Dư luận xã hội là một hiện tượng đặc biệt trong đời sống xã hội. Trên bình diện chung, nó biểu thị những mối quan tâm, tâm tư, nguyện vọng, được thể hiện dưới dạng ý kiến phán xét, đánh giá của đông đảo người dân về một hiện tượng, quá trình, sự kiện nào đó xảy ra trong xã hội. Trong bất kỳ xã hội nào, dư luận xã hội cũng có những ảnh hưởng nhất định, trên tất cả mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước, đến việc lãnh đạo và quản lý người dân. Đối với dư luận xã hội, truyền thông đại chúng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và thể hiện. Trong xã hội hiện đại, truyền thông đại chúng có vai trò rất quan trọng đối với đời sống xã hội. Quá trình truyền thông đại chúng không chỉ đơn giản là quá trình truyền tin mà thông qua các hoạt động của nó, hệ thống chân lý, giá trị, chuẩn mực xã hội được xây dựng và duy trì. Mối quan hệ giữa dư luận xã hội và truyền thông đại chúng là mối quan hệ có tính hai mặt: Dư luận xã hội là sản phẩm phẩm của truyền thông đại chúng, mặt khác lại là nguồn cung cấp tư liệu cho truyền thông đại chúng. Để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề này, đồng thời trên cơ sở kiến thức được truyền thụ từ môn Xã hội học trong lãnh đạo quản lý trong chương trình hoàn thiện kiến thức về Cao cấp lý luận chính trị, tôi xin phép được lựa chọn nội dung “Mối quan hệ giữa dư luận xã hội và truyền thông đại chúng ở nước ta hiện nay” để làm bài thu hoạch của mình.
Trang 1MỞ ĐẦU
Dư luận xã hội là một hiện tượng đặc biệt trong đời sống xã hội Trên bình diện chung, nó biểu thị những mối quan tâm, tâm tư, nguyện vọng, được thể hiện dưới dạng ý kiến phán xét, đánh giá của đông đảo người dân về một hiện tượng, quá trình, sự kiện nào đó xảy ra trong xã hội Trong bất kỳ xã hội nào, dư luận xã hội cũng có những ảnh hưởng nhất định, trên tất cả mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước, đến việc lãnh đạo và quản lý người dân
Đối với dư luận xã hội, truyền thông đại chúng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và thể hiện Trong xã hội hiện đại, truyền thông đại chúng có vai trò rất quan trọng đối với đời sống xã hội Quá trình truyền thông đại chúng không chỉ đơn giản là quá trình truyền tin mà thông qua các hoạt động của nó, hệ thống chân lý, giá trị, chuẩn mực xã hội được xây dựng và duy trì
Mối quan hệ giữa dư luận xã hội và truyền thông đại chúng là mối quan
hệ có tính hai mặt: Dư luận xã hội là sản phẩm phẩm của truyền thông đại chúng, mặt khác lại là nguồn cung cấp tư liệu cho truyền thông đại chúng
Để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề này, đồng thời trên cơ sở kiến thức được
truyền thụ từ môn Xã hội học trong lãnh đạo quản lý trong chương trình hoàn
thiện kiến thức về Cao cấp lý luận chính trị, tôi xin phép được lựa chọn nội dung
“Mối quan hệ giữa dư luận xã hội và truyền thông đại chúng ở nước ta hiện nay” để làm bài thu hoạch của mình.
Trang 2NỘI DUNG
1 Các khái niệm chung
1.1 Dư luận xã hội:
1.1.1 Khái niệm về Dư luận xã hội là sự phản xét, đánh giá thể hiện thái
độ và kỳ vọng của các nhóm xã hội đối với các vấn đề đang diễn ra trong xã hội
có liên quan đến lợi ích và giá trị của họ; dư luận xã hội được hình thành thông qua các cuộc trao đổi, thảo luận công khai
1.1.2 Tính chất dư luận xã hội có một số tính chất cơ bản sau:
Thứ nhất, tính công chúng:
Dư luận xã hội luôn là ý kiến của công chúng, có nghĩa là của nhiều người, đông người, vô số người, thậm chí là của đại chúng Dư luận xã hội có thể xuất phát từ ý kiến của một cá nhân nhưng đó là ý kiến được nhiều người nghe, chia sẻ, bày tỏ về những vấn đề chung
Thứ hai, tính công khai
Nói tới hình thức biểu hiện của dư luận xã hội Dư luận xã hội luôn là ý kiến được phát biểu, bày tỏ dưới nhiều hình thức khác nhau cho nhiều người,
đông người, công chúng cùng biết Theo lý thuyết “Vòng xoáy của sự im lặng”
của Elisabeth Noelle - Neumann đưa ra năm 1972, dư luận xã hội có thể được hiểu là ý kiến được nói công khai mà không sợ bị trừng phạt
Thứ ba, tính trao đổi
Nói tới cơ chế nảy sinh, vận hành của dư luận xã hội Thông qua sự tương tác, trao đổi thông tin, tình cảm mà dư luận xã hội được hình thành, biểu hiện và thực hiện các chức năng của nó Trao đổi là cho dư luận xã hội lan truyền từ người này sang người khác từ nhóm này sang nhóm khác, tù nơi này sang nơi khác Trao đổi làm cho dư luận xã hội có thể bị biến đổi, bị thêm bớt, bị phân hóa và có thể bị tan biến, lợi dụng
Thứ tư, tính lợi ích
Tính chất này nói tới bản chất, nội dung và ý nghĩa của dư luận xã hội Dư luận xã hội chỉ hình thành khi vấn đề đó động chạm đến lợi ích được chia sẻ của các nhóm lớn trong xã hội Dư luận xã hội phản ánh lợi ích của cá nhân, nhóm
xã hội Dư luận xã hội đồng thời là một hình thức, cách thức, hình thức, phương tiện, công cụ để bảo vệ lợi ích của nhóm người trong xã hội Lợi ích trong dư
Trang 3luận xã hội được hiểu bao gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần Lợi ích vật chất được nhận thức rõ nét khi các sự kiện, hiện tượng diễn ra trong đời sống xã hội có mối liên quan chặt chẽ đến các hoạt động kinh tế và sự ổn định cuộc sống của nhóm lớn trong xã hội Lợi ích tinh thần được đề cập khi các vấn đề đang diễn ra động chạm đến hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội, các phong tục, tập quán, khuôn mẫu hành vi của cộng đồng, quốc gia
Thứ năm, tính lan truyền
Quá trình hình thành dư luận bao giờ cũng bắt đầu từ ý kiến của một vài
cá nhân, lan truyền trong phạm vi nhóm nhỏ, rồi tiếp tục lan truyền trong nhóm lớn Vì vậy có thể hiểu, dư luận xã hội được coi như một biểu hiện của hành vi tập thể, sự đánh giá, phán xét của nhóm lớn trong xã hội Cơ sở của bất kỳ hành
vi tập thể nào cũng là hiệu ứng phản xạ quay vòng gây nên chuỗi kích thích, hiệu ứng của nhóm lớn
Thứ sáu, tính thống nhất và mâu thuẫn
Dư luận xã hội là tập hợp các luồng ý kiến, các loại trạng thái và các xu hướng hành động khác nhau, mâu thuẫn nhau hoặc đối lập nhau của các nhóm
xã hội Ví dụ, có thể tìm thấy trong bất kỳ một dư luận xã hội nào các luồng ý kiến đồng tình và phản đối, quan tâm và thờ ơ, yêu – ghét và giữa hai luồng ý kiến mâu thuẫn này là luồng ý kiến trung gian, “ba phải”, trung dung
Thứ bảy, các đặc điểm, tính chất khác
Dư luận xã hội có nhiều đặc điểm, tính chất khác như tính biến đổi, ví dụ
dư luận xã hội có thể nhanh chóng biến đổi từ chỗ đa số phản đối sang đa số ủng
hộ Đồng thời, dư luận xã hội có tính ỳ rất lớn thể hiện ở chỗ chậm thay đổi, ví
dụ dư luận xã hội về vị thế của giới, vai trò của giới
1.1.3 Chức năng của dư luận xã hội:
- Chức năng nhận thức:
Dư luận xã hội có chức năng phản ánh thực tại xã hội với các hiện tượng,
sự kiện, vấn đề, quá trình xã hội Xã hội có nhu cầu nhận biết và dư luận xã hội
có chức năng đáp ứng nhu cầu nâng cao hiểu biết về sự vật, hiện tượng xảy ra Nhờ chức năng này mà chỉ cần lắng nghe dư luận xã hội là có thể biết được chuyện gì, vấn đề gì đang được xã hội quan quan tâm, chú ý, bàn luận Các nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra mức độ phổ biến cao của dư luận xã hội là sự
Trang 4ủng hộ nhất trí của các thành viên đối với dư luận, việc các nhóm xã hội tự nguyện chấp hành đều là những bằng chứng khi nói về chức năng nhận thức mà
dư luận xã hội mang lại đối với các nhóm xã hội Tuy nhiên, cần lưu ý, sự phản ánh thực tế xã hội của dư luận có đúng đến mấy thì dư luận xã hội cũng có những hạn chế nhất định, vì vậy trong quá trình lãnh đạo, quản lý không nên tuyệt đối hóa nhận thức của dư luận
Chân lý của dư luận không phụ thuộc vào mức độ, tính chất phổ biến của
nó Không phải trong trường hợp nào, dư luận của đại đa số cũng đúng hơn, có
lý hơn khi so sánh với dư luận của nhóm thiểu số
- Chức năng định hướng và điều chỉnh hành vi:
Chức năng này gắn liền với chức năng kiểm soát hành vi của con người trong xã hội Dư luận xã hội khi đã hình thành là kết quả biểu thị thái độ của nhóm lớn trong xã hội, là thể hiện quan điểm, ý chí tập thể (dấu ấn cá nhân không còn) nên nó có vai trò hết sức quan trọng trong định hướng và điều chỉnh hành vi của các nhóm trong xã hội Trong lịch sử phát triển xã hội của loài người, ngay cả khi xã hội chưa được phân chia thành các giai cấp thì dư luận xã hội đã thể hiện được vai trò điều chỉnh các hành vi cá nhân và nhóm Dư luận xã hội được các nhà quản lý dùng như một công cụ để quản lý cộng đồng từ buổi bình minh của lịch sử loài người
Dư luận xã hội luôn tìm cách hướng đến các cá nhân và nhóm thực hiện những khuôn mẫu hành vi được phép và định hướng ngăn cản những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội Dư luận xã hội cổ vũ, khích lệ những hành vi phù hợp với các giá trị chuẩn mực, đồng thời lên án, trừng phạt những hành vi vi phạm chuẩn mực xã hội để từ đó hướng đến điều chỉn những hành vi của cá nhân và nhóm sao cho phù hợp với các giá trị, chuẩn mực chung của xã hội Mặt khác,
dư luận xã hội tác động tới việc xây dựng nhân cách của con người thông qua quá trình xã hội hóa cá nhân Sự đánh giá, phán xét của dư luận xã hội thường dựa trên các giá trị, chuẩn mực hiện tồn Chẳng hạn, dư luận xã hội kiểu trọng nam, khinh nữ luôn đề cao giá trị con trai nên đã định hướng cho nhiều cặp vợ chồng sinh con trai Nhưng nhờ dư luận xã hội về trao quyền và bình đẳng giới, định hướng giá trị coi con gái cũng như con trai nên đã điều chỉnh hành vi kế
Trang 5hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng, cụ thể là không lựa chọn thai nhi theo giới tính
- Chức năng giải tỏa tâm lý - xã hội:
Dư luận xã hội luôn phản ánh tâm tư, nguyện vọng và tình cảm của các cá nhân trong cộng đồng Dư luận xã hội là diễn đàn, là cơ hội để các cá nhân được bày tỏ, chia sẻ quan điểm, ý kiến của mình trước các vấn đề chung của quốc gia Đồng thời cũng là cầu nối để bày tỏ tình cảm, giải tỏa tâm lý - xã hội giảm bớt được các căng thẳng, xung đột trước các vấn đề xã hội
- Chức năng tư vấn và giám sát:
Bản chất của dư luận xã hội bao hàm những lời khuyên cho các cơ quan chức năng về cách thức, phương pháp giải quyết các vấn đề mà dư luận đề cập Thông qua dư luận xã hội, Đảng và Nhà nước lắng nghe ý kiến, tâm tư nguyện vọng của công dân Dư luận xã hội được nhìn nhận là cơ hội để công chúng thể hiện những ý kiến của mình về những vấn đề chung của cộng đồng xã hội Trên thực tế, chúng ta thấy tâm trạng xã hội căng thẳng, bức xúc của các nhóm đều không có lợi cho công tác điều hành, quản lý đất nước Bởi vậy, Đảng, Chính phủ luôn tạo điều kiện để người dân góp ý vào các bản dự thảo Luật, Hiến pháp, Văn kiện của Đảng Dư luận xã hội được coi như một kênh tư vấ quan trọng từ người dân đến với Chính phủ để góp phần hòan thiện, thực thi chính sách và pháp luật Tuy nhiên, việc chọn giải pháp nào hoàn toàn phụ thuộc vào các cơ quan chức năng của Chính phủ chứ không phải của dư luận xã hội Đối với nhiều trường hợp cụ thể, việc hành động theo dư luận xã hội sẽ tạo cho họ cảm giác an toàn, không bị cô lập về xã hội, tạo được những đồng thuận cao trong xã hội Thông qua dư luận xã hội, họ phán xét đánh giá về các chủ trương, chính sách lớn của đất nước và hoạt động cụ thể của bộ máy chính quyền Đặc biệt, thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, các nhóm hội chất vấn hoạt động của các cơ quan công quyền Dự luận xã hội học thực hiện chức năng kiểm soát, kiểm tra không chính thức bộ máy nhà nước và cán bộ lãnh đạo cao cấp, giám sát hoạt động của họ có phù hợp với lợi ích tập thể hay không và phát hiện ra những vấn
đề để kịp thời tư vấn các cơ quan chức năng thực hiện tốt nhiệm vụ
1.1.4 Phân biệt dư luận xã hội với tin đồn:
Trang 6Về khái niệm, có nhiều cách hiểu khác nhau về tin đồn Một số tác giả cho rằng, tin đồn được hiểu là những thông tin được truyền từ người này qua người khác chủ yếu bằng truyền miệng Ngoài cách truyền tin bằng miệng là chủ yếu, tin đồn còn lan truyền bằng thư, fax, tin nhắn, chát, mạng xã hội, điện thoại…
Tin đồn là hiện tượng tâm lý xã hội và là một hiện tượng rất dễ bị nhầm lẫn với dư luận xã hội Theo Allport và Postman, hai nhà tâm lý học xã hội người Mỹ, thì tin đồn là “một sự khẳng định về một chủ đề được quan tâm mà không có đủ bằng chứng đáng tin cậy được đưa ra” Trong tin đồn thường có một phần được cho là sự thật Tin đồn có các đặc trưng sau:
- Nguồn gốc thông tin thường không rõ ràng, rất khó xác định được điểm xuất phát ban đầu của thông tin, tin đồn
- Rất khó kiểm chứng mức độ sự thật của thông tin
- Người nhận tin đồng thời cũng là người phát tin, truyền thông tin tiếp tục đến những người khác Vì vậy, tin đồn thường gắn với động cơ, mục đích của người phát tin
- Tin đồn thường mang tính giật gân, mới lạ, kích động.
Một số tác giả khác cho rằng, tin đồn là “một sự khẳng định về một chủ
đề được quan tâm mà không có đủ bằng chứng tin cậy được đưa ra” Dù tin đồn được định nghĩa khác nhau, nhưng về cơ bản đó là luồng ý kiến được cộng đồng quan tâm về vấn đề nào đó nhưng chưa được kiểm chứng tính xác thực
* Một số kỹ năng
- Kỹ năng phân biệt dư luận xã hội và tin đồn: Lãnh đạo, quản lý có thể
chỉ cần nêu và tìm câu trả lời cho những câu hỏi như: Ý kiến này hay luồng tin này là của ai? Nhằm mục đích gì? Tại sao lại xuất hiện vào thời điểm này mà không phải thời điểm khác?
- Kỹ năng đối phó với tin đồn: Về nguyên tắc, khó có thể dập tắt tin đồn
bằng mệnh lệnh hành chính kiểu cấm phát ngôn hoặc bịt mồm người khác Do vậy, cách tốt nhất là lấy dư luận xã hội hay thông tin thực, thông tin đúng đắn để kịp thời lấp tin đồn Việc lãnh đạo, quản lý bưng bít thông tin, trì hoãn thông tin
có thể chỉ làm tăng sự lây lan của tin đồn Việc người lãnh đạo, quản lý hoặc người đại diện có trách nhiệm xuất hiện công khai để cung cấp thông tin chính thức là rất có hiệu quả nhằm dập tắt tin đồn Tuy nhiên, muốn hoàn toàn loại bỏ
Trang 7tin đồn thất thiệt thì biện pháp tốt nhất là bằng hành động thực tiễn: Ví dụ, tin đồn tăng giá xăng nhưng trên thực tế không có biểu hiện nào là tăng giá xăng và xăng vẫn được cung cấp bình thường như mọi ngày, thì tin đồn đó sẽ biến mất nhanh chóng
Một nguyên tắc khác là cần phải rèn luyện bản lĩnh chính trị và bản lĩnh khoa học của người lãnh đạo, quản lý, đó là cần tự tin và kiên định theo đuổi mục tiêu và quyết định đã được xác định một cách khoa học, rõ ràng, đúng đắn
để không dao động, không theo đuôi quần chúng, không “đẽo cày giữa đường”
1.2 Truyền thông đại chúng Quan hệ dư luận xã hội và truyền thông 1.2.1 Khái niệm Truyền thông đại chúng:
Xã hội càng phát triển, càng tạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự mở rộng nhu cầu, quy mô, tăng cường tính đa dạng và hiệu quả của hoạt động truyền thông, Ngày càng có nhiều người tham gia vào các giao tiếp xã hội, vì vậy truyền thông trực tiếp giữa các cá nhân không thể đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu và đòi hỏi của xã hội Con người tìm đến những quá trình truyền thông ở quy mô lớn nhờ sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật thông tin mới Nói cách khác, phương tiện truyền thông đại chúng trở thành người điều khiển các
quá trình giao tiếp mang tính xã hội rộng rãi Như vậy, truyền thông đại chúng
là hoạt động giao tiếp xã hội một cách rộng rãi thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng.
1.2.2 Các phương tiện truyền thông đại chúng:
Truyền thông đại chúng ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của
xã hội con người và bị chi phối trực tiếp bởi hai yếu tố là nhu cầu thông tin -giao tiếp và kỹ thuật - công nghệ thông tin Truyền thông đại chúng chỉ phát triển và thực hiện được khi loài người phát minh ra các phương tiện, kỹ thuật thông tin như: in ấn, kỹ thuật truyền phát sóng tín hiệu, máy thu thanh, thu hình, máy điện tử, cáp quang, vệ tinh nhân tạo
Căn cứ vào tính chất kỹ thuật và phương thức thực hiện truyền thông đại chúng, có thể phân loại các phương tiện truyền thông đại chúng thành các loại hình sau: sách, báo in, điện ảnh, phát thanh, truyền hình, quảng cáo, băng, đĩa hình và âm thanh
2 Mối quan hệ truyền thông đại chúng và dư luận xã hội:
Trang 8Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau Truyền thông đại chúng là quá trình giao tiếp đại chúng, mà thực chất là truyền thông xã hội, trong đó thông tin được truyền từ nhóm xã hội này sang nhóm xã hội khác, từ người này sang người khác, hoặc từ nhóm tới các cá nhân,
từ cá nhân tới nhóm và ngược lại
Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội có mối quan hệ hai chiều Truyền thông đại chúng tác động tới dư luận xã hội thông qua vai trò của mình đối với công chúng như cung cấp thông tin; tạo diễn đàn công khai ngôn luận và định hướng dư luận Dư luận xa hội cũng không thụ động chịu tác động của truyền thông đại chúng thông qua nội dung của dư luận và yêu cầu của chủ thể
dư luận
Tác động của truyền thông đại chúng tới dư luận xã hội thông qua các nội dung sau:
- Truyền thông đại chúng là kênh cung cấp thông tin cho chủ thể của dư luận xã hội Các nghiên cứu gần đây cho thấy, truyền thông đại chúng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Nó truyền tải kịp thời, đầy đủ thông tin về mọi mặt của đời sống xã hội Sự phát triển của truyền thông đại chúng đã trở thành phương tiện cơ bản trong tiếp cận thông tin của công chúng
- Truyền thông đại chúng tạo ra diễn đàn công khai ngôn luận Truyền thông đại chúng cũng tạo diễn đàn để các cá nhân trao đổi, tranh luận những ý kiến liên quan tới các sự kiện, hiện tượng trong đời sống xã hội Trên cơ sở đó, hình thành nên các nhóm xã hội, cộng đồng chia sẻ những quan điểm, ý kiến về vấn đề, sự kiện nào đó
- Truyền thông đại chúng là phương tiện để định hướng dư luận Truyền thông đại chúng có thể định hướng sự đánh giá của các nhóm xã hội thông qua hoạt động cung cấp thông tin của mình Truyền thông đại chúng định hướng dư luận xã hội thông qua một số cách sau: việc cung cấp thông tin trung thực, khách quan và nghiêm túc Thông qua việc nhấn mạnh, khuếch đại mặt này mà xem nhẹ, bỏ qua mặt khác Thông qua việc cưỡng bức thông tin như chỉ cung cấp liên tục loại tin một chiều mà không có sự lựa chọn nào khác buộc cá nhân phải nghe theo, tin theo Thông qua việc bóp méo, xuyên tạc nhằm đạt được mục đích của mình
Trang 9Dư luận xã hội cũng không thụ động chịu tác động của truyền thông đại chúng, mà có sự tác động trở lại đối với các phương tiện truyền thông Dư luận
xã hội là nguồn cung cấp sự kiện cho truyền thông Bên cạnh đó, trước áp lực của dư luận xã hội, mà cụ thể là từ chủ thể của dư luận xã hội, đòi hỏi hoạt động của các cơ quan truyền thông đại chúng phải thay đổi để phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của công chúng
Truyền thông xã hội:
Ngày nay với sự phát triển của khoa học - công nghệ, truyền thông xã hội đang nổi lên và ngày càng có vai trò quan trọng trong xã hội Có nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông xã hội, tuy nhiên các tác giả đều thống nhất chung ở một điểm, đó là, “truyền thông xã hội là các ứng dụng dựa trên nền tảng Internet cho phép người sử dụng có thể tương tác và chia sẻ những thông tin của mình với những nhóm đối tượng nhất định” Ở Việt Nam, đôi khi truyền thông
xã hội được sử dụng đan xen với khái niệm mạng xã hội Tuy nhiên, khái niệm truyền thông xã hội có nội hàm rộng hơn, bao gồm cả phương tiện truyền tải và nội dung truyền tải thông tin, trong khi đó, mạng xã hội chỉ là nền tảng công nghệ để truyền thông xã hội phát triển Truyền thông xã hội có nhiều loại hình, trong đó mạng xã hội là loại hình phổ biến nhất hiện nay
Sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông xã hội đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới các quan điểm của công chúng và thông tin mà công chúng tiếp nhận Dư luận
xã hội cũng bị tác động mạnh trong thời đại truyền thông xã hội, đôi khi thông qua truyền thông xã hội, các luồng ý kiến “giả dư luận” ngày càng nhiều
- Sử dụng truyền thông xã hội ở Việt Nam:
Nghiên cứu người dùng mạng xã hội hiện cho thấy, tính đến tháng
8-2017, bốn mạng xã hội có số người dùng trên 1 tỷ người gồm Facebook (2.047.000.000 người), Youtube (1.500.000.000 người), WhatsApp (1.200.000.000 người) và Facebook Messenger (1.200.000.000 người) Các nghiên cứu cũng cho thấy, 70% người dùng Facebook vào mạng hàng ngày, trong đó 45% vào mạng nhiều lần trong ngày Trong số người dùng Facebook, 65% thường xuyên hoặc đôi khi chia sẻ, đăng thông tin hoặc gửi các phản hồi
Tại Việt Nam, Internet và mạng xã hội được người dân sử dụng khá phổ biến Theo báo cáo của tổ chức Ecomobi, năm 2016, Viêt Nam có 48,2 triệu
Trang 10người sử dụng Internet chiếm 52% dân số, là quốc gia đứng thứ 13 thế giới về số người sử dụng Internet và số người sử dụng sẽ tăng lên khoảng trên 62 triệu vào năm 2020 Tương tự số người dùng Internet di động cũng phổ biến và ngày càng tăng lên, năm 2015 có 46,76 triệu người dùng, năm 2017 là 52,1 triệu và đến
2020 dự kiến là 64,24 triệu người dùng
Việc kết nối mạng và sử dụng hàng ngày trên Internet cũng phổ biến ở Việt Nam Nhiều hoạt động kết nối trực tuyến được sử dụng như: đọc báo, truy cập thư điện tử (email), tham gia các diễn đàn, mạng xã hội, giải trí… là những hoạt động chiếm tỷ lệ cao trong số những người dùng Internet Kết quả báo cáo
về hoạt động hàng ngày trên Internet cho thấy, gần 90% người dùng đọc báo, trên 70% đến gần 80% người dùng truy cập thư điện tử, tham gia diễn đàn, mạng xã hội, giải trí Theo báo cáo của Ecommobi, Việt Nam có tỷ lệ người dùng mạng xã hội cao Trong số 12 nền tảng mạng xã hội được báo cáo, có 4 nền tảng mạng xã hội có tỷ lệ người dùng cao gồm: Facebook và Youtube (51%), tiếp đến là Facebook Messenger (37%), Google+ (32%); có 5 mạng xã hội có tỷ lệ người dùng 20-30% là Zalo, Twitter, Insta, Skype và 4 mạng xã hội
có tỷ lệ người dùng trên 10% là Viber, Linkdin, Wechat, Line
Phân tích về số người dùng Facebook ở Việt Nam cho thấy, nhóm tuổi
18-24 và 25-34 chiếm tỷ lệ cao trong số người dùng (17), tiếp đến là nhóm tuổi
13-17 (8%) và các nhóm tuổi khác thì ít hơn Kết quả cũng cho thấy, không có sự khác nhau về sử dụng Facebook theo giới tính
- Mối quan hệ giữa truyền thông xã hội và dư luận xã hội:
Truyền thông xã hội ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó tác động tới nhiều khía cạnh trong đời sống của người dân Các thông tin trên truyền thông xã hội rất đa dạng và được cập nhật liên tục Mối quan hệ giữa truyền thông xã hội với dư luận xã hội được thể hiện gồm:
Một là, truyền thông xã hội cung cấp cho công chúng một lượng thông tin
đa dạng, nhiều chiều và cập nhật liên tục Thông qua cập nhật thông tin về sự kiện nhanh chóng, kịp thời, công chúng sẽ đưa ra những đánh giá, phán xét và thậm chí tạo áp lực đòi hỏi cần phải giải quyết vấn đề
Hai là, truyền thông xã hội tác động tới công chúng ở cả hai chiều cạnh
“tích cực” và “tiêu cực” Ở khía cạnh tích cực, truyền thông xã hội có thể cung