Sự vận dụng và kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo thông qua Nghị quyết 24 và Nghị quyết 25 về công tác tôn giáo trong tình hình mới của Đảng Cộng sản Việt Nam? Liên hệ tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở quê hương anh (chị) hiện nay.
Trang 1* CÂU HỎI TIỂU LUẬN (Môn học Đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước ta về các mặt đời sống)
Sự vận dụng và kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo thông qua Nghị quyết 24 và Nghị quyết 25 về công tác tôn giáo trong tình hình mới của Đảng Cộng sản Việt Nam? Liên hệ tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở quê hương anh (chị) hiện nay
* BÀI LÀM
I QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO
Quan niệm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo
Nếu chủ nghĩa duy vật lịch sử được coi là một trong ba phát minh quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác, thì những quan điểm về tôn giáo là một trong những biểu hiện rõ nét nhất lập trường duy vật về lịch sử của học thuyết này Nó thể hiện thông qua các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cả bản chất, nguồn gốc lẫn chức năng của tôn giáo Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, “tôn giáo là những sự rút hết toàn bộ nội dung của con người và giới tự nhiên, là việc chuyển nội dung đó sang cho bóng ma Thượng đế ở bên kia thế giới, Thượng đế này, sau đó, do lòng nhân từ, lại trả về cho con người và giới tự nhiên một chút ân huệ của mình” theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo có nguồn gốc từ trong hiện thực và phản ánh chính hiện thực đó – một hiện thực cần có tôn giáo và có điều kiện để tôn giáo xuất hiện và tồn tại Trong Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, C.Mác đã viết: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”(7) Luận điểm trên của C.Mác
đã thể hiện rõ nguồn gốc, bản chất, chức năng của tôn giáo trên lập trường duy vật lịch sử Với C.Mác, tôn giáo như là “vầng hào quang” ảo tưởng, là những vòng hoa giả đầy màu sắc và đẹp một cách hoàn mỹ, là ước mơ, là niềm hy vọng
và điểm tựa tinh thần vô cùng to lớn cho những số phận bé nhỏ, bất lực trước cuộc sống hiện thực Vì, trong cuộc sống hiện thực, khi con người bất lực trước
tự nhiên, bất lực trước các hiện tượng áp bức, bất công của xã hội thì họ chỉ còn biết “thở dài” và âm thầm, nhẫn nhục chịu đựng Cũng trong cuộc sống hiện thực ấy, họ không thể tìm thấy “một trái tim” để yêu thương, che chở nên phải tìm đến một “trái tim” trong tưởng tượng nơi tôn giáo Trái tim đó sẽ sẵn sàng bao dung, tha thứ, chở che và tiếp thêm sức mạnh cho họ để họ có thể vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống
Với luận điểm “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”, C.Mác không chỉ muốn khẳng định tính chất “ru ngủ” hay độc hại của tôn giáo, mà còn nhấn mạnh đến sự tồn tại tất yếu của tôn giáo với tư cách một thứ thuốc giảm đau được dùng để xoa dịu những nỗi đau trần thế Thực vậy, người ta dùng thuốc giảm đau khi người ta bị đau đớn và chừng nào còn đau đớn, thì chừng đó còn
Trang 2có nhu cầu dùng nó Đó chính là lý do để lý giải tại sao người ta hướng tới, hy vọng và coi tôn giáo như chiếc “phao cứu sinh” cho cuộc sống của mình, cho dù
đó chỉ là những hạnh phúc ảo tưởng, chỉ là “sự đền bù hư ảo”
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, tôn giáo mặc dù là sự phản ánh hoang đường, hư ảo hiện thực, là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội nhưng nó không phải không có những yếu tố tích cực Tôn giáo chỉ là những
“bông hoa giả” tô điểm cho một cuộc sống hiện thực đầy xiềng xích Nhưng nếu không có những “bông hoa giả” ấy thì cuộc sống của con người chỉ còn lại
“xiềng xích” mà thôi Và nếu không có thứ “thuốc giảm đau” ấy thì con người
sẽ phải vật vã đau đớn trong cuộc sống hiện thực với đầy rẫy những áp bức, bất công và bạo lực
Quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể ở nước ta, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã xây dựng nên hệ thống quan điểm về tôn giáo, tín ngưỡng rất phong phú, đa dạng, độc đáo, sáng tạo, góp phần to lớn vào thắng lợi của công tác tôn giáo nói riêng và sự nghiệp cách mạng nói chung Với các nội dung cơ bản như sau:
Một là, xem xét vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng một cách toàn diện, trên quan điểm lịch sử cụ thể.
Tôn giáo và tín ngưỡng được Chủ tịch Hồ Chí Minh xem xét dưới góc độ văn hóa, triết học và đạo đức Tuy khẳng định “tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật”, nhưng theo Người, trong
văn hóa và đạo đức tôn giáo “Cái gì tốt thì ta nên khôi phục và phát triển, còn cái gì xấu, thì ta phải bỏ đi”, điều này đã thể hiện
sâu sắc quan điểm lịch sử cụ thể trong xem xét, đánh giá về tôn giáo của Người
Đối với tín ngưỡng truyền thống của dân tộc ta, Chủ tịch Hồ
Chí Minh nhận định: “Người dân An Nam không có linh mục, không
có tôn giáo theo cách nghĩ của châu Âu Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã hội… Những người già trong gia đình hay các già bản là người thực hiện những nghi lễ tưởng niệm” Tuy một số chức sắc, tín đồ tôn giáo có những hành động làm phương hại đến khối đại đoàn kết dân tộc, nhưng “phần lớn đồng bào tôn giáo… đều yêu nước kháng chiến” và dù là lương
hay giáo thì nhân dân ta đều tốt cả
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề tôn giáo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã tập trung nghiên cứu về Kitô giáo trong bối cảnh cuộc đấu tranh tư tưởng đang diễn ra gay gắt ở phương Tây, trong khi
Hồ Chí Minh là người đã rất tường tận và chịu ảnh hưởng sâu đậm
từ văn hóa, tín ngưỡng của phương Đông Từ nhận thức đó, Người
Trang 3đã tiếp cận và giải quyết thỏa đáng các vấn đề liên quan đến tôn giáo ở Việt Nam để phục vụ sự nghiệp cách mạng
Hai là, luôn thể hiện sự tôn trọng đối với những người sáng lập ra các tôn giáo, đánh giá cao vai trò và sự hy sinh, đóng góp của các bậc “chí tôn”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tôn trọng, khâm phục tinh thần hy sinh cao cả của những người sáng lập ra Phật giáo, Kitô giáo
Người nói: “Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Giatô tin ở đức Chúa Trời; Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng”.
Người luôn ca ngợi tấm lòng bác ái cao cả của Chúa, tinh thần từ bi, hỷ xả, cứu độ chúng sinh của Phật và cho rằng mục
đích cao cả của các vị ấy giống nhau ở chỗ họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội” Người nhận
thức rõ những điểm khác biệt của từng tôn giáo và chấp nhận nó như một phần tất yếu của sự nghiệp cách mạng; đồng thời đã khai thác và phát huy triệt để những điểm tương đồng trong quan điểm
tư tưởng của các bậc “chí tôn” để thu hút, động viên, tập hợp quần chúng theo đạo cùng đoàn kết để tiến hành sự nghiệp cách mạng Người đã gắn nhiệm vụ cách mạng với lý tưởng của những người sáng lập ra các tôn giáo một cách hài hòa, tự nhiên, thể hiện một phương pháp cách mạng mang đậm phong cách Hồ Chí Minh
Ba là, khẳng định sự tồn tại của tôn giáo là một tất yếu lịch
sử, luôn đồng hành cùng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Người khẳng định tôn giáo đã và đang tồn tại tất yếu dưới
chủ nghĩa xã hội Trả lời câu hỏi của cử tri Hà Nội: “Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì tôn giáo có bị hạn chế không?”, Người khẳng định rõ: “Không Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự
do Ở Việt Nam ta cũng vậy” Điều đó lý giải quan điểm của Hồ
Chí Minh rằng: trên con đường cách mạng của dân tộc ta luôn có
sự tham gia, đồng hành của đồng bào các tôn giáo, từ cách mạng giải phóng dân tộc đến cách mạng xã hội chủ nghĩa Điều đó cho thấy Người đã vượt xa tầm nhìn hạn hẹp, định kiến với tôn giáo của không ít người đương thời để đạt đến tầm cao mới nhằm phục
vụ sự nghiệp cách mạng
Bốn là, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa vấn đề tôn giáo -dân tộc.
Trên cơ sở nhận thức rõ Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc
và đa tôn giáo, mỗi tôn giáo tuy có lịch sử hình thành, du nhập, số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, vị trí vai trò xã hội và đặc điểm khác nhau, nhưng mọi tôn giáo đều tồn tại trong lòng dân tộc và do đó lợi ích của từng tôn giáo cũng gắn liền với lợi ích của quốc gia, dân tộc… nên Hồ Chí Minh rất quan tâm đến mối quan
Trang 4hệ đặc biệt này Người cho rằng: đối với người Công giáo, không
có gì vui mừng hơn khi họ vừa là con chiên ngoan đạo, vừa là
người yêu nước theo tinh thần “kính Chúa - yêu nước”, “phụng sự Thiên Chúa - phụng sự Tổ quốc”, “nước có độc lập thì đạo mới được tự do”… Theo Người, đối với đồng bào theo đạo thì đức tin
tôn giáo và lòng yêu nước luôn thống nhất với nhau Một người dân Việt Nam yêu nước đồng thời cũng chính là một tín đồ chân chính và ngoan đạo, ngược lại, một kẻ chống lại dân tộc, Tổ quốc mình thì cũng chính là một kẻ phản Chúa
Ở một quốc gia đa tôn giáo như nước ta, dù là trong cách mạng giải phóng dân tộc hay cách mạng xã hội chủ nghĩa thì vấn
đề dân tộc và tôn giáo vẫn luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Không có độc lập dân tộc thì sẽ không có giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người và ngay cả tôn giáo cũng không có tự do, nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã Người
nói: “Nước có độc lập, thì đạo Phật mới dễ mở mang” Trong mối
quan hệ đó thì vấn đề dân tộc luôn được ưu tiên đặt lên hàng đầu, tuy nhiên Người không tuyệt đối hóa vấn đề dân tộc, xem nhẹ vấn
đề tôn giáo mà thường giải quyết mối quan hệ này một cách thỏa đáng, tạo cơ sở để sau này giáo hội các tôn giáo đề ra tôn chỉ, mục đích hành đạo theo hướng gắn bó việc đạo với việc đời, tôn giáo với dân tộc như: “Đạo pháp - Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo; “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Thiên Chúa giáo; “Nước vinh, Đạo sáng” của Cao Đài giáo…
Năm là, xác định rõ mục đích, nhiệm vụ của công tác tôn giáo là để đoàn kết đồng bào có đạo, đoàn kết giữa các tôn giáo, đoàn kết toàn dân tộc.
Một trong những tư tưởng đặc sắc và đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh vào sự phát triển lý luận Mác-Lênin về tôn giáo là đã xác định: mục đích cao nhất, nội dung xuyên suốt của công tác tôn giáo là để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết lương giáo, đoàn kết giữa đồng bào các dân tộc tôn giáo khác nhau, góp phần ngày càng to lớn vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc Cho nên, ngay cả những lúc vận mệnh của cách mạng như “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn xác định một trong sáu nhiệm vụ cấp bách đầu tiên mà Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng
hòa phải thực hiện là: “Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”.
Để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo, Người
đã chỉ ra sự đồng thuận giữa mục tiêu của cách mạng với mục
đích của những người sáng lập tôn giáo “Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn,
để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ” và với trách nhiệm của
Trang 5người đứng đầu Nhà nước, Người khẳng định rõ: “…những việc chính phủ và nhân dân ta làm, đều hợp với tinh thần Phúc âm”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đảng ta lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân làm hết sức mình, kể cả hy sinh xương máu để giữ gìn sự đoàn kết
đó, đồng thời phê phán sâu sắc cách nhìn thiển cận trong xây
dựng khối đoàn kết lương giáo Người cho rằng: “Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi Tư tưởng hẹp hòi thì nhiều thù mà ít bạn (như vấn đề tôn giáo) Người mà hẹp hòi thì ít kẻ giúp Đoàn thể mà hẹp hòi thì không phát triển”.
II NGHỊ QUYẾT 24-NQ/TW, NGHỊ QUYẾT 25-NQ/TW LÀ SỰ VẬN DỤNG, KẾ THỪA QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Đảng, Nhà nước ta ngay từ khi thành lập đã hiểu rõ nhu cầu tâm linh của người dân Việt Nam và coi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền nhân thân cơ bản của người dân Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta được xây dựng một mặt dựa trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam với tư tưởng nhất quán, xuyên suốt là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc
Ngày 16/10/1990, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) ra Nghị quyết số 24-NQ/TW Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới là dấu mốc quan trọng về sự đổi mới đường lối, chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo; trong đó
xác định: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”
Trong bối cảnh lịch sử bấy giờ, bộ phận các nước XHCN Đông
Âu đã sụp đổ và thành trì XHCN tại Liên bang Xô viết đã lung lay tận gốc, tuy nhiên những quan điểm tả khuynh về tôn giáo vẫn còn chế ngự (phê bình tôn giáo chủ yếu vào căn bản của thuyết vô thần luận mác xít và các hình thái vô thần duy vật khác) thì các luận điểm này đã nhanh chóng tạo nên sự đột phá nhận thức: không thể nhìn tôn giáo qua mệnh đề của Mác đã bị cắt xén và
phiến diện “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” Phải nhìn nhận tôn giáo như một “thực tại xã hội” và là nhu cầu của một bộ
phận quần chúng và nó hoàn toàn có thể đồng hành với CNXH Riêng luận đề mới mẻ về Văn hóa tôn giáo đã khơi dậy trực tiếp nhất những suy nghĩ, hành động tích cực của quần chúng, người
có tôn giáo cũng như không có tôn giáo Khi các giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo được đặt trong khuôn khổ của văn hóa dân tộc một mặt đã thừa nhận sự đa dạng của văn hóa dân tộc, mặt khác tạo ra thêm một con đường đoàn kết dân tộc, tôn giáo Khai
Trang 6thác tốt các giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo thuận lợi hơn
trong quá trình “Tìm về dân tộc”… Quan trọng là từ đây, nhận
thức về vấn đề tôn giáo của cán bộ, đảng viên và quần chúng đã
có bước tiến khá dài Một bầu không khí xã hội mới mẻ đã lan tỏa, ranh giới vô hình mà khắc nghiệt về sự phân biệt “lương giáo” mà các thế lực đế quốc, thực dân, phong kiến trước đây cố tình khoét sâu mâu thuẫn, nay đã được gỡ bỏ căn bản, tạo nên những điểm sáng trong quan điểm Đạo Đời
Kể từ sau Nghị quyết 24/NQ-TW, Đảng, nhà nước ta còn có nhiều văn kiện, văn bản pháp lý khẳng định và phát triển tư duy đổi mới về tôn giáo, như: Chỉ thị 37- CT/TW ngày 2/7/1998 của Bộ Chính trị về công tác tôn giáo trong tình hình mới… (từ 1990 đến
2003, đã có 13 văn kiện về các vấn đề tôn giáo gồm 2 Nghị quyết,
2 Chỉ thị, 9 Thông báo Trong đó, cấp Ban Bí thư ban hành 1 Chỉ thị, 7 Thông báo; cấp Bộ Chính trị ban hành 01 Nghị quyết, 01 Chỉ thị và 02 Thông báo; cấp Ban Chấp hành TW ban hành 01 Nghị quyết…); Chính phủ ban hành Nghị định số 69/NĐ- HĐBT ngày
21/3/1991 “Quy định về các hoạt động tôn giáo”, Nghị định 26/NĐ-CP ngày 19/4/1999 “Về các hoạt động tôn giáo”…
Sau 13 năm thực hiện chính sách đổi mới đối với tôn giáo, nhìn lại từ tổng kết thực tiễn, đồng thời xem xét những vấn đề mới nảy sinh, đặt trong hoàn cảnh trong nước và thế giới có nhiều thay đổi quan trọng, ngày 12/3/2003 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo, trong đó quan điểm, chính sách của Đảng ta đối với tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được khẳng định và phát triển thêm một
bước mới: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật…”.
Trên cơ sở các nền tảng đó, tháng 7/2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua, ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, và thánh 11/2016 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua, ban hành được Luật Tín ngưỡng, tôn giáo Hiến pháp năm 2013 cũng tiếp tục khẳng định quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Như vậy, chúng ta không thể phủ nhận ảnh hưởng cũng như sức lan tỏa của 02 Nghị quyết 24, 25-NQ/TW đến nay đã đem lại nhiều thành tựu đối với đời sống tôn giáo trong nước nói riêng, cũng như đời sống chính trị-văn hóa-xã hội cả nước nói chung, cụ thể:
Trang 7Thứ nhất, đã làm chuyển biến căn bản nhận thức của xã hội,
nhất là nhận thức của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở các cấp về tôn giáo và công tác tôn giáo Nhìn nhận tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; coi trọng những giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo tốt đẹp; thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Tâm lý mặc cảm, định kiến với tôn giáo giảm dần; coi đồng bào có tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo cũng là sinh hoạt văn hóa bình thường của nhân dân, quần chúng
có đạo Công tác vận động tín đồ, chức sắc tôn giáo được đẩy mạnh, gắn kết đồng bào tín đồ các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh nội lực của toàn dân trong quá trình hội nhập và phát triển đất nước
Hai là, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn
giáo, thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng bằng hệ thống các văn bản chính sách, pháp luật về tôn giáo ngày càng hoàn thiện Nhờ hệ thống chính sách, pháp luật và những hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể, có thể nói, chưa bao giờ sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được thuận lợi như hiện nay Sinh hoạt tôn giáo của chức sắc, tín đồ được bảo đảm, nhu cầu sinh hoạt tôn giáo được hướng dẫn và giải quyết nhanh chóng theo trình tự quy định của pháp luật
Thứ ba, xác định nội dung cốt lõi công tác tôn giáo là công
tác vận động quần chúng, cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đã quan tâm đẩy mạnh công tác vận động quần chúng tôn giáo Quan tâm chỉ đạo phát triển kinh tế
-xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân; tập trung giải quyết vấn
đề an sinh xã hội, phát triển văn hóa, tạo điều kiện cho các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào Đẩy mạnh công tác vận động chức sắc, tín đồ tham gia tích cực các phong trào thi đua yêu nước, sống “tốt đời, đẹp đạo”; tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện, nhân đạo… Cả hệ thống chính trị đã có sự phối hợp thống nhất trong lĩnh vực công tác vận động quần chúng tôn giáo; xây dựng mối quan hệ gần gũi, thân thiện, thường xuyên thăm hỏi, động viên các tổ chức, chức sắc, tín đồ tôn giáo nhân các ngày lễ, tết của đất nước, lễ trọng của các tôn giáo; tham gia giải quyết kịp thời các vụ việc phức tạp nảy sinh liên quan đến tôn giáo
Thứ tư, hoạt động đối ngoại tôn giáo được đẩy mạnh qua các
kênh của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức, cá nhân tôn giáo và liên quan đến tôn giáo ở trong nước và trên quốc
tế Các bộ, ngành liên quan và các địa phương quan tâm tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động về tôn giáo ở nước ngoài vào tìm hiểu và tham dự các hoạt động tôn giáo tại Việt Nam, đi thực tế tình hình tôn giáo ở các vùng, miền để hiểu rõ
Trang 8hơn tình hình và việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng và Nhà nước
Thứ năm, công tác đấu tranh chống âm mưu lợi dụng tôn
giáo của các thế lực xấu nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế
độ tiếp tục được tăng cường, đổi mới; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo Công tác phối hợp giữa ban dân vận, chính quyền các cấp, các lực lượng chức năng, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng chặt chẽ, thông qua các chương trình phối hợp công tác đồng bộ, thống nhất Công tác tuyên truyền, vận động đã giúp quần chúng nhân dân, tín đồ tôn giáo nhận rõ những âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực xấu và tự giác đấu tranh với những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật Tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức, chức sắc, nhân
sĩ, trí thức tôn giáo và các lực lượng tiến bộ, bạn bè trên thế giới lên án các hành vi của các đối tượng xấu đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc và xu hướng phát triển tiến bộ của thời đại
III TÌNH HÌNH TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO HIỆN NAY Ở TP HÀ NỘI
1 Tình hình chung
Thành phố Hà Nội là đầu não chính trị - hành chính quốc gia,
lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục và giao dịch quốc tế, là nơi đặt
các cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính
hội, các cơ quan đại diện ngoại giao, các tổ chức quốc tế và là nơi
hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng của nhà nước Cũng như các địa phương khác trên cả nước, các tôn giáo từng
nhập, hình thành và phát triển ở Hà Nội Các tôn giáo ở Hà Nội,
không nhiều, chiếm tỷ lệ không cao trong dân số, nhưng lại có vị
quan trọng Hầu hết các tôn giáo lớn đều có trụ sở tại Hà Nội, như
ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đặt tại số 73 phố Quán Sứ, quận Hoàn
Kiếm; Học viện Phật giáo Việt Nam tại xã Phù Linh, huyện Sóc
Trung cấp Phật học tại chùa Mỗ Lao, quận Hà Đông; Toà Giám
tại số 40 phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm, đồng thời là trụ sở Văn
của Hội đồng Giám mục Việt Nam; Toà Giám mục Hưng Hoá tại số
Trang 95, phường
Lê Lợi, thị xã Sơn Tây; Đại Chủng viện Thánh Giuse với 2 cơ sở: cơ
40 phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm và cơ sở 2 tại phường Cổ
Bắc Từ Liêm; Văn phòng Uỷ ban Bác ái và Văn phòng của tổ chức
số 31 phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm; Trụ sở Tổng hội Hội thánh
Việt Nam (miền Bắc) và Hội thánh Tin lành Hà Nội, đặt tại số 2
quận Hoàn Kiếm; Thánh thất Cao Đài Thủ đô tại số 48 phố Hòa
Bà Trưng; Thánh đường Hồi giáo Al-Noor Hà Nội tại số 12 phố
quận Hoàn Kiếm Ngoài ra, người nước ngoài đang sinh sống và
các tập đoàn kinh tế, các tổ chức văn hóa, các tổ chức quốc tế và
đại diện ngoại giao
Trên địa bàn Hà Nội, ngoài các tôn giáo đã được công nhận
nhân đang hoạt động, gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi
giáo), đạo Cao đài, Minh sư đạo, Baha’i và Giáo hội các Thánh hữu
của Chúa Giêsu Kytô Việt Nam (Giáo hội Mặc Môn), còn có một số
Tin lành chưa có tư cách pháp nhân và hàng chục hiện tượng tôn
và đang tìm cách truyền bá, phát triển lực lượng Ngoài ra, tôn
còn chịu ảnh hưởng bởi những diễn biến tôn giáo của các tỉnh,
nước, trong đó bao gồm cả những mặt tích cực và tiêu cực Đa số
Nội có quan hệ và chịu ảnh hưởng rất lớn từ các tổ chức quốc tế,
giáo, Tin lành Như vậy, Hà Nội là địa phương đa dạng về tôn giáo Không những thế Hà Nội là địa phương có nhiều đầu mối (cơ quan TW) của các tôn giáo
2 Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Hà Nội
Thủ đô Hà Nội có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, cùng với những diễn biến của xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa trên mọi lĩnh vực, trong đó có hoạt
Trang 10động tôn giáo Hà Nội là trọng điểm số một mà các thế lực thù địch hướng tới trong mọi hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam Hiện nay, tình hình tôn giáo ở Hà Nội có những diễn biến phức tạp vì hầu hết những diễn biến tôn giáo trong cả nước và Hà Nội đều tác động trực tiếp qua lại lẫn nhau
Thứ nhất, các tôn giáo lớn ở Việt Nam, rõ nhất là những tôn
cộng đồng lớn, như Phật giáo, Công giáo và Tin lành đều đặt Trung ương
Giáo hội tại Hà Nội, do vậy, cơ bản những diễn biến tôn giáo trong
đều tác động trực tiếp đến tôn giáo ở Hà Nội, từ đó gây ảnh hưởng
hình an ninh trật tự xã hội cũng như chính trị ở Thủ đô, đồng thời,
giáo cũng thường hướng về Thủ đô để học hỏi những việc làm tốt
ngấm ngầm thực hiện những việc làm trái với pháp luật Hơn nữa, những
động thái, diễn biến của tôn giáo ở Hà Nội cũng có tác động trực
những động thái tôn giáo của các tỉnh, thành phố trên cả nước
Thứ hai, tôn giáo ở Hà Nội là đầu mối của các quan hệ quốc
đến lĩnh vực tôn giáo giữa các tôn giáo trong nước với các tôn
cá nhân ở các nước trên thế giới Nổi bật là mối quan hệ của Công
Tòa thánh Vatican, với Thượng Hội đồng giám mục Á châu; Tin
Hàn Quốc, với nước Mỹ và với những giáo phái khác; Hồi giáo có
hệ với các nước khối Ả rập.
Thứ ba, hiện nay, một số tổ chức tôn giáo ở Hà Nội xảy ra các
khiếu nại, khiếu kiện liên quan đến đất đai có nguồn gốc tôn giáo, xây
dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự và tranh chấp quyền trông nom,
viện khá phức tạp, điển hìnhnhư các vụ việc tại số 42 Nhà Chung, giáo xứ Thái Hà, Núi Chẽ - Đồng Chiêm… ảnh hưởng đến an ninh, trật tựtrên địa bàn Hà Nội và khối đoàn kết toàn dân tộc Ngoài ra, trên địa bàn Hà Nội có cộng đồng đạo Tràng Phật giáo khá đông đảo, tốc độ phát triển nhanh cả về số lượng tín đồ và nhóm sinh hoạt, hoạt động tôn giáo Đa phần người dân Việt Nam nói chung