Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô gồm có 7 chương với những nội dung cụ thể như sau: Chương 1: tổng quan về kinh tế học vĩ mô; chương 2: hạch toán tổng sản phẩm quốc dân; chương 3: tăng trưởng kinh tế; chương 4: tổng cầu, tổng cung và chính sách tài khóa; chương 5: tiền tệ và chính sách tiền tệ; chương 6: lạm phát và thất nghiệp; chương 7: kinh tế vĩ mô của nền kinh tế mở. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ
Các vấn đề về kinh tế xuất hiện do chúng ta mong muốn nhiều hơn so với cái chúng ta có thể nhận được Mỗi thứ chúng ta nhận được bị hạn chế bởi thời gian và thu nhập hiện có Kết quả là mọi người luôn có những mong muốn không được thỏa mãn Cái mà tổng thể xã hội có thể nhận được bị giới hạn bởi các nguồn lực sản xuất mà chúng ta có thể sử dụng
Tương tự như gia đình thì một xã hội phải đối mặt với nhiều quyết định Một xã hội cần phải quyết định cái gì cần phải làm và ai sẽ làm việc đó Cần phải có một số người sản xuất thực phẩm, một số người khác sản xuất quần áo và cũng cần một số người khác thiết kế phần mềm máy tính Một khi xã hội đã phân bổ được mọi người vào những ngành nghề khác nhau, nó cũng phân bổ sản lượng hàng hóa và dịch vụ mà
họ đã sản xuất ra Nó sẽ quyết định ai sẽ ăn trứng, cá, thịt, rau; nó sẽ quyết định ai sẽ
có xe ô tô riêng để đi và ai sẽ phải sử dụng xe buýt
1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM TRONG KINH TẾ HỌC
1.1.1 Kinh tế học
Kinh tế học là môn khoa học ra đời cách đây hơn hai thế kỷ Từ đó đến nay kinh
tế học đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, do đó cũng đã xuất hiện khá nhiều các định nghĩa về kinh tế học Một số khái niệm về kinh tế học được nhiều nhà kinh tế hiện nay sử dụng:
(1) Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu những lựa chọn của cá nhân và xã hội về cách thức sử dụng nguồn tài nguyên có hạn
(2) Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu hoạt động của con người trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá
(3) Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu việc lựa chọn cách sử dụng hợp lý nhất các nguồn lực để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ nhằm thoả mãn cao nhất nhu cầu cho mọi thành viên trong xã hội
Việc quản lý nguồn lực xã hội có ý nghĩa quan trọng vì nguồn lực có tính khan hiếm, nghĩa là xã hội có các nguồn lực hạn chế (tài nguyên thiên nhiên, đất đai,…) và
vì thế không thể sản xuất mọi hàng hóa và dịch vụ mà mọi người mong muốn (tương
tự như một hộ gia đình không thể đáp ứng mọi mong muốn của tất cả mọi người)
Do vậy, kinh tế học nghiên cứu quyết định của con người và xã hội về những lựa
chọn để đáp ứng nhu cầu trong hiện tại cũng như trong tương lai Những lựa chọn này
được biểu hiện thành những hiện tượng kinh tế
Kinh tế học nghiên cứu hiện tượng này trên hai góc độ:
Trang 2- Góc độ toàn bộ nền kinh tế (kinh tế vĩ mô)
1.1.2 Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô
- Kinh tế vi mô: Kinh tế vi mô là một bộ phận của kinh tế học; nó nghiên cứu,
phân tích quyết định của các đơn vị kinh tế riêng lẻ như doanh nghiệp, hộ gia đình Do vậy, kinh tế học vi mô nghiên cứu và phân tích các vấn đề kinh tế cụ thể như: cung, cầu hàng hóa; tiêu dùng cá nhân; sản xuất, chi phí, giá cả, lợi nhuận; cạnh tranh, độc quyền;…
- Kinh tế vĩ mô: Kinh tế vĩ mô là một bộ phận của kinh tế học; nó nghiên cứu,
phân tích quyết định của một quốc gia Nó quan tâm tới mục tiêu kinh tế chung của một nền kinh tế tổng thể Do vậy, kinh tế vĩ mô nghiên cứu và phân tích các vấn đề chung của toàn bộ nền kinh tế như: tổng sản phẩm, thu nhập quốc dân, lạm phát, thất nghiệp, đầu tư, tiết kiệm,…
Nguyên tắc cơ bản nhất của kinh tế vi mô là các hộ gia đình và doanh nghiệp “tối
đa hóa” – tức là họ tìm cách hành động hợp lý cho phép đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện có những giới hạn nhất định Trong kinh tế học vi mô, các hộ gia đình ra quyết định mua hàng hóa sao cho tối đa hóa mức độ thỏa mãn của mình – điều mà các nhà kinh tế gọi là lợi ích và các doanh nghiệp đưa ra quyết định sản xuất nhằm tối đa hóa lợi nhuận
Vì các vấn đề kinh tế mà kinh tế vĩ mô nghiên cứu phát sinh từ tác động qua lại giữa nhiều hộ gia đình và doanh nghiệp, nên kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Khi nghiên cứu nền kinh tế với tư cách một tổng thể, chúng ta phải xem xét quyết định của các chủ thể kinh tế cá biệt Ví dụ: để hiểu được yếu tố nào quyết định tổng mức chi tiêu của người tiêu dùng, chúng ta cần phải biết về cách thức một gia đình quyết định về mức chi tiêu hiện tại và tiết kiệm bao nhiêu cho tương lai Để hiểu được yếu tố nào quyết định tổng chi tiêu cho đầu tư, chúng ta cần phải biết cách thức một doanh nghiệp quyết định có nên xây dựng một nhà máy mới hay không
Do vậy, trong quản lý kinh tế cần thiết phải giải quyết tốt các vấn đề kinh tế trên
cả hai phương diện: vi mô và vĩ mô Nếu chỉ tập trung vào những vấn đề kinh tế vi mô như tăng sản lượng của doanh nghiệp mà không có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì không thể phát triển kinh tế một cách ổn định, bình đẳng, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp
1.1.3 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
- Kinh tế học thực chứng: Là một cách tiếp cận của kinh tế học, nó nghiên cứu
và mô tả các hiện tượng kinh tế xã hội một cách khách quan và khoa học Dù chính kiến của con người có khác nhau nhưng hiện tượng đó vẫn diễn ra đúng như quy luật
Trang 3khách quan Ở một chừng mực nào đó, người ta có thể coi nó như một môn khoa học
tự nhiên Nói ngắn gọn thì kinh tế học thực chứng là mô tả và phân tích các sự kiện, hiện tượng, những mối quan hệ trong nền kinh tế Nó trả lời câu hỏi “là bao nhiêu? là gì? như thế nào?”
- Kinh tế học chuẩn tắc: Là một cách tiếp cận của kinh tế học liên quan đến
quan điểm đạo lý, chính trị của một quốc gia Nó đưa ra những lời chỉ dẫn, khuyến nghị dựa trên cơ sở đánh giá theo tiêu chuẩn cá nhân
Các nhà kinh tế luôn tìm cách đánh giá xem thế giới kinh tế vận hành như thế nào Để theo đuổi mục tiêu này, họ phân biệt hai câu hỏi: thế giới là gì? Thế giới cần phải như thế nào?
Ví dụ: Chẳng hạn, có hai nhà kinh tế học đang bàn về luật tiền lương tối thiểu Bạn có thể nghe thấy họ nói những điều sau:
Ông A: Luật tiền lương tối thiểu gây ra thất nghiệp
Ông B: Chính phủ cần tăng tiền lương tối thiểu
Tạm thời chúng ta chưa bàn đến việc có đồng ý với các nhận định trên hay không, mà chú ý rằng A và B đang khác nhau ở điều mà họ tìm cách làm Ông A đang nói như một nhà khoa học: ông đang khẳng định phương thức vận hành của thế giới Ông B đang nói như một nhà tư vấn: ông khẳng định điều mà ông muốn làm để thay đổi thế giới
Nhìn chung, các nhận định về thế giới bao gồm hai loại Một loại có tính thực chứng như nhận định của ông A Các nhận định thực chứng mang tính chất mô tả Chúng khẳng định thế giới là như thế nào Loại thứ hai có tính chuẩn tắc như nhận định của ông B Các nhận định chuẩn tắc có tính chất khuyến nghị Chúng khẳng định thế giới cần phải như thế nào
Sự khác biệt then chốt giữa nhận định thực chứng và nhận định chuẩn tắc là ở chỗ chúng ta đánh giá tính chân thực của nó như thế nào Về nguyên tắc, chúng ta có thể xác nhận hoặc bác bỏ nhận định thực chứng bằng cách xem xét bằng chứng thực
tế Một nhà kinh tế có thể đánh giá nhận định của ông A bằng cách phân tích số liệu về những thay đổi trong tiền lương thực tế và những thay đổi theo thời gian của thất nghiệp Ngược lại, việc đánh giá nhận định chuẩn tắc liên quan đến cả các giá trị và thực tế Không thể đánh giá nhận định của ông B chỉ bằng cách sử dụng số liệu Việc quyết định xem chính sách nào là tốt và chính sách nào chưa tốt không phải là một vấn
đề thuần túy khoa học Nó còn gắn với quan điểm của chúng ta về đạo đức, tôn giáo và triết lý chính trị
Tuy nhiên, nhận định thực chứng và nhận định chuẩn tắc có mối quan hệ với nhau Quan điểm thực chứng về cách vận hành thế giới ảnh hưởng tới quan điểm chuẩn tắc về việc những chính sách nào là đáng mong muốn Nếu nhận định của ông A
Trang 4rằng tiền lương tối thiểu gây ra thất nghiệp đúng, nó có thể dẫn đến việc từ bỏ kết luận của ông B là Chính phủ cần tăng tiền lương tối thiểu Do vậy, khi nghiên cứu kinh tế học cần phải luôn luôn nhớ tới sự phân biệt giữa nhận định thực chứng và nhận định chuẩn tắc
1.1.4 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế học
1.1.4.1 Kinh tế học nghiên cứu sự khan hiếm các nguồn lực một cách tương đối với nhu cầu kinh tế xã hội
Đây là đặc trưng kinh tế cơ bản gắn liền với tiền đề nghiên cứu và phát triển của môn kinh tế học Không thể sản xuất một loại hàng hoá nào đó để thoả mãn đầy đủ mọi nhu cầu của con người được.Vì nhu cầu thì đa dạng, còn nguồn lực thì hữu hạn do
đó cần phải cân đối, lựa chọn
1.1.4.2 Tính hợp lý của kinh tế học
Đặc trưng này thể hiện ở chỗ, khi phân tích hoặc lý giải một sự kiện kinh tế nào
đó, cần phải dựa trên các giả thiết hợp lý nhất định và diễn biến của sự kiện kinh tế này Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tính hợp lý chỉ có tính chất tương đối vì nó phụ thuộc vào điều kiện môi trường của sự kiện kinh tế
Ví dụ 1: Muốn phân tích hành vi người tiêu dùng muốn mua thứ gì? số lượng là bao nhiêu? thì kinh tế học giả định họ tìm cách mua được nhiều hàng hoá dịch vụ nhất trong số thu nhập hạn chế của mình
Ví dụ 2: Để phân tích xem doanh nghiệp sẽ sản xuất cái gì, bao nhiêu? bằng cách nào? có thể giả định rằng doanh nghiệp sẽ tìm cách tối đa hoá lợi nhuận trong giới hạn nguồn lực của doanh nghiệp
1.1.4.3 Kinh tế học là một bộ môn nghiên cứu mặt lượng
Với đặc trưng này kinh tế học thể hiện kết quả nghiên cứu kinh tế bằng các con
số có tầm quan trọng đặc biệt Khi phân tích kết quả của các hoạt động chỉ nhận định
nó tăng lên hay giảm đi thì chưa đủ mà phải thấy được sự biến đổi của nó như thế nào?
là bao nhiêu?
Ví dụ: Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp A năm N khả quan là chưa đủ, chưa thấy được điều gì mà khả quan như thế nào? Phải được lượng hoá thông qua các chỉ tiêu kinh tế như: doanh thu tăng 20% so với năm N-1 với mức tăng 400 tỷ đồng; lợi nhuận tăng 22% so với năm N-1, mức tăng tăng là 150 tỷ đồng,
1.1.4.4 Tính toàn diện và tính tổng hợp
Đặc trưng này của kinh tế học là khi xem xét các hoạt động và sự kiện kinh tế phải đặt nó trong mối liên hệ với các hoạt động, sự kiện kinh tế khác trên phương diện
Trang 5của một nền kinh tế thậm chí có những sự kiện phải đặt trong mối quan hệ quốc tế
Ví dụ: “Trong giai đoạn 2000- 2005 nền kinh tế Việt Nam có mức tăng trưởng cao và ổn định” Để có cơ sở của nhận định này nhà nghiên cứu phải có số liệu lý giải, chứng minh điều đó là tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của Việt Nam là 7%, lạm phát từ 6-8%/ năm, và tốc độ tăng trưởng của các nước khác trong khu vực và trên thế giới
1.1.4.5 Kết quả nghiên cứu của kinh tế học chỉ xác định được ở mức trung bình
Vì các kết quả này phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau ảnh hưởng tới chỉ tiêu kinh tế nghiên cứu, trong đó có rất nhiều yếu tố chỉ có thể xác định được xu hướng ảnh hưởng mà không thể xác định được mức độ ảnh hưởng
1.1.5 Tổ chức kinh tế của nền kinh tế hỗn hợp
1.1.5.1 Ba vấn đề cơ bản của một nền kinh tế
Tất cả các nền kinh tế quốc dân, trong mọi giai đoạn phát triển đều phải thực hiện
ba vấn đề cơ bản sau:
- Sản xuất ra những hàng hoá và dịch vụ nào? Số lượng bao nhiêu?
Cơ sở của vấn đề này là sự khan hiếm các nguồn lực so với nhu cầu của xã hội Nhiệm vụ chủ yếu mà của bất kỳ nền kinh tế nào cũng cần phải giải quyết là giảm đến mức tối thiểu sự lãng phí trong việc sản xuất ra những sản phẩm không cần thiết và tăng cường đến mức tối đa những sản phẩm cần thiết
- Các hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra như thế nào?
Việc giải quyết đúng đắn vấn đề này thông thường đồng nghĩa với việc sử dụng
số lượng đầu vào ít nhất để sản xuất ra số lượng sản phẩm đầu ra nhất định
- Hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra cho ai? Hay sản phẩm quốc dân được phân phối thế nào cho các thành viên trong xã hội
Ba vấn đề nêu trên là những vấn đề mà bất kỳ nền kinh tế nào cũng phải thực hiện, bất kể hình thức hay trình độ phát triển của nó như thế nào Tất cả các vấn đề này đều mang tính lựa chọn, vì các nguồn lực để sản xuất ra sản phẩm đều khan hiếm Cơ
sở cho sự lựa chọn này là:
- Tồn tại các cách sử dụng khác nhau các nguồn lực trong việc sản xuất ra các sản phẩm khác nhau Ví dụ: sản xuất sản phẩm dệt may cần đầu vào là lao động ngành dệt may, máy may, vải, sợi, ; còn sản xuất ô tô cần lao động ngành cơ khí chế tạo, thép, cao su
- Tồn tại các phương pháp khác nhau để sản xuất ra sản phẩm cụ thể Ví dụ cũng
là may mặc nhưng phương pháp thủ công khác với tự động hoá
- Tồn tại các phương pháp khác nhau để phân phối hàng hoá và thu nhập cho các
Trang 6thành viên trong xã hội Ví dụ: tham gia sản xuất ra sản phẩm, người lao động nhận được tiền công tiền lương; doanh nghiệp nhận được lợi nhuận, Nhà nước thu được các khoản thuế Các thành viên trong xã hội nhận được bao nhiêu là do cơ chế phân phối ở mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia
Những cách thức để giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản trên trong một nước cụ thể sẽ tuỳ thuộc vào lịch sử, hệ tư tưởng, và chính sách kinh tế của quốc gia này
1.1.5.2 Tổ chức kinh tế của một nền kinh tế hỗn hợp
Các hệ thống kinh tế khác nhau có những cách tổ chức kinh tế khác nhau để thực hiện ba vấn đề cơ bản của nền kinh tế Lịch sử phát triển của loài người cho thấy có các kiểu tổ chức sau:
(1) Nền kinh tế tập quán truyền thống: kiểu tổ chức này tồn tại dưới thời công xã nguyên thuỷ Trong xã hội này, các vấn đề kinh tế cơ bản là sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? phân phối cho ai? được quyết định theo tập quán truyền thống từ thế hệ trước sang thế hệ sau, tự cung, tự cấp; cần cái gì thì sản xuất cái đó bằng tư liệu sản xuất của chính mình, không cần trao đổi
(2) Nền kinh tế chỉ huy (kế hoạch hoá tập trung): là nền kinh tế giải quyết ba vấn
đề kinh tế cơ bản đều do Nhà nước quyết định, cân đối Việc sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? phân phối cho ai đều được thực hiện theo kế hoạch tập trung thống nhất của Nhà nước
(3) Nền kinh tế thị trường: trong nền kinh tế ba vấn đề cơ bản là sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? được thực hiện thông qua cơ chế thị trường, do thị trường quyết định Trong đó các cá nhân người tiêu dùng, và các doanh nghiệp tác động qua lại lẫn nhau trên thị trường để xác định một hệ thống giá cả, thị trường, lợi nhuận, thu nhập,
(4) Nền kinh tế hỗn hợp: các hệ thống kinh tế hiện nay không mang những hình thức kinh tế thuần tuý như thị trường, chỉ huy hay tự nhiên, mà là sự kết hợp các nhân
tố của các loại hình kinh tế Và nền kinh tế đó gọi là nền kinh tế hỗn hợp Trong nền kinh tế hỗn hợp các thể chế công cộng và tư nhân đều có vai trò kiểm soát kinh tế Thông qua bàn tay “vô hình” của thị trường và bàn tay “hữu hình” của Chính phủ, các nhà kinh tế chia các tác nhân trong nền kinh tế hỗn hợp thành 4 nhóm, nhằm giải thích hành vi và phương thức thực hiện các chức năng chủ yếu của từng nhóm Các nhóm này tác động qua lại lẫn nhau tạo thành một hệ thống kinh tế hỗn hợp Trong nền kinh
tế hỗn hợp, cơ chế thị trường sẽ xác định giá cả và sản lượng trong nhiều lĩnh vực còn Chính phủ sẽ điều tiết thị trường thông qua thuế, chi tiêu của Chính phủ, luật pháp,
Mô hình kinh tế hỗn hợp của từng nước có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào mức độ can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế, và đối với thị trường
Trang 7a Người tiêu dùng cuối cùng
Người tiêu dùng cuối cùng là tất cả các cá nhân và hộ gia đình, họ mua hàng hoá
và dịch vụ để thoả mãn những nhu cầu tiêu dùng của họ Ví dụ: mua lương thực, thực phẩm để ăn, mua quần áo để mặc, Người tiêu dùng cuối cùng có ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định sản xuất cái gì trong nền kinh tế vì họ mua và tiêu dùng phần lớn các sản phẩm của nền kinh tế Hành vi mua của người tiêu dùng bị thúc đẩy bởi một số yếu tố chung nào đó và người ta có thế dự đoán với mức độ tin cậy nhất định Yếu tố
cơ bản trong yếu tố chung đó là người tiêu dùng muốn thoả mãn tối đa nhu cầu của họ với thu nhập hạn chế
b Các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp là người sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ cung cấp cho xã hội, mục đích của họ khi thực hiện ba vấn đề cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? là thu được lợi nhuận cao nhất trong giới hạn nguồn lực của mình
c Chính phủ
Trong nền kinh tế hỗn hợp Chính phủ đồng thời vừa là người sản xuất và vừa là người tiêu dùng nhiều hàng hoá, dịch vụ Chính phủ tiêu dùng phục vụ vai trò quản lý điều hành của Chính phủ Chính phủ là người sản xuất cũng giống như doanh nghiệp
tư nhân, nhưng nó phức tạp hơn nhiều bởi vai trò quản lý kinh tế của Chính phủ và có thể phác hoạ thông qua 3 chức năng chủ yếu sau:
(1) Chức năng hiệu quả
- Để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có hiệu quả, sản xuất phát triển thì Nhà nước phải đưa ra các đạo luật như là chống độc quyền, chống ép giá,
- Để hạn chế tác động từ bên ngoài thì Chính phủ, cần phải đặt ra các luật lệ ngăn chặn các tác động tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, huỷ hoại tài nguyên,
(2) Chức năng công bằng
Trong nền kinh tế thị trường hàng hoá được phân phối cho người có nhiều tiền mua nhất chứ không phải cho người có nhu cầu lớn nhất Do vậy, để bảo đảm sự công bằng trong xã hội, thì Chính phủ phải đưa ra các chính sách phân phối lại thu nhập Ví
dụ như hệ thống thuế thu nhập, bảo hiểm, trợ cấp,
(3) Chức năng ổn định
Chính phủ còn phải thực hiện chức năng kinh tế vĩ mô là duy trì sự ổn định kinh tế Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản cho thấy có thời kỳ tăng trưởng thì lạm phát tăng vọt, trong thời kỳ suy thoái nặng nề thì thất nghiệp lại cao dẫn đến những sự thăng trầm của chu kỳ kinh tế Chính phủ có thể sử dụng các chính sách, công cụ của mình để tác động đến sản lượng và việc làm, làm giảm bớt các dao động của chu kỳ kinh doanh
Trang 8d Người nước ngoài
Các cá nhân, doanh nghiệp, Chính phủ nước ngoài tác động đến các hoạt động kinh tế diễn ra ở một nước thông qua việc mua bán hàng hoá và dịch vụ, vay mượn, viện trợ và đầu tư nước ngoài Trong một số nước có nền kinh tế mở thì người nước ngoài có vai trò khá quan trọng
1.1.6 Một số khái niệm cơ bản của kinh tế học
1.1.6.1 Yếu tố sản xuất, giới hạn khả năng sản xuất, chi phí cơ hội
a Các yếu tố sản xuất
Yếu tố sản xuất là đầu vào của quá trình sản xuất và được phân chia thành 3 nhóm: (1) Đất đai và tài nguyên thiên nhiên: bao gồm toàn bộ đất dùng cho canh tác, xây dựng nhà ở, đường sá, các loại nhiên liệu, khoáng sản, cây cối,
(2) Lao động: là năng lực của con người được sử dụng theo một mức độ nhất định trong quá trình sản xuất Người ta đo lường lao động bằng thời gian của lao động được sử dụng trong quá trình sản xuất
(3) Tư bản: là máy móc, nhà xưởng, được sản xuất ra rồi sử dụng để sản xuất ra các hàng hoá khác Việc tích luỹ các hàng hoá tư bản trong nền kinh tế có một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của sản xuất
b Giới hạn khả năng sản xuất
Khi xem xét một nền kinh tế với số lượng các yếu tố sản xuất và trình độ công nghệ cho trước, khi quyết định sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? nền kinh tế phải lựa chọn xem các yếu tố hạn chế này được phân phối như thế nào giữa rất nhiều các hàng hoá khác nhau được sản xuất ra Để đơn giản, giả sử rằng toàn bộ nguồn lực của nền kinh tế chỉ tập trung vào sản xuất 2 loại hàng hoá là thức ăn và quần áo Để sử dụng hết nguồn lực của nền kinh tế, thì có thể có các cách lựa chọn tổ hợp thức ăn và quần áo trong bảng 1.1 sau đây để sản xuất
Bảng 1.1 Những khả năng sản xuất thay thế khác nhau
Khả năng Lương thực (tấn) Quần áo (ngàn bộ)
Trang 9Biểu diễn những khả năng này trên đồ thị và nối những điểm này lại ta được đường
giới hạn khả năng sản xuất
Phương án lựa chọn A là phương án toàn bộ nguồn lực chỉ sản xuất quần áo, tại
đây số lượng quần áo được sản xuất ra là nhiều nhất, còn thực phẩm bằng 0 Tại
phương án F toàn bộ nguồn lực chỉ tập trung sản xuất lương thực và thực phẩm bằng 5
là nhiều nhất còn quần áo bằng không Dọc theo đường cong từ phương án A đến
phương án F thì quần áo giảm đi và lương thực tăng lên
Phương án sản xuất A, B, C, D, E, F là những phương án có hiệu quả vì sử dụng
hết nguồn lực, và tại đó muốn tăng một đơn vị sản phẩm đầu ra là quần áo thì phải cắt
giảm đi những đơn vị sản phẩm đầu ra là lương thực Phương án M là phương án sản
xuất không có hiệu quả vì chưa sử dụng hết nguồn lực và tại M muốn tăng quần áo thì
không cần phải cắt giảm lương thực vì còn nguồn lực Phương án N là phương án
không thể đạt được của nền kinh tế trong hiện tại vì xã hội không đủ nguồn lực
Vậy đường giới hạn khả năng sản xuất là một đường biểu diễn tập hợp tất cả các
phương án sản xuất có hiệu quả; phương án sản xuất có hiệu quả là phương án mà tại
đó muốn tăng một đơn vị sản phẩm đầu ra nào dó thì buộc phải cắt giảm đi những đơn
vị sản phẩm đầu ra khác Trong một khoảng thời gian nhất định, mỗi một nền kinh tế
có một đường giới hạn khả năng sản xuất Khi các yếu tố sản xuất thay đổi thì đường
giới hạn khả năng sản xuất cũng thay đổi theo Nếu nguồn lực được mở rộng thì đường
giới hạn khả năng sản xuất dịch chuyển sang bên phải, khi nguồn lực sản xuất bị thu
hẹp lại thì đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ dịch chuyển về phía bên trái
c Chi phí cơ hội
Trong một giới hạn nguồn lực, tại một thời điểm có thể có nhiều phương án để
0 1 2 3 4 5 Lương thực
7,5
6 4,5
Trang 10lựa chọn đó là các cơ hội có thể có Khi chúng ta lựa chọn một phương án và tiến hành thực hiện theo phương án đó thì sẽ có các phương án khác, cơ hội khác bị bỏ qua Trong các cơ hội bị bỏ qua cơ hội nào mang lại thu nhập lớn nhất, cơ hội đó chính là
chi phí cơ hội của phương án đã lựa chọn Vậy chi phí cơ hội là chi phí lớn nhất của
các phương án bị bỏ lỡ
Ví dụ: một người có lượng tiền là 100 triệu đồng, người này có các cơ hội sử dụng số tiền này là: Phương án 1: tiết kiệm để ở gia đình và thu nhập tăng thêm bằng 0; phương án 2: gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng, thu nhập tăng thêm 6 triệu đồng; phương án 3: sử dụng tiền để mua trái phiếu, thu nhập trái phiếu là 8 triệu đồng; phương án 4: góp vốn kinh doanh dự kiến cuối năm thu được 10 triệu đồng lợi nhuận Người này chọn phương án 2 là gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng, vậy các phương án bị
bỏ qua là phương án 1, 3, 4 Chi phí cơ hội của việc lựa chọn phương án 2 là phương
án 4 với chi phí là 10 triệu đồng
1.1.6.2 Quy luật lợi ích cận biên giảm dần và quy luật chi phí cận biên tăng dần
- Quy luật lợi ích cận biên giảm dần được phát biểu như sau: số lượng sản phẩm đầu ra có thêm sẽ ngày càng giảm nếu liên tiếp bỏ thêm từng đơn vị yếu tố đầu vào biến đổi nào đó với các yếu tố đầu vào khác chưa thay đổi
- Quy luật chi phí cận biên tăng dần được phát biểu như sau: để có thêm một số bằng nhau về một mặt hàng nào đó thì xã hội phải hi sinh ngày càng nhiều số lượng mặt hàng khác
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ KINH TẾ VĨ MÔ CƠ BẢN
1.2.1 Tổng sản lượng của nền kinh tế
Nhìn chung các nhà kinh tế đánh giá hoạt động kinh tế vĩ mô bằng cách nhìn vào một vài biến số trọng yếu, trong đó biến số quan trọng nhất là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) GDP là thước đo theo giá trị thị trường của tất cả các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất tại một nước trong một năm Có hai cách tính toán GDP: GDP danh nghĩa được xác định theo giá hiện hành và GDP thực tế được xác định theo giá cố định hay giá gốc Vì giá không thay đổi nên GDP thực tế biến động
từ năm này sang năm khác chỉ do sự thay đổi của lượng hàng Nên khi muốn biết GDP của một quốc gia tăng hoặc giảm qua thời gian, người ta so sánh GDP thực tế giữa các năm
Sự biến động của GDP thực tế là một thước đo hiện có tốt nhất về qui mô và tăng trưởng của mức sản lượng bởi vì GDP thực tế không chịu ảnh hưởng của sự biến động giá cả, nó được xem như mạch đập được giám sát chặt chẽ của nền kinh tế quốc dân Khi các nhà kinh tế nói về tăng trưởng của nền kinh tế, họ phản ánh tốc độ tăng trưởng
Trang 11bằng tỷ lệ phần trăm thay đổi của GDP thực tế từ thời kỳ này sang thời kỳ khác
Mặc dù tốc độ tăng trưởng thường mang giá trị dương trong dài hạn, nhưng sự tăng trưởng này có thể không ổn định giữa các năm Trên thực tế GDP có thể giảm trong một số trường hợp Những biến động ngắn hạn của GDP được gọi là chu kỳ kinh doanh Hiểu biết về chu kỳ kinh doanh là một mục tiêu chính của kinh tế vĩ mô Tại sao các chu kỳ kinh doanh lại xuất hiện? Các lực lượng kinh tế nào lại gây ra sự suy giảm tạm thời trong mức sản xuất, các lực lượng nào dẫn đến khôi phục kinh tế? Liệu các chính sách của Chính phủ có thể sử dụng để làm dịu bớt hay triệt tiêu những biến động ngắn hạn trong nền kinh tế hay không Đây là vấn đề lớn đã được đưa ra
và ít nhất đã được giải đáp một phần bởi kinh tế vĩ mô hiện đại
1.2.2 Thất nghiệp
Trong dân số có một bộ phận được gọi là lực lượng lao động bao gồm những người đang làm việc và những người thất nghiệp Mục tiêu quan trọng tiếp theo của kinh tế vĩ mô là giải quyết việc làm nhiều đồng nghĩa với thất nghiệp thấp Tỷ lệ thất nghiệp đo lường số người không có việc làm và đang tích cực tìm việc tính theo tỷ lệ phần trăm so với lực lượng lao động
Biến động ngắn hạn của tỷ lệ thất nghiệp liên quan đến những dao động theo chu
kỳ kinh doanh Những thời kỳ sản lượng giảm thường đi kèm với tăng thất nghiệp và ngược lại
1.2.3 Lạm phát
Biến số then chốt thứ ba mà các nhà kinh tế quan tâm đó là lạm phát Lạm phát
là tình trạng mức giá trung bình (mức giá chung) của nền kinh tế tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định
Các nhà kinh tế đo lường lạm phát bằng tỷ lệ lạm phát Tỷ lệ lạm phát phản ánh phần trăm tăng thêm hay giảm bớt của giá cả ở một thời điểm nào đó so với thời điểm trước (hay tỷ lệ phần trăm thay đổi của chỉ số giá cả - thường là chỉ số CPI) Chỉ số giá cả là tỷ lệ so sánh giữa số tiền phải trả để mua một giỏ hàng hoá trong một năm hoặc một thời kỳ và số tiền phải trả để mua giỏ hàng hoá đó vào năm gốc hoặc thời kỳ gốc
Trong thời kỳ nền kinh tế có lạm phát, tiền tệ bị mất giá Giá trị của tiền tệ giảm dần theo cùng một tỷ lệ với tỷ lệ lạm phát (tỷ lệ lạm phát cao thì tiền mất giá nhanh,
tỷ lệ lạm phát thấp thì tiền mất giá chậm hơn) Lạm phát có tác động làm thay đổi tỷ giá hối đoái Nước nào có tỷ lệ lạm phát cao thì đồng tiền nước đó sẽ bị giảm giá so với đồng tiền nước khác
Trang 121.2.4 Cán cân thương mại
Vấn đề quan trọng thứ tư mà kinh tế vĩ mô xem xét là cán cân thương mại Tầm quan trọng của cán cân thương mại là gì và điều gì qui định sự biến động của nó trong ngắn hạn và dài hạn? Nhìn chung, khi một nước nhập khẩu nhiều hàng hóa hơn
từ thế giới bên ngoài so với xuất khẩu, nước đó cần phải trang trải cho phần nhập khẩu dôi ra đó bằng cách vay tiền nước ngoài, hoặc giảm tài sản quốc tế Ngược lại, khi một nước có xuất khẩu ròng, thì nước đó sẽ tích tụ tài sản của thế giới bên ngoài Như vậy, nghiên cứu của chúng ta về mất cân bằng thương mại liên quan chặt với dòng chu chuyển vốn quốc tế
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ VĨ MÔ 1.3.1 Đối tượng
Kinh tế vĩ mô nghiên cứu các biến số then chốt của nền kinh tế như: tổng sản
lượng của nền kinh tế, mức giá chung, việc làm và thất nghiệp, cán cân thương mại Kinh tế vĩ mô tìm cách đưa ra lời giải đáp cho các câu hỏi quan trọng như điều gì quyết định các biến số kinh tế trên và tại sao chúng lại thay đổi theo thời gian
Kinh tế vĩ mô có mối quan tâm đặc biệt đối với chính sách Rất nhiều phân tích
trong kinh tế vĩ mô sẽ tập trung xem xét xem các chính sách của Chính phủ ảnh hưởng tới các biến số kinh tế vĩ mô như thế nào Ví dụ: chính sách đó có thể tác động đến sản lượng và việc làm của nền kinh tế đến mức nào? Lạm phát xảy ra do các chính sách không phù hợp của Chính phủ đến mức nào? Những chính sách nào sẽ là tối ưu nhằm làm cho các biến số kinh tế vĩ mô vận động như mong muốn của Chính phủ? Có nên
nỗ lực để đạt được cân bằng thương mại hay không?
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu
Có thể khái quát phương pháp luận nghiên cứu của kinh tế học thông qua 4 giai đoạn như sau:
1.3.2.1 Khi nghiên cứu các hiện tượng kinh tế các nhà kinh tế thường dùng phương pháp quan sát
Vì các hiện tượng kinh tế hết sức phức tạp, thường xuyên biến động, chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, các quan hệ kinh tế rất vô hình, mà chúng ta chỉ có thể suy đoán thông qua các biểu hiện bên ngoài thị trường của nó
Ví dụ: Muốn nghiên cứu về lạm phát của thời kỳ nào đó thì phải quan sát sự thay đổi giá cả của tất cả các hàng hoá, dịch vụ đang được giao dịch trên thị trường của thời kỳ đó
Trang 131.3.2.2 Thu thập các số liệu phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu
Ví dụ: Muốn biết lạm phát hiện nay là bao nhiêu, đã phải là nguy cơ chưa thì cần phải có số liệu, căn cứ ban đầu để phân tích Số liệu để tiến hành nghiên cứu lạm phát
là số liệu về nền kinh tế tăng trưởng hay suy thoái, mức giá cả chung của các hàng hoá
và dịch vụ trong nền kinh tế,
1.3.2.3 Tiến hành phân tích với các phương pháp phân tích thích hợp
Mỗi một sự kiện kinh tế, mỗi một chỉ tiêu kinh tế sẽ có cách phân tích khác nhau, có thể dùng phương pháp phân tích này hay phương pháp phân tích khác, hoặc kết hợp của một số phương pháp phân tích Kinh tế học ngoài những phương pháp của các khoa học kinh tế nói chung, thì kinh tế học sử dụng các phương pháp phân tích đặc thù Đó là những phương pháp trừu tượng hoá, bóc tách các nhân tố không định nghiên cứu (cố định các nhân tố này) để xem xét các mối quan hệ kinh tế giữa các biến số cơ bản liên quan trực tiếp tới sự kiện nghiên cứu Ví dụ: phương pháp thống kê, mô hình toán, kinh tế lượng, phương pháp cân bằng tổng thể và cân bằng
bộ phận,
1.3.2.4 Rút ra các kết luận
Đối chiếu với thực tế, phát hiện ra điểm bất hợp lý, đề ra các giả thiết mới rồi lại kiểm nghiệm bằng thực tế Quá trình này lặp đi lắp lại đến khi nào kết quả rút ra sát thực với thực tế, khi đó quá trình nghiên cứu mới kết thúc
1.4 MỤC TIÊU VÀ CÔNG CỤ ĐIỀU TIẾT KINH TẾ VĨ MÔ
Kinh tế vĩ mô có tầm quan trọng đặc biệt vì nhiều lý do: sự thành công hay thất bại của nền kinh tế mỗi quốc gia phụ thuộc rất lớn vào các hoạt động kinh tế vĩ mô; Chính phủ có thể tác động đến hoạt động của nền kinh tế bằng các chính sách điều tiết
vĩ mô; các chính sách kinh tế vĩ mô chiếm vị trí nổi bật trong các chương trình, thậm chí là trong cương lĩnh của những đảng phái trong xã hội,…
1.4.1 Mục tiêu
Thành tựu kinh tế vĩ mô của một đất nước thường được đánh giá theo 3 dấu hiệu
chủ yếu: ổn định, tăng trưởng và công bằng xã hội Sự ổn định kinh tế là kết quả của
việc giải quyết tốt những vấn đề kinh tế cấp bách như lạm phát, suy thoái, thất nghiệp trong thời kỳ ngắn hạn Tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải giải quyết tốt những vấn đề dài hạn hơn, có liên quan đến việc phát triển kinh tế Công bằng trong phân phối vừa
là vấn đề xã hội, vừa là vấn đề kinh tế
Để có thể đạt được những điều này, các chính sách kinh tế vĩ mô phải hướng tới
các mục tiêu cụ thể là: sản lượng, công ăn việc làm, ổn định giá cả và kinh tế đối ngoại
Trang 141.4.1.1 Mục tiêu định tính
Trên góc độ điều hành kinh tế vĩ mô, có hai mục tiêu mang tính định tính cơ bản được hầu hết Chính phủ các nước quan tâm đó là mục tiêu ổn định và tăng trưởng
a Mục tiêu ổn định
Ổn định kinh tế là kết quả của việc giải quyết tốt những vấn đề kinh tế cấp bách, làm
giảm bớt dao động của chu kỳ kinh doanh để tránh lạm phát cao và thất nghiệp nhiều
Nhược điểm lớn nhất của nền kinh tế thị trường là tự động tạo ra các chu kỳ kinh doanh (sản lượng thực tế dao động lên xuống xoay quanh trục sản lượng tiềm năng), nền kinh tế luôn có xu hướng không ổn định Khi nền kinh tế ở trạng thái phát triển nóng (sản lượng thực tế cao hơn sản lượng tiềm năng) thì đi kèm theo nó là mức thất nghiệp thấp, lạm phát cao và ngược lại, khi nền kinh tế ở trạng thái suy thoái (sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tiềm năng) thì mức thất nghiệp cao và lạm phát thấp Khoảng cách giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng được gọi là chênh lệch sản lượng Chênh lệch này càng lớn thì hai thái cực thất nghiệp và lạm phát cũng càng nghiêm trọng Vì vậy, để đạt được mục tiêu ổn định cần phải phấn đấu sao cho sản lượng được duy trì ở mức sản lượng tiềm năng để tránh được tình trạng lạm phát cao
và thất nghiệp nhiều
b Mục tiêu tăng trưởng
Để thực hiện mục tiêu này nghĩa là tốc độ tăng sản lượng của nền kinh tế đạt ở
mức cao nhất Một nền kinh tế phát triển ổn định chưa chắc đã có được một tốc độ
tăng trưởng nhanh Một nước có tốc độ tăng trưởng chậm thì có nguy cơ tụt hậu và nếu
có tốc độ tăng trưởng nhanh thì có thể có khả năng đuổi kịp và vượt các nước đi trước
Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng là mục tiêu thứ hai sau mục tiêu ổn định
Vấn đề đặt ra là muốn có được tăng trưởng thì cần phải có chính sách thúc đẩy quá trình tạo vốn, tăng năng suất lao động nhằm tăng khả năng sản xuất của nền kinh
tế và tăng nhanh sản lượng tiềm năng
*So sánh hai mục tiêu tăng trưởng và ổn định
Trong ngắn hạn, với một mức sản lượng tiềm năng cho trước, nền kinh tế cần phải giảm bớt sự chênh lệch giữa sản lượng thực tế so với sản lượng tiềm năng Nói cách khác, cần phải hạn chế đến mức thấp nhất dao động của chu kỳ kinh doanh thì ổn định là mục tiêu được đặt lên hàng đầu
Trong khi đó, để cho đất nước tiến kịp với các quốc gia khác đòi hỏi sản lượng tiềm năng phải tăng nhanh, từ đó thúc đẩy sản lượng thực tế tăng theo Vì vậy, tăng trưởng là mục tiêu được đặc biệt quan tâm của nền kinh tế trong dài hạn
Trang 15Tóm lại, theo tiêu thức thời gian, mục tiêu ổn định thường xét trong ngắn hạn
còn mục tiêu tăng trưởng được đặt ra trong dài hạn
1.4.1.2 Mục tiêu định lượng
Mục tiêu kinh tế vĩ mô cũng có thể được diễn đạt thông qua các chỉ tiêu mang tính định lượng Khi đo lường mức độ thành công của một nền kinh tế, các nhà kinh tế thường căn cứ vào một số chỉ tiêu kinh tế trọng yếu sau:
b Mục tiêu công ăn việc làm
Một trong những thành tựu kinh tế vĩ mô mà bất kỳ quốc gia nào cũng quan tâm
là đạt được tỷ lệ người lao động có công ăn việc làm cao hay thể hiện thông qua tỷ lệ
Năm
Hình 1.2 Sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng
Trang 16thất nghiệp thấp Trong thực tế cuộc sống, ai cũng muốn có thể tìm được việc làm với mức thu nhập cao để đảm bảo cuộc sống cho mình và gia đình
Thực tế ngày nay cho thấy mục tiêu đảm bảo việc làm đầy đủ cho tất cả người lao động là rất khó thực hiện vì tỷ lệ lao động có việc làm không chỉ đơn thuần là mục tiêu kinh tế Vấn đề việc làm còn là một vấn đề xã hội hết sức nóng bỏng vì hậu quả của việc thất nghiệp là hàng loạt những vấn đề về tâm lý, đạo đức xã hội,…
c Mục tiêu ổn định giá cả
Mục tiêu ổn định giá cả trong điều kiện thị trường tự do khác hơn so với các mục tiêu liên quan đến sản lượng và công ăn việc làm Ổn định giá cả nghĩa là làm sao cho giá cả không tăng cũng không giảm quá nhanh Nó được thể hiện thông qua tỷ lệ lạm phát và mục tiêu là tỷ lệ này gần như bằng không
Trong điều kiện thị trường tự do, không thể áp đặt một tập hợp giá cả hoàn toàn cứng nhắc bởi vì điều đó làm thay đổi cấu trúc thị trường và làm cho việc phân bổ các đầu vào và các hàng hóa, dịch vụ trở nên không hiệu quả Như vậy, việc tìm kiếm một phương tiện quy định mức giá cả linh hoạt tất yếu phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát nhỏ Có thể coi đó là cách tốt nhất cho phép hệ thống giá cả hoạt động một cách có hiệu quả nhất
Nói chung, hầu hết các quốc gia đều tìm kiếm một cách dung hòa giữa việc định giá theo thị trường tự do với xu hướng tăng lên dần của giá cả, coi đó là phương thức tốt nhất để hệ thống giá hoạt động một cách có hiệu quả
d Mục tiêu kinh tế đối ngoại
Trong xu hướng của nền kinh tế thế giới hiện nay, mọi quốc gia đều xây dựng chiến lược phát triển kinh tế theo hướng mở cửa với thế giới bên ngoài Các hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; cho vay hoặc vay tiền của người nước ngoài, sử dụng những phát minh, sáng chế của nước ngoài hoặc truyền bá những phát minh, sáng chế của nước mình cho phía nước ngoài,… đang trở thành những nội dung quan trọng liên quan đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia
Để đạt được thành tựu to lớn trong quan hệ kinh tế đối ngoại thì mọi quốc gia đều phải phấn đấu nhằm đạt các mục tiêu:
- Ổn định tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ với các ngoại tệ của các quốc gia là đối tác kinh tế của mình
- Cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, thông qua việc cân bằng cán cân thương mại quốc tế và quan hệ tín dụng quốc tế
Những mất cân đối về quan hệ kinh tế đối ngoại sẽ gây tác hại lớn về kinh tế và chính trị cho đất nước Vì vậy, giảm mức độ mất cân đối kinh tế đối ngoại là mối quan tâm chủ yếu của các nhà hoạch định chính sách kinh tế
Trang 171.4.2 Công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô
Để đạt được những mục tiêu kinh tế vĩ mô nêu trên, Chính phủ có thể sử dụng nhiều công cụ chính sách khác nhau, mỗi chính sách lại có các công cụ riêng biệt Dưới đây là một số chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu mà Chính phủ các nước có nền kinh tế thị trường thường sử dụng
1.4.2.1 Chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa là chính sách kinh tế vĩ mô lớn đầu tiên, được sử dụng để điều chỉnh thu nhập và chi tiêu của Chính phủ để hướng nền kinh tế vào mức sản lượng và việc làm mong muốn
Chính sách tài khóa có hai công cụ chủ yếu là: thuế và chi tiêu Chính phủ
- Chi tiêu Chính phủ: ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô của chi tiêu công cộng, từ
đó có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tổng cầu và sản lượng
- Thuế có vai trò then chốt là:
+ Việc đánh thuế thu nhập (ví dụ như thuế thu nhập cá nhân) sẽ làm giảm thu nhập từ dân cư với việc để lại phần thu nhập có thể sử dụng ít hơn sau khi đã dùng thuế để điều tiết, từ đó làm giảm mức chi tiêu của khu vực tư nhân
+ Do thuế tác động đến thu nhập của khu vực tư nhân, từ đó cũng tác động tới đầu tư và mức sản lượng tiềm năng
1.4.2.2 Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là một công cụ quản lý vĩ mô của Chính phủ về tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm Chính sách tiền tệ nhằm theo đuổi mục tiêu cơ bản là: ổn định tiền tệ, bảo vệ giá trị đồng nội tệ trên cơ sở kiểm soát được giá cả, cân bằng tỷ giá hối đoái, thúc đẩy đầu tư, hướng nền kinh tế của đất nước vào mức sản lượng và việc làm như mong muốn
Chính sách tiền tệ sử dụng hai công cụ chủ yếu là:
- Lượng tiền cung ứng: bao gồm việc điều chỉnh khối lượng tiền tệ cung ứng
thêm cũng như khối lượng tiền đã có sẵn trong lưu thông cho phù hợp với mức tăng tổng sản phẩm quốc dân danh nghĩa, phù hợp giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ, giữa tiền và hàng nói chung, không gây nên tình trạng thừa hoặc thiếu tiền so với nhu cầu lưu thông
- Lãi suất: Ngân hàng Nhà nước quy định các mức lãi suất cơ bản, từ đó tác động
đến lãi suất của các NHTM, vì vậy tác động đầu tư của khu vực tư nhân và tác động đến tổng cầu cũng như sản lượng của nền kinh tế
Chính sách tiền tệ có tác động quan trọng đến tổng sản phẩm quốc dân tiềm năng
về mặt dài hạn
Trang 181.4.2.3 Chính sách thu nhập
Chính sách thu nhập bao gồm hàng loạt các biện pháp mà Chính phủ sử dụng nhằm tác động trực tiếp đến tiền lương, giá cả để kiềm chế lạm phát và thiết lập công bằng trong xã hội Chính sách thu nhập sử dụng nhiều loại công cụ, có tính chất cứng
rắn như: hệ thống giá, tiền lương tối thiểu Nó là những chỉ dẫn chung để ấn định tiền
lương và giá cả, những quy tắc pháp lý ràng buộc sự thay đổi của giá cả và tiền lương,… Ngoài ra, nó có những công cụ mềm dẻo hơn như việc hướng dẫn, khuyến khích bằng thuế thu nhập,…
1.4.2.4 Chính sách kinh tế đối ngoại
Trong một nền kinh tế mở cửa thì chính sách kinh tế đối ngoại là một chính sách kinh tế nhằm ổn định tỷ giá hối đoái và giữ cho cán cân thanh toán quốc tế thâm hụt ở mức có thể chấp nhận được
Chính sách này sử dụng nhiều loại công cụ và biện pháp nhằm giữ cho thị trường
hối đoái cân bằng, áp đặt chính sách kiểm soát ngoại thương như: hàng rào thuế quan,
hạn ngạch nhập khẩu để tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu
* Chú ý: Kinh tế vĩ mô bao gồm sự lựa chọn giữa những mục tiêu trung tâm có
thể thay thế lẫn nhau Một nước không thể cùng một lúc đạt được mức độ tối ưu cho mọi mục tiêu lựa chọn Chẳng hạn không thể cùng lúc vừa có mức tăng trưởng cao mà lại có mức lạm phát thấp Trong thời kỳ suy thoái, nền kinh tế phải trải qua tỷ lệ thất nghiệp cao và mức sản lượng thực tế thấp
Trang 19BÀI ĐỌC THÊM TẠI SAO PHẢI NGHIÊN CỨU KINH TẾ VĨ MÔ?
Tại sao thu nhập hiện nay lại cao hơn mức năm 1990 và tại sao vào năm 1990 lại cao hơn mức 1900? Tại sao một số nước có tỷ lệ lạm phát cao, trong khi một số nước khác lại duy trì được giá cả ổn định? Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng suy thoái và khủng hoảng – tức là thời kỳ thu nhập giảm và thất nghiệp tăng – và nhà nước có thể
áp dụng những chính sách nào để giảm bớt tần suất và tính nghiêm trọng của chúng? Kinh tế vĩ mô – bộ môn khoa học nghiên cứu nền kinh tế với tư cách một tổng thể sẽ tìm cách giải đáp những vấn đề này và nhiều vấn đề có liên quan
Để đánh giá tầm quan trọng của kinh tế vĩ mô, bạn chỉ cần đọc báo, nghe đài, xem ti vi hoặc vào các trang mạng kinh tế Các phương tiện truyền thông đại chúng hàng ngày đều thông tin về chiều hướng phát triển của nền kinh tế Chẳng hạn: chỉ số giá tiêu dùng tăng, tiền lương tối thiểu vùng tăng 10%
Tất cả các vấn đề kinh tế vĩ mô đều đụng chạm đến cuộc sống của chúng ta Khi
dự báo nhu cầu về sản phẩm của mình, các doanh nghiệp phải phán đoán xem thu nhập của người tiêu dùng tăng nhanh đến mức nào Người về hưu sống bằng thu nhập cố định thường băn khoăn về tốc độ tăng giá Những người thất nghiệp đang tìm kiếm việc làm hi vọng nền kinh tế phục hồi và các doanh nghiệp tuyển thêm lao động Tất
cả chúng ta đều bị ảnh hưởng bởi thực trạng của nền kinh tế
Các sự kiện kinh tế cũng đóng vai trò chủ đạo trong quan hệ quốc tế Vào những năm 50, 60, hầu hết các nước công nghiệp phát triển đều duy trì tỷ giá hối đoái cố định giữa đồng tiền của họ với nhau và với đồng tiền của các nước khác Hệ thống tỷ giá hối đoái cố định này sụp đổ vào những năm 70 và thời đại của chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt bắt đầu Việt Nam nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu và thanh toán cho số hàng nhập khẩu dôi ra này bằng cách vay rất nhiều trên thị trường tài chính thế giới
Các nhà kinh tế vĩ mô tìm cách lý giải hoạt động của nền kinh tế với tư cách tổng thể Họ thu thập số liệu về thu nhập, giá cả và nhiều biến số kinh tế khác từ các thời kỳ
và các quốc gia khác nhau Sau đó, họ tìm cách xây dựng những lý thuyết tổng quát, góp phần giải thích các số liệu này
Mục tiêu của chúng ta trong việc nghiên cứu kinh tế vĩ mô không chỉ dừng lại ở việc lý giải các biến cố kinh tế mà còn nhằm đánh giá các chính sách kinh tế Các công
cụ của chính sách có thể tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế - bao gồm cả mặt tích cực
và tiêu cực – giúp chúng ta có thể đánh giá được hiệu quả của các chính sách kinh tế
mà nhà nước đang áp dụng
Trang 20NỘI DUNG ÔN TẬP
A CÂU HỎI TỰ LUẬN
1 Kinh tế học chia thành hai phân ngành gì? Hãy cho biết mỗi phân ngành nghiên cứu những vấn đề gì?
2 Hãy cho biết những biến số then chốt được nghiên cứu trong kinh tế học vĩ mô
3 Sự khác nhau giữa nhận định thực chứng và nhận định chuẩn tắc là gì? Nêu ví
dụ cho mỗi loại nhận định
4 Chủ đề nào sau đây thuộc về kinh tế vĩ mô hoặc kinh tế vi mô:
- Quyết định của một hộ gia đình về việc tiết kiệm bao nhiêu thu nhập
- Ảnh hưởng của các quy định mà nhà nước áp dụng cho khí thải của ô tô
- Ảnh hưởng của mức tiết kiệm quốc gia cao hơn đối với tăng trưởng kinh tế
- Quyết định của một doanh nghiệp về việc thuê bao nhiêu công nhân
- Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát vả những thay đổi trong cung ứng tiền tệ
5 Hãy phân loại những nhận định sau thành nhận định thực chứng và nhận định chuẩn tắc:
- Xã hội phải đối mặt với sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp
- Việc cắt giảm tỷ lệ tăng cung tiền sẽ làm giảm tỷ lệ lạm phát
- Ngân hàng nhà nước cần giảm lượng tiền cung ứng
- Xã hội cần yêu cầu người nhận phúc lợi xã hội tìm việc làm
- Mức thuế thu nhập thấp hơn khuyến khích mọi người làm việc nhiều hơn
B CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
6 Kinh tế học có thể định nghĩa là:
a Cách làm tăng lượng tiền của gia đình
b Cách kiếm tiền ở thị trường chứng khoán
c Giải thích các số liệu khan hiếm
d Cách sử dụng tài nguyên khan hiếm để sản xuất ra các hàng hóa, dịch vụ và phân bổ các hàng hóa, dịch vụ này cho các cá nhân trong xã hội
7 Kinh tế vĩ mô nghiên cứu:
a Mức sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế
Trang 21d Tất cả các đáp án trên
9 Nhận định nào sau đây có tính chuẩn tắc?
a Phát hành nhiều tiền sẽ gây ra lạm phát
b Người lao động làm việc tích cực hơn nếu tiền lương cao hơn
c Nhà nước cần cắt giảm tỷ lệ thất nghiệp
d Thâm hụt ngân sách lớn làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại
10 Nhận định nào sau đây có tính thực chứng?
a Cắt giảm trợ cấp thất nghiệp làm giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
b Nên cắt giảm tỷ lệ thất nghiệp vì nó gây mất ổn định xã hội
c Nên cắt giảm tỷ lệ lạm phát vì nó làm giảm thu nhập của người dân
d Cần tăng trợ cấp cho các trường đại học vì tương lai của đất nước
11 Khi thực hiện chính sách tài khóa, Chính phủ có thể có các công cụ sau:
a Giá cả và tiền lương
b Tỷ giá hối đoái
c Thuế và chi tiêu Chính phủ
Trang 22CHƯƠNG 2: HẠCH TOÁN TỔNG SẢN PHẨM QUỐC DÂN
Khi bạn tốt nghiệp và bắt đầu đi tìm việc làm, khả năng tìm được việc làm phụ thuộc vào điều kiện kinh tế hiện tại Trong một số năm, các doanh nghiệp trong toàn nền kinh tế mở rộng sản xuất hàng hóa, dịch vụ và việc làm tăng, bạn dễ dàng tìm được việc làm Một số năm khác, các doanh nghiệp phải cắt giảm sản xuất, việc làm giảm và bạn mất nhiều thời gian mới tìm được việc làm tốt Không có gì đáng ngạc nhiên khi tất cả sinh viên tốt nghiệp đại học đều muốn gia nhập lực lượng lao động vào năm hoạt động kinh tế mở rộng chứ không phải khi nền kinh tế đang rơi vào suy thoái
Do điều kiện của toàn nền kinh tế ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả chúng ta nên những thay đổi trong điều kiện kinh tế thường được thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng Trên thực tế, rất hiếm khi chúng ta cầm một tờ báo lên mà không nhìn thấy số liệu thống kê mới về nền kinh tế Số liệu thống kê có thể phản ánh tổng thu nhập của mọi người trong nền kinh tế (GDP hoặc GNP), tốc độ tăng giá bình quân (lạm phát), phần trăm lực lượng lao động không có việc làm (thất nghiệp), sự mất cân bằng trong hoạt động thương mại giữa Việt Nam và các nước khác trên thế giới (thâm hụt thương mại) Tất cả các số liệu thống kê này là chỉ tiêu kinh tế
vĩ mô Thay vì đề cập đến hộ gia đình hay doanh nghiệp riêng lẻ, chúng cho ta biết điều gì đó về toàn bộ nền kinh tế
Nền kinh tế với tư cách là một tổng thể chẳng qua chỉ là tập hợp của rất nhiều
hộ gia đình và doanh nghiệp tương tác với nhau trên nhiều thị trường Nếu phải đánh giá một người có hoạt động kinh tế tốt không, có thể đầu tiên phải nhìn vào thu nhập của họ Một người có thu nhập cao dễ dàng mua được những hàng hóa thiết yếu và sang trọng cho cuộc sống Không có gì đáng ngạc nhiên khi những người có thu nhập cao được hưởng thụ mức sống cao – nhà ở sang trọng hơn, chăm sóc sức khỏe tốt hơn,… Tương tự như vậy, để đánh giá nền kinh tế của một quốc gia hoạt động có tốt không, người ta thường nhìn vào tổng thu nhập mà mọi người trong nền kinh tế đó kiếm được Đó chính là các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
2.1 KHÁI QUÁT VỀ VIỆC ĐO LƯỜNG SẢN LƯỢNG QUỐC GIA
Khái niệm “sản lượng quốc gia” ở đây nhằm đề cập đến toàn bộ giá trị hàng hóa dịch vụ được dùng để đo lường mức sản xuất của một nước Mức sản xuất của một nước
có thể được hiểu theo hai nghĩa: một là mức sản xuất do công dân nước đó tạo ra; hai là mức sản xuất được tạo ra trên lãnh thổ nước đó Khi đo lường mức sản xuất, phải dựa trên một quan điểm về sản xuất cho trước, từ quan điểm đó mới xây dựng các chỉ tiêu tính toán nhằm phản ánh khả năng sản xuất mà nền kinh tế đạt được trong một thời gian
Trang 23nhất định Vì vậy trước khi nghiên cứu cách tính các chỉ tiêu đo lường sản lượng quốc gia, chúng ta cần tìm hiểu quan điểm sản xuất mà các quốc gia đã chọn lựa
2.1.1 Các quan điểm về sản xuất
Trong kinh tế học, khái niệm sản xuất đã được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Xét theo lịch sử thì lúc đầu khái niệm này được hiểu theo nghĩa hẹp và phiến diện Sau
đó dần dần được mở rộng ra, phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế
- Vào thế kỷ 16, F.Quesnay (phái Trọng nông) đã chính thức đưa ra khái niệm về sản xuất Ông cho rằng sản xuất là tạo ra “sản lượng thuần tăng” Đó là lượng sản phẩm tăng thêm so với lượng nguyên liệu ban đầu được đưa vào sản xuất Nhưng theo quan điểm này khi đo lường sản lượng quốc gia chỉ tính phần sản lượng thuần tăng của ngành nông nghiệp
- Đến thế kỷ 18, Adam Smith – người dẫn đầu trường phái cổ điển đưa ra khái niệm khác về sản xuất Theo ông sản xuất là sáng tạo ra các sản phẩm vật chất Đó là những sản phẩm hữu hình, có thể nhìn thấy, chạm vào được Theo quan điểm này lại chưa tính đến những ngành như thương nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện…
- Vào thế kỷ 19 Karl Marx lại mở rộng hơn nữa quan điểm về sản xuất của Adam Smith Theo Marx thì sản xuất bao gồm toàn bộ sản phẩm hữu hình (do các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng, khai khoáng tạo ra) và một phần của sản phẩm
vô hình (do thương nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện tạo ra tuy nhiên chỉ tính những chi phí phục vụ cho hoạt động sản xuất còn phục vụ cho hoạt động tiêu dùng thì phải loại ra)
Quan điểm của Marx là cơ sở để tính sản lượng quốc gia ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và được gọi là hệ thống sản xuất vật chất, viết tắt là MPS (Material Production System)
Ở các nước tư bản chủ nghĩa, việc đo lường sản lượng quốc gia dựa trên quan điểm rộng rãi hơn về sản xuất Người ta cho rằng sản xuất là tạo ra những sản phẩm vật chất và dịch vụ có ích cho xã hội Như vậy sản lượng quốc gia theo quan điểm này bao gồm toàn bộ những sản phẩm hữu hình và vô hình mà nền kinh tế tạo ra trong mọt thời gian nào đó Ngày nay, cách tính này đã được Liên Hợp quốc chính thức công nhận như một hệ thống đo lường quốc tế , được gọi là hệ thống tài khoản quốc gia, viết tắt là SNA (System of National Accounts)
2.1.2 Tổng quan về các chỉ tiêu trong SNA
Trong SNA có 7 chỉ tiêu phản ánh các khía cạnh khác nhau về kết quả sản xuất, về mức thu nhập mà nền kinh tế đạt được trong vòng một năm Đó là:
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP – Gross National Product)
Trang 24- Sản phẩm quốc dân ròng (NNP – Net National Product)
- Sản phẩm quốc nội ròng (NNP – Net Domestic Product)
- Thu nhập quốc dân (NI – National Income) - trong chương sau ký hiệu là Y
- Thu nhập cá nhân (PI – Personal Income)
- Thu nhập khả dụng (DI – Dispossable Income) – trong chương sau ký hiệu là YD
* Các chỉ tiêu trên được chia làm 2 nhóm:
- Nhóm chỉ tiêu theo lãnh thổ một nước Nhóm này có hai chỉ tiêu là GDP và NDP Hai chỉ tiêu này nhằm đo lường mức sản xuất trên lãnh thổ một nước, bất kể các sản phẩm được tạo ra bởi công dân nước đó hay công dân nước khác
- Nhóm chỉ tiêu tính theo quyền sở hữu của công dân một nước, bao gồm: GNP, NNP, NI, PI, DI Chúng đo lường mức sản xuất do công dân một nước tạo ra, có thể trên lãnh thổ nước đó hoặc lãnh thổ nước khác
Trong hệ thống các chỉ tiêu trên, GDP và GNP là hai chỉ tiêu cơ bản nhất dùng để đánh giá thành quả kinh tế một nước Chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn về hai chỉ tiêu này
2.2 TỔNG QUAN VỀ HAI CHỈ TIÊU TỔNG SẢN PHẨM QUỐC NỘI (GDP) VÀ TỔNG SẢN PHẨM QUỐC DÂN (GNP)
2.2.1 Khái niệm
- Tổng sản phẩm quốc nội(GDP) là giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và
dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một nước trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và
dịch vụ cuối cùng do công dân một nước sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
- Hàng hóa, dịch vụ trung gian (sản phẩm trung gian): là hàng hóa, dịch vụ được
dùng làm đầu vào để sản xuất ra sản phẩm khác và được sử dụng hết trong quá trình sản xuất đó Ví dụ: điện dùng để chạy máy dệt, bột mỳ dùng làm bánh,…
- Hàng hóa, dịch vụ cuối cùng (sản phẩm cuối cùng): là những hàng hóa, dịch vụ
được người sử dụng cuối cùng mua Nó là những sản phẩm còn lại ngoài sản phẩm trung gian Ví dụ: máy móc, nhà xưởng, bánh kẹo, thuốc men
Trang 25Toàn bộ giá trị của sản phẩm trung gian sẽ được chuyển hết một lần vào giá trị sản phẩm mới Mỗi sản phẩm đều có thể đóng vai trò là sản phẩm trung gian hoặc sản phẩm cuối cùng tùy mục đích sử dụng của con người
Ví dụ: Cá tươi, điện,… để làm thành cá đóng hộp thì phần cá và điện đó là sản phẩm trung gian Nếu cá tươi và điện được dùng để nấu ăn hoặc dùng để xuất khẩu thì phần cá và điện đó là sản phẩm cuối cùng
Chúng ta cùng xem xét từng cụm từ trong khái niệm GDP
- GDP là giá trị thị trường
Có lẽ bạn có thể thấy “bạn không thể so sánh táo với cam” nhưng GDP lại làm như vậy GDP cộng rất nhiều loại sản phẩm thành một chỉ tiêu duy nhất về giá trị hoạt động kinh tế Để làm được điều này, nó phải sử dụng giá trị thị trường Do giá thị trường biểu thị số tiền mà mọi người sẵn sàng chi trả cho các hàng hóa khác nhau nên nó phản ánh giá trị của các hàng hóa này Nếu giá của một quả cam bằng hai lần giá một quả táo, thì một quả cam đóng góp vào GDP gấp hai lần giá trị đóng góp của một quả táo
- Tất cả
GDP cố gắng biểu thị một cách đầy đủ, nó bao gồm tất cả hàng hóa được sản xuất ra trong nền kinh tế và được bán hợp pháp trên các thị trường GDP tính toán giá thị trường không chỉ của táo và cam mà còn của lê, nho, sách, phim ảnh, dịch vụ cắt tóc, chăm sóc y tế, …
GDP còn bao gồm cả giá trị thị trường của dịch vụ nhà ở do khối lượng nhà ở hiện có của nền kinh tế cung cấp Đối với các căn nhà cho thuê, chúng ta dễ dàng tính được giá trị này – tiền thuê nhà đúng bằng chi tiêu của người thuê nhà và thu nhập của chủ nhà Tuy nhiên, có nhiều người sống trong chính căn nhà của họ và do vậy không phải trả tiền thuê nhà Chính phủ hạch toán những ngôi nhà do chủ sở hữu sử dụng vào GDP bằng cách ước tính giá trị cho thuê của chúng Nghĩa là, GDP được tính dựa trên giả định cho rằng người chủ sở hữu trả tiền thuê nhà cho chính họ, do vậy tiền thuê nhà nằm trong cả chi tiêu lẫn thu nhập của họ
Tuy nhiên, có một số sản phẩm mà GDP bỏ sót do việc tính toán chúng quá khó khăn GDP không tính những sản phẩm được sản xuất và bán ra trong nền kinh tế ngầm Ví dụ như những sản phẩm bất hợp pháp Nó cũng không tính được những sản phẩm được sản xuất và tiêu dùng trong gia đình, và do vậy không bao giờ được đưa ra ngoài thị trường Những loại rau quả mua tại các quầy rau là một phần GDP song rau quả trồng trong vườn nhà bạn mà bạn dùng để nấu ăn thì lại không nằm trong GDP Những thiếu sót này của GDP đôi khi có thể dẫn đến những kết quả kỳ quặc
Ví dụ khi Lan trả tiền thuê Hòa cắt cỏ cho cô, giao dịch này là một phần của GDP Nếu Lan cưới Hòa thì tình hình sẽ thay đổi Mặc dù Hòa vẫn tiếp tục chăm sóc bãi
cỏ cho Lan nhưng giá trị của hoạt động cắt cỏ giờ đây đã bị đưa ra khỏi GDP, bởi
Trang 26vì dịch vụ của Hòa không được bán trên thị trường nữa Do vậy, khi Lan và Hòa cưới nhau, GDP giảm
- Cuối cùng
Nếu công ty Pamper sản xuất giấy, sau đó giấy được công ty Thanh Lan sử dụng
để làm thiệp chúc mừng thì giấy đó được gọi là hàng hóa trung gian, còn thiệp chúc mừng được gọi là hàng hóa cuối cùng GDP chỉ bao gồm những hàng hóa cuối cùng
Lý do là giá trị của những hàng hóa trung gian đã được tính vào trong giá cả của hàng hóa cuối cùng Việc cộng giá trị thị trường của giấy với giá trị thị trường của thiệp sẽ dẫn đến sự tính trùng Nghĩa là, giá trị của giấy được tính hai lần
- Được sản xuất ra
GDP bao gồm mọi hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong thời kỳ hiện tại
Nó không bao gồm những giao dịch liên quan đến hàng hóa được sản xuất trong quá khứ Khi công ty Vidamico sản xuất và bán chiếc ôtô mới thì giá trị của chiếc xe đó được tính vào GDP Khi người nào đó bán chiếc ôtô đã qua sử dụng cho người khác, thì giá trị của chiếc ôtô đã qua sử dụng đó không nằm trong GDP
- Trong phạm vi một nước
GDP tính toán giá trị sản xuất trong phạm vi địa lý của một nước Khi một công dân Nga làm việc tạm thời ở Việt Nam, thì giá trị sản xuất của anh ta là bộ phận cấu thành GDP của Việt Nam Khi một công dân Việt Nam làm việc ở Nhật thì GDP của anh ta không nằm trong GDP của Việt Nam (nó là một phần trong GDP của Nhật) Do vậy, các sản phẩm được đưa vào GDP của một quốc gia khi chúng được sản xuất ra trên lãnh thổ của quốc gia đó bất kể nhà sản xuất có quốc tịch nước nào
- Trong một thời kỳ nhất định
GDP phản ánh giá trị sản xuất thực hiện trong một khoảng thời gian cụ thể Khoảng thời gian này thường là một năm hoặc một quý (3 tháng) GDP phản ánh lượng thu nhập và chi tiêu trong thời kỳ đó
2.2.2 Mối liên hệ giữa hai chỉ tiêu GDP và GNP
GNP và GDP đều là chỉ tiêu đo lường tổng sản phẩm cuối cùng của một quốc gia sản xuất ra trong một thời kỳ GNP thống kê sản phẩm được sản xuất ra của một quốc gia trên cơ sở nguồn lực, nghĩa là tính theo người dân quốc gia đó Người dân quốc gia
Trang 27đó dù sinh sống ở đâu trong nước hay nước ngoài tạo ra hàng hoá và dịch vụ thì đều được tính vào GNP của quốc gia đó Còn GDP thống kê sản phẩm được sản xuất ra của một quốc gia tính trên phạm vi lãnh thổ kinh tế của quốc gia đó, dù đó là người trong nước hay người nước ngoài, là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp thuộc
sở hữu của người nước ngoài
Vậy GNP và GDP khác nhau phần giá trị hàng hoá và dịch vụ mà người dân quốc gia đó sản xuất ra ở nước ngoài và phần giá trị hàng hoá và dịch vụ mà người nước ngoài sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ kinh tế của quốc gia đó Phần này được gọi là thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài bằng chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và dịch vụ mà người dân quốc gia đó sản xuất ra ở nước ngoài trừ đi phần giá trị hàng hoá
và dịch vụ mà người nước ngoài sản xuất ra trong lãnh thổ kinh tế của quốc gia đó Khi đề cập đến thu nhập của một nền kinh tế (ví dụ là quốc gia X), sẽ có thể bao gồm 3 nguồn:
A: giá trị do công dân nước X tạo ra trên lãnh thổ nước X
B: giá trị do công dân nước X tạo ra trên lãnh thổ nước khác
C: giá trị do công dân nước khác tạo ra trên lãnh thổ nước X
Trong đó:
- Thu nhập A: là giá trị được tạo ra từ quá trình sản xuất với nguồn lực bản địa và
sở hữu bản địa của quốc gia X
- Thu nhập B: là thu nhập từ các yếu tố xuất khẩu hay còn gọi là giá trị hàng hóa, dịch vụ mà người dân sản xuất ra ở nước ngoài Gồm: tiền công của những người đi lao động ở nước ngoài, lợi nhuận do đầu tư vốn ra nước ngoài, thu nhập do bán hay cho thuê bản quyền ở nước ngoài
- Thu nhập C: là thu nhập từ các yếu tố nhập khẩu hay còn gọi giá trị hàng hóa, dịch vụ mà người nước ngoài sản xuất ở trong nước Gồm: tiền công của những những người nước ngoài đến làm việc trong nước, thu nhập từ việc sở hữu vốn, bản quyền của người nước ngoài đầu tư vào trong nước
Hiệu số giữa thu nhập từ các yếu tố xuất khẩu và thu nhập từ các yếu tố nhập khẩu được gọi là thu nhập ròng từ nước ngoài
Trang 28Nếu NIA > 0 thì GNP > GDP: thu nhập từ các yếu tố xuất khẩu lớn hơn thu nhập
từ các yếu tố nhập khẩu, thực tế này thường xảy ra đối với các nước phát triển
Nếu NIA < 0 thì GNP < GDP: thu nhập từ các yếu tố xuất khẩu nhỏ hơn thu nhập
từ các yếu tố nhập khẩu, tình trạng này thường xảy ra với những nước kém phát triển
2.2.3 GDP thực tế, GDP danh nghĩa và chỉ số điều chỉnh GDP
2.2.3.1 GDP thực tế và GDP danh nghĩa
Như chúng ta đã thấy, GDP phản ánh tổng giá trị của các hàng hóa, dịch vụ trên tất cả các thị trường của nền kinh tế Chúng ta cùng tìm hiểu về hai thuật ngữ: GDP danh nghĩa (Nominal GDP – GDPn) và GDP thực tế (Real GDP – GDPr)
GDP danh nghĩa là tổng giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ tính theo thời giá hiện hành hay là tổng của lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong một năm
nhân với giá của các hàng hóa và dịch vụ ấy trong năm đó
GDP danh nghĩa được thể hiện dưới dạng công thức như sau:
i: hàng hóa cuối cùng thứ i với i = 1, 2, 3,…,n
t: năm tính toán
q: lượng hàng hóa, dịch vụ, qi: lượng của hàng hóa thứ i p: giá hàng hóa, dịch vụ, pi: giá của hàng hóa thứ i Nếu tổng chi tiêu tăng từ năm này qua năm khác thì một trong hai điều sau đây phải đúng: (1) nền kinh tế đang sản xuất ra sản lượng hàng hóa, dịch vụ lớn hơn, hoặc (2) hàng hóa, dịch vụ được bán với giá cao hơn Bởi vậy, GDP danh nghĩa không cho chúng ta biết chi tiết sự gia tăng của nó chủ yếu là do sự tăng lên về giá hay sự tăng lên về lượng của hàng hóa, dịch vụ tạo ra trong nền kinh tế
Nghiên cứu sự biến động kinh tế theo thời gian, các nhà kinh tế muốn tách riêng hai ảnh hưởng này Cụ thể là họ muốn có một chỉ tiêu về tổng lượng hàng hóa, dịch vụ nền kinh tế sản xuất ra mà không bị ảnh hưởng bởi sự biến động giá cả của những hàng hóa, dịch vụ đó Để thực hiện điều này, các nhà kinh tế sử dụng một chỉ tiêu được gọi là GDP thực tế
Trang 29GDP thực tế là giá trị sản lượng hàng hóa, dịch vụ hiện hành của nền kinh tế được tính theo mức giá cố định của năm cơ sở hay là tổng của lượng hàng hóa, dịch vụ
được sản xuất ra trong một năm nhân với giá cố định của hàng hóa, dịch vụ đó trong năm cơ sở (năm gốc)
GDP thực tế được thể hiện dưới dạng công thức như sau:
Thông qua việc đánh giá sản lượng hiện hành theo các mức giá quá khứ cố định, GDP thực tế cho biết sản lượng hàng hóa, dịch vụ nói chung của nền kinh tế thay đổi như thế nào theo thời gian
Để phân biệt giữa GDP danh nghĩa và GDP thực tế, chúng ta cần tìm cách tách những thay đổi GDP danh nghĩa do giá thay đổi ra khỏi những thay đổi xuất phát từ lượng thay đổi Cách tốt nhất để làm việc đó là xét một ví dụ đơn giản Giả sử chúng ta đánh giá lượng nước mắm sản xuất ra năm 2013 theo giá nước mắm năm 1994 Sau đó chúng ta đem so sánh giá trị sản lượng nước mắm năm 2013 với giá trị sản lượng nước mắm năm 1994 Ở đây chỉ có lượng là khác nhau vì chúng ta đã định giá chuẩn cho cả hai năm bằng cách dùng giá năm 1994 Chúng ta có thể lặp lại công việc tính toán này cho tất cả các năm cần quan tâm bằng việc nhân lượng nước mắm ở mỗi năm với giá nước mắm năm 1994 Năm 1994 được biết tới là năm cơ sở (năm gốc)
Tương tự như đã làm với nước mắm ở phần trên, chúng ta tiến hành tính toán đối với tất cả các hàng hóa sản xuất ra trong nền kinh tế Chúng ta lấy lượng của tất cả hàng hóa cuối cùng ở một năm cụ thể nào đó nhân với giá của chúng ở năm cơ sở và cộng các giá trị tính được với nhau Kết quả thu được là GDP thực tế hay GDP theo giá cố định Khái niệm này đôi khi cũng được gọi là GDP đã hiệu chỉnh lạm phát vì đã loại trừ ảnh hưởng của thay đổi giá cả thông qua việc dùng giá cố định của năm cơ sở cho các năm khác
Đối với mỗi sản phẩm riêng lẻ, lượng của năm 2013 có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn lượng sản phẩm đó ở năm 1994 nhưng khi chúng ta tính GDP thực tế, chúng ta thu được một chỉ tiêu cho biết liệu tổng sản lượng của nền kinh tế tăng lên hay giảm xuống Chúng ta dùng năm 1994 là năm cơ sở trong ví dụ bởi vì các bài báo và số liệu thống kê về GDP của Việt Nam đang áp dụng năm 1994 là năm cơ sở Tổng cục thống
kê thỉnh thoảng có thay đổi năm cơ sở, trước đó là năm 1990 là năm cơ sở để tính các thống kê về GDP, chi tiêu và thu nhập của nền kinh tế
Mục tiêu tính toán GDP của chúng ta là để nắm bắt được hiệu quả hoạt động của
Trang 30trong nền kinh tế nên nó cũng cho biết khả năng thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn của người dân trong nền kinh tế Chính vì vậy mà GDP thực tế là chỉ tiêu đánh giá phúc lợi kinh tế tốt hơn so với GDP danh nghĩa
Sau khi đã loại trừ ảnh hưởng của biến đổi giá, các nhà kinh tế tính tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế (GDP growth rate – g), là tỷ lệ phần trăm thay đổi của GDP thực tế từ thời kỳ/năm này so với thời kỳ/năm trước
Chỉ số điều chỉnh GDP đo lường mức giá trung bình của tất cả mọi hàng hóa, dịch
vụ được tính trong GDP Chỉ số điều chỉnh GDP được tính bằng tỷ số giữa GDP danh nghĩa và GDP thực tế Nó phản ánh mức giá hiện hành so với mức giá của năm cơ sở Chỉ số điều chỉnh GDP ở những năm sau phản ánh sự gia tăng của GDP danh nghĩa so với năm gốc, nó chỉ cho biết sự thay đổi sản lượng do giá thay đổi chứ không cho biết sự gia tăng của GDP thực tế
Do GDP danh nghĩa và GDP thực tế năm cơ sở bằng nhau nên chỉ số điều chỉnh GDP năm cơ sở luôn bằng 1 Tuy nhiên, để tiện lợi, chúng thường được thể hiện là 100% thay vì 1 Do vậy, tỷ số giữa giá trị của GDP danh nghĩa và GDP thực tế được nhân với 100%
Công thức tính chỉ số điều chỉnh GDP như sau:
DtGDP =
GDPtn
GDPtrChúng ta có thể minh họa những điều đã được đề cập ở trên bằng một ví dụ đơn giản, đó là nghiên cứu một nền kinh tế tưởng tượng chỉ sản xuất hai hàng hóa cuối cùng là gạo và nước mắm Chúng ta tìm hiểu xem để tính toán các chỉ tiêu về GDP danh nghĩa và thực tế (GDPn, GDPr), chỉ số điều chỉnh GDP (DGDP) và tỷ lệ tăng trưởng GDP hay tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế hàng năm (g)
Năm
Giá (nghìn/kg)
Lượng (kg)
Giá (nghìn/lít)
Lượng (lít) GDPn GDPr DGDP
Trang 312.2.4 Ý nghĩa của các chỉ tiêu GNP và GDP trong phân tích kinh tế vĩ mô
Các quốc gia luôn tìm cách đo lường kết quả hoạt động của mình trong mỗi thời
kỳ nhất định Thành tựu kinh tế của một quốc gia, phản ánh quốc gia đó sản xuất ra được bao nhiêu sản phẩm, nó đã sử dụng các yếu tố sản xuất của mình đến mức độ nào
để tạo ra sản phẩm phục vụ cho đời sống nhân dân của quốc gia mình
Chỉ tiêu GNP và GDP là những thước đo tốt về thành tựu kinh tế của một quốc gia Ngân hàng thế giới hay quỹ tiền tệ quốc tế cũng như các nhà kinh tế thường sử dụng các chỉ tiêu này để so sánh quy mô sản xuất của các nước khác nhau trên thế giới Sau khi tính chuyển số liệu GNP và GDP tính bằng các đồng tiền khác nhau của các nước và đồng đô la Mỹ Sự tính chuyển đó thông qua tỷ giá hối đoái chính thức giữa các nước và đồng Đô la Mỹ
GNP và GDP thường được sử dụng để phân tích những biến đổi về sản lượng của một đất nước trong các thời gian khác nhau Trong trường hợp này người ta thường tính GNP hoặc GDP thực tế nhằm loại trừ sự biến động về giá cả
Các chỉ tiêu GNP, GDP còn được sử dụng để phân tích sự thay đổi mức sống dân
cư Để làm việc đó người ta thường tính GNP, GDP bình quân đầu người
GDP bình quân đầu người = GDP/ tổng dân số
GNP bình quân đầu người = GNP/ tổng dân số
Như vậy, mức sống dân cư của một nước phụ thuộc vào số lượng hàng hoá được sản xuất ra và quy mô dân số của quốc gia đó Sự thay đổi về GDP, GNP bình quân đầu người phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ tăng dân số và năng suất lao động Mức sống của dân cư của một nước phụ thuộc vào đất nước đó giải quyết vấn đề dân số trong mối quan hệ với năng suất lao động như thế nào
Vì GNP bao gồm GDP và phần thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài nên GNP bình quân đầu người là thước đo tốt hơn nếu xét theo khía cạnh số lượng hàng hoá và dịch vụ mà mỗi người dân quốc gia đó có thể mua được Còn GDP bình quân đầu người là thước đo tốt hơn về số lượng hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra tính bình quân cho một người dân
Trang 32Các Chính phủ của các nước trên thế giới đều phải dựa vào số liệu về GDP và GNP để xây dựng các kế hoạch, chiến lược phát triển cho nền kinh tế trong ngắn hạn
và dài hạn
2.3 PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GDP
2.3.1 Sơ đồ luân chuyển kinh tế vĩ mô
Chúng ta cùng hình dung một nền kinh tế chỉ sản xuất một loại hàng hóa duy nhất là bánh mỳ từ một đầu vào duy nhất là lao động Hình 2.1 minh họa tất cả các giao dịch kinh tế xảy ra giữa hộ gia đình và doanh nghiệp trong nền kinh tế này
Nhánh ngoài của hình 2.1 biểu thị luồng chu chuyển của hàng hóa và yếu tố đầu vào (lao động) Hộ gia đình bán sức lao động cho doanh nghiệp, doanh nghiệp sử dụng sức lao động của công nhân để sản xuất hàng hóa, sau đó bán cho hộ gia đình Bởi vậy, luồng lao động chảy từ hộ gia đình sang doanh nghiệp và luồng hàng hóa chảy từ doanh nghiệp sang hộ gia đình
Nhánh trong của hình 2.1 biểu thị các luồng tiền tương ứng Hộ gia đình mua hàng hóa của doanh nghiệp Doanh nghiệp sử dụng một phần doanh thu bán hàng để trả tiền lương cho công nhân Phần còn lại là lợi nhuận của chủ doanh nghiệp (bản thân người chủ cũng là bộ phận của khu vực hộ gia đình) Cho nên, luồng chi tiêu mua hàng hóa chảy từ hộ gia đình sang doanh nghiệp, còn thu nhập dưới dạng tiền lương và lợi nhuận chảy từ doanh nghiệp sang hộ gia đình
GDP phản ánh các luồng tiền trong nền kinh tế Chúng ta có thể tính nó theo hai cách:
- GDP là tổng thu nhập thu được từ quá trình sản xuất hàng hóa Nó bằng tổng tiền lương và lợi nhuận (tức vòng chu chuyển tiền ở phần dưới của hình 2.1) (Phương pháp xác định GDP theo luồng thu nhập hay phương pháp chi phí)
Thị trường hàng hóa
Thị trường yếu tố sản xuất
Hình 2.1: Sơ đồ luân chuyển kinh tế vĩ mô
Thu nhập Chi tiêu
Trang 33- GDP cũng bằng tổng chi tiêu để mua hàng hóa (tức vòng chu chuyển tiền phần trên cùng của hình 2.1) (Phương pháp xác định GDP theo luồng sản phẩm hay phương pháp chi tiêu)
Như vậy, chúng ta có thể xem xét luồng tiền chảy từ doanh nghiệp sang hộ gia đình hoặc luồng tiền chuyển từ hộ gia đình sang doanh nghiệp
Tổng mức chi tiêu và tổng thu nhập của nền kinh tế phải bằng nhau vì mỗi giao dịch đều bao gồm hai bên mua và bán Theo nguyên tắc, chi tiêu của người mua để mua sản phẩm bằng thu nhập của người bán sản phẩm Bởi vậy, mọi giao dịch ảnh hưởng tới chi tiêu phải tác động tới thu nhập và mọi giao dịch ảnh hưởng tới thu nhập phải tác động tới chi tiêu Ví dụ nếu doanh nghiệp sản xuất bán thêm một chiếc hàng hóa cho hộ gia đình, thì rõ ràng giao dịch này làm tăng tổng chi tiêu
về hàng hóa, nhưng nó cũng tác động như vậy tới tổng thu nhập Nếu doanh nghiệp sản xuất thêm một hàng hóa mà không thuê thêm lao động thì lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên Nếu doanh nghiệp sản xuất thêm hàng hóa bằng cách thuê thêm lao động, tiền lương sẽ tăng lên Trong cả hai trường hợp, chi tiêu và thu nhập đều tăng một lượng như nhau
Trong một nền kinh tế giả định chỉ sản xuất hàng hóa, chúng ta có thể tính toán GDP đơn giản bằng cách cộng các khoản chi tiêu để mua hàng hóa lại với nhau, nhưng
vì nền kinh tế lớn và phức tạp, cho nên việc cộng tất cả các khoản chi tiêu về hàng hóa
và dịch vụ lại với nhau bao gồm rất nhiều khoản mục Cụ thể, các hộ gia đình không chi tiêu toàn bộ thu nhập của mình Họ nộp một phần thu nhập cho Chính phủ dưới dạng thuế, cũng như tiết kiệm và đầu tư một phần thu nhập để sử dụng trong tương lai Ngoài ra, các hộ gia đình không mua tất cả các hàng hóa, dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế Một số hàng hóa, dịch vụ được Chính phủ mua, một số khác được các doanh nghiệp mua, vì họ dự kiến trong tương lai sẽ sử dụng chúng vào việc sản xuất ra sản phẩm của riêng họ Tuy nhiên, bất kể gia đình, doanh nghiệp hay Chính phủ mua một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó, thì giao dịch đó vẫn có bên mua và bên bán Do vậy, khi xem xét nền kinh tế với tư cách một tổng thể thì chi tiêu và thu nhập vẫn luôn bằng nhau
2.3.2 Phương pháp xác định GDP theo luồng sản phẩm (Phương pháp chi tiêu)
Theo phương pháp luồng sản phẩm, GDP bao gồm toàn bộ giá trị thị trường của các hàng hóa, dịch vụ cuối cùng mà các hộ gia đình, các doanh nghiệp, Chính phủ mua
và khoản xuất khẩu ròng được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, thường
là một năm Chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn các yếu tố cấu thành GDP theo phương pháp luồng sản phẩm (Phương pháp chi tiêu):
Trang 342.3.2.1 Tiêu dùng của hộ gia đình (C)
Tiêu dùng của hộ gia đình bao gồm tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ cuối cùng của hộ gia đình mua trên thị trường để chi dùng phục vụ đời sống hàng ngày
Như vậy GDP chỉ bao gồm những sản phẩm được giao dịch trên thị trường, còn các sản phẩm mà các hộ gia đình tự sản xuất để sử dụng thì bị bỏ sót không thể tập hợp được
Chú ý: GDP chỉ bao gồm hàng hoá mới được sản xuất và bán ra Hàng hoá mới
là hàng hoá lần đầu tiên được giao dịch, mua bán trên thị trường
2.3.2.2 Đầu tư (I)
Đầu tư bao gồm các hàng hóa được mua để dùng trong tương lai Đầu tư chính là việc giảm tiêu dùng hiện tại, có tác dụng tái sản xuất mở rộng để tăng tiêu dùng trong tương lai Đầu tư được chia thành: đầu tư cố định vào kinh doanh, đầu tư cố định vào nhà ở và đầu tư vào hàng tồn kho
Đầu tư cố định vào kinh doanh là việc mua sắm nhà máy và thiết bị mới của doanh nghiệp Đầu tư cố định vào nhà ở là việc mua nhà mới của hộ gia đình và người cho thuê nhà Đầu tư vào hàng tồn kho là mức tăng tồn kho hàng hóa của doanh nghiệp (nếu hàng tồn kho giảm xuống, đầu tư vào hàng tồn kho mang dấu âm) Hàng tồn kho là những hàng hóa được giữ lại để sản xuất hay tiêu thụ sau này Thực chất của hàng tồn kho là một loại tài sản lưu động Nó là những vật liệu hay đầu vào của sản xuất sẽ được sử dụng trong chu kỳ sản xuất tiếp theo, hoặc các thành phẩm chờ để bán trong thời gian tới Do chúng sẽ được tiêu thụ trong tương lai nên khi tính GDP, chúng được xếp vào khoản mục đầu tư
Cần phân biệt khái niệm tổng đầu tư và đầu tư ròng.Tổng đầu tư là giá trị các tư liệu lao động chưa trừ đi phần đã hao mòn trong quá trình sản xuất Đầu tư ròng bằng tổng đầu tư trừ đi khấu hao tài sản cố định
Trong tính toán GDP, chúng ta tính tổng đầu tư chứ không phải đầu tư ròng
2.3.2.3 Chi tiêu của Chính phủ (G)
Chi tiêu của Chính phủ là những hàng hóa và dịch vụ mà Chính phủ, chính quyền địa phương mua Chính phủ là một tác nhân kinh tế lớn nhất trong nền kinh tế Hàng năm các khoản chi tiêu của Chính phủ cho khu vực hành chính sự nghiệp của mình, chi tiêu cho xây dựng các cơ sở kết cấu hạ tầng vật chất cho nền kinh tế, xã hội và chi tiêu cho sự nghiệp phúc lợi xã hội rất lớn Phần lớn các khoản chi tiêu này của Chính phủ đều được tính vào GDP Song phải lưu ý, khi tính cần phải loại trừ ra:
Thứ nhất, những khoản thanh toán chuyển nhượng xã hội, ký hiệu là Tr bao gồm:
bảo hiểm xã hội, trợ cấp cho những người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em không nơi
Trang 35nương tựa, những người thuộc diện trợ cấp thất nghiệp, người có công với cách mạng
… Những khoản đã chi này lại không tương ứng với loại hàng hoá, dịch vụ nào mới được sản xuất ra trong nền kinh tế Do đó không đóng góp gì vào GDP, nên không được tính
Thứ hai, chi tiêu của nhà nước được tạo nguồn chủ yếu từ thuế (Tax), gồm hai
2.3.2.4 Xuất khẩu ròng (NX = X – IM)
Xuất khẩu ròng tính đến quan hệ buôn bán với các nước khác Xuất khẩu ròng là giá trị hàng hóa, dịch vụ được xuất khẩu sang các nước khác (xuất khẩu – X) trừ đi giá trị hàng hóa, dịch vụ mà người nước ngoài cung cấp cho nước ta (nhập khẩu – IM) Từ ròng thể hiện nhập khẩu đã được khấu trừ khỏi xuất khẩu Việc khấu trừ này được thực hiện bởi vì nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đã nằm trong những thành tố khác của GDP Ví dụ: một hộ gia đình mua một chiếc ôtô trị giá 500 triệu của doanh nghiệp General Motors, một nhà sản xuất ôtô của Mỹ Giao dịch này làm tăng tiêu dùng một lượng là 500 triệu bởi vì khoản chi tiêu để mua chiếc xe này là một thành tố chi tiêu của người tiêu dùng Nó cũng làm giảm xuất khẩu ròng đi 500 triệu bởi vì nó là hàng nhập khẩu Nói cách khác, xuất khẩu ròng bao gồm các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra ở nước ngoài (với dấu âm), bởi vì những hàng hóa và dịch vụ này đã nằm trong tiêu dùng, đầu tư và chi tiêu của Chính phủ (với dấu dương) Do vậy, khi hộ gia đình, doanh nghiệp hay Chính phủ mua hàng hóa hoặc dịch vụ từ nước ngoài, thì khoản chi tiêu đó làm giảm xuất khẩu ròng – song nó cũng làm tăng tiêu dùng, đầu tư hoặc chi tiêu của Chính phủ, nên nó hoàn toàn không ảnh hưởng đến GDP Mặt khác, xuất khẩu ròng biểu thị phần chi tiêu ròng của nước ngoài để mua hàng hóa, dịch vụ của nước ta
và làm tăng thu nhập của các nhà sản xuất trong nước
Như vậy, công thức chung để xác định GDP theo phương pháp luồng sản phẩm (chi tiêu) như sau:
GDP = C + I + G + NX (2.6)
Trang 362.3.3 Phương pháp xác định GDP theo thu nhập (Phương pháp chi phí)
Chúng ta đã xem xét vòng chu chuyển dưới của sơ đồ luân chuyển kinh tế vĩ
mô tại hình 2.1, GDP được tính theo giá trị sản phẩm đầu ra Bây giờ, chúng ta xem xét GDP theo chi phí các yếu tố đầu vào của sản xuất mà các doanh nghiệp phải thanh toán như tiền lương cho lao động, tiền trả lãi vốn vay, tiền thuê nhà, đất đai và lợi nhuận – thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã thanh toán các khoản chi phí
- Tiền lương (w): là phần thu nhập nhận được của người lao động và đồng thời là chi phí của doanh nghiệp
- Tiền trả lãi vốn vay (lãi suất – i): là thu nhập nhận được do cho vay tính theo mức lãi suất nhất định Nếu nhà doanh nghiệp có vốn không phải đi vay thì họ tự trả lãi suất (i) cho mình
- Tiền thuê nhà, đất (r): là khoản thu nhập có được do cho thuê đất đai, nhà cửa
và các loại tài sản khác Thực chất nó bao gồm hai phần, một là khấu hao tài sản cho thuê và hai là lợi tức của chủ sở hữu tài sản Nếu nhà doanh nghiệp có các tài sản này
bỏ vào kinh doanh thì khi hạch toán chi phí – lợi ích, họ cũng tự trả cho mình giống như một chủ sở hữu có tài sản cho thuê
- Lợi nhuận (Pr): là khoản thu nhập còn lại do bán sản phẩm sau khi đã thanh toán tất cả các chi phí sản xuất
Đối với nền kinh tế giản đơn (nền kinh tế chỉ bao gồm hộ gia đình và doanh
nghiệp chưa tính tới khấu hao), GDP được tính theo yếu tố chi phí sản xuất như sau:
GDP = w + i + r + Pr
Đối với nền kinh tế mở (có yếu tố Chính phủ và khu vực nước ngoài), GDP
tính theo yếu tố chi phí sản xuất cần có hai điều chỉnh:
+ GDP tính theo yếu tố chi phí sản xuất chưa tính đến khoản thuế mà Chính phủ đánh vào hàng hóa tiêu dùng thu qua doanh nghiệp Đó là thuế gián thu (Te)
+ GDP tính theo yếu tố chi phí sản xuất chưa tính đến hao mòn tài sản cố định
Vì hao mòn tài sản cố định không tương ứng với khoản thu nhập nào của hộ gia đình Chi phí khấu hao tài sản cố định phát sinh, các doanh nghiệp phải bù đắp các hao mòn
bộ phận hay toàn bộ tài sản cố định
Do đó, khi tính GDP, ta phải thêm vào công thức phần thuế gián thu (Te) và khấu hao tài sản cố định (De)
GDP = w + i + r + Pr + Te + De (2.7)
Trang 372.3.4 Phương pháp tính GDP theo giá trị gia tăng
GDP là tổng giá trị của hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra, GDP không tính các hàng hóa là các sản phẩm trung gian – những sản phẩm được sử dụng
để sản xuất ra hàng hóa khác Để hàng hóa cuối cùng đến tay người tiêu dùng, chúng phải trải qua nhiều công đoạn, mỗi công đoạn thì các doanh nghiệp chỉ đóng góp một phần giá trị của mình để tạo ra một hàng hóa hoặc dịch vụ hoàn chỉnh
Vì vậy, khi tính GDP theo cung dưới – phương pháp thu nhập (hoặc chi phí) cần thận trọng để tránh tính trùng Để tránh điều này, các nhà thống kê đưa ra khái
niệm: Giá trị gia tăng Giá trị gia tăng của một doanh nghiệp bằng giá trị sản lượng
của nó trừ đi giá trị hàng hóa và dịch vụ đầu vào đã được dùng hết trong việc sản xuất
ra sản lượng đó
Để tính GDP theo phương pháp giá trị gia tăng, chúng ta tiến hành qua hai bước:
Bước 1: Tính giá trị gia tăng của từng ngành hay từng thành phần kinh tế
Giá trị gia tăng = Giá trị sản xuất – Chi phí trung gian Trong đó:
+ Giá trị sản xuất: là toàn bộ giá trị sản lượng của doanh nghiệp tạo ra
trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm
+ Chi phí trung gian: toàn bộ chi phí hàng hóa và dịch vụ đầu vào mà
doanh nghiệp sử dụng để sản xuất ra sản phẩm của mình trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm
Bước 2: Tính tổng sản phẩm quốc nội theo công thức:
GDP = Tổng giá trị gia tăng của các ngành trong nền kinh tế
→ GDP = Σ VAi (i =1,2,3 n) (2.8) Trong đó:
VAi: giá trị tăng thêm của các doanh nghiệp trong ngành i n: số lượng ngành trong nền kinh tế
Đối với một nền kinh tế với tư cách một tổng thể, tổng giá trị gia tăng phải bằng giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng
Việc áp dụng phương pháp giá trị gia tăng có khả năng tránh được tính trùng, có nghĩa là loại trừ được chi phí trung gian trong báo cáo thu nhập của người nông dân, người chế biến nông sản và người bán sản phẩm đó
Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế, chỉ tiêu GDP được tính đồng thời theo cả ba phương pháp Về mặt lý thuyết thì cả ba phương pháp này đều cho kết quả như nhau Nhưng trên thực tế thì mỗi phương pháp dựa trên nguồn thông tin khác nhau, cho nên giữa chúng thường có sai số gọi là sai số thống kê Ở Việt Nam phương pháp sản xuất (phương pháp VA) được coi là phương pháp cơ bản và nó được dùng làm căn cứ để
Trang 38kiểm tra, chỉnh lý kết quả tính từ hai phương pháp chi phí và phương pháp chi tiêu Phần sai số thống kê không quá 2% là chấp nhận được
2.4 CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG (CPI)
2.4.2 Xây dựng chỉ số giá tiêu dùng
Bây giờ chúng ta tìm hiểu xem các nhà thống kê kinh tế tính CPI như thế nào? Trước hết, để xây dựng chỉ số giá tiêu dùng, các nhà thống kê kinh tế chọn năm cơ sở (năm gốc) Tiếp đó, họ tiến hành các cuộc điều tra tiêu dùng trên khắp các vùng của đất nước để xác định “giỏ hàng hóa” điển hình mà dân cư mua trong năm cơ sở Hiện nay, giỏ hàng đặc trưng để tính CPI của Việt Nam được hình thành bởi 10 nhóm hàng cấp 1; 34 nhóm hàng cấp 2 và 86 nhóm hàng cấp 3 CPI và xu thế biến động của mức giá hàng tiêu dùng được tính toán như thế nào? Để biết một cách chính xác chúng ta tiến hành theo các bước cụ thể như sau:
Bước 1: Chọn năm cơ sở và xác định giỏ hàng hóa cho năm cơ sở, qt
i với
t biểu thị năm hay thời kỳ thứ t, t = 0 ở năm cơ sở
i: hàng tiêu dùng thứ i trong giỏ hàng hóa
Ví dụ: giả sử năm cơ sở là năm 2011, giỏ hàng hóa tiêu dùng điển hình chỉ bao gồm 2 mặt hàng là gạo và nước mắm với lượng hàng mua tương ứng là 10kg gạo và
5 lít nước mắm Chúng ta cố định giỏ hàng này cho các năm tiếp theo vì mục đích của chúng ta là xác định ảnh hưởng của những thay đổi giá đến chi phí giỏ hàng ở các năm khác nhau
Trang 39Bước 2: Xác định giá của từng mặt hàng trong giỏ hàng cố định cho các năm, pt
i Năm Giá gạo
(nghìn/kg)
Giá nước mắm (nghìn/lít)
Bước 3: Tính chi phí mua giỏ hàng cố định theo giá thay đổi ở các năm
Chi phí cho giỏ hàng của mỗi năm được tính bằng cách nhân giá của từng mặt hàng của năm tương ứng với lượng cố định của các mặt hàng ấy ở năm cơ sở và sau đó cộng các giá trị tìm được với nhau Do chỉ có giá các mặt hàng thay đổi qua các năm nên:
Chi phí giỏ hàng ở năm t = Σ pt
i q0i
Bước 4: Tính chỉ số giá tiêu dùng cho các năm
Sau khi có số liệu về chi phí cho giỏ hàng của từng năm, chúng ta có thể tính CPI, đó là một chỉ số Cũng như chỉ số điều chỉnh GDP, để tiện lợi, các nhà thống kê kinh tế thường thể hiện giá trị của chỉ số ở năm cơ sở là 100% thay vì 1
CPI của một năm/thời kỳ nào đó chính là tỷ số giữa giá trị (chi phí) giỏ hàng của năm đó và giá trị (chi phí) giỏ hàng của năm cơ sở nhân với 100
Công thức tính CPI được xác định như sau:
Tỷ lệ lạm phát được xác định theo công thức sau:
Tỷ lệ lạm phátt
=
CPIt - CPIt-1
x 100% (2.10) CPIt-1
Năm Giá gạo
(nghìn/kg)
Giá nước mắm (nghìn/lít)
Chi tiêu (nghìn) CPI
Tỷ lệ lạm phát (%/năm)
Trang 402.4.3 So sánh chỉ số điều chỉnh GDP và chỉ số giá tiêu dùng
Điểm giống nhau cơ bản của cả hai chỉ số là đo lường mức giá chung của nền kinh tế và đều được các nhà hoạch định chính sách quan tâm, sử dụng vào việc hoạch định các chính sách kinh tế và xã hội Đương nhiên, hai chỉ số này có những khác biệt nhất định vì chúng được xây dựng và sử dụng những điều kiện không đồng nhất với nhau
Điểm khác biệt thứ nhất, chỉ số điều chỉnh GDP đo lường mức giá trung bình của tất cả các hàng hóa, dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong nước, trong khi CPI đo lường mức giá trung bình của mọi hàng hóa, dịch vụ mà một hộ gia đình/người tiêu dùng điển hình tiêu dùng Như vậy, có hàng hóa là một bộ phận của GDP nhưng không thuộc về giỏ hàng hóa do người tiêu dùng điển hình mua, ví dụ như xe tăng quân sự Giả sử có sự tăng giá đối với mặt hàng này do chi phí đầu vào tăng lên thì sự gia tăng giá cả này chỉ được phản ánh ở chỉ số điều chỉnh GDP mà không được phản ánh trong CPI Chúng ta xét thêm một ví dụ khác: hàng SAMSUNG của Hàn Quốc nên nó thuộc GDP của Hàn Quốc chứ không thuộc GDP của Việt Nam Do nhiều người tiêu dùng của Việt Nam mua tivi SAMSUNG sản xuất tại Hàn Quốc nhập khẩu vào Việt Nam nên ti vi SAMSUNG là một bộ phận của giỏ hàng tiêu dùng điển hình của Việt Nam Ở đây sự tăng giá của hàng tiêu dùng nhập khẩu, như tivi SAMSUNG, được phản ánh trong CPI nhưng không được tính đến trong chỉ số điều chỉnh GDP Sự khác biệt thứ nhất này đặc biệt quan trọng khi giá dầu thay đổi Mặc dù Việt Nam đã sản xuất được dầu nhưng hầu hết lượng dầu mà chúng ta đang sử dụng là nhập từ nước ngoài Do vậy, dầu và các sản phẩm dầu mỏ như xăng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong chi tiêu của người tiêu dùng so với GDP Khi giá dầu tăng, chỉ số giá tiêu dùng tăng nhiều hơn mức gia tăng của chỉ số điều chỉnh GDP
Bên cạnh đó, chỉ số điều chỉnh GDP và chỉ số giá tiêu dùng CPI còn phân biệt nhau ở một khía cạnh khác, đó là làm sao quy quyền số cho các giá cả khác nhau để thu được một con số duy nhất về mức giá chung Chỉ số giá tiêu dùng so sánh giá của một giỏ hàng hóa, dịch vụ cố định ở năm tính toán với giá của giỏ hàng hóa đó ở năm
cơ sở Giỏ hàng tiêu dùng thỉnh thoảng mới được tổng cục thống kê thay đổi, do đó, nó thường được giữ cố định cho nhiều năm Trong khi đó, chỉ số điều chỉnh GDP so sánh giá của những hàng hóa, dịch vụ được sản xuất ra trong năm hiện hành với giá của những hàng hóa ấy trong năm cơ sở Vì vậy, nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng để tính chỉ số điều chỉnh GDP tự động thay đổi theo thời gian Khi tất cả giá cả đều thay đổi theo cùng tỷ lệ thì sự khác biệt này là không quan trọng, song nếu giá cả của những hàng hóa, dịch vụ khác nhau không thay đổi theo cùng tỷ lệ, việc gán quyền số cho các giá cả khác nhau tác động mạnh tới tỷ lệ lạm phát