1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ BIỂU HIỆN CỦA NÓ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

22 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 374,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy qua tìm hiểu chung về tình hình thực tế của nền kinh tế thị trường và em quyết định lựa chọn đề tài: “Quy luật giá trị và vai trò của nó trong phát triển kinh tế thị trường ở nước

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA : LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ BIỂU HIỆN CỦA

NÓ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 5

NỘI DUNG 6

Chương 1: Những lý luận về học thuyết giá trị và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường 6

1.1 Quy luật giá trị 6

1.1.1 Nội dung của quy luật giá trị 6

1.1.2 Hình thức của quy luật giá trị 7

1.1.3 Yêu cầu của quy luật giá trị 7

1.2 Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong điều kiện tự do cạnh tranh và trong điều kiện độc quyền 8

1.2.1 Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong điều kiện tự do cạnh tranh 8

1.2.2 Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong điều kiện độc quyền 9

1.3 Vai trò của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường 9

1.3.1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá 10

1.3.2 Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất nhằm tăng năng suất lao động 11

1.3.3 Phân hoá những người sản xuất hàng hoá nhỏ, làm nảy sinh quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa 12

Trang 4

Chương 2: Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị ở nước ta trong thời gian qua và một số giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta trong thời gian tới 14

2.1.1 Từ năm 1986 trở về trước (thời kỳ bao cấp) 14 2.1.2 Sau năm 1986 đến nay (thời gian sau thời kỳ đổi mới) 15

2.2 Một số giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật ở nước ta

trong thời gian tới 18 2.2.1 Đầu tư vào việc nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học công nghệ 18 2.2.2 Lưu thông hàng hoá, tăng khả năng cạnh tranh hàng hoá của Việt Nam 19

KẾT LUẬN 21

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Nước ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, do đó những kiến thức, khái niệm, phạm trù, quy luật của kinh tế chính trị đưa ra là cực kỳ cần thiết cho việc quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư

Trong đó, quy luật giá trị là một quy luật căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại và phát phát huy tác dụng của quy luật giá trị Vì vậy qua tìm hiểu chung về tình hình thực tế của nền kinh tế thị trường và em quyết định lựa chọn đề tài:

“Quy luật giá trị và vai trò của nó trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta” vì nó là một quy luật giúp điều tiết và lưu thông hàng hoá, kích thích cải

tiến kĩ thuật hợp lý hoá sản xuất

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của giáo viên bộ môn kinh tế chính trị đã giúp em hoàn thiện đề tài tiểu luận này

Trang 6

NỘI DUNG

Chương 1: Những lý luận về học thuyết giá trị và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường

1.1 Quy luật giá trị

1.1.1 Nội dung của quy luật giá trị

Trong nền kinh tế hàng hoá, hàng hoá và dịchvụ do các doanh nghiệp, những người sản xuất hàng hoá tư nhân, riêng lẻ sản xuất ra Những chủ thể sản xuất hàng hoá cạnh tranh với nhau Mỗi người sản xuất hàng hoá đều nghĩ đến cách chen lấn người khác, đều muốn giữ vững và mở rộng thêm địa vị của mình trên thị trường Mỗi người đều tự mình sản xuất không phụ thuộc vào người khác, nhưng trên thị trường những người sản xuất hàng hoá là bình đẳng với nhau Sản xuất hàng hoá càng phát triển thì quyền lực của thị trường đối với người sản xuất hàng hoá càng mạnh Nói như thế có nghĩa là trong nền kinh tế hàng hoá có những quy luật kinh tế ràng buộc và chi phối hoạt động của những người sản xuất hàng hoá

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và lưu thông hàng hoá

Quy luật giá trị quy định việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải căn cứ vào hao phí lao động xã hội cần thiết

Qui định ấy là khách quan, đảm bảo sự công bằng hợp lý, bình đẳng giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hoá Quy luật giá trị buộc những người sản xuất và trao đổi hàng hoá phải tuân theo "mệnh lệnh" của giá cả thị trường Thông qua sự vận động của giá cả thị trường sẽ thấy được sự hoạt động của quy luật giá trị Giá cả thị trường lên xuống một cách tự phát xoay

Trang 7

quanh giá trị hàng hoá và biểu hiện sự tác động của quy luật giá trị trong điều kiện sản xuất và trao đổi hàng hoá

1.1.2 Hình thức của quy luật giá trị

Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn: sản phẩm làm ra, trao đổi với mục đích là để thoả mãn nhu cầu cá nhân.Vì vậy, lưu thông và buôn bán không phải là mục đích chính của người sản xuất

Trong nền sản xuất hàng hoá TBCN: Hàng hoá được làm ra không đơn thuần để trao đổi mà còn để buôn bán và lưu thông

Giá trị hàng hoá biểu hiện ra bằng tiền được gọi là giá cả hàng hoá Trong nền kinh tế XHCN, tiền tệ cũng dùng làm tiêu chuẩn giá cả

Tuỳ vào từng giai đoạn mà quy luật giá trị có các hình thức chuyển hoá khác nhau Trong giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh, quy luật giá trị chuyển hoá thành quy luật giá cả sản xuất Trong giai đoạn CNTB độc quyền, quy luật giá trị chuyển hoá thành quy luật giá cả độc quyền cao

1.1.3 Yêu cầu của quy luật giá trị

Yêu cầu chung: sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở thời

gian lao động xã hội cần thiết

Yêu cầu cụ thể: Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất tự

quyết định hao phí lao động cá biệt của mình nhưng giá trị của hàng hoá không phải được quyết định bởi hao phí lao động của từng người sản xuất hàng hoá, mà bởi hao phí lao động xã hội cần thiết Vì vậy, muốn bán được hàng hoá, bù đắp được chi phí và có lãi, người sản xuất phải điều chỉnh làm cho hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí xã hội chấp

Trang 8

nhận được Trao đổi hàng hoá cũng phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết có nghĩa là trao đổi theo nguyên tắc ngang giá

Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hàng hoá Vì giá trị là cơ sở của giá cả nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị Hàng hoá nào nhiều giá trị thì giá cả của nó sẽ cao và ngược lại Trên thị trường, ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố: Cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền Sự tác động của các nhân tố này làm cho giá cả của hàng hoá trên thị trường tách rời với giá trị và lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó Sự vận động giá cả thị trường xoay quanh trục giá trị của nó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị Thông qua sự vận động của giá

cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng

1.2 Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong điều kiện tự do cạnh

tranh và trong điều kiện độc quyền

1.2.1 Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong điều kiện tự do cạnh

tranh

Tự do cạnh tranh là tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, tức là tự phát phân phối tư bản (C và v) vào các ngành sản xuất khác nhau nên hình thành tỷ suất lợi nhuận khác nhau Trong cạnh tranh có sự ganh đua đấu tranh về kinh tế giữa những người sản xuất với nhau, giữa những người sản xuất với những người tiêu dùng hàng hoá dịch vụ nhằm dành được những điều kiện thuận lợi, trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá có sự khác nhau về điều kiện sản xuất nên chi phí lao động cá biệt của sản xuất hàng hoá có sự khác nhau, để dành được các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phải cạnh tranh nhau nhưng các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm luôn biến động nên cạnh tranh diễn ra liên tục

Trang 9

Do đó trong tự do cạnh tranh quy luật giá trị được biểu hiện thành quy luật giá

cả sản xuất

1.2.2 Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong điều kiện độc quyền

Do chiếm được vị trí độc quyền nên các tổ chức độc quyền đã áp đặt giá

cả độc quyền: giá cả độc quyền thấp khi mua, giá cả độc quyền cao khi bán

Về thực chất, giá cả độc quyền vẫn không thoát ly và phủ định cơ sở của nó là giá trị Các tổ chức độc quyền thi hành chính sách giá cả độc quyền chẳng qua

là chiếm đoạt một phần giá trị của những người khác Nếu xem xét trong toàn

bộ hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa thì tổng số giá cả vẫn bằng tổng số giá trị Như vậy trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền

Giá cả độc quyền bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận độc quyền Giá cả độc quyền thường cao hơn giá trị của hàng hoá Do nắm được vai trò độc quyền trong một ngành sản xuất nhất định nên tập đoàn có thể tự ý quyết định giá bán trên thị trường, nhờ đó mà thu được lợi nhuận độc quyền

Lợi nhuận độc quyền bằng lợi nhuận bình quân cộng với một số lợi nhuận khác do địa vị thống trị của các tập đoàn độc quyền Khi trình độ xã hội hoá của lực lượng sản xuất đã vượt khỏi giới hạn điều tiết của cơ chế thị trường và độc quyền tư nhân thì tất yếu đòi hỏi phải được bổ sung bằng sự điều tiết của Nhà nước Cơ chế điều tiết kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước là sử dụng hợp cả ba cơ chế: thị trường, độc quyền tư nhân

và điều tiết của Nhà nước nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực trong cơ chế

1.3 Vai trò của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường

Trang 10

Như đã biết quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và lưu thông hàng hoá Trong nền kinh tế hàng hoá quy luật giá trị có những tác dụng sau đây:

1.3.1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá

Trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu thường xảy ra tình hình: người sản xuất bỏ ngành này, đổ xô vào ngành khác; tư liệu sản xuất và sức lao động xã hội được chuyển từ ngành này sang ngành khác, quy mô sản xuất của ngành này thu hẹp lại thì ngành kia lại mở rộng ra với tốc độ nhanh chóng Chính quy luật giá trị đã gây ra những hiện tượng đó, đã điều tiết việc sản xuất trong xã hội Muốn hiểu rõ vấn đề này, cần xem xét những trường hợp thường xảy ra trên thị trường hàng hoá:

- Giá cả nhất trí với giá trị;

- Giá cả cao hơn giá trị;

- Giá cả thấp hơn giá trị

Trường hợp thứ nhất nói lên cung và cầu trên thị trường nhất trí với nhau, sản xuất vừa khớp với nhu cầu của xã hội

Trường hợp thứ hai nói lên cung ít hơn cầu, sản xuất không thoả mãn được nhu cầu của xã hội nên hàng hoá bán chạy và lãi cao Do đó, những người sản xuất loại hàng hoá đó sẽ mở rộng sản xuất; nhiều người trước kia sản xuất loại hàng hoá khác cũng chuyển sang sản xuất loại này Tình hình đó làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển vào ngành này nhiều hơn các ngành khác

Trường hợp thứ ba chỉ rõ cung cao hơn cầu, sản phẩm làm ra quá nhiều

so với nhu cầu xã hội, hàng hoá bán không chạy và bị lỗ vốn Tình hình đó buộc một số người sản xuất ở ngành này phải rút bớt vốn chuyển sang ngành khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động giảm đi ở ngành này

Trang 11

Như vậy là theo "mệnh lệnh" của giá cả thị trường lúc lên, lúc xuống xoay quanh giá trị mà có sự di chuyển tư liệu sản xuất và sức lao động từ ngành này sang ngành khác, do đó quy mô sản xuất của ngành đó mở rộng Việc điều tiết tư liệu sản xuất và sức lao động trong từng lúc có xu hướng phù hợp với yêu cầu của xã hội, tạo nên những tỷ lệ cân đối nhất định giữa các ngành sản xuất Đó là biểu hiện vai trò điều tiết sản xuất của quy luật giá trị Nhưng sản xuất trong điều kiện chế độ tư hữu, cạnh tranh, vô chính phủ nên những tỷ lệ cân đối hình thành một cách tự phát đó chỉ là hiện tượng tạm thời

và thường xuyên bị phá vỡ, gây ra những lãng phí to lớn về của cải xã hội

Quy luật giá trị không chỉ điều tiết sản xuất mà điều tiết cả lưu thông hàng hoá Giá cả của hàng hoá hình thành một cách tự phát theo quan hệ cung cầu Cung và cầu có ảnh hưởng đến giá cả, nhưng giá cả cũng có tác dụng khơi thêm luồng hàng, thu hút luồng hàng từ nơi giá thấp đến nơi giá cao Vì thế, lưu thông hàng hoá cũng do quy luật giá trị điều tiết thông qua sự lên xuống của giá cả xoay quanh giá trị

1.3.2 Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất nhằm tăng năng suất lao động

Các hàng hoá được sản xuất trong những điều kiện khác nhau nên có giá trị cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường đều phải trao đổi theo giá trị xã hội Người sản xuất nào có giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội thì có lợi; trái lại, người có giá trị cá biệt cao hơn giá trị xã hội sẽ ở thế bất lợi,

có thể bị phá sản Để tránh bị phá sản và giành ưu thế trong cạnh tranh, mỗi người sản xuất hàng hoá đều tìm cách giảm giá trị cá biệt hàng hoá của mình xuống dưới mức giá trị xã hội bằng cách cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất

để tăng năng suất lao động Lúc đầu, chỉ có kỹ thuật của một số cá nhân được

Trang 12

cải tiến, về sau do cạnh tranh nên kỹ thuật của toàn xã hội được cải tiến Như thế là quy luật giá trị đã thúc đẩy lực lượng sản xuất và sản xuất phát triển

1.3.3 Phân hoá những người sản xuất hàng hoá nhỏ, làm nảy sinh quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa

Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, sự tác động của quy luật giá trị dẫn đến kết quả là một số ít người mở rộng dần kinh doanh, thuê nhân công và trở thành nhà tư bản, còn một số lớn người khác bị phá sản dần, trở thành những người lao động làm thuê Thế là sự hoạt động của quy luật giá trị dẫn tới hệ phân hoá những người sản xuất hàng hoá, làm cho quan hễ tư bản chủ nghĩa phát sinh Lênin nói "… nền tiểu sản xuất thì từng ngày, từng giờ, luôn

luôn đẻ ra chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản, một cách tự phát và trên quy

mô rộng lớn"

Trong nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa, quy luật giá trị cũng tác động hoàn toàn tự phát "sau lưng" người sản xuất, hoàn toàn ngoài ý muốn của nhà tư bản Chỉ trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, do chế độ công hữu về

tư liệu sản xuất chiếm địa vị thống trị, con người mới có thể nhận thức và vận dụng quy luật giá trị một cách có ý thức để phục vụ lợi ích của mình

1.4 Tính chất của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, một mặt vừa có những tính chất chung của nền kinh tế thị trường, mặt khác kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội Do

đó, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có những đặc trưng riêng

Thứ nhất, về mục tiêu phát triển kinh tế thị trường Mục tiêu hàng đầu của nước ta là giải phóng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực trong nước

Trang 13

và ngoài nước để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân

Thứ hai, nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo

Thứ ba, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập,trong đó lấy phân phối theo lao động

kinh tế thị trường hiện đại theo kiểu rút ngắn

Ngày đăng: 12/10/2021, 12:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bài “Kinh tế Việt Nam thời kỳ cả nước cùng xây dựng xã hội chủ nghĩa 1976-1995”- sách lịch sử kinh tế quốc dân, NXB giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam thời kỳ cả nước cùng xây dựng xã hội chủ nghĩa 1976-1995
Nhà XB: NXB giáo dục
1. Bộ giáo dục và đào tạo, giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia 2002 Khác
3. Đại học Kinh tế Quốc dân môn lịch sử các học thuyết Kinh tế – Lịch sử các học thuyết kinh tế – Nhà xuất bản thống kê, 1999 Khác
4. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa - NXB Chính trị quốc gia 2000 Khác
6. Sách Kinh tế chính trị Mác - Lênin, NXB Giáo dục, Hà Nội 2000 Khác
7. Số liệu nguồn báo cáo phát triển kinh tế, con người của Tổng cục thống kê Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w