Phân tích chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình ở Việt Nam hiện nay. Trên thế giới vẫn còn tới hơn 200 triệu phụ nữ có nhu cầu tránh thai nhưng chưa tiếp cận được phương tiện và dịch vụ tránh thai có chất lượng. Điều này dẫn tới hoặc là sinh con ngoài ý muốn, hoặc là phá thai và các hậu quả khác về sức khỏe sinh sản; ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của gia đình, của mỗi người, đặc biệt là đối với phụ nữ và vị thành niên.
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
-TIỂU LUẬN
Môn: CHÍNH SÁCH CÔNG
Đề tài: Phân tích chính sách dân số và kế hoạch hoá
gia đình ở Việt Nam hiện nay.
Sinh viên: Dương Nguyễn Vĩnh Hà
Mà sinh viên: 1855270017 Lớp: Quản Lý Kinh Tế K38
Hà Nội, Tháng 6 năm 2020
Trang 2Mục Lục
1 Lời giới thiệu
I Những vấn đề chung về chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình.
1.Cơ sở lý luận:
1.1 Lý luận chung:
1.2 Vai trò của công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình:
I Thực trạng và chính sách Dân số- Kế hoạch hoá gia đình:
1 Kế hoạch hoá gia đình:
2. Một số quy định trong luật kế hoạch hóa gia đình mới nhất hiện nay
II Đánh giá chính sách :
1 Độ quan trọng và thiết thực của chính sách:
2 Mục tiêu nhiệm vụ của chính sách
3 Tác động của chính sách
Trang 3Lời giới thiệu
Trên thế giới vẫn còn tới hơn 200 triệu phụ nữ có nhu cầu tránh thai nhưng chưa tiếp cận được phương tiện và dịch vụ tránh thai có chất lượng Điều này dẫn tới hoặc là sinh con ngoài ý muốn, hoặc là phá thai và các hậu quả khác về sức khỏe sinh sản; ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của gia đình, của mỗi người, đặc biệt là đối với phụ nữ và vị thành niên
Do sớm nhận thức được tầm quan trọng của dân số đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội, ngay từ năm 1961, Hội đồng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết
định 216/CP về việc " sinh đẻ có hướng dẫn" và giao Bộ Y tế trách nhiệm "cung
cấp với giá rẻ, một cách dễ dàng và thuận lợi nhất cho những người cần dùng phương tiện có liên quan đến việc sinh đẻ có hướng dẫn" Như vậy, thực chất,
ngay từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, Nhà nước ta đã trao
quyền kế hoạch hóa gia đình cho công dân và hơn nữa còn mong muốn tạo
điều kiện "dễ dàng và thuận lợi nhất" để người dân thực hiện được quyền này
Gần 60 năm qua, giải pháp cơ bản, xuyên suốt, nhất quán để thực hiện quyền kế
hoạch hoá gia đình ở Việt Nam là tuyên truyền, vận động đi trước; gắn liền với
đưa phương tiện, dịch vụ tránh thai đến tận người dân; có chính sách khuyến khích từng cặp vợ chồng, từng gia đình, từng địa phương, từng cơ quan tích cực tham gia công tác kế hoạch hoá gia đình
Đa dạng hoá việc cung cấp phương tiện và phương pháp tránh thai, để người dân "dễ dàng và thuận lợi nhất" tiếp cận, Việt Nam đã đa dạng hoá phương tiện
và phương pháp tránh thai; đa dạng hoá mạng lưới cung cấp và đa dạng hoá chế
độ cung cấp (miễn phí, bán rẻ, bán theo giá thị trường phương tiện, dịch vụ) Với chính sách đúng đắn, triển khai tích cực và sáng tạo, Chương trình kế hoạch hóa gia đình đã thu được những thành tựu nổi bật Nếu những năm 1965-1969, chỉ có khoảng 15% số cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai thì bước sang thế kỷ 21, tỷ lệ này đã tăng gấp 5 lần, đạt khoảng 75% và duy trì từ đó đến nay Nhờ vậy, mức sinh của Việt Nam giảm nhanh, hiện đã đạt mức thấp Những năm 1965-1969, tính đến hết độ tuổi sinh đẻ, trung bình mỗi phụ nữ có gần 7 con thì hiện nay mô hình "gia đình 2 con" đang trở nên phổ biến
Mục tiêu mà Chương trình kế hoạch hóa gia đình theo đuổi suốt nửa thế kỷ qua
đã đạt được một cách vững chắc Như vậy, kế hoạch hóa gia đình đã giúp phụ
nữ, giúp các cặp vợ chồng có số con như mong muốn và việc sinh đẻ đã chuyển
từ hành vi mang tính tự nhiên, bản năng sang hành vi có kế hoạch, văn minh; từ
bị động sang chủ động; từ số lượng con nhiều, chất lượng thấp sang số con ít,
Trang 4chất lượng cao hơn; từ sinh đẻ ít trách nhiệm sang sinh đẻ có trách nhiệm đầy
đủ hơn Sinh đẻ ít nên dân số tăng chậm lại, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đây thực sự là một trong
những biến đổi xã hội sâu sắc nhất của nước ta trong nửa thế kỷ qua Ghi nhận thành công này, ngay từ năm 1999, Liên Hợp Quốc đã tặng Giải thưởng Dân số cho Việt Nam
Giải quyết toàn diện các vấn đề dân số, bên cạnh mức sinh thấp, dân số Việt Nam đang xuất hiện những xu hướng mới, vừa mang lại cơ hội, vừa gây ra những thách thức cho sự phát triển bền vững ở nước ta, như: Cơ cấu dân số vàng; mất cân bằng giới tính khi sinh; già hoá dân số; mức sinh giữa các vùng còn chênh lệch đáng kể; chất lượng dân số tăng lên nhưng chưa cao; di dân diễn
ra mạnh mẽ và phân bố dân số còn nhiều bất cập Rõ ràng, tình trạng dân số của nước ta ngày nay đã hoàn toàn khác tình trạng dân số cách đây hơn nửa thế kỷ
Do đó, đã đến lúc phải giải quyết toàn diện các vấn đề dân số, chứ không chỉ
đơn thuần là kế hoạch hóa gia đình Chính vì vậy, Nghị quyết số 21/NQ-TW
của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã định
hướng cho chính sách dân số Việt Nam trong thời gian tới là:"Tiếp tục chuyển
trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hoá gia đình sang dân số và phát triển Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế,
xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững"
Việc chuyển trọng tâm của chính sách dân số là phù hợp với mức sinh đã thấp
và yêu cầu giải quyết những vấn đề dân số mới nảy sinh Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, trong tình hình mới, kế hoạch hóa gia đình chỉ không còn là "trọng tâm" của chính sách dân số chứ không phải là "từ bỏ" kế hoạch hoá gia đình Công tác này thậm chí cần được duy trì mạnh mẽ nhưng với mục tiêu mới và phương thức thực hiện mới Nếu trước đây, chính sách dân số luôn nhấn mạnh mục tiêu "giảm sinh" thì mục tiêu của chính sách dân số mới là "duy trì mức sinh" như hiện nay, tức là mỗi bà mẹ có 2 con Điều này có nghĩa là không để cho mức sinh giảm sâu hơn nữa hoặc tăng trở lại Đương nhiên, để đạt mục tiêu này phải sử dụng các phương tiện, các biện pháp và dịch vụ tránh thai, tức là không thể "từ bỏ" kế hoạch hoá gia đình Mặt khác, khi các cặp vợ chồng chỉ có nhu cầu sinh 1 hoặc 2 con, nếu không được tư vấn chu đáo và cung cấp phương tiện, dịch vụ tránh thai đầy đủ thì bùng nổ phá thai là điều không tránh khỏi.Vì vậy, đáp ứng những nhu cầu này cho hàng chục triệu người trong độ tuổi sinh
đẻ là nhiệm vụ to lớn, mang tính thường xuyên và gắn liền với quá trình phát triển bền vững của nước ta
Trang 5Kế hoạch hoá gia đình ở Việt Nam đã đi được một chặng đường dài và đã đạt được những thành tựu to lớn Hiện nay, kế hoạch hoá gia đình đã trở thành lối sống của người Việt Nam, gia đình Việt Nam Tuy nhiên, ở mỗi địa phương, mỗi vùng miền, mỗi nhóm dân cư, thành tựu này còn khác nhau Quán triệt những đặc điểm mới về dân số, kinh tế và xã hội; chính sách, pháp luật và kỹ thuật để đổi mới Chương trình kế hoạch hóa gia đình nói chung và nâng cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình là yêu cầu nổi bật hiện nay
Do điều kiện về thời gian, tài liệu và trình độ hiểu viết về vấn đề của người viết còn hạn chế nên không thể tránh khỏi các thiêys sót, rất mong nhận được những
ý kiến đóng góp từ cô và các bạn đọc tiểu luận này để vấn đề ngày một hoàn thiện hơn!
Trang 6I Những vấn đề chung về chính sách dân số - kế hoạch hoá
gia đình.
1 Cơ sở lý luận:
I.1 Lý luận chung:
Dân số của mỗi quốc gia, mỗi địa phương đều có sự liên quan mật thiết điến sự phát triển của quốc gia, địa phương đó cũng như ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người dân
Về mặt tích cực, dân số đđông đem lại nguồn lao động cho sản xuất, nhất
là khi trình độ cơ giới hoá và tự động hoá chưa cao Tuy nhiên về mặt tiêu cực, dân số đông dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng nhất là khi cung không đáp ứng
đủ cầu
Về mặt kinh tế, khi mà tài nguyên thiên nhiên đầu tư cơ sở vật chất không đáp ứng kịp tỉ lệ tăng dân số, nan thất nghiệp là một vấn đề nan giải Từ đó dẫn đến những người lang thang, ăn xin,… thậm chí xuất hiện những tệ nạn xã hội như trộm cướp, mại dân,… chưa kể đến sự di dân đổ xô lên thành thị để kiếm sống làm nặng thêm những vấn đề trên ở các thành phố lớn
Về mặt giáo dục, dân số tăng nhanh có thể vượt qua mức đáp ứng của hệ thống giáo dục cộng với điều kiện kinh tế khó khăn làm tăng tình trạng thất học,
bỏ học dẫn đến trình độ dân trí trung bình bị giảm thấp, ảnh hưởng đến sự phát triển chung về xã hội cũng như chất lượng cuộc sống
Về mặt y tế, dân số tăng nhanh vượt qua mức cung ứng sẽ dẫn đến dịch bệnh gia tăng dẫn đến giảm sức lao động, thương tật và tử vong
Hậu quả nghiêm trọng của việc tăng dân số là vấn đề môi trường Việc khai thác thiên nhiên một cách bừa bãi như phá rừng lấy đất làm canh tác, khai thác gỗ làm chất đốt, vật dụng, khai thác thú rừng, đào quặng bừa bãi,… đã tàn phá trầm trọng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên gián tiếp ảnh hưởng các rối loạn về mặt sinh thái như nạn lụt lội, hạn hán
Dân số tăng đặc biệt ở thành thị dẫn đến những vùng có mật độ dân cư cao, sống chen chúc, mất vệ sinh dẫn đến sự gia tăng các dịch bệnh Khói thải , nước thải, rác thải làm ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất làm trâm trọng thêm những vấn đề về sức khoẻ nhất là ở các khu đô thị hoặc các khu công nghiệp Ảnh hưởng về mặt kinh tế, giáo dục, y tế, môi trường đã tác động mạnh đến đời sống xã hội và tâm lý của người dân Cuộc sống khó khăn dẫn đến quẫn bách, xáo trộn, mâu thuẫn trong gia đình làm giảm chất lượng cuộc sống
I.2 Vai trò của công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình:
Từ những phân tích trên, bên cạnh các biện pháp phát triển kinh tế, y tế, giáo dục, kiểm soát và khai tác tài nguyên, phân bố dân cư hợp lý, giải quyết ô
Trang 7nhiễm môi trường thì kế hoạch hoá gia đình là một biện pháp căn cơ giúp giải quyết vấn đề về dân số và nâng cao chất lượng cuộc sống Kế hoạch hoá gia đình ngoài mục đích hạn chết sự gia tăng dân số còn nhằm bảo vệ sức khoẻ của phụ nữ và trẻ em đồng thời đem lại hạnh phúc cho gia đình
- Nên sinh từ 1-2 con : Sinh ít làm giảm khả năng tai biến sản khoa, bảo vệ được sức khoẻ của phụ nữ, tránh tình trạng kém dinh dưỡng và bảo vệ vẻ đẹp của phụ nữ
- Khoảng cách sinh con nên từ 3-5 năm: Không làm tăng thêm gánh nặng của phụ nữ về mặt dinh dưỡng, giảm suy dinh dưỡng cũng như tai biến sản khoa Giúp sinh dễ, đồng thời người mẹ có thời gian chăm sóc trẻ, tránh bệnh tật Không sinh con khoảng cách quá xa vì có thể đã quên kinh nhiệm nuôi dạ trẻ nhỏ
- Tuổi có con nên khoảng 22-35 Sinh con lúc còn quá trẻ khi cơ thể chưa phát triển đầy đủ giúp làm tăng tai biến sản khoa, tăng tỉ lệ suy dinh dưỡng cho cả mẹ và con
II Thực trạng và chính sách Dân số- Kế hoạch hoá gia đình:
1 Kế hoạch hoá gia đình:
Kế hoạch hóa gia đình được xem là kế hoạch sinh con của các gia đình, cần có sự kiểm soát cũng như sử dụng các biện pháp tránh thai để ngăn chặn các bệnh lây lan qua đường tình dục và kiểm soát việc có thai lại của người mẹ Tùy thuộc vào từng gia đình, điều kiện kinh tế mà các cặp vợ chồng có thể lựa chọn các biện pháp tránh thai sao cho phù hợp
Việc thực hiện tốt chính sách kế hoạch hóa gia đình này sẽ giúp cải thiện sức khỏe của người mẹ, thể hiện được quyền bình đẳng giới, giảm thiểu trường hợp đói nghèo do tình trạng đông con
2. Một số quy định trong luật kế hoạch hóa gia đình mới nhất hiện nay
Quy định về số lượng con trong mỗi gia đình
Mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ 1 – 2 con Chỉ trừ một số trường hợp đặc biệt được sự cho phép của nhà nước thì mới được quyền sinh con thứ ba Như:
Gia đình sinh lần 1 nhưng sinh 3 trở lên
Các gia đình sinh con lần thứ 2 nhưng có 1 lần sinh đôi
Nếu 1 trong 2 đứa con của gia đình bị dị tật, bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền đã được giám định bởi cơ quan chức năng thì họ sẽ
có quyền được sinh con thứ 3
Trang 8 Phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh…
Chính sách dành cho đơn vị, tổ chức, cá nhân thực hiện tốt chính sách
Luật kế hoạch hóa gia đình mới nhất hiện nay ngoài việc ban hành các quy định
về điều kiện được sinh con thứ 3 thì còn đưa ra chính sách khen thưởng, khuyến khích cho những tổ chức, cá nhân thực hiện tốt vấn đề này
Xử lý vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình
Đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chứcCơ quan sẽ không được công nhận là đơn vị văn hóa và sẽ làm căn cứ để xem xét khi công nhận các danh hiệu thi đua, các hình thức khen thưởng Đối với các tổ chức Đảng, Đoàn thể thì sẽ không được công nhận các danh hiệu theo quy định
Đối với thôn, bản, tổ dân phố, khu vực, xã, phường, thị trấn
Đối với thôn, bản có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên tăng trên 12% thì không được công nhận đơn vị đạt chuẩn văn hóa Còn đối với tổ, khu vực có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên tăng trên 7% thì không được công nhận đơn vị đạt chuẩn văn hóa Đối với gia đình và cá nhânGia đình thì không được công nhận gia đình văn hóa Còn cá nhân là nhân dân ở các xã, phường, thị trấn thì sẽ bị xử lý theo quy định, quy ước văn hóa nơi sinh sống trong năm vi phạm và phải chịu các hình thức xử lý khác theo quy định của pháp luật
Cá nhân là cán bộ, công nhân viên chức, người lao động thuộc các cơ quan, tổ chức, đơn vị thì không được xem xét các danh hiệu thi đua, các hình thức khen thưởng và phải chịu các hình thức xử lý khác theo quy định của pháp luật
Đối với đảng viên, đoàn viên, hội viên
Xử lý theo quy định của pháp luật và có hình thức kỷ luật theo quy định của tổ chức Đảng, Đoàn, Hội Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có người vi phạm trong năm thì sẽ chịu trách nhiệm về các hình thức xử lý theo quy định của pháp luật Với những thông tin mà bài viết cung cấp đã giúp cho bạn có thể hiểu thêm về luật kế hoạch hóa gia đình mới nhất hiện nay Để thực hiện tốt việc này thì phụ
nữ nên đến các cơ sở y tế để được tư vấn và có biện pháp hiệu quả nhất
Sau nhiều năm thực hiện kế hoạch hóa gia đình, với khẩu hiệu "mỗi gia đình chỉ nên có từ 1-2 con", quyết định 588/QĐ-TTg của Thủ tướng mở ra câu chuyện mới: khuyến khích các gia đình ở vùng có mức sinh thấp sinh đủ 2 con, các bạn trẻ lập gia đình trước tuổi 30
Trang 9Dân số Việt Nam trên 96 triệu người, việc khuyến khích sinh thêm khi tỉ suất sinh vẫn ở mức trên 2 con/bà mẹ tác động đến chất lượng dân số, chất lượng lao động
ra sao
iii Đánh giá chính sách :
1 Độ quan trọng và thiết thực của chính sách:
Do sớm nhận thức được tầm quan trọng của dân số đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội, ngay từ năm 1961, Hội đồng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định 216/CP về việc "sinh đẻ có hướng dẫn" và giao Bộ Y tế trách nhiệm "cung cấp với giá rẻ, một cách dễ dàng và thuận lợi nhất cho những người cần dùng phương tiện có liên quan đến việc sinh đẻ có hướng dẫn" Như vậy, thực chất, ngay từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, Nhà nước ta đã trao quyền kế hoạch hóa gia đình cho công dân và hơn nữa còn mong muốn tạo điều kiện "dễ dàng và thuận lợi nhất" để người dân thực hiện được quyền này Gần
60 năm qua, giải pháp cơ bản, xuyên suốt, nhất quán để thực hiện quyền kế hoạch hoá gia đình ở Việt Nam là tuyên truyền, vận động đi trước; gắn liền với đưa phương tiện, dịch vụ tránh thai đến tận người dân; có chính sách khuyến khích từng cặp vợ chồng, từng gia đình, từng địa phương, từng cơ quan tích cực tham gia công tác kế hoạch hoá gia đình
Để người dân "dễ dàng và thuận lợi nhất" tiếp cận, Việt Nam đã đa dạng hoá phương tiện và phương pháp tránh thai; đa dạng hoá mạng lưới cung cấp và đa dạng hoá chế độ cung cấp (miễn phí, bán rẻ, bán theo giá thị trường phương tiện, dịch vụ)
Với chính sách đúng đắn, triển khai tích cực và sáng tạo, Chương trình kế hoạch hóa gia đình đã thu được những thành tựu nổi bật Nếu những năm 1965-1969, chỉ có khoảng 15% số cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai thì bước sang thế kỷ 21, tỷ lệ này đã tăng gấp 5 lần, đạt khoảng 75% và duy trì từ đó đến nay Nhờ vậy, mức sinh của Việt Nam giảm nhanh, hiện đã đạt mức thấp Những năm 1965-1969, tính đến hết độ tuổi sinh đẻ, trung bình mỗi phụ nữ có gần 7 con thì hiện nay mô hình "gia đình 2 con" đang trở nên phổ biến
Mục tiêu mà Chương trình kế hoạch hóa gia đình theo đuổi suốt nửa thế kỷ qua
đã đạt được một cách vững chắc Như vậy, kế hoạch hóa gia đình đã giúp phụ
nữ, giúp các cặp vợ chồng có số con như mong muốn và việc sinh đẻ đã chuyển
từ hành vi mang tính tự nhiên, bản năng sang hành vi có kế hoạch, văn minh; từ
bị động sang chủ động; từ số lượng con nhiều, chất lượng thấp sang số con ít, chất lượng cao hơn; từ sinh đẻ ít trách nhiệm sang sinh đẻ có trách nhiệm đầy
Trang 10đủ hơn Sinh đẻ ít nên dân số tăng chậm lại, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đây thực sự là một trong
những biến đổi xã hội sâu sắc nhất của nước ta trong nửa thế kỷ qua Ghi nhận thành công này, ngay từ năm 1999, Liên Hợp Quốc đã tặng Giải thưởng Dân số cho Việt Nam
Bên cạnh mức sinh thấp, dân số Việt Nam đang xuất hiện những xu hướng mới, vừa mang lại cơ hội, vừa gây ra những thách thức cho sự phát triển bền vững ở nước ta, như: Cơ cấu dân số vàng; mất cân bằng giới tính khi sinh; già hoá dân số; mức sinh giữa các vùng còn chênh lệch đáng kể; chất lượng dân số tăng lên nhưng chưa cao; di dân diễn ra mạnh mẽ và phân bố dân số còn nhiều bất cập
Rõ ràng, tình trạng dân số của nước ta ngày nay đã hoàn toàn khác tình trạng dân số cách đây hơn nửa thế kỷ Do đó, đã đến lúc phải giải quyết toàn diện các vấn đề dân số, chứ không chỉ đơn thuần là kế hoạch hóa gia đình Chính vì vậy, Nghị quyết số 21/NQ-TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã định hướng cho chính sách dân số Việt Nam trong thời gian tới là:"Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hoá gia đình sang dân số và phát triển Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy
mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu
cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững"
Việc chuyển trọng tâm của chính sách dân số là phù hợp với mức sinh đã thấp
và yêu cầu giải quyết những vấn đề dân số mới nảy sinh Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, trong tình hình mới, kế hoạch hóa gia đình chỉ không còn là "trọng tâm" của chính sách dân số chứ không phải là "từ bỏ" kế hoạch hoá gia đình Công tác này thậm chí cần được duy trì mạnh mẽ nhưng với mục tiêu mới và phương thức thực hiện mới Nếu trước đây, chính sách dân số luôn nhấn mạnh mục tiêu "giảm sinh" thì mục tiêu của chính sách dân số mới là "duy trì mức sinh" như hiện nay, tức là mỗi bà mẹ có 2 con Điều này có nghĩa là không để cho mức sinh giảm sâu hơn nữa hoặc tăng trở lại Đương nhiên, để đạt mục tiêu này phải sử dụng các phương tiện, các biện pháp và dịch vụ tránh thai, tức là không thể "từ bỏ" kế hoạch hoá gia đình Mặt khác, khi các cặp vợ chồng chỉ có nhu cầu sinh 1 hoặc 2 con, nếu không được tư vấn chu đáo và cung cấp phương tiện, dịch vụ tránh thai đầy đủ thì bùng nổ phá thai là điều không tránh khỏi.Vì vậy, đáp ứng những nhu cầu này cho hàng chục triệu người trong độ tuổi sinh
đẻ là nhiệm vụ to lớn, mang tính thường xuyên và gắn liền với quá trình phát triển bền vững của nước ta