không phải trả tiền sử dụng đất cho nông nghiệp, nếu sử dụng vào mục đích khác thì phải trả tiền, thậm chí phải chuyển sang hình thức thuê đất nếu là tổ chức sử dụng đất ở trong nước.

2.3 Vận dụng trong việc cho thuê đất

Hiện nay, một số các nhà kinh doanh có vốn muốn lập ra một công ty thì họ phải thuê đất của nhà nước, họ phải trả cho nhà nước số tiền tương đương với diện tích cũng như vị trí của nơi được thuê Nhà nước đã quy định rất rõ việc thuê đất để kinh doanh, trên cơ sở ấy, ta thấy rõ sự khác biệt và sự vận dụng lý luận địa tô của Mác trong thời đại ngày nay Đó chính là việc nhà nước sử dụng những văn bản pháp lý quy định quyền và nghĩa vụ của người thuê đất để người dân khi nộp tiền thuê đất đều tự nguyện đóng góp Trong việc thuê đất để kinh doanh thì người đã thuê đất của nhà nước sẽ phát triển kinh doanh trên mảnh đất đó rồi lấy lợi nhuận mà mình làm ra để trả cho nhà nước và số tiền đó sẽ vào ngân sách nhà nước Hiện nay không chỉ có việc

Trang 6

thuê đất trong nông nghiệp trong việc kinh doanh mà nhà nước còn cho nước ngoài thuê đất để thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài ở Việt Nam và tăng nguồn thu cho ngân sách.

=> Qua việc nghiên cứu tìm hiểu về luật đất đai, thuế nông nghiệp cũng như trong một số lĩnh vực kinh doanh, ta có thể khẳng định hiện nay địa tô vẫn còn tồn tại nhưng về bản chất thì hoàn toàn khác so với địa tô phong kiến và địa tô tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên trong việc sử dụng lý luận địa tô của

C.Mác trong việc quản lý đất đai vẫn còn tồn tại một số hạn chế Chẳng hạn như nhà nước thu đất của nông dân với giá rất rẻ sau đó quy hoạch xây dựng nhà ở và cho thuê với giá rất cao Đây là vấn đề cần được kiến nghị lên cấp

có thẩm quyền nhằm có sự đền bù thoả đáng cho dân Nếu như trong xã hội phong kiến và tư bản chủ nghĩa, người sử dụng đất phải nộp tô cho địa chủ thì ngày nay tô hay còn nói các khác là thuế đất, thuế nhà, tiền thuê đất đều được nộp vào ngân sách nhà nước Nguồn ngân sách đó lại được dung vào những công việc nhằm xây dựng đấy nước.

Địa tô gắn liền với sự ra đời và tồn tại của chế độ tư hữu về ruộng đất Địa tô

đã từng tồn tại trong các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cả trong thời kì đầu của chủ nghĩa xã hội Như vậy, lý luận địa tô tư bản chất Mác không chỉ vạch rõ bản chất quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mà còn là cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách thuế đối với nông nghiệp và các ngành khác có liên quan đến đất đai có hiệu quả hơn Như vậy ta một lần nữa ta khẳng định rằng lý luận về địa tô của C.Mác đã được đảng và nhà nước ta vận dụng một cách sáng tạo và hợp lý Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và nhà nước đang dần cải thiện để xây dựng một Việt Nam giàu mạnh

Lý luận địa tô trong quá trình quốc hữu hóa ruộng đất

Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu về lý luận địa tô của C Mác và Ph.Ănghen, V.I Lê-nin đã đưa ra cơ sở lý luận của việc quốc hữu hóa ruộng đất Trong tác phẩm “Cương lĩnh ruộng đất của Đảng xã hội dân chủ trong cuộc cách mạng đầu tiên ở Nga năm 1905 – 1907”, V.I Lê-nin đã làm sáng tỏ bản chất của khái niệm quốc hữu hóa ruộng đất và chỉ rõ mối liên hệ của địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối với hai hình thức độc quyền trong nông nghiệp V.I.Lênin cho rằng, địa tô chênh lệch sẽ đem lại kết quả tất yếu của sự hạn chế về ruộng đất Trong chế độ nông nghiệp tư bản chủ nghĩa, khi thực hiện canh tác ruộng đất của các doanh nghiệp thì đều xuất hiện địa tô chênh lệch cho dù là chế độ tư hữu ruộng đất có tồn tại hay không và hình thức chiếm hữu ruộng đất như thế nào Ông viết: “Địa tô

Trang 7

chênh lệch không tránh khỏi hình thành trong chế độ nông nghiệp tư bản chủ nghĩa, ngay cả khi chế độ tư hữu về ruộng đất bị xóa bỏ hoàn toàn”1.

Địa tô tuyệt đối diễn ra bắt nguồn từ chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân Chính chế

độ tư hữu này đã cản trở việc cạnh tranh tự do, cản trở việc san bằng lợi nhuận thành lợi nhuận bình quân giữa các doanh nghiệp nông nghiệp và doanh nghiệp phi nông nghiệp Nếu địa tô chênh lệch là vốn có của bất kỳ nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa nào, thì địa tô tuyệt đối chỉ tồn tại trong điều kiện của chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân.

Theo V.I Lê-nin: “Vấn đề quốc hữu hóa ruộng đất trong xã hội tư bản chủ nghĩa chia thành hai phần khác nhau về bản chất: vấn đề địa tô chênh lệch và vấn đề địa

tô tuyệt đối Quốc hữu hóa thay đổi người hưởng địa tô chênh lệch và xóa bỏ ngay

cả sự tồn tại của địa tô tuyệt đối Vậy quốc hữu hóa một mặt là một cải cách bộ phận trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản (thay đổi người làm chủ một bộ phận giá trị thặng dư), và mặt khác, là sự xóa bỏ các độc quyền gây trở ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nói chung”2 Thiếu sự phân biệt hai mặt này sẽ không thể hiểu được ý nghĩa kinh tế của việc quốc hữu hóa ruộng đất – vấn đề quyết định

ý nghĩa của các cơ sở lý luận về ruộng đất.V.I Lê-nin chỉ rõ rằng, nhận thức đúng đắn cơ sở lý luận của việc quốc hữu hóa ruộng đất và tiếp đó là vấn đề ruộng đất có

ý nghĩa rất to lớn.

Chính vì những sai lầm trong lý luận dẫn tới những kết luận không đúng đắn và dẫn đến những sai lầm về chính trị Sự tồn tại chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân đã trở thành lực cản đối với việc đầu tư tự do tư bản vào ruộng đất Theo Ông: “Thủ tiêu chế độ tư hữu ruộng đất tức là xóa bỏ đến mức tối đa có thể có được trong xã hội tư sản, tất cả những trở ngại, ngăn cản việc tự do dùng tư bản vào nông nghiệp

và tự do chuyển tư bản từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất khác Sự phát triển tự do, rộng rãi nhanh chóng của chủ nghĩa tư bản, sự xóa bỏ tất cả những khâu trung gian không cần thiết khiến cho nền nông nghiệp giống như một nền công nghiệp có những “nhịp độ kinh khủng”, – quốc hữu hóa ruộng đất dưới chế

độ sản xuất tư bản chủ nghĩa là như thế đấy”3.

Ở Việt Nam, theo Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ sở pháp lý xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đất đai được quy định

tại Điều 53: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng

biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

Theo Điều 4 Luật Đất đai 2013, hình thức sở hữu đất đai tại Việt Nam được quy

định là: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống

Trang 8

nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam có ưu điểm chung giống với chế độ

sở hữu toàn dân về đất đai ở các nước khác Tuy nhiên, việc thực hiện chế độ đó trên thực tế ở Việt Nam có lúc và có nơi chưa phù hợp Điều đó thể hiện ở điểm sau.

Thứ nhất, mức định giá đất và cách thu hồi đất của chính quyền có lúc và có nơi

còn bất hợp lý Chính vì thế đã gây ra không ít phiền phức cho người sử dụng đất Người dân thì luôn muốn chủ động trong việc quyền sử dụng (quyết định có nên bán hay không nên bán quyền sử dụng) mảnh đất mà mình được trao Nhà nước có quyền thu hồi bất cứ mảnh đất nào vào bất kỳ lúc nào vì mục đích phục vụ lợi ích quốc gia Song ở nhiều nơi chính quyền không có quy hoạch sử dụng đất rõ ràng trong thời gian dài, dẫn đến bị động đối với người sử dụng đất do không có kế hoạch sử dụng đất hợp lý.

Mức giá đền bù thì cố định lâu dài trong khi mức giá đất thực tế rất đa dạng và biến động Các mảnh đất ở những vị trí khác nhau có giá trị khác nhau, trong khi

đó mức giá đền bù lại giống nhau cho các mảnh đất có vị trí khác nhau Do việc định giá đất một cách chung chung, không phù hợp với giá thị trường nên việc đền

bù ở một số nơi chưa thỏa đáng Ở nhiều nơi diễn ra tình trạng khiếu kiện đông người, khiếu kiện vượt cấp về đền bù đất đai Điều đó có nguyên nhân chủ yếu ở

sự bất hợp lý về giá đền bù.

Vẫn còn có những bất hợp lý trong thu hồi đất đai khi chỉ phục vụ cho lợi ích của một nhóm nào đó Một số doanh nghiệp thu hồi đất (vì mục đích thương mại) đã không có sự thỏa thuận hợp lý với người sử dụng đất trong việc đền bù nên thực tế

đã diễn ra những va chạm lớn giữa doanh nghiệp và người dân trong diện bị thu hồi đất, gây nên những bất ổn trong xã hội.

Thứ hai, khung khổ pháp lý đối với quyền sử dụng đất đai ở Việt Nam chưa thật cụ

thể và rõ ràng Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là hợp lý nhưng từ chế độ đó cần

có quy định pháp lý cụ thể và rõ ràng đối với quyền sử dụng đất đai Đất đai là một tài nguyên lớn Quyền sử dụng đất đai là một tài sản có giá trị trong việc mua bán

và góp vốn Để phát huy vai trò của đất đai như là một nguồn vốn quan trọng cho

sự phát triển thì cần có khung khổ pháp lý rõ ràng đối với quyền sử dụng đất đai Nhiều thửa ruộng, mảnh vườn, núi đồi, ao hồ có giá trị lớn cho sản xuất nhưng không thể hoặc không dễ chuyển thành vốn được hoặc có giá trị vốn hóa thấp do thủ tục pháp lý về quyền sử dụng không rõ ràng.

Trang 9

Như vậy, quy định này giữ được ổn định của quan hệ đất đai, ngăn ngừa những xung đột, phức tạp về mặt xã hội, mặt lịch sử có thể nảy sinh nếu thay đổi hình thức sở hữu đất đai ở nước ta Đồng thời, quy định như vậy cũng phù hợp với chủ trương của Đảng là tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là một khái niệm pháp lý gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan

hệ sở hữu đất đai trong đó xác nhận quy định và bảo vệ quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai.

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng của mỗi quốc gia, chế độ sở hữu đất đai phù hợp sẽ giúp cho việc khai thác nguồn tài nguyên vô giá này có hiệu quả Ngược lại, chế độ sở hữu không phù hợp sẽ gây ra rất nhiều hệ lụy tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế – xã hội Ở Việt Nam hiện nay, chế độ sở hữu đất đai

là chế độ sở hữu toàn dân Chế độ đó là phù hợp nhưng việc cụ thể hóa chế độ sở hữu toàn dân về đất đai vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp Chính vì thế, việc nghiên cứu, bổ sung chỉnh sửa các quy định pháp luật về đất đai vẫn đang là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách.

1,2,3 V.I Lê-nin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2006, t.16, tr 346, 349, 371

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Tieu- diem/2013/20653/So-huu-toan-dan-ve-dat-dai-Tat-yeu-lich-su-trong.aspx

2 https://caphesach.wordpress.com/2014/05/06/co-so-ly- luan-va-thuc-tien-cua-che-do-so-huu-toan-dan-ve-dat-dai-o-viet-nam/

3 https://luatminhkhue.vn/tu-van-luat-dat-dai/che-do-so- huu-toan-dan-ve-dat-dai-va-nguyen-tac-co-ban-va-quan-trong-nhat-cua-luat-dat-dai-aspx

Ngày đăng: 01/12/2021, 02:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w