Trên đây là tài liệu tổng hợp kiến thức môn học CPQT chương thứ 4, nằm trong chuỗi tài liệu 6 chương tổng hợp kiến thức CPQT. Với mong muốn đem lại nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn sinh viên.
Trang 1I Câu hỏi lý thuyết
1 So sánh khái niệm lãnh thổ quốc gia và khái niệm “lãnh thổ quốc gia” theo Điều
- Có vùng lòng đất
- Vùng nước gồm: vùng nước nội
địa, vùng nước biên giới, vùng
nước nội thủy, vùng nước lãnh
hải
- Không liệt kê vùng lòng đất
- vùng biển gồm: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
=> đang loại bỏ đi vùng nước nội địa và vùng nước biên giới
- không quy định cụ thể vùng trời thuộc chủ quyền của ai mà nói chung chung (VN không có chủ quyền đối với vùng trời quốc tế)
2 Chứng minh vùng đất là bộ phận lãnh thổ quan trọng nhất của mỗi quốc gia.
Lãnh thổ vùng đất của một QG là toàn bộ phần đất liền (đất lục địa) và các đảo, quầnđảo thuộc chủ quyền của QG kể cả các đảo và quần đảo gần bờ hoặc xa bờ Vềphương diện pháp lý quốc tế, QG có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối với lãnh thổvùng đất Có thể nói vùng đất là bộ phận lãnh thổ quan trọng nhất của mỗi QG vì “Quốc gia chủ nhà” là chủ thể duy nhất có đầy đủ các quyền năng chiếm hữu, sử dụng
và định đoạt các vấn đề pháp lý liên quan đến lãnh thổ vùng đất của QG Thẩm quyềnnày là riêng biệt và tuyệt đối không kể vị trí toàn bộ hoặc một phần của lãnh thổ nằm
ở đâu QG là chủ thể tối cao và duy nhất có quyền định đoạt với vùng đất trên mọivấn đề, không buộc phải chia sẻ chủ quyền, hạn chế chủ quyền trừ những lĩnh vực đặcbiệt liên quan đến quyền con người, hoặc trong lĩnh vực bảo vệ môi trường,
3 So sánh quy chế pháp lý của vùng nước nội địa và vùng nước biên giới.
Khái
niệm Bao gồm các bộ phận nước ở sông, suối,kênh, rạch, kể cả tự nhiên và nhân tạo
nằm trên vùng đất hay biển nội địa.
Bao gồm nước ở biển nội địa, sông,
suối, đầm ao, kênh rạch… nằm trong khu vực biên giới giữa các quốc gia
Tính chất
chủ
quyền
Hoàn toàn, tuyệt đối và riêng biệt Hoàn toàn, đầy đủ (QG buộc phải cùng
hợp tác trong việc thực thi chủ quyền tại vùng nước biên giới với các QG khác)
Trang 24 Phân biệt giữa hai khái niệm “chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối” và “chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ”.
chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ
Toàn bộ lãnh thổ Một vùng lãnh thổ nhất địnhTính chất
chủ quyền QG là chủ thể duy nhất có toàn quyền quyết định, không có chủ thể nào khác có
quyền can thiệp hay xâm phạm chủ quyền
này
Thẩm quyền của QG bị hạn chế
do việc thực hiện quyền của các
QG khác trên vùng lãnh thổ đó
5 Phân tích các phương pháp xác định vùng nước nội thủy.
Vùng nội thủy được phân định và căn cứ trên đường cơ sở duyên hải Khi tínhtoán nội thủy thì cũng phải cân nhắc đến những cửa sông hay các vịnh nhỏ mà toànphần thuộc về quốc gia ven biển thì theo quy thức như sau: Nếu một con sông chảytrực tiếp ra biển thì đường cơ sở sẽ là đường thẳng đi ngang qua cửa sông, nối cácđiểm ở mực nước thấp nhất (tức mực nước ròng đo trung bình trong nhiều năm) trênhai bờ con sông Nếu một vịnh nhỏ thuộc toàn phần về một quốc gia thì cần xác địnhxem đó là một vịnh “đúng” (theo định nghĩa địa hình) hay chỉ là đoạn thụt vào tựnhiên của bờ biển (theo khoản 2 Điều 10 phần II của Công ước)
Một vũng hay vịnh được coi là “đúng” nếu diện tích của phần lõm vào, bị cắt bởiđường cơ sở, lớn bằng hoặc là hơn diện tích của hình bán nguyệt được tạo ra vớiđường kính bằng chính chiều dài của phân đoạn đường cơ sở tại phần lõm vào đó.Nếu trong đoạn lõm vào này có một số đảo thì hình bán nguyệt tưởng tượng sẽ cóđường kính bằng tổng chiều dài các phân đoạn của các đường cơ sở
Ngoài ra, chiều dài của đường kính này không vượt quá 24 hải lý Vùng nước bêntrong của đường cơ sở tưởng tượng đó cũng được coi là nội thủy Quy tắc này không
áp dụng cho các vũng, vịnh đã thuộc chủ quyền của một quốc gia nào đó mang tínhchất “lịch sử” hoặc trong bất kỳ trường hợp nào mà việc áp dụng đường cơ sở thẳng làhợp lý
6 Phân tích các phương pháp xác định đường cơ sở.
Có 2 phương pháp xác định đường cơ sở:
Phương pháp đường cơ sở thông thường (Điều 5 UNCLOS 1982)
Đường cơ sở thông thường chủ yếu được áp dụng đối với quốc gia có bờbiển tương đối bằng phẳng, không có đoạn lồi lõm ven bờ và ngấn nước thuỷtriều xuống thấp nhất thể hiện khá rõ ràng
Để xác định đường cơ sở thông thường, các QG sẽ chọn thời điểm (ngày,tháng, năm nào đó khi mực nước thủy triều xuống thấp nhất dọc bờ biển) vàdựa vào các điểm, tọa độ thể hiện khi đó để tuyên bố đường cơ sở của mình.Việc xác định đường cơ sở thông thường có ưu điểm là phản ánh tương đốichính xác địa hình bờ biển đồng thời góp phần hạn chế sự mở rộng thái quácác vùng biển của quốc gia ven biển Tuy nhiên, phương pháp này cũng cómột số hạn chế như:
Trang 3+ Tính chính xác của điểm, tọa độ được xác định dựa vào ngấn nước thuỷ triềuthấp nhất sẽ không cao vì điểm, tọa độ này chủ yếu do quốc gia ven biển tựxác định và công bố;
+ Phương pháp này khó áp dụng đối với các vùng có địa hình bờ biển khúckhuỷu, lồi lõm hoặc có nhiều đảo ven bờ
Phương pháp đường cơ sở thẳng (Điều 7 UNCLOS 1982)
Đường cơ sở thẳng được áp dụng khi quốc gia có đường bờ biển lồi lõm,khúc khuỷu và khi áp dụng đường cơ sở thông thường sẽ rất khó khăn để cóthể đo đạc Công ước 1982 quy định phương pháp xác định đường cơ sở thẳngrất chặt chẽ Cụ thể, để xác định đường cơ sở theo phương pháp đường cơ sởthẳng, bờ biển của QG phải đáp ứng 1 trong các điều kiện được nêu tại Điều 7.Trong trường hợp quốc gia có nhiều quần đảo thì cần phải có cách xác địnhđường cơ sở quần đảo Đường cơ sở quần đảo theo quy định tại Điều 47 Côngước 1982
Nhìn chung, việc vạch đường cơ sở thẳng sẽ ít nhiều khắc phục được nhữnghạn chế của phương pháp đường cơ sở thông thường, đồng thời phương phápnày cũng dễ áp dụng với các quốc gia có bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu Tuy nhiên, cho đến nay, điều kiện cho việc áp dụng phương pháp đường cơ sởthẳng vẫn chưa được giải thích rõ ràng và chính thức dẫn đến việc xác địnhđường cơ sở thẳng tại nhiều nơi có sự khác nhau
7 So sánh quy chế pháp lý của vùng nước nội thủy và vùng nước quần đảo.
- Nội thủy có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ và
tuyệt đối cũng như vùng trời trên nội thủy, đáy
biển, lòng đất dưới nội thủy Mọi sự ra vào nội
thuỷ của tàu thuyền cũng như phương tiện bay
nước ngoài trên vùng trời nội thuỷ đều phải xin
phép
- Tàu thuyền thương mại vào các cảng biển
quốc tế trên cơ sở nguyên tắc tự do thông
thương và có đi có lại Tàu thuyền nhà nước
dùng vào mục đích không thương mại và tàu
thuyền quân sự phải xin phép Các thủ tục xin
phép cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động tại
nội thủy của mỗi quốc gia được điều chỉnh bởi
quy định của Luật biển quốc tế và pháp luật
quốc gia
- Đối với các vi phạm hình sự và dân sự trên tàu
thuyền nước ngoài, luật áp dụng là luật của
quốc gia mà tàu mang cờ Quốc gia ven biển chỉ
can thiệp:
Nếu hành vi phạm tội do một người
ngoài thuỷ thủ đoàn thực hiện;
- Chủ quyền của QG quần đảo được mở rộng đến vùng trời trên vùng nước quần đảo, cũng như đáy vùng nước đó và lòng đất tương ứng
- Tàu thuyền của tất cả các QG đều được hưởng quyền “đi qua không gây hại” trong vùng nước quần đảo (Điều 52)
- “Quyền đi qua vùng nước quần đảo” Khác với quyền đi qua không gây hại chỉ dành cho tàu thuyền nước ngoài và có thể bị đình chỉ, quyền đi qua vùng nước quần đảo dành cho cả tàu thuyền, phương tiện bay nước ngoài và không thể bị đình chỉ (Điều 53)
Trang 4 Nếu thuyền trưởng yêu cầu chính quyền
sở tại can thiệp;
Nếu hậu quả của nó ảnh hưởng tới an
ninh trật tự của cảng
8 Phân tích chế độ pháp lý dành cho tàu thuyền nước ngoài trong nội thủy.
Về nguyên tắc, quyền tài phán của quốc gia ven biển ở nội thủy cũng tương tựnhư ở trên đất liền UNCLOS 1982 không có một quy định cụ thể nào về quyền tàiphán hình sự hay dân sự của quốc gia ven biển đối với tàu thuyền nước ngoài trongnội thủy Với vị trí tiếp liền với lục địa, các vi phạm trên tàu thuyền hay do tàu thuyềngây ra trong nội thủy có thể ảnh hưởng và tác động trực tiếp tới quốc gia ven biển Vìvậy, quốc gia ven biển có quyền quyết định mức độ và giới hạn của quyền tài phántrong các lĩnh vực hình sự và dân sự Trên cơ sở chủ quyền lãnh thổ, thực tiễn cũngnhư pháp luật các quốc gia trên thế giới đều khẳng định quyền tài phán quốc gia đượcxác lập và thực thi trong phạm vi lãnh thổ, bao gồm trên tàu thuyền nước ngoài đangneo đậu hay đi qua nội thủy Tuy nhiên, việc thực thi thẩm quyền tài phán trên cáccon tàu này phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của sự vi phạm tới lợi ích, an ninh trật
tự của quốc gia ven biển
Quyền tài phán hình sự:
Quốc gia ven biển có quyền tài phán hình sự đối với các hành vi viphạm pháp luật hình sự được thực hiện trên tàu thương mại nước ngoàihoặc do tàu nước ngoài thực hiện trong nội thủy Quốc gia ven biểncũng có thể thực hiện quyền tài phán hình sự đối với tàu nước ngoàitrong vùng nội thủy nếu có yêu cầu của thuyền trưởng, của cơ quan đạidiện ngoại giao hoặc lãnh sự nước mà tàu mang cờ quốc tịch, hoặchành vi vi phạm xâm hại đến lợi ích, trật tự công cộng của quốc giaven biển Nếu hành vi vi phạm thực hiện giữa các thành viên thủy thủđoàn và không ảnh hưởng đến quốc gia ven biển thì quốc gia ven biển
có thể không thực hiện quyền tài phán
Đối với tàu quân sự và tàu thuyền khác của nhà nước dùng cho mụcđích phi thương mại, theo quy định của luật quốc tế, các phương tiệnnày được hưởng quyền miễn trừ tài phán Trường hợp có sự vi phạmtrong vùng nội thủy, quốc gia ven biển có quyền yêu cầu tàu thuyền viphạm lập tức rời khỏi nội thủy, đồng thời yêu cầu quốc gia mà nhữngtàu thuyền gây hại mang quốc tịch trừng trị những thủy thủ phạm pháp,chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất, thiệt hại do hành vi viphạm của tàu thuyền này gây ra
Quyền tài phán dân sự:
Trong phạm vi nội thủy, quốc gia ven biển có quyền tài phán dân sựđối với tàu thương mại nước ngoài Quốc gia ven biển có thể áp dụngcác biện pháp trừng phạt hay biện pháp đảm bảo về mặt dân sự đối vớitàu thuyền nước ngoài nếu chúng vi phạm các trách nhiệm hoặc nghĩa
vụ đã cam kết ở trong nội thủy Đối với các tranh chấp phát sinh giữacác thành viên của thủy thủ đoàn, quyền tài phán thường được thựchiện bởi quốc gia mà tàu mang cờ
Trang 59 Phân tích chế độ pháp lý dành cho tàu thuyền nước ngoài trong nội thủy theo pháp luật VN.
Về nguyên tắc chung, tàu quân sự và tàu nhà nước sử dụng vào mục đích phithương mại muốn vào nội thủy quốc gia ven biển phải xin phép trước, trừ nhữngtrường hợp bất khả kháng như tàu gặp các sự cố nghiêm trọng về kỹ thuật không thểtiếp tục được hành trình hoặc các lý do về thiên tai (động đất, sóng thần, bão, lốc, ),hoặc các lý do nhân đạo (cứu người bệnh nan y, cứu tàu thuyền hoặc thủy đoàn củatàu khác gặp nạn trên biển, ) thì chỉ cần thông báo trước khi vào nội thủy
Theo quy định tại Điều 27 Luật Biển VN 2012, tàu quân sự và tàu thuyền công vụcủa nước ngoài chỉ được đi vào nội thủy, neo đậu tại một công trình càng, bến hay nớitrú đậu trong nội thủy hoặc công trình càn, bến hay nơi trú đậu của VN ở bên ngoàinội thủy VN theo lời mời của Chính phủ VN hoặc theo thỏa thuận giữa các cơ quan
có thẩm quyền của VN với quốc gia mà tàu mang cờ Các loại tàu này khi ở trong nộithủy, cảng, bến hay nơi trú đậu trong nội thuỷ hoặc các công trình cảng, bến hay nơitrú đậu của Việt Nam ở bên ngoài nội thủy Việt Nam phải tuân thủ quy định của Luậtnày và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan, trừ trường hợp điều ướcquốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên có quy định khác và phải hoạtđộng phù hợp với lời mời của Chính phủ Việt Nam hoặc thỏa thuận với cơ quan cóthẩm quyền của Việt Nam
Tàu quân sự của nước ngoài khi hoạt động trong vùng biển VN mà có hành vi viphạm pháp luật VN thì lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển của VN có quyền yêucầu các tàu thuyền đó chấm dứt ngay hành vi vi phạm, rời khỏi lãnh hải VN ngay lậptức nếu đang ở trong lãnh hải VN Tàu thuyền vi phạm phải tuân thủ các yêu cầu,mệnh lệnh của lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển của VN (Điều 28) Trường hợptàu quân sự, tàu thuyền công vụ của nước ngoài hoạt động trong vùng biển VN mà cóhành vi vi phạm pháp luật VN hoặc pháp luật quốc tế có liên quan thì QG mà tàumang cờ phải chịu trách nhiệm về mọi tổn thất hoặc thiệt hại do tàu thuyền đó gây racho VN
Tàu ngầm nước ngoài (bao gồm cả tàu quân sự và dân sự) khi được phép vàovùng tiếp giáp lãnh hải, lãnh hải và nội thủy của VN, và khi đậu trong các cảng của
VN, nhất thiết phải hoạt động ở trạng thái nổi, và phải treo cờ quốc tịch, trừ trườnghợp được phép của Chính phủ Việt Nam hoặc theo thỏa thuận giữa Chính phủ ViệtNam và chính phủ của quốc gia mà tàu thuyền đó mang cờ (Điều 29)
Quyền tài phán hình sự: (Điều 30 Luật Biển VN 2012)
Khi hoạt động ở bất cứ vùng biển nào kể cả các vùng biển thuộc chủ quyền,quyền chủ quyền của quốc gia khác hay vùng biển quốc tế, tàu quân sự nướcngoài sẽ được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối, và bất khả xâm phạm Tuynhiên, chế độ miễn trừ dành cho tàu thuyền quân sự nước ngoài chỉ được cácquốc gia tôn trọng và đảm bảo với điều kiện các tàu này tuân thủ, tôn trọngpháp luật và không có hành vi làm phương hại đến độc lập, chủ quyền và toànvẹn lãnh thổ quốc gia cũng như không có các hành vi xâm phạm đến an ninh,trật tự của quốc gia ven biển Trong trường hợp ngược lại, quốc gia ven biển
có quyền sử dụng tất cả các biện pháp cần thiết để tự bảo vệ trước các hành vixâm phạm của tàu thuyền quân sự nước ngoài, đặc biệt là trong trường hợp tàuthuyền quân sự nước ngoài có các hành vi sử dụng vũ lực, phá hoại an ninh,trật tự quốc gia
Quyền tài phán dân sự:
Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển sẽ được tiến hành các biện pháp bắtgiữ hay xử lý về mặt dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài đang đi trong nộithủy Việt Nam, đồng thời có thể áp dụng các biện pháp bắt giữ hay xử lý tàu
Trang 6thuyền nước ngoài nhằm mục đích thực hiện quyền tài phán dân sự nếu tàuthuyền đó đang đậu trong lãnh hải hoặc đi qua lãnh hải sau khi rời khỏi nộithủy Việt Nam (Điều 31)
10 Phân tích cách thức xác lập vùng nước lãnh hải.
Vùng nước lãnh hải là vùng biển nằm ngoài nội thủy, tiếp liền với nội thủy cóchiều rộng được xác định một bên là đường cơ sở và bên kia là ranh giới phía ngoàicủa lãnh hải
Theo Điều 3 Công ước 1982 quy định: “Mọi quốc gia đều có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình; chiều rộng này không vượt quá 12 hải lý kể từ đường
cơ sở được vạch ra theo đúng Công ước.”
Chiều rộng lãnh hải sẽ được xác định theo phương pháp khác nhau trong 2 trườnghợp khác nhau
TH1: QG không đối diện, không tiếp giáp với các QG khác trê biển, QG sẽcăn cứ vào đặc điểm địa hình của bờ biển và các quy định của Công ước 1982
để xác định đường cơ sở và tuyên bố chiều rộng của lãnh hải (không quá 12hải lý tính từ đường cơ sở) Sau đó QG ven biển công bố theo đúng thủ tục cáchải đồ hay các bản kê các tọa độ địa lý và gửi đến Tổng thư ký LHQ một bản
để lưu chiểu (khoản 2 Điều 16 CƯ 1982) Ranh giới phía ngoài của lãnh hảichính là đường biên giới quốc gia trên biển
TH2: Khi 2 QG có bờ biển liền kề hoặc đối diện nhau, theo quy định tại Điều
15 CƯ 1982 sẽ có 2 phương pháp để phân định lãnh hải đó là phương phápđường trung tuyến hoặc đường cách đều và phương pháp thỏa thuận Trong đóphương pháp thỏa thuận là phương pháp được ưu tiên áp dụng
11 Phân tích nội dung của quyền đi qua không gây hại dành cho tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải.
Quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải là một quytắc tập quán quốc tế đã được thừa nhận từ lâu trong lĩnh vực hàng hải quốc tế và ngày
nay đã trở thành quy tắc điều ước và được quy định tại Điều 17 CƯ 1982: “Với điều kiện phải chấp hành Công ước, tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không
có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải.” Quyền này
được cộng đồng quốc tế thừa nhận vì lợi ích phát triển, hợp tác trên tất cả các lĩnh vựcchính trị, kinh tế, thương mại, hàng hải và an ninh, quốc phòng của các QG trongquan hệ quốc tế từ trước đến nay. Thuật ngữ “đi qua không gây hại” đã được cụ thể
hóa ở Điều 18 và Điều 19 của CƯ 1982
Đi qua không gây hại được hiểu là việc đi qua nhưng không làm phương hại đếnhoà bình, an ninh, trật tự hay lợi ích của quốc gia ven biển Danh sách các hoạt độngkhông liên quan đến việc đi qua mà tàu thuyền nước ngoài khi đi qua lãnh hải khôngđược tiến hành được liệt kê tại Điều 19 của CƯ 1982 Các quốc gia ven biển khôngđược phép đặt điều kiện cho các tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải của mình phảixin phép hoặc thông báo trước Đi qua không gây hại tồn tại đồng thời với chủ quyềnquốc gia trong lãnh hải nhưng không làm mất đi chủ quyền đó
Quốc gia ven biển có quyền ấn định các tuyến đường, quy định việc phân chiacác luồng giao thông dành cho tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải của mình Cáctuyến đường này được định ra phải phù hợp với các quy định của CƯ 1982 và LQT.Trong trường hợp có vi phạm, đe doạ hoà bình an ninh, trật tự của quốc gia venbiển, quốc gia này hoàn toàn có thể sử dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ chủquyền của mình, kể cả biện pháp tạm thời đình chỉ quyền đi qua không gây hại Việctạm thời đình chỉ này chỉ có hiệu lực sau khi đã được công bố theo đúng thủ tục vàtrong thực hiện không có sự phân biệt đối xử gì về mặt pháp lý hay về mặt thực tếgiữa các tàu thuyền nước ngoài
Trang 712 Phân tích chế độ pháp lý dành cho tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải.
Quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải là một quytắc TQQT đã được thừa nhận từ lâu trong lĩnh vực hàng hải quốc tế và ngày nay đã
trở thành quy tắc điều ước và được quy định tại Điều 17 Công ước 1982: “Với điều kiện phải chấp hành Công ước, tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không
có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải.” Quyền này
được cộng đồng quốc tế thừa nhận vì lợi ích phát triển, hợp tác trên tất cả các lĩnh vựcchính trị, kinh tế, thương mại, hàng hải và an ninh, quốc phòng của các quốc gia trongquan hệ quốc tế từ trước đến nay Thuật ngữ “đi qua không gây hại” đã được cụ thểhóa tại Điều 18 và Điều 19 của Công ước 1982
Đối với tàu dân sự:
Quyền tài phán hình sự: về nguyên tắc, QG ven biển không được thựchiện quyền tài phán hình sự của mình ở trên một tàu nước ngoài đi qualãnh hải để tiến hành việc bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm sau một
vụ vi phạm hình sự xảy ra trên con tàu trong khi nó đi qua lãnh hải, trừcác trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 27 Công ước 1982
Tuy nhiên, QG ven biển có quyền áp dụng mọi biện pháp mà luật trongnước mình quy định nhằm tiến hành các việc bắt giữ hay tiến hành việc
dự thẩm ở trên con tàu nước ngoài đi qua lãnh hải, sau khi rời nội thủy(khoản 2 Điều 27)
Khi thực hiện quyền tài phán hình sự của mình theo các quy định tạikhoản 1 và khoản 2 Điều 27 Công ước 1982, nếu thuyền trưởng yêucầu, QG ven biển phải thông báo trước về mọi biện pháp cho một viênchức ngoại giao hay cho một viên chức lãnh sự của QG mà tàu mang
cờ và phải tạo điều kiện dễ dàng cho viên chức ngoại giao hay viênchức lãnh sự đó tiếp xúc với đoàn thủy thủ của con tàu Trong trườnghợp khẩn cấp, việc thông báo này có thể tiến hành trong khi các biệnpháp đang được thi hành (khoản 3) Khi xem xét có nên bắt giữ vàcách thức bắt giữ, cơ quan tiến hành bắt giữ phải chú ý thích đáng đếncác lợi ích về hàng hải (khoản 4)
Ở khoản 5 Điều 27 CƯ 1982, trừ trường hợp áp dụng Phần XII haytrong trường hợp có sự vi phạm các luật và quy định được định ra theođúng Phần V, QG ven biển không được thực hiện một biện pháp nào ởtrên một con tàu nước ngoài khi nó đi qua lãnh hải nhằm tiến hành bắtgiữ hay tiến hành việc dự thẩm sau một vụ vi phạm hình sự xảy ratrước khi con tàu đi vào lãnh hải, nếu như con tàu xuất phát từ mộtcảng nước ngoài, chỉ đi qua lãnh hải mà không đi vào nội thủy
Quyền tài phán dân sự:
QG ven biển có quyền tài phán dân sự đối với tàu thuyền nước ngoàiđang đậu trong lãnh hải hay đang đi qua lãnh hải, sau khi đã rời nộithủy ven biển đối với các nghĩa vụ dân sự của con tàu mà tàu này đãkhông thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo thỏa thuận với cơquan có thẩm quyền của QG ven biển như: từ chối không trả, trả không
đủ tiền thuê hoa tiêu, tàu kéo, tàu đẩy hay tiền mua xăng dầu, vật tư,dịch vụ sửa chữa máy móc, thiết bị trên tàu… theo hợp đồng Ngượclại, QG ven biển không có quyền bắt tàu dừng lại hoặc thay đổi hànhtrình hoặc áp dụng các biện pháp bảo đảm để thực hiện quyền tài phándân sự đối với một người trên tàu đó
QG ven biển không thể áp dụng các biện pháp trừng phạt hay biệnpháp bảo đảm về mặt dân sự đối với con tàu này, nếu không phải vì
Trang 8những nghĩa vụ đã cam kết hay các trách nhiệm mà con tàu phải đảmnhận trong khi đi qua hoặc để được đi qua vùng biển của QG ven biển(khoản 2 Điều 28).
Khoản 2 không đụng chạm đến quyền của quốc gia ven biển áp dụngcác biện pháp trừng phạt hay bảo đảm về mặt dân sự do luật trongnước của quốc gia này quy định đối với tàu thuyền nước ngoài đangđậu trong lãnh hải hay đang đi qua lãnh hải, sau khi đã rời nội thủy
Đối với tàu quân sự
Tàu quân sự và tàu nhà nước phi thương mại được hưởng quyền miễn trừ khiqua lại trong lãnh hải QG ven biển Tuy nhiên, các loại tàu này cũng phải tuânthủ các luật và các quy định của QG ven biển liên quan đến việc qua lại do QGven biển ấn định phù hợp với CƯ 1982 Nếu có vi phạm các luật và các quyđịnh của QG ven biển, QG ven biển có quyền yêu cầu tàu đó rời khỏi lãnh hảingay lập tức và yêu cầu QG mà tàu đó mang quốc tịch phải chịu mọi tráchnhiệm quốc tế đối với mọi tổn thất mà tàu đó đã gây ra cho QG ven biển.Trong trường hợp một tàu quân sự không tôn trọng luật và quy định của QGven biển liên quan đến việc đi qua trong lãnh hải và bất chấp yêu cầu phải tuântheo các luật và quy định đó đã được thông báo cho họ, thì QG ven biển có thểyêu cầu chiếu tàu đó rời khỏi lãnh hải ngay lập tức (Điều 30 CƯ 1982)
Quốc gia mà tàu mang cờ chịu trách nhiệm quốc tế về mọi tổn thất hoặc vềmọi thiệt hại gây ra cho quốc gia ven biển do một tàu chiến hay bất kỳ tàuthuyền nào khác của Nhà nước dùng vào những mục đích không thương mại
vi phạm các luật và quy định của quốc gia ven biển có liên quan đến việc điqua lãnh hải hay vi phạm các quy định của Công ước hoặc các quy tắc kháccủa pháp luật quốc tế (Điều 31 CƯ 1982)
13 Phân tích chế độ pháp lý dành cho tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải theo pháp luật VN.
Điều 11, Chương II, Luật Biển Việt Nam xác định, lãnh hải của nước ta là vùng
biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển
Về chế độ pháp lý của lãnh hải Việt Nam, Luật Biển quy định (Điều 12):
- Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời,đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của Liên hợpquốc về Luật Biển năm 1982
- Tàu thuyền của tất cả các quốc gia được hưởng quyền đi qua không gây hạitrong lãnh hải Việt Nam Đối với tàu quân sự nước ngoài khi thực hiện quyền đi quakhông gây hại trong lãnh hải Việt Nam, thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyềncủa Việt Nam
- Việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài phải được thực hiện trên
cơ sở tôn trọng hòa bình, độc lập, chủ quyền, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế
mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên
- Các phương tiện bay nước ngoài không được vào vùng trời ở trên lãnh hải ViệtNam, trừ trường hợp được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam hoặc thực hiện theođiều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên
- Nhà nước có chủ quyền đối với mọi loại hiện vật khảo cổ, lịch sử trong lãnh hảiViệt Nam
Điều 2 Công ước 1982 quy định: “chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thủy của mình và trong trường hợp một quốc gia quần đảo, ra ngoài vùng nước quần đảo, đến một vùng biển tiếp liền, gọi là lãnh hải Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời trên lãnh hải, cũng như đến đáy và lòng đất dưới đáy của vùng biển này Chủ quyền ở lãnh hải được thực hiện trong những điều
Trang 9kiện do các quy định của Công ước và các quy tắc khác của luật pháp quốc tế trù định” Về chiều rộng của lãnh hải, Công ước quy định (Điều 3):
Như vậy có thể thấy, Luật Biển Việt Nam quy định lãnh hải và chế độ pháp lýcủa lãnh hải Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về LuậtBiển năm 1982
14 Phân tích tính chất pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải và liên hệ với quy định của pháp luật VN.
Vùng tiếp giáp lãnh hải không phải là lãnh thổ của quốc gia ven biển cũng khôngphải là một bộ phận của biển quốc tế Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển thuộcquyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển
Theo khoản 1 Điều 33 CƯ 1982, quốc gia ven biển được thực hiện quyền tài phántrong một số lĩnh vực nhất định được pháp luật quốc tế thừa nhận nhằm ngăn ngừanhững vi phạm đối với các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cưtrên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình, trừng trị những vi phạm đối với các luật vàquy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình
Để thực hiện những quyền được quy định tại Điều 33 UNCLOS 1982, trước hết,quốc gia ven biển có toàn quyền xây dựng và ban hành những luật, quy định điềuchỉnh về hải quan, thuế khóa, y tế hoặc nhập cư, đồng thời có quyền áp dụng đầy đủnhững quy định này khi tiến hành những hoạt động thuộc thẩm quyền trên vùng tiếpgiáp cũng như áp dụng những quy định pháp luật khác có liên quan của quốc gia venbiển khi được dẫn chiếu tới (Chẳng hạn hành vi vi phạm một trong bốn lĩnh vực nàynhưng đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì quốc gia ven biển sẽ áp dụng các quy định củaluật hình sự để xử lý đối với tàu thuyền nước ngoài) Nhằm ngăn ngừa những vi phạmtrong bốn lĩnh vực này, quốc gia ven biển có quyền kiểm tra, kiểm soát đối với tàuthuyền nước ngoài trước khi con tàu đi vào lãnh hải và trước khi tàu rời khỏi lãnh hảicủa quốc gia Tàu thuyền nước ngoài sẽ phải dừng lại tại một điểm trên vùng tiếp giáp
do quốc gia ven biển quy định trước đó hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền
để quốc gia ven biển thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát đối với các lĩnh vực trên.Trong trường hợp có hành vi vi phạm, quốc gia ven biển có quyền áp dụng đầy đủ cácquy định của pháp luật nước mình để xử lý đối với con tàu và thành viên trên tàu Tuynhiên, như đã nói ở trên, quốc gia ven biển sẽ chỉ có quyền trừng trị đối với những viphạm xảy ra trong lãnh thổ hay lãnh hải của mình chứ không phải đối với những viphạm xảy ra ngay tại vùng tiếp giáp Điều này có nghĩa là khi một tàu thuyền nướcngoài vi phạm các quy định thuộc bốn lĩnh vực trên thì dù hành vi đó diễn ra trên nộithủy, lãnh hải hay bất kì bộ phận nào trên lãnh thổ quốc gia thì quốc gia ven biển vẫn
có đầy đủ thẩm quyền tài phán đối với con tàu dù nó đã ra đến vùng tiếp giáp Nhưngnếu tàu thuyền nước ngoài chỉ hoạt động hoàn toàn bên ngoài lãnh thổ quốc gia thì sẽkhông thuộc quyền tài phán của quốc gia ven biển trong bốn lĩnh vực này Mặt khác,theo quy định tại Điều 303 CƯ 1982, quốc gia ven biển có quyền đối với các hiện vậtkhảo cổ và lịch sử được phát hiện ở vùng tiếp giáp lãnh hải
Theo Luật Biển VN 2012, Nhà nước VN được thực hiện chủ quyền, quyền tàiphán QG và các quyền khác quy định tại Điều 16 về chế độ pháp lý của vùng đặcquyền kinh tế đối với vùng tiếp giáp lãnh hải Đồng thời, thực hiện kiểm soát trongvùng tiếp giáp lãnh hải nhằm ngăn ngừa và trừng trị hành vi vi phạm pháp luật về hảiquan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải VN (Điều14) Các quy định này hoàn toàn phù hợp với CƯ 1982
Về chủ quyền kinh tế, xuất phát từ vị trí của vùng tiếp giáp lãnh hải và chế độpháp lý mà CƯ 1982 đã quy định tại Điều 33, toàn bộ chế độ pháp lý của vùng đặc
Trang 10quyền kinh tế, đặc biệt là quyền chủ quyền về kinh tế của quốc gia ven biển cũngđược áp dụng cho vùng tiếp giáp lãnh hải mà không có bất kỳ ngoại lệ nào.
15 Phân tích tính chất pháp lý của đặc quyền kinh tế và liên hệ với quy định của PLVN.
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền vớilãnh hải, có chiều rộng không vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tínhchiều rộng lãnh hải (Điều 55 và 57 UNCLOS 1982) Quốc gia tự tuyên bố chiều rộngvùng đặc quyền kinh tế phù hợp với Điều 55 UNCLOS 1982
Vùng đặc quyền kinh tế có chế độ pháp lý riêng biệt Đây không phải là lãnh thổquốc gia cũng không phải là một bộ phận của biển quốc tế Ở đây, quốc gia ven biển
có quyền chủ quyền và quyền tài phán, đặc biệt là các “đặc quyền” về kinh tế Theo
đó, chỉ có quốc gia ven biển, cụ thể là các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh doanhkinh tế, công dân họ mới được hưởng những quyền kinh tế đó Các nước ngoài khôngthể có những quyền đó, trừ khi có sự cho phép của quốc gia ven biển
Theo UNCLOS 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế tồn tại 02 nhóm quyền của 02nhóm quốc gia khác nhau đó là quốc gia ven biển và các quốc gia khác, kể cả quốcgia không có biển và quốc gia bất lợi về địa lý Đặc điểm này được quy định cụ thể tạiĐiều 55 UNCLOS 1982
Quyền của quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế:
Quyền chủ quyền: Theo Điều 56 UNCLOS 1982, quốc gia ven biển có các quyềnthuộc chủ quyền về việc thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiênnhiên, sinh vật hay không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển vàlòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khaithác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu vàgió
Quyền tài phán: Theo quy định của UNCLOS 1982, trong vùng đặc quyền kinh
tế, quốc gia ven biển có quyền tài phán về lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, cácthiết bị công trình; nghiên cứu khoa học về biển; bảo vệ và giữ gìn môi trường biển;các quyền và các nghĩa vụ khác do Công ước quy định (điểm b, c Khoản 1 Điều 56);khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, quốc gia phải tính đến các quyền và nghĩa
vụ các quốc gia khác và hành động phù hợp với Công ước (Khoản 2 Điều 56)
Điều 16 LBVN 2012 đã quy định cụ thể về chế độ pháp lý của vùng đặc quyềnkinh tế của VN, trong đó nhấn mạnh, trong vùng đặc quyền kinh tế, Nhà nước thựchiện quyền chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thuộcvùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; về các hoạt độngkhác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế; quyền tài phán của quốcgia về lắp đặt và sử dụng đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển; Tổ chức, cánhân nước ngoài được tham gia thăm dò sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứukhoa học, lắp đặt các thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế của VN trên
cơ sở các ĐƯQT mà nước CHXHCNVN là thành viên, hợp đồng được ký kết theoquy định của PLVN hoặc được phép của Chính phủ VN, phù hợp với PLQT có liênquan
16 Phân tích cách thức xác lập vùng thềm lục địa và liên hệ với quy định của PLVN
Theo Điều 76 UNCLOS 1982, nếu thềm lục địa không rộng (nhỏ hơn hoặc bằng
200 hải lý) thì các quốc gia có quyền tuyên bố chiều rộng tối đa của thềm lục địa quốcgia mình là 200 hải lý (trong trường hợp này chiều rộng của thềm lục địa sẽ bằngchiều rộng của vùng đặc quyền kinh tế); nếu thềm lục địa của quốc gia ven biển rộnghơn 200 hải lý thì có thể xác định ranh giới phía ngoài của thềm lục địa bằng 02 cách:
Trang 11 Chiều rộng tối đa của thềm lục địa là 350 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để đo chiềurộng của lãnh hải hoặc;
Kéo dài thềm 100 hải lý tính từ đường nối những điểm ở độ sâu 2500 m (đường đẳngsâu)
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, với giải pháp công bằng, UNCLOS 1982 đã ưu tiêncho những quốc gia có thềm lục địa hẹp (nhỏ hơn 200 hải lý) sẽ được kéo dài thềmlục địa của mình bằng 200 hải lý Đối với những quốc gia có thềm lục địa rộng (lớnhơn 200 hải lý) thì thềm lục địa của quốc gia đó rộng bao nhiêu sẽ được tuyên bố bấynhiêu nhưng tối đa không được vượt quá 350 hải lý hoặc không được vượt quá 100hải lý kể từ đường đẳng sâu 2500m
VN là một quốc gia có bờ biển dài hơn 3200 km, chính vì vậy chúng ta cũng cómột thềm lục địa tương ứng với địa hình của bờ biển Tuyên bố của Chính phủ nướcCHXHCNVN ngày 12/5/1977 về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế vàthềm lục địa VN: “Thềm lục địa của nước CHXHCNVN bao gồm đáy biển và lòngđất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa VN mở rộng ra ngoài lãnhhải VN cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường
cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải VN không đến 200 hải lý thì thềm lục địanơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó” (đoạn 1, điểm 4) Đối với các đảo
và quần đảo thuộc lãnh thổ VN ở ngoài vùng lãnh hải đều có lãnh hải, vùng tiếp giáp,vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng như đã quy định trong Tuyên bố này(điểm 5) Tinh thần nội dung của Tuyên bố này tiếp tục được luật hóa tại Điều 17LBVN 2012 với nội dung tương tự
17 Phân tích tính chất pháp lý của vùng thềm lục địa và liên hệ với quy định của PLVN.
Đối với quốc gia ven biển: quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyềnđối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình
Đây là những đặc quyền, nghĩa là nếu quốc gia ven biển này không thăm dòthềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa (baogồm các tài nguyên phi sinh vật và các tài nguyên sinh vật thuộc loài định cư),thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thỏathuận rõ ràng của các quốc gia ven biển
Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa tồn tại một cách
“nghiễm nhiên”, không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thật sự hay tượng trưng,cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào
Quốc gia ven biển có quyền tài phán trong các trường hợp quy định tại cácĐiều 80, 81, 85, 214, 246 UNCLOS 1982
Đến hết ngày 13/5/2009, quốc gia nào không đăng ký thềm lục địa mở rộngngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì không có quyền khai thác thềm lục địa
mở rộng của mình VN đã chính thức đăng ký thềm lục địa mở rộng ngoàiphạm vi 200 hải lý tính từ đường cơ sở của mình cho Ủy ban ranh giới thềmlục địa ngày 7/5/2009 với hồ sơ thềm lục địa riêng của VN khu vực Bắc Bộ(VNM-N) Theo bản đăng ký của VN, đây chỉ là bản đăng ký một phần, phầnTrung Bộ (VNM-C) sẽ được xác định sau Đây là một hành động pháp lý quantrọng của nhà nước VN nhằm bảo vệ quyền chủ quyền của VN đối với thềmlục địa của mình, dựa trên những cơ sở khoa học cũng như lịch sử và bằngchứng pháp lý lâu đời của nước ta
Các quốc gia khác: Việc quốc gia ven biển thực hiện các quyền của mình đối vớithềm lục địa không được gây thiệt hại đến hàng hải, hàng không hay các quyền tự docủa các quốc gia khác đã được Công ước thừa nhận Tất cả các quốc gia đều có quyềnlắp đặt cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa Quốc gia đặt cáp hoặc ống dẫn ngầm
Trang 12phải thỏa thuận với quốc gia ven biển về tuyến đường đi của cáp hoặc ống dẫn ngầm,không làm phương hại đến các dây cáp, ống dẫn ngầm trước đó.
Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ nước CHXHCNVN thì: “Nước CHXHCNVN có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa VN bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loài định cư ở thềm lục địa VN” (đoạn 2, điểm 4) LBVN 2012 tiếp tục khẳng định, Nhà nước thực hiện quyền
chủ quyền đối với thềm lục địa về thăm dò, khai thác tài nguyên (Khoản 1 Điều 18).Quyền chủ quyền quy định tại Khoản 1 Điều này có tính chất đặc quyền, không ai cóquyền tiến hành hoạt động thăm dò thềm lục địa hoặc khai thác tài nguyên của thềmlục địa nếu không có sự đồng ý của Chính phủ VN (Khoản 2 Điều 18),
18 Phân tích tính chất pháp lý của vùng biển quốc tế và đáy đại dương
Biển quốc tế là di sản chung của nhân loại, tất cả
các quốc gia có biển hay không có biển đều được
sử dụng biển quốc tế vì mục đích hòa bình, bình
đẳng và tự do;
Tự do hàng hải
Tự do hàng không
Tự do đặt các dây cáp hoặc ống dẫn ngầm
với điều kiện tuân thủ phần VI UNCLOS 1982
Tự do xây dựng các đảo nhân tạo hoặc các
thiết bị khác được pháp luật quốc tế cho phép
với điều kiện tuân thủ phần VI UNCLOS 1982
Tự do đánh bắt hải sản trong các điều đã
được nêu ở mục 2 UNCLOS 1982
Tự do nghiên cứu khoa học với các điều
kiện tuân thủ các phần VI và VIII UNCLOS
1982
Vùng là di sản chung của loài ngườikhông thuộc quyền sở hữu của riêngbất kỳ chủ thể nào
Vùng chỉ được sử dụng vào mụcđích Hòa Bình do cơ quan quyền lựcquốc tế đại diện tổ chức khai thác,quản lý và kiểm soát
19 Phân tích nội dung chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ.
Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ là biểu hiện chủ quyền thiêng liêng và bấtkhả xâm phạm của quốc gia trên hai phương diện có quan hệ biện chứng, đó làphương tiện vật chất và phương tiện quyền lực
Về phương diện vật chất, lãnh thổ quốc gia là cơ sở, nền tảng vật chất không thể
thiếu để một quốc gia hình thành, tồn tại và phát triển Lãnh thổ quốc gia thuộcchủ quyền sở hữu của quốc gia chủ nhà và chỉ có quốc gia chủ nhà là chủ thể duynhất có toàn quyền chiếm hữu sử dụng và định đoạt giải quyết các vấn đề pháp lýđối với lãnh thổ quốc gia trên cơ sở tôn trọng lợi ích và sự lựa chọn của cộng đồngdân cư sống trên lãnh thổ Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ xét vềphương diện vật chất có thể được coi như quyền sở hữu của quốc gia đối với tàisản là lãnh thổ của quốc gia
Về phương diện quyền lực, quyền lực của quốc gia được thực hiện trong phạm vi
lãnh thổ quốc gia Đây là quyền tối cao của quốc gia đối với mỗi cá nhân, tổ chức,
kể cả cá nhân, tổ chức, pháp nhân nước ngoài và các tổ chức quốc tế Quyền lựcnày được thực hiện thông qua hoạt động của hệ thống các cơ quan lập pháp, hànhpháp và tư pháp của nhà nước Hoạt động của các cơ quan này bao trùm trên tất cả
Trang 13các lĩnh vực của đời sống, xã hội của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ cũng nhưquan hệ quốc tế.
Theo đó trong phạm vi lãnh thổ của mình Quốc gia chủ nhà có quyền thực hiện mọihoạt động không bị pháp luật quốc tế cấm
20 Phân tích nguyên tắc chiếm hữu lãnh thổ trong luật quốc tế.
Có hai hình thức chiếm hữu:
Chiếm hữu thật sự và chiếm hữu tượng trưng
21 Bằng những kiến thức về nguyên tắc chiếm hữu lãnh thổ theo luật quốc tế, hãy chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa
Việt Nam xác lập chủ quyền của mình trên 2 quần đảo HS và TS theo nguyêntắc chiếm hữu thật sự:
Thứ nhất, đây là vùng lãnh thổ vô chủ: quần đảo HS và TS bao gồmnhững hòn đảo vô chủ cho đến thứ kỷ 17
Thứ hai là hành động nhân danh NN: bắt đầu từ thời chúa Nguyễn
Thứ ba: việc chiếm hữu phải thực sự: Vào thế kỷ 17, chúa Nguyễn tổchức “đội HS” lấy người từ Quảng Ngãi ra hòn đảo HS thâu lượm hànghóa, khí cụ trên các tàu mắc cạn và đánh bắt hải sản quý hiếm mang vềdâng lên, Chúa Nguyễn lại tổ chức thêm “đội Bắc hải” lấy người ởphủ Bình Thuận cấp giấy phép ra quần đảo TS cũng với nhiệm vụ nhưtrên Các hoạt động này được ghi nhận trong các tài liệu lịch sử như:Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư, Lịch triều Hiến chương loạichí,
Trang 14Ngoài ra nhà Nguyễn cũng tổ chức đo đạc, khảo sát, dựng bia, cắmmốc, trồng cây trên quần đảo liên tục từ 1834 - 1836.
Thứ 4, chiếm hữu phải hòa bình và được dư luận đương thời và cácquốc gia liên quan không có tranh chấp hoặc không phản đối: thôngqua việc khai thác tài nguyên trên 2 quần đảo HS TS liên tục hàng thế
kỷ, trên thực tế cũng như pháp lý, nước ta đã làm chủ 2 quần đảo từkhi 2 quần đảo này chưa thuộc về lãnh thổ của 1 quốc gia nào và biến
nó thành 2 bộ phận không thể tách rời khỏi lãnh thổ VN
22 Phân tích những điều kiện xác lập chủ quyền lãnh thổ theo nguyên tắc chiếm hữu thật sự và liên hệ với thực tiễn xác lập chủ quyền.
Để xác lập chủ quyền lãnh thổ theo nguyên tắc chiếm hữu thật sự thì phải đảm bảocác điều kiện:
Những vùng đất, đảo được quốc gia chiếm hữu phải là lãnh thổ vô chủ, khôngnằm hoặc không còn nằm trong hệ thống địa lý hành chính của một quốc gianào
Việc chiếm hữu đó phải là hành động của nhà nước
Việc chiếm hữu phải thực sự
Việc chiếm hữu phải hòa bình và được dư luận đương thời chấp nhận
23 Chứng minh Việt Nam đã xác lập chủ quyền lãnh thổ hợp pháp theo luật quốc
tế tại Nam Bộ.
Việt Nam đã xác lập chủ quyền lãnh thổ hợp pháp tại Nam Bộ theo nguyên tắc chiếmhữu thực sự
Vùng đất Nam Bộ lúc bấy giờ là lãnh thổ bị bỏ rơi: Trước đây, vùng đất Nam
Bộ là lãnh thổ của Chân Lạp, từ thế kỷ 16 do sự xâm lược của Xiêm, triềuđình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc và dần bước vào thời kỳ suy vọng, không còn
đủ sức để quan tâm, quản lý vùng đất ngập nước phía đông này
Việc chiếm hữu đó là hành động của nhà nước: Năm 1623 chúa Nguyễn chínhthức yêu cầu triều đình Chân Lạp để cho dân Việt mở rộng địa bàn khai phátrên những vùng đất thưa dân, vua Chân Lạp đã chấp thuận đề nghị này, năm
1628 vua Chey Chetta II chết khiến nội bộ Chân Lạp chia rẽ sâu sắc tạo điềukiện cho chúa Nguyễn tiếp tục mở rộng lãnh thổ ở Nam Bộ
Việc chiếm hữu phải thực sự: Năm 1689, chúa Nguyễn đã cử thống suấtNguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý vùng đất này và cho lập ra ở đây một đơn vịhành chính lớn là phủ Gia Định Năm 1708 Mạc Cửu ở Hà Tiên đã tìm đếnchúa Nguyễn xin nội thuộc vào lãnh thổ của An Nam Năm 1757, vùng tứ giácLong Xuyên được vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng cho vua Nguyễn để đền ơncứu giúp, lúc này quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam ta trên đất Nam
Bộ cơ bản đã hoàn thành Từ thế kỷ 17 để thực thi chủ quyền, các chúaNguyễn đã tổ chức các đơn vị hành chính, sắp đặt quan cai trị, lập sổ sáchquản lý dân đinh, ruộng đất và đặt ra các loại thuế
Việc chiếm hữu là hòa bình và được dư luận đương thời chấp nhận: Tháng 12năm 1845 ba nước An Nam (Việt Nam), Xiêm (Thái Lan) và Miên(Campuchia) đã ký một Hiệp ước, trong đó thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộcViệt Nam Năm sau, triều Nguyễn và Xiêm lại ký một Hiệp ước có nhắc lạiđiều đó Đây là Hiệp ước mà sau này Cao Miên cũng tham gia Như vậy muộnnhất là đến năm 1845 các nước láng giềng với Việt Nam, trong đó có cảCampuchia đã ký các văn bản pháp lý chính thức công nhận vùng đất Nam Bộ
là của Việt Nam Bên cạnh đó, chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ
Trang 15còn được khẳng định trong các Hiệp định có giá trị pháp lý quốc tế như Hiệpđịnh Geneve 1954, Hiệp định Paris 1973.
24 Phân tích khái niệm, chức năng và các bộ phận cấu thành biên giới quốc gia.
Khái niệm: BGQG là ranh giới phân định lãnh thổ quốc gia này với lãnh thổquốc gia khác hoặc với các vùng quốc gia có quyền chủ quyền trên biển hoặclãnh thổ quốc gia với lãnh thổ quốc tế
Chức năng cơ bản là đường giới hạn để phân định lãnh thổ quốc gia này vớilãnh thổ quốc gia khác, “ranh giới” để giới hạn chủ quyền quốc gia trong mộtphạm vi lãnh thổ xác định, “ranh giới” tạo nên sự khác biệt về ngôn ngữ,truyền thống, văn hóa của các cộng đồng dân cư của các quốc gia
25 Phân tích nguyên tắc phân định biên giới quốc gia.
NT thỏa thuận NT Uti Possidetis NT phân định thông qua tài phán
+ Uti possidetis de juris: vì bạn sở hữu chúng nên bạn sẽ
sở hữu chúng
+ Uti possidetis de facto: từ trước đến thời điểm hoạch định biên giới, giữa các quốc gia đã tồn tại một đường biên giới thực tế
Khi các quốc gia không thể tìm ra giải pháp để hoạch định biên giới bằng con đường đàm phán, thương lượng Hoạch định biên giới quốc gia dựa vào kết quả của quá trình giải quyết tranh chấp trước ICJ có thể áp dụng với các quốc gia trên đất liền, trên biển, và phân định các vùng quốc gia có quyền chủ quyền trên biển
26 So sánh quy trình hoạch định biên giới quốc gia trên bộ và trên biển.
địa - thành lập ủy ban
liên hiệp thực địa
Ranh giới phân định
Quốc gia ven biển đơn phương hoạch định (không vi phạm các nguyên tắc chung của luật biển quốc tế) và công
bố công khai trên hải đồ
Đường biên giới quốc gia trên biển là
Trang 16vùng nội thủy và lãnh hải giữa hai quốc gia.
ranh giới phía ngoài của lãnh hải
27.
27
27 Trình bày quy chế pháp lý của biên giới trên bộ và triển biển của Việt Nam và Cambodia
Quy chế pháp lý của biên giới trên bộ
Việt Nam và Cambodia có đường biên giới trên bộ dài khoảng 1.137km, đi qua 10tỉnh biên giới của Việt Nam (từ Kontum đến Kiên Giang) và 10 tỉnh biên giới củaCambodia
Quy chế pháp lý của biên giới trên biển
Vùng nước nằm giữa bờ biển tỉnh Kiên Giang, đảo Phú Quốc đến quần đảo Thổ Chucủa CHXHCN Việt Nam và bờ biển tỉnh Kampot đến nhóm đảo Poulo Wai của Cộnghòa nhân dân Cambodia và vùng nước lịch sử của hai nước theo chế độ nội thủy
30 Trước thực trạng các quốc gia lưu vực sông Mê Kông thực hiện những công trình thủy lợi, thủy điện hoặc các dự án khác làm ảnh hưởng đến nguồn nước tại ĐBSCL, Việt Nam có thể sử dụng các biện pháp gì để bảo vệ quyền lợi hợp pháp
và chính đáng của mình.
Trên cơ sở nhận định tình hình khu vực và bối cảnh hiện tạo, các giải pháp ứng phócủa Việt Nam có thể thực hiện bao gồm:
Một là, duy trì và tăng cường hợp tác Mê Kông thông qua Ủy hội sông Mê Kông quốc
tế Cho đến hiện tại, khuôn khổ hợp tác quốc tế tốt nhất để trao đổi, đàm phán và tìmkiếm sự đồng thuận trong vấn đề phát triển lưu vực là thông qua Hiệp định về hợp tácphát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông (Hiệp định 1995) Việt Nam cần tích cựcthúc đẩy tăng cường sức mạnh của Ủy hội và các cơ chế của Ủy hội trên cơ sở hợp tácvới các quốc gia thành viên, các đối tác phát triển và các nhà tài trợ
Hai là, đầu tư nâng cao năng lực tổ chức cho Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam vớiđầy đủ nguồn lực để thực hiện các chương trình, dự án nghiên cứu, giám sát tác động,tìm kiếm giải pháp nhằm tham vấn kịp thời cho Chính phủ trong hoạch định chínhsách và hợp tác với các quốc gia trong lưu vực
Ba là, tích cực tạo sự đồng thuận trong việc định hướng mô hình phát triển của lưuvực Mê Kông và trong cộng đồng ASEAN Theo đó, cần hướng đến mô hình pháttriển giảm thiểu phát thải, giảm thiểu tiêu thụ năng lượng, sử dụng khôn khéo tàinguyên thiên nhiên Trong định hướng xây dựng cộng đồng chung ASEAN, Việt Namnên ủng hộ quan điểm bổ sung trụ cột môi trường bên cạnh ba trụ cột hiện tại là kinh
tế, an ninh và văn hóa – xã hội
Bốn là, khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủtrong nghiên cứu, phổ biến thông tin, thúc đẩy hợp tác, đối thoại ở cấp quốc gia vàkhu vực nhằm tạo sự ủng hộ, đồng thuận của xã hội trong bảo vệ lợi ích chung củangười dân trong lưu vực nói chung và Việt Nam nói riêng