1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THU HOẠCH GIỚI TRONG LĐQL

13 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề bình đẳng giới là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các quốc gia trên thế giới trong những thập kỷ qua. Ngày nay, vấn đề giải phóng phụ nữ tăng cường sự tham chính của phụ nữ đã và đang gắn liền với vấn đề bình đẳng giới và được thực hiện bằng hành động thực tiễn chứ không chỉ dừng lại ở những khái niệm, ý tưởng trìu tượng hay những tuyên bố pháp lý. Sự thiếu vắng phụ nữ tham chính trong tương quan với nam giới là vấn đề mang tính toàn cầu và có tính lịch sử truyền thống. Các chính trị gia, các nhà quản lý ở hầu hết các quốc gia chủ yếu là nam giới, Việt Nam không phải là một ngoại lệ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, việc thu hút sự tham chính của phụ nữ phát huy nguồn lực trí tuệ của “một nửa thế giới” đang là một trong những chính sách ưu tiên của các quốc gia.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Vấn đề bình đẳng giới là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các quốc gia trên thế giới trong những thập kỷ qua Ngày nay, vấn đề giải phóng phụ nữ tăng cường sự tham chính của phụ nữ đã và đang gắn liền với vấn đề bình đẳng giới và được thực hiện bằng hành động thực tiễn chứ không chỉ dừng lại

ở những khái niệm, ý tưởng trìu tượng hay những tuyên bố pháp lý

Sự thiếu vắng phụ nữ tham chính trong tương quan với nam giới là vấn

đề mang tính toàn cầu và có tính lịch sử - truyền thống Các chính trị gia, các nhà quản lý ở hầu hết các quốc gia chủ yếu là nam giới, Việt Nam không phải

là một ngoại lệ Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, việc thu hút sự tham chính của phụ nữ - phát huy nguồn lực trí tuệ của “một nửa thế giới” đang là một trong những chính sách ưu tiên của các quốc gia

Báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNDP) nhận định: Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia có điểm sáng về bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và quyền tham chính của phụ nữ Gắn với mỗi thời kỳ phát triển của đất nước, phụ nữ Việt Nam đều có những đóng góp to lớn và quan trọng đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam là một trong những quốc gia sớm tham gia ký và phê chuẩn Công ước quốc tế và xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ Việt Nam đang tích cực xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vấn đề nam nữ bình quyền được chú trọng hơn bao giờ hết Việt Nam cũng là nước được Liên hiệp Quốc đánh giá cao trong việc

nỗ lực rút ngắn khoảng cách bình đẳng giới trong giáo dục, việc làm, tiền lương…

Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần của phụ nữ, củng cố và tăng cường vị trí và đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trong xã hội, tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào việc quản lý Nhà nước và xã hội Phụ nữ Việt Nam

đã có nhiều đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp phát triển đất nước Tuy

Trang 2

nhiên, vị thế và vai trò của họ vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và đóng góp của họ Trong quá trình tham gia công tác lãnh đạo quản lý, phụ nữ ngày càng có nhiều thuận lợi, song cũng khá nhiều rào cản ảnh hưởng tới con đường lãnh đạo của họ mà bao trùm là định kiến giới về năng lực, từ phía gia đình, chính sách xã hội và những phong tục lạc hậu, kéo theo những bất cập khác khi họ tiếp cận hay tham gia công tác lãnh đạo quản lý Vì thế để phụ nữ

tự tin trên con đường lãnh đạo quản lý cùng nam giới, Đảng và Nhà nước cần

có những chính sách và biện pháp phù hợp hơn để vị thế và vai trò của phụ nữ được nâng lên một tầm cao hơn

Xuất phát từ nhận thức trên, đồng thời trên cơ sở kiến thức được truyền

thụ từ môn Giới trong lãnh đạo, quản lý trong chương trình hoàn thiện kiến

thức về Cao cấp lý luận chính trị, tôi xin phép được chọn nội dung “Phụ nữ tham gia lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam hiện nay” để làm bài thu hoạch

của mình

Trang 3

NỘI DUNG

1 Một số khái niệm cơ bản

- Giới: Theo điều 5, Luật Bình đẳng giới của Quốc hội khóa XI: “Giới chỉ

đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” Nó luôn luôn biến đổi theo thời gian và có sự khác biệt theo không gian và thời gian Giới là phạm trù chỉ vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ

nữ Nói đến mối quan hệ giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan đến hàng loạt vấn đề thuộc về thể chế và xã hội chú không phải là mối quan hệ cá biệt giữa một người nam giới và một người phụ

nữ nào

- Bình đẳng giới: là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo

điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó

- Lãnh đạo: là quá trình hành động gây ảnh hưởng lên người khác nhằm

khơi dậy cảm xúc và cam kết cùng hành động vì mục tiêu chung

- Quản lý: là sự tác động liên tục có tổ chức, có ý thức hướng mục đích

của chủ thể vào đối tượng theo một quy trình nhất định nhằm đạt hiệu quả tối

ưu so với yêu cầu đặt ra

2 Tình hình phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý

2.1 Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trên thế giới

Phụ nữ trên thế giới nhìn chung trong vài thập kỷ qua đã đạt được rất nhiều tiến bộ trong việc tham gia chính quyền ở các cấp và ngày càng chiếm giữ những vị trí quan trọng như Tổng thống, Thủ tướng, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Đại biểu Quốc hội Tuy nhiên, chưa ở nước nào có phụ nữ bình đẳng hoàn toàn so với nam giới trong lĩnh vực này và các vị trí chủ chốt ra quyết định vẫn chủ yếu do nam giới nắm giữ

Theo khảo sát của Cộng đồng Châu Âu (EC), mặc dù vấn đề bình đẳng giới ngày càng được quan tâm và cải thiện, nhưng phái yếu cũng chỉ chiếm

Trang 4

24% ghế Bộ trưởng trong các Chính phủ Phụ nữ đang chiếm đa số trong Chính phủ Phần Lan, Na Uy Tại Thụy Điển 46% quan chức Chính phủ là phái nữ và tỷ lệ này ở Tây Ban Nha là 41% Tại các quốc gia Đông Âu, Rumania không có phụ nữ nào là thành viên Chính phủ Một số quan chức Châu Âu đề nghị, phụ nữ nên nắm quyền lãnh đạo ít nhất một trong ba cơ quan của Liên minh Châu Âu (EU) là Nghị viện Châu Âu, Cộng đồng Châu

Âu và Hội đồng Châu Âu Hiện cả ba cơ quan này đều do nam giới đứng đầu Trong số 12 chủ tịch Nghị viện Châu Âu kể từ năm 1979 đến nay, chỉ có 2 phụ nữ

Theo nhận định của tổ chức Châu Á (AF), trụ sở tại Mỹ báo cáo: Phụ nữ đang đảm nhận những vai trò lãnh đạo lớn hơn trong chính trị và kinh doanh

ở Châu Á nhưng sự hiện diện của họ trong các cơ quan bầu cử ở cấp quốc gia vẫn còn ít Theo thống kê của AF, phụ nữ hiện chiếm trung bình khoảng 16,4% số ghế trong Quốc hội Tuy nhiên, họ vẫn hiếm khi được giữ những trọng trách ở những bộ phận quan trọng như Tài chính, Nội vụ, Quốc phòng

mà thường được giao ở các bộ bên lĩnh vực xã hội, y tế, môi trường hoặc những cơ quan có ít kinh phí và ít trọng lượng chính trị

2.2 Phụ nữ Việt Nam tham gia lãnh đạo, quản lý trong lịch sử

Đánh giá vai trò của phụ nữ đối với lịch sử phát triển của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ” Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã được in đậm trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc của đất nước trong hàng chục thế kỷ Hình ảnh Hai Bà Trưng với hàng trăm nữ tướng và đội quân nữ tham gia khởi nghĩa đã tạo nên truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc ta Trưng Vương đi vào lịch sử như một

nữ anh hùng của dân tộc, là người phụ nữ đầu tiên tham gia lãnh đạo đất nước… Bên cạnh những nữ tướng, trong thời kỳ này còn có những phụ nữ chấp chính tài ba như Nguyên phi Ỷ Lan, Thái hậu Dương Vân Nga… Tiếp bước các nữ anh hùng dân tộc là thế hệ phụ nữ, chiến sĩ cách mạng sau này Nhiều chiến công lãnh đạo cách mạng đã ngoan cường, trung thành với dân,

Trang 5

với Đảng như Nguyễn Thị Minh Khai, lãnh tụ đầu tiên của phong trào phụ nữ sau khi ĐCSVN được thành lập, Bí thư Thành ủy đầu tiên của Sài Gòn - Gia Định, linh hồn của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ; Hoàng Thị Ngân - Bí thư đoàn phụ nữ cứu quốc Bắc Bộ…

Thời kỳ chống Mỹ cứu nước lại ghi nhận những đóng góp của những phụ nữ như: Nguyễn Thị Thập, nữ đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VI với 18 năm là Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam, 24 năm giữ cương vị Phó chủ tịch UBTV Quốc hội (1956-1980); Nguyễn Thị Định, Phó tư lệnh lực lượng

vũ trang giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hội LHPN giải phóng miền Nam và đến năm 1980 là Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam thống nhất, đồng thời là Phó chủ tịch Liên đoàn phụ nữ quốc tế…

Có thể nói rằng trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc cũng như hiện nay, phụ nữ Việt Nam luôn có những đại diện xứng đáng cho giới của mình trong công cuộc đấu tranh bảo vệ và phát triển đất nước Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, phụ nữ Việt Nam đã có những cống hiến, hy sinh to lớn, góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của cả dân tộc, trong công cuộc xây dựng đất nước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, chị

em tiếp tục đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội

3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với phụ nữ trong công tác lãnh đạo, quản lý

Quan điểm “Nam, nữ bình quyền” của Đảng và Bác Hồ được xác định ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, Người luôn căn dặn các cấp uỷ Đảng, cơ quan, đơn

vị phải quan tâm chăm lo công tác vận động phụ nữ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ

nữ, vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ Hơn 80 năm qua, quan điểm đó luôn được quán triệt trong các văn kiện, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng qua các thời kỳ

Trang 6

Ngay trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ

cứu nước, ngày 10/01/1967, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Nghị

quyết số 152-NQ/TW về một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận, chỉ rõ: “Tư tưởng phong kiến đối với phụ nữ còn tồn tại khá sâu sẳc trong một

số cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo Thể hiện rõ nhất tư tưởng hẹp hòi, “trọng nam khinh nữ”, chưa tin vào khả năng lãnh đạo và khả năng quản

lý kinh tế của phụ nữ, chưa thấy hết khó khăn trở ngại của phụ nữ…”

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ mới, việc phát huy hơn nữa vị trí, vai trò của các tầng lớp phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng

của Đảng, của nhân dân là yêu cầu, đòi hỏi lớn Chỉ thị số 44- CT/TW ngày

7/6/1984 của Ban Bí thư về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ chỉ rõ: “Nhiều cấp uỷ Đảng và lãnh đạo các ngành buông lỏng việc chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ…còn tư tưởng phong kiến, coi thường phụ nữ, đối xử thiếu công bằng với chị em…”; “Các trường lớp đào tạo, bồi dưỡng trong nước và ngoài nước, khi chiêu sinh cần quy định tỷ lệ nữ một cách thoả đáng; …Các trường lớp tập trung cần tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo để chị em có con nhỏ gửi cháu”… Bước vào thời kỳ đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, ngày

12/7/1993 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về đổi mới và tăng

cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới Nghị quyết nhấn mạnh:

“Xây dựng và sửa đổi, hoàn chỉnh các pháp luật, chính sách xã hội có liên quan đến phụ nữ và lao động nữ Có chủ trương, chính sách phù hợp đối với phụ nữ dân tộc ít người, phụ nữ tôn giáo, phụ nữ nghèo, phụ nữ đơn thân, phụ nữ tàn tật”

Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư TW về một số vấn

đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới khẳng định: “Việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội là yêu cầu quan trọng để thực sự thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện

để phát huy tài năng trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ ”

Trang 7

Tại Hội nghị thế giới về phụ nữ tổ chức tại Bắc Kinh (Trung Quốc) tháng 9/1995, chính phủ Việt Nam đã cùng các nước nhất trí thông qua cương lĩnh hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000 nhằm thúc đẩy sự tiến bộ và tăng cường quyền lực cho phụ nữ trên thế giới Thực hiện cương lĩnh trên, ngày 04/10/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành kế hoạch hành động quốc gia vì

sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000 Bản kế hoạch đề ra 11 mục tiêu, trong đó có mục tiêu số 4 là: “Nâng cao vai trò, vị trí của phụ nữ trong việc tham gia bộ máy lãnh đạo và ra quyết định” Nhằm đạt được mục tiêu này, bản kế hoạch đã đề ra các chỉ tiêu phấn đấu chủ yếu: Cán bộ trong các cơ quan dân cử các cấp phải đạt từ 20-30%, cán bộ nữ trong các cấp chính quyền đạt từ 15-20%, đối với cán bộ, ngành đông nữ cần có phụ nữ tham gia lãnh đạo chủ chốt, đối với

cơ quan, doanh nghiệp nhà nước có từ 30% trở lên cần có cấp trưởng hoặc cấp phó là nữ

Ngày 27/4/2007, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nêu rõ: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng”

Đảng, Nhà nước đã có những chính sách đối với lao động nữ nhằm tạo điều kiện để họ tham gia quản lý Nhà nước như: chế độ thai sản, chế độ làm việc, được bảo đảm về mặt pháp lý trong luật Dân sự, luật Hôn nhân - Gia đình, luật Lao động… được quan tâm và phát huy trong các chế độ chính sách của Nhà nước

4 Thực trạng và nguyên nhân tình hình phụ nữ tham gia lãnh đạo

và quản lý ở Việt Nam hiện nay

4.1 Thực trạng

Ý thức được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, phụ nữ Việt Nam đã không ngừng phấn đấu nâng cao năng lực trong các lĩnh vực công tác, đảm nhiệm những trọng trách quan trọng Hầu hết các cán bộ nữ đều khẳng định

Trang 8

được vị trí, năng lực của mình và hiệu quả hoạt động ngày càng tăng Tỷ lệ nữ lãnh đạo các cấp, các ngành đã được tăng lên trong những năm gần đây, rõ nhất là trong hệ thống dân cử: Tại Khóa X, với tổng số đại biểu là 450 người, trong đó phụ nữ có 117 người (chiếm 26.0%); đến Khóa XI tổng số đại biểu tăng lên 498 người, số phụ nữ có 136 người (chiếm 17.3%); tại Khóa XII, tổng số đại biểu là 493 người, số phụ nữ là 127 người (chiếm 25.8%); ở Khóa XIII, tổng số đại biểu là 498 người, trong đó phụ nữ chỉ có 121 người (chiếm 24.3%); tại Khóa XIV, tổng số đại biểu là 494 người, và số phụ nữ là 132 người (26.7%) Theo số liệu thống kê của Liên minh Nghị viện Thế giới, với

tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII đạt 24,2%, Việt Nam hiện đang xếp thứ

54 trong tổng số 190 quốc gia được xếp hạng trên thế giới và đứng thứ 4 trong

10 nước Đông Nam Á có nghị viện (sau Đông Timor, Philippine và Lào) Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong việc tăng cường sự tham gia của phụ

nữ trong các cơ quan dân cử, từ con số 3% nữ đại biểu Quốc hội khóa I đến tỷ

lệ 26,7% của Quốc hội khóa XIV Mặc dù tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội ở từng nhiệm kỳ có tăng lên nhưng chưa thật bền vững Trong khối cơ quan Đảng, ở cấp Trung ương (TW), nhiệm kỳ 2005 - 2011, tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành TW Đảng (kể cả ủy viên dự khuyết) là 10%, tăng so với nhiệm kỳ 2001

- 2005 (8,6%), tỷ lệ cán bộ nữ tham gia Ban Bí thư TW Đảng là 20% (2/10 đồng chí) Ở cấp địa phương, tỷ lệ nữ là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện và xã ở các giai đoạn đều tăng, đặc biệt là ở cấp xã Một trong những nguyên nhân làm cho tỷ lệ này tăng lên là do hoạt động vận động bầu cử ở địa phương diễn ra khá tốt

Tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ trong nhiệm kỳ 2005 - 2010 giảm so với nhiệm kỳ 1999 - 2004 Cụ thể: ở Trung ương, chỉ có 9/30 Bộ, cơ quan ngang

Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nữ trong ban lãnh đạo; chỉ có 1 nữ trong số 30

Bộ trưởng và tương đương (4,5% so với 12% ở khóa 2002- 2007) Có 9 nữ trong số khoảng 100 Thứ trưởng và tương đương (8,4% so với 9% khóa 2002-2007).Tỷ lệ nữ vụ trưởng và tương đương giảm từ 6% xuống 5,5% Năm 2008, Việt Nam xếp thứ 89 trên tổng số 93 nước xếp hạng về có các chức danh bộ

Trang 9

trưởng là nữ Ở cấp địa phương, cả nước hiện chỉ có duy nhất một nữ trong số

63 Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh và còn khoảng 19 tỉnh/thành không có

nữ lãnh đạo chủ chốt ở cấp này Trong nhiều năm nay chưa có sự tham gia của phụ nữ vào các chức danh như Thủ tướng, Phó Thủ tướng Chính phủ và trong

Bộ Chính trị hiện nay chỉ có 2/16 đồng chí là nữ Đặc biệt, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo nữ ở cấp xã, thôn rất thấp

4.2 Nguyên nhân

Thứ nhất, do còn tồn tại sự chênh lệch giới trong công tác giáo dục:

Trình độ học vấn là một yếu tố quan trọng cấu thành năng lực của người cán

bộ Vì vậy, đây cũng là một trong những tiêu chí quan trọng để đề bạt, bổ nhiệm phụ nữ vào những vị trí lãnh đạo, quản lý chủ chốt Tuy nhiên, thực tế cho thấy, tuy mức độ chênh lệch về trình độ giữa nam và nữ ở cấp học thấp không đáng kể nhưng ở trình độ học vấn càng cao thì mức chênh lệch về giới lại càng lớn Tỷ lệ nữ giới đạt học vị tiến sĩ, tiến sĩ khoa học, giáo sư thấp hơn khoảng từ 5 đến 18 lần so với nam giới Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch giới về trình độ học vấn ở mức cao như: ở lứa tuổi này, phụ nữ thường bận rộn với công việc gia đình, sinh con và chăm sóc con, phụ nữ thường nhường cơ hội học tập cao cho người chồng của mình… Tuy nhiên, khi tỷ lệ phụ nữ có trình độ học vấn cao thấp hơn nam giới thì họ sẽ bị thua kém hơn về cơ hội trong việc tham gia vào các vị trí lãnh đạo, quản lý

Thứ hai, Định kiến giới về năng lực: Việt Nam là một nước nông nghiệp,

trải qua hàng nghìn năm thuộc địa phong kiến nên ý thức hệ phong kiến với quan niệm “trọng nam khinh nữ”; việc làm quan, công việc đại sự là của nam giới, phụ nữ chỉ lo việc bếp núc trong nhà, đã ăn sâu vào nếp nghĩ của không

ít người Những định kiến về giới cho rằng, phụ nữ yếu đuối, tự ti, thụ động, thứ yếu, phụ thuộc và là người không có tính ra quyết định; ngược lại định kiến về nam giới cho rằng, nam giới luôn mạnh mẽ, độc đoán, là người ra

quyết định… Mặc dù hiện nay pháp luật đã dần công nhận quyền bình đẳng

giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực nhưng tâm lý này vẫn còn tồn tại trong một bộ phận nhân dân, trong đó có một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý

Trang 10

Điều đó là một trở ngại cho sự tham gia công tác lãnh đạo, quản lý của nữ giới Bởi lẽ khi cấp trên không tin tưởng thì sẽ không cất nhắc, đề bạt họ lên những vị trí quan trọng, chủ chốt, không mạnh dạn giao việc cho cán bộ nữ đúng lúc, đúng việc, đúng tầm

Thứ ba, Tâm lý tự ti, an phận của phụ nữ: Do hoàn cảnh lịch sử để lại, phụ nữ ít có điều kiện, cơ hội để tham gia những công việc trọng đại của cộng đồng, đất nước, ít có cơ hội để khẳng định mình trước nam giới Chính vì vậy,

đã hình thành tâm lý tự ti, thiếu tin tưởng vào khả năng của mình trong chính bản thân phụ nữ Hơn nữa, với thiên chức làm vợ, làm mẹ của mình, người phụ nữ có trọng trách rất lớn trong việc xây dựng gia đình Chế độ xã hội phong kiến kéo dài hàng nghìn năm đã cột chặt người phụ nữ vào trọng trách

đó Do vậy, mặc dù khi xã hội phát triển, phụ nữ được tham gia các hoạt động

xã hội nhiều hơn nhưng trước mâu thuẫn giữa sự nghiệp và gia đình, nhiều phụ nữ có tâm lý an phận, đặt gia đình quan trọng hơn sự nghiệp Họ chấp nhận tham gia các hoạt động xã hội ít đi để có thể dành được nhiều thời gian

lo lắng, chăm sóc cho gia đình hơn Thế nên, ngay bản thân phụ nữ cũng đã tự dưng lên cho mình trở ngại trong việc tham gia lãnh đạo, quản lý

Thứ tư, Chính sách xã hội: Những cản trở về cơ chế, chính sách đối với

sự thăng tiến của phụ nữ Một số chính sách đối với cán bộ nữ hiện nay đã không còn phù hợp với tình hình quốc tế và trong nước về bình đẳng giới và yêu cầu thực tiễn đặt ra, vẫn chậm được nghiên cứu sửa đổi làm ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển và hạn chế đóng góp của đội ngũ cán bộ nữ nước ta Điều 145 Bộ luật Lao động quy định, tuổi nghỉ hưu của nam là 60, nữ là 55; Thông báo 155 của Ban Tổ chức Trung ương quy định, tuổi bổ nhiệm, đề bạt đối với cán bộ nam là 55 tuổi trở xuống, đối với cán bộ nữ là 50 tuổi trở xuống… vì thế cán bộ nữ đã thấp lại bị hạn chế bởi tuổi nghỉ hưu và tuổi đề bạt nên càng thiệt thòi

5 Giải pháp để tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay

Ngày đăng: 16/11/2021, 10:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w