1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thảo luận dân sự tháng 2

14 304 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 94,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bà Như lập minh mẫn, sáng suốt là có đủ điều kiện lập di chúc theo Điểm a Khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 Người làm chứng cho việc lập di chúc của bà Như là ông On, ông Kiếm và ông

Trang 1

ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1

BÀI THẢO LUẬN THÁNG THỨ HAI MÔN: LUẬT DÂN SỰ

Trang 3

- Tóm tắt Quyết định 382/2008/DS-GDT ngày 23/12/2008

- Thủ tục chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa vợ chồng ông Bình, bà Như với bà Nga ngày 28/4/2003 được Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm cho là không có giá trị pháp lý, nên bà Nga vẫn là con nuôi của ông Bình và bà Như

- Theo hồ sơ, cũng không có căn cứ bà Nga đã có hành vi bạc đãi cha mẹ Nội dung đơn 28/4/2003 hai ông bà cũng không tước quyền thừa kế của bà Nga

- Ông Bình chết không để lại di chúc, người thừa kế di sản của ông ở hàng thừa kế thứ nhất là bà Nga và bà Như Bà Như có lập di chúc để lại tài sản cho ông Truyền và bà Hằng

- Xét di chúc bà Như lập ngày 1/1/2005 nhờ ông On, ông Kiếm và ông Hiếu làm chứng trong di chúc Cả ba ông đều xác nhận tại thời điểm lập di chúc, bà Như hoàn toàn minh mẫn Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm không công nhận di chúc của bà Như lập ngày 1/1/2005 là di chúc hợp pháp vì lý do Bệnh xá Công an tỉnh An Giang không có chức năng khám sức khỏe để lập di chúc là không có căn cứ Kết luận của bác sĩ Hiền về tình trạng sức khỏe và tinh thần của bà Như được ghi trong giấy chứng nhận khám sức khỏe ngày 26/12/2004 trước ngày bà Như lập di chúc 5 ngày không mâu thuẫn với lời khai của ông On, ông Kiếm và ông Hiếu Do đó vợ chồng ông Truyền, bà Hằng được hưởng theo di chúc của bà Như lập ngày 1/1/2005

- Tóm tắt Quyết định số 545/2009/DS-GĐT ngày 26/10/2009 của Tòa Dân sự Tòa án Nhân dân tối cao:

- Dựa vào tài liệu trong vụ án, hai Tòa sơ thẩm và phúc thẩm đã xác định đúng về thời điểm, những người hưởng di sản của cụ Kiệt

- Tòa cấp phúc thẩm đã chia tài sản theo pháp luật là đúng, vì cụ không để lại di chúc

- Về phần cụ Biết thì Tòa không công nhận “Tờ truất quyền hưởng di sản” và “Tờ di chúc” năm 2000 vì hai văn bản này không đúng với quy định pháp luật

- Đối với “Tờ di chúc” năm 2001 do cụ Biết đọc và ông Thắng viết hộ, có ông Dầm làm chứng Tòa đã có căn cứ xác định thời điểm viết di chúc ông Biết còn minh mẫn

và sáng suốt (3/1/2001) Bởi ông Biết đã điểm chỉ cho bà Mỹ thuê vườn và hướng dẫn

bà chăm sóc vườn (4/1/2001) Mặc dù trước đó theo chẩn đoán ông bị thiếu máu cơ tim, xuất huyết não, cao huyết áp Ông Biết chết ngày 14/1/2001 Tòa xác định ông Biết thiếu minh mẫn là không có căn cứ

- Trong hai lần xét xử, không có chứng cứ mới nhưng Tòa Bình Dương không chấp nhận di chúc của cụ Biết là hợp pháp

- Do đó, Tòa Dân sự chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm Sát, hủy Bản

án phúc thẩm, giao cho Tòa Bình Dương xét xử lại vụ án, phải công nhận di chúc của

cụ Biết năm 2001, và chia tài sản của cụ Kiệt

Trang 4

Quyết định: Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm Sát Giao hồ sơ vụ án cho Tòa Bình Dương xét xử phúc thẩm lại theo quy định

I Hình thức sở hữu

Câu 1: Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2005? Nêu

rõ các hình thức sở hữu trong BLDS.

- Có 6 hình thức sở hữu trong BLDS 2005

- Các hình thức sở hữu:

+ Sở hữu nhà nước (Điều 200 đến Điều 207, BLDS 2005)

+ Sở hữu tập thể (Điều 208 đến Điều 210, BLDS 2005)

+ Sở hữu tư nhân (Điều 211 đến Điều 213, BLDS 2005)

+ Sở hữu chung (Điều 214 đến Điều 226, BLDS 2005)

+ Sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (Điều 227 đến Điều 229, BLDS 2005)

+ Sở hữu của các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp (Điều 230 đến Điều 232, BLDS 2005)

Câu 2: Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2015? Nêu

rõ các hình thức sở hữu trong BLDS.

- Có 3 hình thức sở hữu trong BLDS 2015

- Các hình thức sở hữu:

+ Sở hữu toàn dân (Điều 197 đến Điều 204, BLDS 2015)

+ Sở hữu riêng (Điều 205 đến Điều 206, BLDS 2015)

+ Sở hữu chung (Điều 207 đến Điều 220, BLDS 2015)

Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi về hình thức

sở hữu giữa hai Bộ luật trên.

- Sở hữu toàn dân (BLDS 2015) - sở hữu Nhà nước (BLDS 2005)

- Trong BLDS 2005 quy định: “Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa

và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định”

- Còn BLDS 2015 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu

tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”

Trang 5

- Sở hữu tư nhân, sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể (BLDS 2005) - sở hữu riêng (BLDS 2015):

Nếu trong BLDS 2005, sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của tổ chức được phân chia thành các mục khác nhau thì tại BLDS 2015, 3 loại hình sở hữu này được gộp thành sở hữu riêng: “1 Sở hữu riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân " (Khoản 1, Điều 205, BLDS 2015) Việc gộp chung lại nhằm tạo sự ngắn gọn, tránh rườm rà, gây trở ngại cho việc áp dụng pháp luật

- Sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể, sở hữu chung (BLDS 2005) - sở hữu chung (BLDS 2015):

Nếu trong BLDS 2005, sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể mặc dù vẫn có hình thức thuộc sở hữu chung song lại thuộc mục riêng thì trong BLDS 2015, các loại hình trên được gộp thành hình thức sở hữu chung Cũng giống như việc gộp sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của tổ chức thành sở hữu riêng thì việc gộp sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể, sở hữu chung thành hình thức sở hữu chung nhằm tạo sự ngắn gọn, bớt rườm rà, dễ dàng hơn trong việc áp dụng pháp luật

II Một số vấn đề liên quan đến chế định thừa kế

Câu 1: Nếu vào thời điểm xác lập di chúc, người lập di chúc không minh mẫn thì di chúc có giá trị pháp lý không? Nêu cơ

sở pháp lý khi trả lời.

- Nếu vào thời điểm xác lập di chúc, người lập di chúc không minh mẫn thì di chúc không có giá trị pháp lý

- Căn cứ vào Điểm a, Khoản 1, Điều 652, BLDS 2005 quy định về Di chúc hợp pháp:

“1 Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;”

Câu 2: Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 382, theo Tòa phúc thẩm, khi lập di chúc năm 2005 cụ Như có minh mẫn không? Vì sao Tòa phúc thẩm lại quyết định như vậy?

- Tòa án phúc thẩm xác định khi lập du chúc năm 2005 bà cụ Như không còn minh mẫn nên đã không công nhận di chúc của bà là di chúc hợp pháp Vì cho rằng Bệnh xá Công an tỉnh An Giang không có chức năng khám sức khỏe để lập di chúc

Câu 3: Trong vụ việc vừa nêu, Theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2005 cụ Như có minh mẫn không? Vì sao Tòa

án giám đốc thẩm đã quyết định như vậy?

Theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2005 cụ Như có minh mẫn Vì có kết luận của bác sĩ Hiền về tình trạng sức khỏe và tinh thần của bà Như được ghi trong giấy chứng nhận khám sức khỏe ngày 26/12/2004 trước ngày bà Như lập di chúc 5 ngày không mâu thuẫn với lời khai của ông On, ông Kiếm và ông Hiếu

Trang 6

Câu 4: Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm

Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm là phù hợp với quy định về thừa kế theo di chúc

Bà Như lập minh mẫn, sáng suốt là có đủ điều kiện lập di chúc theo Điểm a Khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015

Người làm chứng cho việc lập di chúc của bà Như là ông On, ông Kiếm và ông Hiếu không phải là người được hưởng thừa kế, không phải là người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến nội dung di chúc là phù hợp với quy định tại Điều 632 Bộ luật Dân sự

2015 về người làm chứng cho việc lập di chúc

Câu 5: Liên quan đến vụ việc 545, theo tòa phúc thẩm, khi lập di chúc năm 2001 cụ Biết có minh mẫn không? Vì sao tòa phúc thẩm lại có quyết định như vậy

Tòa án phúc thẩm, khi lập di chúc năm 2001 cụ Biết không còn minh mẫn Vì cho rằng cụ lập di chúc ngày 3/1/2001 đã 84 tuổi, trước đó vào tháng 11, 12 năm 2000 cụ Biết phải nhập viện điều trị với triệu chứng theo chuẩn đoán là “thiếu máu cơ tim, xuất huyết não, cao huyết áp”

Câu 6: Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2001 cụ Biết có minh mẫn không? Vì sao Tòa giám đốc thẩm đã quyết định như vậy?

- Tòa giám đốc thẩm xác định khi lập di chúc năm 2001 cụ Biết rất minh mẫn Tòa

giám đốc thẩm đưa ra căn cứ cụ thể là ông Biết đã cho bà Mỹ thuê vườn và ông đã hướng dẫn bà chăm sóc vườn sau khi thuê (theo lời khai của bà Mỹ ngày 11/3/2002)

Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm?

TL: Em đồng ý với hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm vì theo như hồ sơ vụ án

và không có chứng cứ nào thêm thì việc ông Biết đã 84 tuổi và mắc bệnh liên quan đến tim và não, không có nghĩa rằng ông ấy mất hoàn toàn năng lực của mình để nhờ người khác viết (là ông Thắng) Trong khi đó ông còn tự điểm chỉ vào tờ di chúc này

và có ông Dầm làm chứng

Câu 8: Di tặng là gì? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

- Căn cứ Khoản 1 Điều 646 thì Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản

để tặng cho người khác Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc

Câu 9: Để có giá trị pháp lý, di tặng phải thỏa mãn những điều kiện gì? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Căn cứ Khoản 2, 3 Điều 646 quy định những điều kiện về di tặng:

˗ Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi

Trang 7

người để lại di sản chết Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

˗ Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được

di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này

Câu 10: Trong quyết định năm 2009, cụ Biết đã di tặng cho ai? Đoạn nào của Quyết định cho biết câu trả lời ?

- Trong Quyết định năm 2009, cụ BIết đã di tặng cho 3 cháu ngoại là ông Hùng, Bà Diễm và ông Hoàng

- Đoạn của Quyết định cho biết câu trả lời: “”Cụ BIết di tặng tài sản riêng và chung cho ba cháu ngoại là ông Hùng, bà Diễm và ông Hoàng””

Câu 11: Di tặng trên có được Tòa án chấp nhận không ? ĐOạn nào của Quyết định cho thấy câu trả lời ?

- Di tặng không được Tòa án chấp nhận

- Đoạn của Quyết định cho biết câu trả lời: “Tòa án cấp phúc thẩm không công nhận

“Tờ truất quyền hưởng di sản” lập ngày 20/9/1997 và “Tờ di chúc” ngày 15/9/2000 bởi các văn bản này không phù hợp với quy định của pháp luật về cả nội dung và hình thức văn bản là có căn cứ””

Câu 12: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến di tặng ?

- Theo tôi, hướng giải quyết của Tòa án là hợp lí

- Bởi lẽ căn cứ Khoản 5 Điều 667 BLDS 2005 thì khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng mới có hiệu lực pháp luật Vì vậy chỉ có “Tờ di chúc” lập ngày 03/1/2001 mới có hiệu lực pháp luật

Câu 13: Truất quyền thừa kế là gì ? Nêu cơ sở pháp lý ?

- Truất quyền thừa kế có thể hiểu là không cho hưởng quyền thừa kế Nếu không có việc truất quyền này thì người hưởng đương nhiên được nhận thừa kế

- Cơ sở pháp lý: Căn cứ vào Khoản 1, Điều 648 quy định về Quyền của người lập di chúc :

+ Trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau thì những người thừa kế theo di chúc phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa trên

ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc Khi những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết

Trường hợp có một phần nội dung di chúc không giải thích được nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần không giải thích được không có hiệu lực

Trang 8

Câu 14: Cụ Biết đã định đoạt trong di chúc năm 2001 những tài sản nào? Đoạn nào của Quyết định cho trả lời? (Quang Đức)

- Cụ Biết đã định đoạt trong di chúc năm 2001 bao gồm những tài sản: 1 căn nhà và đất vườn cây ăn trái diện tích 6.278m² là tài sản chung của cụ Kiệt và cụ Biết

- Đoạn quyết định cho trả lời là: "Ngày 03/01/2001 cụ Biết lập di chúc có nội dung: Sau khi cụ qua đời thì bà Thuyết được toàn quyền được thừa hưởng phần tài sản là nhà và đất vườn cây ăn trái diện tích là 6.278m²

Câu 15: Theo Viện kiểm sát và Tòa án dân sự, di chúc năm

2001 có giá trị pháp lý phần nào? Đoạn nào của Quyết định cho trả lời?(Quang Đức)

- Theo Viện kiểm sát và Tòa án dân sự, di chúc năm 2001 có giá trị pháp lý phần di sản của cụ Biết

- Đoạn quyết định cho câu trả lời là: "Tại các quyết định giám đốc thẩm số

61/GĐT-DS ngày 25/5/2014 và số 231/2006/61/GĐT-DS-GĐT ngày 28/9/2006 của Toàn Dân sự Toàn

án nhân dân tối cao đều hủy các bản án dân sự phúc thẩm os 48/DS-PT ngày 21/4/2003 và số 122/2006/DS-PT ngày 22/6/2006 của Toàn án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm lại theo hướng công nhận di chúc của cụ Biết lập ngày 03/1/2001 là hợp pháp phần di sản của cụ Biết, phần di sản của cụ Kiệt chia theo pháp luật"

Câu 16: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Viện kiểm sát và Tòa dân sự.(Quang Đức)

- Hướng giải quyết trên là hợp lí Bời vì theo Điều 652 Bộ luật Dân sự 2005 thì di chúc của cụ Biết lập ngày 03/01/2001 là di chúc hợp pháp và có hiệu lực Do đó cụ Biết có quyền định đoạt tài sản của mình, và phần di sản thừa kế của cụ Biết phải được chia theo di chúc Còn về phần tài sản của cụ Kiệt, do cụ Kiệt chết mà không để lại di chúc nên di sản thừa kế của cụ Kiệt được chia theo đúng pháp luật

Câu 17: Sự khác nhau giữa “truất quyền thừa kế” và “không được hưởng di sản” trong chế định thừa kế Nêu cơ sở pháp

lý khi trả lời.(Quang Đức)

* Sự khác biệt:

a) Về hình thức áp dụng

- Điều 625 Bộ luật Dân sự 2015 quy định truất quyền hưởng di sản thừa kế là quyền của người lập di chúc mà không phải là quyền của người để lại di sản Tức là, khi và chỉ khi tồn tại di chúc mới có thể truất quyền hưởng di sản thừa kế Vì vậy, truất quyền hưởng di sản chỉ có thể áp dụng đối với hình thức thừa kế theo di chúc

- Trường hợp người thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật có hành vi vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng tới người để lại di sản hoặc thừa kế khác, được quy định tại điều 621 có thể bị pháp luật tước quyền hưởng di sản thừa kế Như vậy, tước

Trang 9

quyền hưởng di sản thừa kế được áp dụng trong cả hai hình thức thừa kế theo di chúc

và thừa kế theo pháp luật

b) Về chủ thế

- Pháp luật nước ta ghi nhận truất quyền hưởng di sản thừa kế là quyền của người lập

di chúc Vì thế chủ thể truất quyền thừa kế phải là người lập di chúc Tuy nhiên, quy định hạn chế hiệu lực đối với trường hợp truất quyền hưởng di sản thừa kế lại xuất phát từ ý chí chủ quan của nhà nước Với mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người thừa kế, pháp luật thừa kế nước ta đã hạn chế quyền tự do định đoạt của người

để lại di sản Tại điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, pháp luật quy định con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con đã đủ tuổi thành niên nhưng không có khả năng lao động của người để lại di sản là những đối tượng luôn được hưởng ít nhất hai phần ba của suất thừa kế theo pháp luật trong trường hợp họ không được người để lại di chúc cho hưởng di sản hoặc cho hưởng di sản ít hơn hai phần ba một suất đó, trừ khi họ từ chối nhận di sản… hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản quy định tại điều 621 Bộ luật Dân sự 2015

- Bên cạnh đó, chủ thể hạn chế cá nhân không được quyền hưởng thừa kế là Nhà nước Tuy nhiên bản chất của quy định hạn chế hiệu lực về không cho cá nhân có quyền hưởng di sản thừa kế theo khoản 2 điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 lại xuất phát bởi ý chí của người lập di chúc Quy định tại khoản 2 tuân thủ nguyên tắc tôn trọng tự

do ý chí của người để lại di chúc cũng như bảo vệ quyền nhân thân, sự bình đẳng của những người được hưởng thừa kế nếu như xuất hiện sự gian dối tại khoản 1 Những quy định tại khoản 1 điều này bị hạn chế bởi khoản 2 Qua đó, thể hiện rõ quyền tự do

ý chí của người lập di chúc về việc chuyển đổi tài sản của mình sau khi chết

c) Về đối tượng:

- Người bị truất quyền hưởng di sản thừa kế luôn là người thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc Vì luật quy định rằng, người lập di chúc được "truất quyền hưởng

di sản của người thừa kế" nên được hiểu răng nếu như họ không bị truất thì họ là một trong những người để lại di sản

- Những người bị truất quyền hưởng di sản thừa kế có thể có hoặc có thể không có hành vi vi phạm pháp luật đối với người để lại di sản cũng như những người thừa kế khác Những người này có thể hoàn toàn xứng đáng và đáp ứng đầy đủ điều kiện mà pháp luật quy định để hưởng di sản, nhưng người lập di chúc họ định đoạt không được hưởng di sản nên họ không có quyền hưởng di sản

d) Về hệ quả pháp lý:

- Một người thừa kế bị truất quyền hưởng di sản nghĩa là họ sẽ không được hưởng di sản thừa kế của người để lại di sản thừa kế của người để lại di sản dưới một hình thức thừa kế nào kể cả thừa kế theo pháp luật lẫn thừa kế theo di chúc, những người thừa

kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc thì dù bị truất vẫn được hưởng một phần tài sản nhất định

- Đối với người bị pháp luật xếp vào diện không có quyền hưởng di sản thừa kế thì dù

họ có là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc thì họ vẫn không có

Trang 10

quyền hưởng di sản thừa kế chỉ ngoại trừ trường hợp người để lại di chúc đã biết về hành vi vi phạm nhưng vẫn cho họ hưởng di sản của mình

Câu 18: Theo Viện kiểm sát và Tòa dân sự, di chúc năm 2001

có giá trị pháp lý phần nào? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

- Theo Viện kiểm sát và Tòa dân sự, di chúc năm 2001 có giá trị pháp lý phần di sản của cụ Biết

- Đoạn của Quyết định cho câu trả lời:

“Tại các quyết định giám đốc thẩm số 61/GĐT-DS ngày 25/5/2004 và số 231/2006/ DS-GĐT ngày 28/9/2006 của Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao đều huỷ các bản án dân sự phúc thẩm số 48/DS-PT ngày 21/4/2003 và số 122/2006/DS-PT ngày 22/6/2006 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương và giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm lại theo hướng công nhân di chúc của cụ Biết lập ngày 03/01/2001 là hợp pháp phần di sản của cụ Biết, phần di sản của cụ Kiệt chia theo pháp luật; ”

Câu 19: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Viện kiểm sát và Tòa dân sự.

- Hướng giải quyết trên là hợp lí Bởi vì theo Điều 652, BLDS 2005 thì di chúc của cụ

Biết lập ngày 03/01/2001 là di chúc hợp pháp và có hiệu lực Do đó cụ Biết có quyền định đoạt tài sản của mình, và phần di sản thừa kế của cụ Biết phải được chia theo di chúc Còn về phần tài sản của cụ Kiệt, do cụ Kiệt chết mà không để lại di chúc nên phần di sản thừa kế của cụ Kiệt được chia theo đúng pháp luật

Câu 20: Sự khác nhau giữa “truất quyền thừa kế” và “không được hưởng di sản” trong chế định thừa kế Nêu cơ sở pháp

lý khi trả lời.

- Truất quyền thừa kế là một quyền và xuất phát từ ý chí của người lập di chúc, được quy định tại Điều , BLDS 2005 Không được hưởng di sản xuất phát từ ý chí của nhà nước, được quy định trong pháp luật và tại Điều 643, BLDS 2005

- Khi bị truất quyền thừa kế thì người bị truất vẫn có thể được hưởng di sản trong trường hợp của Điều 669, BLDS 2005 về Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của

di chúc Còn khi người không được hưởng di sản thì vẫn không được hưởng di sản trong bất kì trường hợp nào, được quy định tại Điều 669, BLDS 2005

Câu 21: Trong Quyết định năm 2008, theo Viện kiểm sát và Tòa dân sự, bà Nga có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa

vụ nuôi dưỡng ông Bình không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

- Theo Viện kiểm sát và Tòa dân sự, bà Nga không có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng ông Bình

- Đoạn: “Theo các tài liệu có trong hồ sơ thì chưa có cơ sở xác định bà Nga đã có hành vi bạc đãi cha mẹ, nên cũng không có cơ sở để xác định bà Nga có hành vi vi

Ngày đăng: 15/11/2021, 08:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w