1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ôn tập CPQT chương 2

30 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 60,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Câu hỏi lý thuyết.

    • 1. Trình bày các giai đoạn của quá trình ký kết ĐƯQT.

    • 2. Trình bày mối quan hệ giữa ĐƯQT và quốc gia thứ 3.

    • 3. Phân tích các phương thức làm phát sinh hiệu lực của ĐƯQT.

    • 4. Trình bày vấn đề hiệu lực theo không gian và hiệu lực theo thời gian.

    • 5. Phân tích các trường hợp ĐƯQT hết hiệu lực.

    • 6. Trình bày các vấn đề thực hiện ĐƯQT.

    • 7. Phân tích các đặc điểm của ĐƯQT và so sánh với thỏa thuận QT.

    • 8. Phân biệt các hình thức ký tắt, ký ad referendum và ký đầy đủ.

    • 9. So sánh phê chuẩn và phê duyệt trong quá trình ký kết điều ước quốc tế.

    • 10. So sánh phê chuẩn và phê duyệt theo pháp luật Việt Nam.

    • 11. Trình bày vấn đề bảo lưu đối với điều ước quốc tế.

    • 13. Phân tích các trường hợp không được bảo lưu điều ước quốc tế.

    • 14. Phân tích quy trình, thủ tục và hậu quả pháp lý của việc bảo lưu điều ước quốc tế.

    • 15. Phân tích điều kiện trở thành nguồn luật quốc tế của điều ước quốc tế.

    • 16. Phân tích về các hình thức áp dụng điều ước quốc tế và liên hệ với VN.

    • 17. Phân biệt ĐƯQT nhân danh nhà nước và ĐƯQT nhân danh chính phủ.

    • 18. So sánh ĐƯQT và TQQT.

    • 19. Trong cùng một vấn đề, nếu tồn tại cả ĐƯQT và TQQT điều chỉnh thì áp dụng nguồn nào ? Tại sao? 

    • 20. Khi một tập quán được pháp điển hóa vào một điều ước thì tập quán đó có còn tồn tại với tư cách tập quán hay không?

    • 21. Phân tích các yếu tố cấu thành TQQT.

    • 22. Phân tích các điều kiện trở thành nguồn của LQT của TQQT.

    • 23. Phân tích con đường hình thành nên TQQT.

  • II. Nhận định.

    • 1. Nguồn của LQT là sự thể hiện bằng văn bản những thỏa thuận giữa các chủ thể của LQT.

    • 2. Các loại nguồn của LQT có giá trị bắt buộc đối với mọi quốc gia và chủ thể khác của LQT.

    • 3. Quốc gia tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật quốc tế bằng cách ký kết các ĐƯQT.

    • 4. Tất cả các ĐƯQT đều phải trải qua các giai đoạn ký kết giống nhau.

    • 5. ĐƯQT mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có giá trị pháp lý sau Hiến pháp Việt Nam.

    • 6. ĐƯQT là thỏa thuận bằng văn bản trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện giữa các quốc gia nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế.

    • 7. Quốc gia được viện dẫn PL quốc gia để không áp dụng ĐƯQT mà quốc gia đó là thành viên.

    • 8. Quốc gia thành viên phải áp dụng ĐƯQT mà mình đã phê chuẩn hoặc phê duyệt.

    • 9. Ký ĐƯQT không làm phát sinh sự ràng buộc giữa quốc gia và điều ước đó.

    • 10. Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc là ĐƯQT.

    • 11. Mọi ĐƯQT đều phải được nội luật hóa trước khi áp dụng tại Việt Nam.

    • 12. Mọi thỏa thuận giữa các chủ thể của LQT đều là ĐƯQT.

    • 13. Bảo lưu ĐƯQT là một giai đoạn của quá trình ký kết ĐƯQT

    • 14. Tuyên bố đơn phương chấm dứt hiệu lực của ĐƯQT thì không phải là một tuyên bố bảo lưu.

    • 15. Các quốc gia có thể đưa ra tuyên bố bảo lưu vào bất kỳ giai đoạn nào của quá trình ký kết.

    • 16. Mọi sự đồng ý với bảo lưu phải được thể hiện dưới hình thức văn bản

    • 17. Bảo lưu không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của điều ước quốc tế

    • 18. Việc bảo lưu của một quốc gia không làm ảnh hưởng đến quan hệ giữa những quốc gia thành viên của điều ước mà không liên quan đến bảo lưu đó.

    • 19.  Việc bảo lưu không làm chấm dứt hiệu lực của ĐƯQT đó.

    • 20.  ĐƯQT có quy định vấn đề phê chuẩn chỉ phát sinh hiệu lực nếu như tất cả các quốc gia đã ký kết phê chuẩn điều ước.

    • 21.  Quy phạm được chủ thể của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên và tự nguyện thực hiện thì được xem là nguồn của luật quốc tế.

    • 22.  Khi ký kết ĐƯQT các chủ thể phải được đăng ký cho Ban Thư ký LHQ.

    • 23. Người đại diện của quốc gia ký kết ĐƯQT không đúng thẩm quyền thì ĐƯQT không phát sinh ràng buộc pháp lý với quốc gia đó.

    • 24. Việc thông qua dự thảo ĐƯ phải được sự đồng ý của tất cả các thành viên tham gia soạn thảo điều ước đó.

    • 25. Việc ký ad Referendum không làm phát sinh hiệu lực của điều ước.

    • 26. Quốc gia đã ký ĐƯQT có nghĩa vụ phải phê chuẩn điều ước đó. 

    • 27. Quốc gia đã ký kết điều ước quốc tế có nghĩa vụ phải phê chuẩn điều ước đó

    • 28. Một quốc gia đã ký kết điều ước quốc tế có quyền không phê chuẩn điều ước đó

    • 29. Nếu điều ước quốc tế đòi hỏi sự phê chuẩn thì nó không ràng buộc hiệu lực đối với quốc gia chưa phê chuẩn điều ước đó

    • 30. Phê chuẩn và phê duyệt là các giai đoạn của quá trình ký kết điều ước quốc tế

    • 31. Chỉ khi đã được phê chuẩn, phê duyệt thì Điều ước quốc tế mới phát sinh hiệu lực. 

    • 32.  Khi phê chuẩn là bắt buộc, nhưng cơ quan có thẩm quyền trong nước không phê chuẩn sau khi ký kết thì ĐƯQT không phát sinh ràng buộc với quốc gia đó.

    • 33.  Phê chuẩn và gia nhập điều là sự xác nhận đồng ý ràng buộc của quốc gia đối với một điều ước quốc tế.

    • 34.  Điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp bắt buộc phải được phê chuẩn theo pháp luật Việt Nam.

    • 35. Theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế về việc tham gia tổ chức quốc tế phải được Quốc hội phê chuẩn.

    • 36. Gia nhập ĐƯQT là hành vi đơn phương của quốc gia chấp nhận sự ràng buộc đối với ĐƯQT đã phát sinh hiệu lực

    • 37.  Quốc gia có nghĩa vụ phải chuyển hóa vào luật trong nước những ĐƯQT không trái với pháp luật quốc gia mình

    • 38.  Mọi TQQT đều là nguồn của luật quốc tế hiện đại

    • 39. Trong mối quan hệ giữa 2 ĐƯQT va TQQT thì cả 2 có giá trị pháp lý như nhau.

    • 40. TQQT cũng chính là kết quả của sự thỏa thuận giữa các quốc gia và chủ thể khác của LQT 

    • 41.  Tất cả các ĐƯQT đều được xây dựng trên cơ sở các TQQT

    • 42.  Phương tiện bổ trợ nguồn của LQT không chứa đựng các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế.

    • 43.  Các phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế có giá trị bắt buộc đối với mọi quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế.

    • 44.  Chứng minh rằng các phương tiện bổ trợ nguồn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng pháp luật quốc tế.

  • III. Bài tập.

Nội dung

Tiếp tục chuỗi tài liệu ôn tập CPQT, Nay chúng tôi xin gửi đến bạn đọc tài liệu tổng hợp lý thuyết, bài tập CPQT có giải đáp. Hy vọng sẽ là nguồn bổ sung kiến thức hữu ích cho các bạn sinh viên nói chung và các bạn đang theo học ngành luật nói riêng.

Câu hỏi lý thuyết

Trình bày các giai đoạn của quá trình ký kết ĐƯQT

Đàm phán: là sự thương lượng, đấu tranh về lợi ích của các chủ thể tham gia ký kết ĐƯQT nhằm đi đến một thỏa thuận chung nhất.

Soạn thảo văn bản điều ước là quá trình chuyển tải nội dung đã được đàm phán thành một tài liệu chính thức Qua đó, các bên liên quan sẽ thống nhất nội dung cuối cùng của văn bản, và từ thời điểm này, không bên nào có quyền đơn phương thay đổi nội dung của điều ước nếu không có sự cho phép.

Ký: ký tắt, ký ad referendum, ký đầy đủ.

Trình bày mối quan hệ giữa ĐƯQT và quốc gia thứ 3

Có những điều ước quốc tế mà các quốc gia ký kết có hiệu lực không chỉ trong lãnh thổ của các thành viên, mà còn trên các vùng lãnh thổ thuộc quyền chủ quyền của họ và cả các vùng lãnh thổ quốc tế.

Theo Điều 34 của Công ước Vienna 1969, các quốc gia thứ ba có quyền chấp thuận hoặc không chấp thuận bằng văn bản Tuy nhiên, trong một số trường hợp, quốc gia thứ ba có nghĩa vụ phải chấp nhận theo các nguyên tắc cơ bản tại Điều 2 của Hệ thống Công ước Liên hợp quốc Khi nghĩa vụ đã phát sinh, nó sẽ không thể bị hủy bỏ nếu không có sự đồng ý của các bên tham gia và quốc gia thứ ba.

 Quy định quyền cho các quốc gia thứ ba Điều 36 Công ước Vienna

1969, quyền này không thể hủy bỏ hoặc sửa đổi bởi các bên nếu quy định việc hủy bỏ phải được sự đồng ý của quốc gia thứ ba.

Phân tích các phương thức làm phát sinh hiệu lực của ĐƯQT

Ký Phê chuẩn Phê duyệt Gia nhập

Các hình thức ký có thể làm phát sinh hiệu lực ĐƯQT:

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện hành vi tự nguyện công nhận hiệu lực ràng buộc của Điều ước quốc tế (ĐƯQT) đối với quốc gia mình.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện hành vi chính thức nhằm tự nguyện công nhận hiệu lực ràng buộc của Điều ước Quốc tế (ĐƯQT) đối với quốc gia của mình.

Hành vi đơn phương của quốc gia thể hiện sự đồng ý ràng buộc khi quốc gia đó không tham gia vào đàm phán hoặc không ký kết điều ước.

Trường hợp áp dụng Điều 12 Công ước Vienna

1969 Điều 28 Luật ĐƯQT 2016 Điều 37 Luật ĐƯQT 2016 Gia nhập ĐƯQT có thể thực hiện khi:

+ Thời hạn ký kết ĐƯQT đã hết +ĐƯQT đã phát sinh hiệu lực

2016 Điều 29 Luật ĐƯQT 2016 Điều 38 Luật ĐƯQT 2016 Điều 43 Luật ĐƯQT 2016

Trình bày vấn đề hiệu lực theo không gian và hiệu lực theo thời gian

 Về nguyên tắc, điều ước có hiệu lực đối với toàn bộ lãnh thổ của các quốc gia ký kết.

Một số điều ước quốc tế có hiệu lực trên các vùng lãnh thổ thuộc quyền chủ quyền của quốc gia ký kết hoặc trên các vùng lãnh thổ quốc tế, chẳng hạn như Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.

 Bên cạnh đó trong một số trường hợp còn có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ của quốc gia thứ ba (không tham gia ký kết):

 ĐƯQT quy định nghĩa vụ cho quốc gia thứ ba:

Các bên phải đạt được sự đồng thuận và quốc gia liên quan cần chấp thuận bằng văn bản, ngoại trừ một số trường hợp bắt buộc theo Điều 2 của HCLHQ về các nguyên tắc cơ bản, như được quy định trong Điều 35 của Công ước Vienna 1969.

Theo Điều 37, khoản 1 của Công ước Vienna 1969, việc hủy bỏ hoặc sửa đổi nghĩa vụ cần có sự đồng ý của các bên liên quan và quốc gia thứ ba, trừ khi có thỏa thuận rõ ràng khác.

 ĐƯQT quy định quyền cho quốc gia III:

Các bên tham gia và quốc gia III đồng ý rằng các điều khoản sẽ kéo dài cho đến khi có dấu hiệu trái ngược, trừ khi có quy định khác trong điều ước theo Điều 36 của Công ước Vienna 1969 Quyền này không thể bị hủy bỏ hoặc sửa đổi mà không có sự đồng ý của quốc gia III.

 Thời gian: là khoảng thời gian mà ĐƯQT có hiệu lực và được quy định nay trong điều ước.

 Thời điểm bắt đầu có hiệu lực: phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên ký kết ĐƯQT.

Thông thường, các điều ước không yêu cầu thủ tục phê chuẩn hoặc phê duyệt sẽ có hiệu lực ngay sau khi được ký kết chính thức.

 Đối với điều ước có quy định phải trải qua thủ tục phê chuẩn hoặc phê duyệt:

ĐƯQT song phương sẽ có hiệu lực khi hai bên hoàn tất việc trao đổi văn kiện phê chuẩn hoặc phê duyệt Trong những trường hợp đặc biệt, điều ước có thể có hiệu lực ngay sau khi hai bên ký kết thông báo hoặc chấp nhận hiệu lực ràng buộc của điều ước.

 Đối với ĐƯQT đa phương , có nhiều cách để xác định thời điểm có hiệu lực của điều ước:

(-) Khi có đủ một số lượng thành viên cần thiết phê chuẩn hoặc phê duyệt

(-) Khi hết một thời gian sau khi đạt được số lượng thành viên phê duyệt hoặc phê chuẩn theo thỏa thuận

Các quốc gia phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước sau khi điều ước này có hiệu lực sẽ bị ràng buộc bởi các quy định của điều ước đó từ thời điểm mà điều ước quy định.

 Thời hạn có hiệu lực:

 hết hiệu lực theo ý muốn:

 tự động hết hiệu lực:

(-) đã thực hiện xong các quyền và nghĩa vụ trong điều ước

Phân tích các trường hợp ĐƯQT hết hiệu lực

 Hết hiệu lực theo ý muốn:

(-) bãi bỏ (được ghi nhận trong điều ước/ có thể do các bên thống nhất)

Hủy bỏ một điều ước có thể xảy ra trong các trường hợp như không được ghi nhận trong điều ước, chỉ hưởng quyền mà không thực hiện nghĩa vụ, vi phạm nghiêm trọng các điều khoản đã thỏa thuận, hoặc khi điều kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản dẫn đến việc không thể thực hiện cam kết.

(-) tạm đình chỉ (quy định trong điều ước/ thỏa thuận giữa các bên)

 Tự động hết hiệu lực:

(-) đã thực hiện xong các quyền và nghĩa vụ trong điều ước

(-) chiến tranh (đối với các bên tham chiến) trừ ĐƯ về lãnh thổ, biên giới, nhân đạo, các ĐƯ quy định chiến tranh không làm chấm dứt hiệu lực…

Trình bày các vấn đề thực hiện ĐƯQT

 Nguyên tắc cơ bản của LQT Pacta sunt servanda các quốc gia phải tuân thủ và thi hành điều ước mà quốc gia là thành viên.

Theo Điều 12 của Luật Hợp tác quốc tế năm 2013, việc tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên là bắt buộc Do đó, trong trường hợp điều ước quốc tế mâu thuẫn với Hiến pháp, điều ước quốc tế sẽ được ưu tiên áp dụng.

 Các phương pháp thực hiện điều ước quốc tế (khoản 2 Điều 6 Luật ĐƯQT 2016):

Áp dụng trực tiếp các điều ước quốc tế (ĐƯQT) mà quốc gia là thành viên cho phép thực hiện mà không cần phải "nội luật hóa" hay "chuyển hóa" các quy định của ĐƯQT thành luật pháp quốc gia Ví dụ điển hình là các điều ước liên quan đến lãnh thổ và biên giới quốc gia.

 Gián tiếp: các quốc gia thành viên phải “nội luật hóa” hay

Việc "chuyển hóa" các quy định của ĐƯQT vào pháp luật quốc gia bao gồm việc ban hành văn bản mới, sửa đổi và bổ sung các văn bản hiện hành, cũng như bãi bỏ những văn bản không còn phù hợp.

Phân tích các đặc điểm của ĐƯQT và so sánh với thỏa thuận QT

LQT (tuân thủ 7 NT cơ bản của LQT) Pháp lệnh về ký kết thực hiện TTQT

Phải tuân thủ 7 NT cơ bản của LQT.

Chủ thể giao kết trong luật quốc tế không chỉ bao gồm các quốc gia mà còn mở rộng đến các tổ chức quốc tế và cá nhân nước ngoài Bên ký kết phải thực hiện nhiệm vụ trong khuôn khổ thẩm quyền của mình, đảm bảo rằng các bên tham gia đều có cấp bậc và thẩm quyền tương đương.

Tên gọi Hiệp định, hiệp ước, công ước, nghị định thư

Theo Điều 6 Luật TTQT 2020, các chương trình và kế hoạch hợp tác có thể mang nhiều tên gọi khác nhau, tuy nhiên, cần lưu ý rằng không được sử dụng những tên gọi đặc thù của điều ước quốc tế như công ước, hiệp ước, định ước hay hiệp định.

Nội dung Sự việc trọng đại các tác động lớn đến cả quốc gia: chính trị, hòa bình, quyền con người,

QPPL xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể trong lĩnh vực luật quốc tế, dựa trên nguyên tắc bình đẳng và tự nguyện giữa các bên.

Phạm vi từng cơ quan tổ chức, cùng chức năng nhiệm vụ, vấn đề phát sinh trong phạm vi chức năng quyền hạn…

=> Không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của bên ký kết

CUV 1969, Quy trình đảm bảo, nghiêm ngặt hơn,

=> do LQT quy định (CƯ

Vienna 1969 và PLQG trên cơ sở tự nguyện bình đẳng thỏa thuận) Được quy định trong pháp luật từng quốc gia, theo NT có đi có lại,

=> Ko bắt buộc theo quy trình cố định của LQT: sẽ do sự thỏa thuận của các quốc gia và theo quy định PL của từng quốc gia

Tất cả các cơ quan, tổ chức và công dân Việt Nam không bị ràng buộc bởi Nhà nước và Chính phủ trừ khi chính quyền là bên ký kết Cơ quan ký kết sẽ chịu trách nhiệm về các hành động của mình Quốc gia không thể từ chối trách nhiệm nếu cá nhân hoặc cơ quan có thẩm quyền không thực hiện đúng nghĩa vụ hoặc gây thiệt hại.

Phân biệt các hình thức ký tắt, ký ad referendum và ký đầy đủ

Ký tắt Ký ad referendum Ký đầy đủ

- Nhằm xác nhận văn bản điều ước chính là văn bản đã được mình và đại diện các bên đàm phán và thông qua.

- Không làm phát sinh hiệu lực của ĐƯQT (là bước quá độ tiến tới ký đầy đủ)

- là chữ ký của người hoàn toàn không có thẩm quyền đại diện cho quốc gia xác lập quyền và nghĩa vụ quốc tế cho quốc gia

(tạo nên sự ràng buộc giữa quốc gia và điều ước đó).

- Nhằm xác nhận văn bản điều ước chính là văn bản đã được mình và đại diện các bên đàm phán và thông qua.

Chữ ký có thể trở thành chứng nhận đầy đủ và có hiệu lực của ĐƯQT nếu được xác nhận bởi các quốc gia và được sự đồng ý tán thành từ cơ quan có thẩm quyền, thường là bộ trưởng, của quốc gia mà người đại diện đã ký ad referendum.

- Nếu ĐƯQT không quy định phải phê chuẩn, phê duyệt thì ĐƯQT sẽ phát sinh hiệu lực sau khi các bên ký chính thức.

Chữ ký của người có thẩm quyền quốc gia tạo ra trách nhiệm pháp lý cho chủ thể của luật quốc tế mà không cần các thủ tục phê chuẩn, phê duyệt hay công nhận tiếp theo Việc xác thực văn bản điều ước là bước cuối cùng kết thúc quá trình đàm phán và soạn thảo.

Theo nguyên tắc, việc ký tắt và ad referendum không mang lại giá trị pháp lý cho ĐƯQT, trừ khi chữ ký ad referendum được công nhận là chữ ký đầy đủ.

So sánh phê chuẩn và phê duyệt trong quá trình ký kết điều ước quốc tế

Phê chuẩn và phê duyệt điều ước quốc tế đều có ý nghĩa pháp lý tương tự nhau, vì cả hai hành vi này đều công nhận hiệu lực ràng buộc của các điều ước quốc tế.

Phê chuẩn điều ước quốc tế là quy trình cần thiết, tùy thuộc vào quy định của pháp luật từng quốc gia Thông thường, các điều ước có ảnh hưởng lớn đến quốc gia sẽ yêu cầu phải được phê chuẩn.

Các loại điều ước quốc tế cần phê duyệt phụ thuộc vào quy định của pháp luật từng quốc gia Thông thường, việc phê duyệt áp dụng cho các điều ước quốc tế có tầm quan trọng ít hơn so với các điều ước cần phải phê chuẩn.

Thẩm quyền thường được thực hiện bởi cơ quan lập pháp cao nhất của quốc gia, như quốc hội, nghị viện hoặc nguyên thủ quốc gia, tùy thuộc vào quy định pháp luật của từng quốc gia.

Tùy theo pháp luật quốc gia, thông thường sẽ do cơ quan hành pháp cao nhất thực hiện (Chính phủ)

So sánh phê chuẩn và phê duyệt theo pháp luật Việt Nam

Khái niệm -Cspl: khoản 8 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế 2016

Hành vi pháp lý do Quốc hội hoặc Chủ tịch nước thực hiện nhằm chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đã ký kết đối với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

-Cspl: khoản 9 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế 2016.

Hành vi pháp lý của Chính phủ Việt Nam thể hiện sự chấp nhận ràng buộc của các điều ước quốc tế đã ký kết, khẳng định cam kết của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc tuân thủ các quy định quốc tế.

-Cspl: Điều 28 Luật Điều ước quốc tế 2016 k1d4

-Các điều ước quốc tế cần phải phê chuẩn:

 ĐƯQT có quy định phải phê chuẩn

 ĐƯQT nhân danh Chính phủ có quy định trái với luật, nghị quyết của Quốc hội

-Cspl: Điều 37 Luật Điều ước quốc tế 2016 k2d4 -Các điều ước quốc tế cần phải phê duyệt:

 ĐƯQT nhân danh Chính phủ có quy định phải phê duyệt hoặc phải hoàn thành thủ tục pháp lý theo quy định của mỗi nước để có hiệu lực;

 ĐƯQT nhân danh Chính phủ có quy định trái với quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ

Thẩm quyền Quốc hội, Chủ tịch nước Chính phủ

Trình bày vấn đề bảo lưu đối với điều ước quốc tế

Bảo lưu điều ước quốc tế là hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia, nhằm mục đích loại trừ hoặc điều chỉnh hiệu lực của một hoặc một số điều khoản cụ thể trong điều ước Các điều khoản này được gọi là những điều khoản bị bảo lưu.

Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế định nghĩa "bảo lưu điều ước quốc tế" là hành động đơn phương của một quốc gia khi ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước, nhằm loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một hoặc một số quy định trong điều ước đó đối với quốc gia đó.

 Những trường hợp không được bảo lưu:

 ĐƯQT chỉ cho phép bảo lưu những điều khoản cụ thể

 Nội dung bảo lưu trái đối tượng và mục đích của điều ước.

 Không áp dụng đối với các điều ước song phương.

 Thủ tục liên quan đến bảo lưu

 Quan hệ giữa quốc gia bảo lưu và quốc gia chấp nhận bảo lưu

⇒ thực hiện bằng các ĐƯQT áp dụng bảo lưu

 Quan hệ giữa quốc gia tuyên bố bảo lưu và quốc gia chống lại việc bảo lưu ⇒ điều chỉnh bằng điều ước mà không áp dụng bảo lưu.

12 So sánh tuyên bố bảo lưu và tuyên bố giải thích điều ước quốc tế do các quốc gia đưa ra.

Tuyên bố bảo lưu Tuyên bố giải thích

Giống nhau Đây là tuyên bố đơn phương của quốc gia đưa ra nhằm công nhận hiệu lực điều ước quốc tế đối với quốc gia mình.

Khái niệm Là hành vi đơn phương của một chủ thể LQT để loại trừ hiệu lực của 1 hay một số điều khoản của

Là quá trình làm sáng tỏ nội dung thật của các ĐƯQT tránh sự hiểu nhầm, gây ra xung đột giữa các bên ĐƯQT tham gia ĐƯQT

Mục đích Tuyên bố bảo lưu nhằm loại trừ hoặc thay đổi 1 số điều khoản của ĐƯQT

Tuyên bố giải thích nhằm làm sáng tỏ nội dung thật của ĐƯQT để việc thực hiện ĐƯQT được rõ ràng

Thời điểm Diễn ra trong bất kỳ giai đoạn nào của ĐƯQT Diễn ra khi ĐƯQT đã được phê chuẩn và có hiệu lực pháp lý

Thể loại áp dụng Chỉ áp dụng đối với ĐƯQT đa phương, không cấm bảo lưu Áp dụng cho cả ĐƯQT song phương và đa phương

Có giá trị về mặt pháp lý đối với mọi quốc gia thành viên

Có giá trị pháp lý trong tuyên bố giải thích chính thức

Thời điểm có hiệu lực

Có giá trị chính thức sau 1 năm nếu không có quốc gia nào phản đối

Có hiệu lực ngay khi lời giải thích xác nhận bằng văn bản.

Phân tích các trường hợp không được bảo lưu điều ước quốc tế

 Bảo lưu không thể được thực hiện đối với những điều ước cấm bảo lưu.

Để trở thành thành viên của điều ước quốc tế, các chủ thể tham gia phải tuân thủ đầy đủ các nội dung và điều khoản của điều ước Nếu không thực hiện hoặc không có khả năng thi hành, chủ thể đó sẽ không đủ điều kiện gia nhập (Điểm 1, Điều 19, Công ước Vienna 1969)

 Không được bảo lưu những điều khoản khác ngoài những điều khoản điều ước quốc tế cho phép bảo lưu (điểm b Điều 19 Công ước Vienna 1969)

 Không được bảo lưu nếu bảo lưu không phù hợp với đối tượng và mục đích của điều ước (điểm c Điều 19 Công ước Vienna 1969)

Bảo lưu không áp dụng cho các điều ước quốc tế song phương, vì những điều ước này chỉ được ký kết và thực hiện khi có sự đồng thuận từ cả hai bên Khi một bên đưa ra bảo lưu, điều đó được coi là một đề nghị mới, dẫn đến việc hai bên phải tiếp tục thương lượng và thỏa thuận để đạt được sự thống nhất, thay vì đơn thuần đưa ra bảo lưu.

Phân tích quy trình, thủ tục và hậu quả pháp lý của việc bảo lưu điều ước quốc tế

 Trình tự, thủ tục bảo lưu

Trong trường hợp điều ước quốc tế có quy định rõ về các điều khoản được bảo lưu, việc bảo lưu không cần sự đồng ý rõ ràng từ các quốc gia ký kết khác Quốc gia chỉ cần tuyên bố bảo lưu trong phạm vi cho phép của điều ước.

Trong trường hợp điều ước quốc tế không có điều khoản về bảo lưu, việc bảo lưu cần được tất cả các quốc gia thành viên chấp nhận nếu số lượng quốc gia tham gia đàm phán là hạn chế, hoặc việc thi hành toàn bộ điều ước là điều kiện để các bên chấp nhận ràng buộc Một bảo lưu sẽ được coi là chấp nhận nếu quốc gia đó không phản đối trong vòng 12 tháng kể từ khi nhận thông báo về bảo lưu Đối với các văn kiện thành lập tổ chức quốc tế, bảo lưu phải được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền của tổ chức đó.

Việc tuyên bố bảo lưu, phản đối bảo lưu và đồng ý với bảo lưu cần được thực hiện bằng văn bản và thông báo công khai cho các quốc gia thành viên Đặc biệt, sự đồng ý bảo lưu có thể được thể hiện một cách im lặng.

Quốc gia có quyền rút bảo lưu mà không cần sự đồng ý từ các quốc gia công nhận bảo lưu, và quyền này có thể được thực hiện bất kỳ lúc nào.

Quốc gia có quyền hủy bỏ tuyên bố phản đối bảo lưu của mình bất kỳ lúc nào, nhưng việc này phải được thực hiện bằng văn bản.

 Hậu quả pháp lý của bảo lưu

Quan hệ giữa quốc gia bảo lưu và quốc gia chấp nhận bảo lưu được thiết lập thông qua các điều ước quốc tế, ngoại trừ những điều khoản liên quan đến bảo lưu.

Quan hệ giữa quốc gia bảo lưu và quốc gia phản đối bảo lưu được điều chỉnh bởi điều ước quốc tế, bao gồm cả các điều khoản bảo lưu không được chấp nhận Sự phản đối bảo lưu từ một quốc gia có thể dẫn đến việc chấm dứt quan hệ điều ước giữa quốc gia bảo lưu và quốc gia phản đối.

Phân tích điều kiện trở thành nguồn luật quốc tế của điều ước quốc tế

 Phải được ký kết dựa trên cơ sở tình nguyện, bình đẳng

 Nội dung của điều ước phải phù hợp với những nguyên tắc cơ bản và các quy phạm jus cogens (Điều 53 Công ước Vienna 1969)

 Phải phù hợp thẩm quyền và thủ tục ký kết, tuân theo các quy định có liên quan của pháp luật của các bên ký kết.

Phân tích về các hình thức áp dụng điều ước quốc tế và liên hệ với VN

tế và liên hệ với VN.

 Việc áp dụng điều ước quốc tế sẽ được thực hiện qua 2 hình thức: thực hiện trực tiếp hoặc thực hiện gián tiếp

 Thực hiện trực tiếp: là việc áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên mà không cần phải “nội luật hóa” hay

“chuyển hóa” các quy định của điều ước quốc tế thành các quy định của pháp luật quốc gia để thực hiện.

Thực hiện gián tiếp là quá trình mà các quốc gia thành viên "nội luật hóa" các quy định từ điều ước quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia Điều này được thực hiện thông qua việc ban hành văn bản mới, sửa đổi hoặc bổ sung các văn bản hiện hành, hoặc bãi bỏ những văn bản không còn phù hợp.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế 2016, Việt Nam sẽ áp dụng trực tiếp các điều ước quốc tế đã đủ rõ và chi tiết mà không cần nội luật hóa Ngược lại, nếu điều ước chưa đủ rõ ràng, Quốc hội, Chủ tịch nước và Chính phủ sẽ quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện Hiện nay, vẫn chưa có sự thống nhất về địa vị pháp lý giữa Hiến pháp và điều ước quốc tế.

Phân biệt ĐƯQT nhân danh nhà nước và ĐƯQT nhân danh chính phủ

 Đều là ĐƯQT và đều tạo ra sự ràng buộc với quốc gia.

 ĐƯQT nhân danh nhà nước: do QH, CTN quyết định và ký kết (Điều

15), phê chuẩn (Điều 28 và Khoản 8 Điều 2 LĐƯQT 2016); loại (Khoản

 ĐƯQT nhân danh chính phủ do CP quyết định và ký kết, phê duyệt.(Điều 37 + K9 Điều 2, Điều 15), loại (Khoản 2 Điều 4)

So sánh ĐƯQT và TQQT

 Đều được xây dựng và áp dụng bởi các chủ thể của LQT.

 Chứa đựng các quy tắc xử sự chung nhằm điều chỉnh các quan hệ pháp lý quốc tế.

 Hình thành trên cơ sở thỏa thuận, bình đẳng.

 Có tính bắt buộc về mặt pháp lý đối với các chủ thể trong quan hệ quốc tế.

Hình thức Là nguồn thành văn Là nguồn bất thành văn

Phương thức hình thành ĐƯQT được xây dựng qua quy trình và thủ tục chặt chẽ, cụ thể, với ưu tiên áp dụng hơn so với TQQT Đặc biệt, ĐƯQT hình thành từ thực tiễn quan hệ quốc tế qua thời gian.

Trong cùng một vấn đề, nếu tồn tại cả ĐƯQT và TQQT điều chỉnh thì áp dụng nguồn nào ? Tại sao?

Khi cả ĐƯQT và TQQT cùng điều chỉnh một vấn đề, việc áp dụng nguồn nào sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên liên quan Về lý luận, ĐƯQT và TQQT có giá trị pháp lý tương đương, nhưng ĐƯQT thường được ưu tiên hơn trong thực tiễn quan hệ quốc tế Điều này là do ý chí của các chủ thể trong ĐƯQT thể hiện rõ ràng và minh bạch hơn, đồng thời có mức độ ràng buộc trách nhiệm pháp lý cao hơn so với TQQT Hơn nữa, ĐƯQT là nguồn thành văn được xây dựng qua thỏa thuận giữa các bên, trải qua quy trình pháp lý chặt chẽ, giúp nó cụ thể, rõ ràng và dễ thực hiện hơn so với TQQT.

Khi một tập quán được pháp điển hóa vào một điều ước thì tập quán đó có còn tồn tại với tư cách tập quán hay không?

ĐƯQT và TQQT đều có giá trị pháp lý tương đương, do đó không thể dùng một điều ước để phủ nhận giá trị pháp lý của TQQT Sự tồn tại của TQQT vẫn được công nhận.

TQQT là quy tắc ứng xử hình thành từ thực tiễn mà không cần ký kết chính thức, và việc thay đổi TQQT chỉ có thể diễn ra khi có sự thay đổi trong thực tiễn áp dụng của các chủ thể Tập quán sẽ chỉ biến mất khi nó trái với các quy phạm jus cogens Ví dụ, quyền chiến tranh, từng được cộng đồng quốc tế công nhận, đã bị loại trừ trong luật quốc tế hiện đại vì vi phạm nguyên tắc cơ bản jus cogens cấm sử dụng vũ lực.

Phân tích các điều kiện trở thành nguồn của LQT của TQQT

 Phù hợp NT cơ bản

 Các chủ thể chấp thuận

 Áp dụng lặp đi lặp lại

Nhận định

Nguồn của LQT là sự thể hiện bằng văn bản những thỏa thuận giữa các chủ thể của LQT

 CSPL: Điều 38 Quy chế Tòa án Công lý quốc tế.

Căn cứ vào cơ sở pháp lý, nguồn của luật quốc tế bao gồm hai loại: nguồn thành văn là điều ước quốc tế, được thể hiện dưới hình thức văn bản, và nguồn bất thành văn là tập quán quốc tế Tập quán quốc tế tồn tại dưới dạng hành vi xử sự của các chủ thể luật quốc tế, do đó, nó luôn ở dạng bất thành văn.

Do đó, nguồn của LQT không chỉ là sự thể hiện bằng văn bản mà còn được thể hiện dưới dạng bất thành văn.

Các loại nguồn của LQT có giá trị bắt buộc đối với mọi quốc gia và chủ thể khác của LQT

 CSPL: điểm a Khoản 1 Điều 2 Công ước Vienna 1969.

Nguồn của luật quốc tế (LQT) chỉ có giá trị bắt buộc đối với các quốc gia là thành viên của điều ước quốc tế (ĐƯQT) hoặc những quốc gia thừa nhận một cách ngầm TQQT trong quan hệ quốc tế Vì vậy, không phải tất cả các nguồn của LQT đều có giá trị bắt buộc đối với mọi quốc gia và các chủ thể khác trong LQT.

Quốc gia tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật quốc tế bằng cách ký kết các ĐƯQT

Quốc gia không chỉ tham gia vào việc xây dựng pháp luật quốc tế thông qua việc ký kết các điều ước quốc tế (ĐƯQT), mà còn bằng cách thừa nhận các thông lệ quốc tế (TQQT).

Tất cả các ĐƯQT đều phải trải qua các giai đoạn ký kết giống nhau

Giai đoạn ký kết ĐƯQT gồm: Đàm phán -> Soạn thảo -> Thông qua dự thảo ->

Ký -> Phê chuẩn/Phê duyệt (nếu có quy định) -> Gia nhập.

Trong thực tiễn ký kết điều ước quốc tế, các bên có thể hoàn tất việc soạn thảo trước khi tiến hành đàm phán để sửa đổi và thống nhất nội dung Điều này cho thấy rằng quá trình đàm phán và soạn thảo có thể thay đổi vị trí hoặc thậm chí cắt giảm một số phần.

Trường hợp đại diện quốc gia ký ad referendum vào một điều ước và được các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận theo quy định pháp luật trong nước thì không cần phải ký đầy đủ.

Do đó, không phải tất cả ĐƯQT đều phải trải qua các giai đoạn ký kết giống nhau.

Thông qua sự thỏa thuận bình đẳng tự nguyện giữa các bên, mỗi điều ước sẽ quy định cách thức và trình tự ký kết khác nhau Các giai đoạn ký kết chỉ là khung cơ bản được thiết lập.

ĐƯQT mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có giá trị pháp lý sau Hiến pháp Việt Nam

 CSPL: Khoản 1 Điều 6 LĐƯQT 2016 và Khoản 5 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, Điều 26 CƯ Vienna 1969 và điều 12 LHP2013

Khoản 5 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 quy định: “Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp”.

Khoản 1 Điều 6 LĐƯQT 2016 quy định: “Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp”.

Việc thêm cụm từ “trừ Hiến pháp” vào nguyên tắc trong hai đạo luật mới là một điểm cải tiến quan trọng, giúp làm rõ thứ tự áp dụng đối với điều ước quốc tế (ĐƯQT) Theo quy định, thứ tự áp dụng sẽ được xác định lần lượt là: Hiến pháp, ĐƯQT và văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) trong nước.

Quy định tại khoản 5 Điều 156 chỉ xác định thứ tự áp dụng mà không xác định thứ bậc hiệu lực của văn bản, do ĐƯQT và HP không thuộc cùng một hệ thống.

Theo Điều 26 của Công ước Vienna 1969, các thành viên tham gia hiệp ước có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ quốc tế của mình dựa trên nguyên tắc tận tâm và thiện chí, được gọi là Pacta Sunt Servanda.

Do đó, không thể kết luận rằng: ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên có giá trị pháp lý thấp hơn Hiến Pháp.

Nguyên tắc Pacta Sunt Servanda là một quy phạm jus cogens trong luật quốc tế, yêu cầu mọi chủ thể của luật quốc tế phải tuân thủ Các cam kết được thực hiện thông qua điều ước, thỏa thuận, và tuyên bố đơn phương, do đó, các quốc gia cần phải tận tâm và thiện chí trong việc thực hiện các nghĩa vụ này.

Điều 12 Hiến pháp 2013 quy định rằng Việt Nam phải tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế mà nước này là thành viên Do đó, trong trường hợp có sự khác biệt giữa điều ước quốc tế và Hiến pháp, điều ước quốc tế sẽ được ưu tiên áp dụng.

=> ĐƯQT có giá trị pháp lý cao hơn HP.

ĐƯQT là thỏa thuận bằng văn bản trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện giữa các quốc gia nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế

và nghĩa vụ pháp lý quốc tế.

 CSPL: điểm a Khoản 1 Điều 2 CƯ Vienna 1969.

 Giải thích: Thiếu các chủ thể khác của LQT

Quốc gia được viện dẫn PL quốc gia để không áp dụng ĐƯQT mà quốc gia đó là thành viên

 CSPL: Điều 27, 53 CƯ Vienna 1969, ngoại lệ của NT Pacta Sunt Servanda. (D26)

Quốc gia không được phép sử dụng các quy định pháp luật nội địa để biện minh cho việc không thực hiện các điều ước quốc tế mà mình đã tham gia.

Quốc gia thành viên phải áp dụng ĐƯQT mà mình đã phê chuẩn hoặc phê duyệt

 CSPL: Khoản 1 Điều 317 UNCLOS 1982; Điều 72 CƯ Vienna 1969.Giải thích:

Thực tiễn cho thấy không phải tất cả các quốc gia thành viên đều phải áp dụng các điều ước quốc tế (ĐƯQT) mà họ đã phê chuẩn hoặc phê duyệt Có những trường hợp mà ĐƯQT đó không được áp dụng.

Quốc gia có quyền đơn phương tuyên bố rằng các điều ước quốc tế (ĐƯQT) mà họ đã ký kết không còn hiệu lực đối với họ theo quy định của các điều ước đó, dẫn đến việc bãi bỏ ĐƯQT Ví dụ minh họa cho điều này là Khoản 1 Điều 317 của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS).

+ Quốc gia đơn phương tuyên bố ĐƯQT hết hiệu lực đối với mình mặc dù điều này không được ghi nhận trong điều ước (hủy bỏ ĐƯQT ).

+ Trường hợp quốc gia tạm đình chỉ thi hành ĐƯQT trong một thời gian nhất định nếu xét thấy cần thiết (Điều 72 CƯ Vienna 1969).

Trong trường hợp xảy ra chiến tranh, các điều ước quốc tế sẽ tự động không còn hiệu lực đối với các bên tham chiến, ngoại trừ một số điều ước quốc tế liên quan đến lãnh thổ và biên giới.

+ Chưa/không đủ điều kiện để điều ước bắt đầu phát sinh hiệu lực (Điều

+ Pháp luật quốc gia không quy định PC/PD hoặc điều ước quốc tế không đòi hỏi phê chuẩn/phê duyệt.

+ Vi phạm thẩm quyền ký kết, vi phạm các nguyên tắc cơ bản

Nếu thuộc một trong số các trường hợp nêu trên thì quốc gia thành viên không phải áp dụng ĐƯQT mà mình đã phê chuẩn hoặc phê duyệt.

Ký ĐƯQT không làm phát sinh sự ràng buộc giữa quốc gia và điều ước đó

 CSPL: Điều 11, 12, 13 Công ước Vienna 1969.

Theo Điều 11 Công ước Vienna 1969, việc ký kết điều ước quốc tế (ĐƯQT) có thể tạo ra sự ràng buộc giữa các quốc gia Đối với những ĐƯQT được ký kết theo hình thức ký đầy đủ hoặc ký ad referendum, nếu văn bản không quy định các thủ tục khác như phê chuẩn hay phê duyệt, và có quy định rằng việc ký sẽ có giá trị ràng buộc, thì các quốc gia sẽ bị ràng buộc bởi những điều khoản trong điều ước đó.

Theo Khoản 1 Điều 12, việc ký kết các điều ước quốc tế (ĐƯQT) sẽ tạo ra sự ràng buộc giữa các quốc gia nếu có sự thể hiện rõ ràng về ý định tham gia và ký kết Điều này có thể được thể hiện qua các hình thức khác nhau, nhưng quan trọng là các quốc gia đã đồng ý rằng việc ký sẽ có giá trị ràng buộc.

Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc là ĐƯQT

Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc không mang tính ràng buộc đối với các chủ thể của luật quốc tế, mà chỉ đóng vai trò như hướng dẫn hoặc khuyến nghị Ví dụ, Nghị quyết 3379 về "Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc" và Nghị quyết 181 (II) liên quan đến kế hoạch phân vùng cho Palestine, được gọi là "Chính phủ tương lai của Palestine", minh chứng cho tính chất không bắt buộc của các nghị quyết này.

Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc chỉ có tính ràng buộc trong nội bộ, đặc biệt là khi liên quan đến các vấn đề tài chính của tổ chức hoặc có tác động đến các bên liên quan đến nghị quyết.

Nghị quyết Đại hội đồng được xem như một loại điều ước, thể hiện sự đồng thuận rõ ràng của các quốc gia Nó được thiết lập như luật tập quán thông qua việc thể hiện niềm tin pháp lý, theo thuyết luật tục tức thời.

Nó được gọi là "luật mềm" do không có tính ràng buộc pháp lý, nhưng vẫn thiết lập khuôn khổ cho hành động của các quốc gia thành viên và cung cấp hướng dẫn cho họ.

Không phải mọi Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (LHQ) đều được coi là Đương nhiên Quốc tế (ĐƯQT) Đại hội đồng LHQ chỉ là một cơ quan chuyên môn của một tổ chức quốc tế, do đó không tạo ra ĐƯQT.

Chỉ có giá trị trong phạm vi của tổ chức đó.

NQ ĐHĐLHQ mang tính chất khuyến khích, kêu gọi (trừ những nghị quyết liên quan đến vấn đề thủ tục, kết nạp, trục xuất thành viên LHQ)

Mọi ĐƯQT đều phải được nội luật hóa trước khi áp dụng tại Việt Nam

- Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016

Nội luật hóa là quá trình chuyển đổi các quy định trong điều ước quốc tế thành các quy phạm pháp luật có giá trị bắt buộc thực hiện đối với tổ chức và cá nhân trong một quốc gia.

Theo Điều 6, khoản 2 của Luật Điều ước quốc tế năm 2016, ĐƯQT có thể được áp dụng trực tiếp tại Việt Nam nếu điều ước đó đủ rõ ràng và chi tiết cho việc thực hiện Điều này có nghĩa là không phải tất cả các ĐƯQT đều cần phải được nội luật hóa trước khi áp dụng.

Mọi thỏa thuận giữa các chủ thể của LQT đều là ĐƯQT

Theo Khoản 1 Điều 2 của Luật ĐƯQT 2016, để trở thành nguồn của ĐƯQT, cần đáp ứng ba điều kiện chính: thứ nhất, phải có sự tự nguyện và bình đẳng giữa các bên; thứ hai, phải tuân thủ các quy tắc jus cogens; và thứ ba, phải đảm bảo đúng thẩm quyền và thủ tục ký kết.

Theo khoản 1 Điều 2 Luật ĐƯQT 2016, để một thỏa thuận được công nhận là ĐƯQT, nó phải được lập thành văn bản và ký kết giữa các chủ thể của LQT trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng Thỏa thuận này nhằm thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể Vì vậy, không phải mọi thỏa thuận giữa các chủ thể của LQT đều được xem là ĐƯQT.

Thỏa thuận đó chỉ là thỏa thuận quốc tế thông thường

Thỏa thuận đó chưa đủ điều kiện để trở thành ĐƯQT

Bảo lưu ĐƯQT là một giai đoạn của quá trình ký kết ĐƯQT

- Cơ sở pháp lý: Điều 2.1.d Công ước Vienna 1969

Bảo lưu điều ước quốc tế không chỉ là một giai đoạn trong quá trình ký kết, mà nó liên quan đến từng giai đoạn của việc ký kết điều ước Điều này bao gồm các thủ tục và hành vi đơn phương của quốc gia, có thể xảy ra hoặc không xảy ra trong quá trình này.

Tuyên bố đơn phương chấm dứt hiệu lực của ĐƯQT thì không phải là một tuyên bố bảo lưu

là một tuyên bố bảo lưu.

- Cơ sở pháp lý: Điều 2.1.d Công ước Vienna 1969

Tuyên bố bảo lưu là một tuyên bố đơn phương nhằm điều chỉnh hoặc loại bỏ hiệu lực pháp lý của một hoặc một số điều khoản trong điều ước quốc tế mà không làm chấm dứt toàn bộ hiệu lực của điều ước đó Điều này có nghĩa là tuyên bố đơn phương không thể được coi là bảo lưu nếu nó dẫn đến việc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế, mà thay vào đó, nó sẽ là một tuyên bố hủy bỏ hoặc bãi bỏ điều ước.

Các quốc gia có thể đưa ra tuyên bố bảo lưu vào bất kỳ giai đoạn nào của quá trình ký kết

- Cơ sở pháp lý: Điều 2.1 d, Điều 19 Công ước Vienna 1969,

Các quốc gia có quyền đưa ra tuyên bố bảo lưu trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình ký kết, trừ khi thuộc các trường hợp không được phép bảo lưu.

Mọi sự đồng ý với bảo lưu phải được thể hiện dưới hình thức văn bản

- Cơ sở pháp lý: Điều 20.5 Công ước Vienna 1969

Một bảo lưu được coi là chấp nhận bởi một quốc gia nếu quốc gia đó không có phản đối trong vòng 12 tháng kể từ ngày nhận thông báo về bảo lưu.

Do đó, sự đồng ý với bảo lưu còn được thể hiện dưới hình thức im lặng (chấp nhận mặc thị)

Bảo lưu không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của điều ước quốc tế

- Cơ sở pháp lý: Điều 2.1.d và Khoản 1, 3 Điều 21 Công ước Vienna 1969

Theo Điều 2.1.d của Công ước Vienna 1969, bảo lưu điều ước quốc tế là hành động đơn phương của một quốc gia khi ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước, nhằm loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một hoặc một số quy định trong việc áp dụng chúng đối với quốc gia đó Do đó, bảo lưu có tác động đến hiệu lực của điều ước quốc tế, tuy nhiên không phải là toàn bộ.

Việc bảo lưu của một quốc gia không làm ảnh hưởng đến quan hệ giữa những quốc gia thành viên của điều ước mà không liên quan đến bảo lưu đó

 Cơ sở pháp lý: Điều 21.2 và Điều 21.3 Công ước Vienna 1969.

Theo Điều 21.2 và Điều 21.3 của Công ước Vienna 1969, bảo lưu không làm thay đổi các quy định của điều ước đối với các bên khác tham gia trong mối quan hệ giữa họ Điều này có nghĩa là các bên không thể áp dụng bảo lưu để ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các bên khác trong khuôn khổ điều ước.

Việc bảo lưu của một quốc gia không ảnh hưởng đến quan hệ giữa các quốc gia thành viên của điều ước, miễn là những quan hệ này không liên quan đến bảo lưu đó.

=> Ai chấp nhận thì áp dụng ĐƯQT có bảo lưu; ai không chấp nhận thì áp dụng ĐƯQT không có bảo lưu.

Việc bảo lưu không làm chấm dứt hiệu lực của ĐƯQT đó

- Cơ sở pháp lý: Điều 2.1.d Công ước Vienna 1969.

Bảo lưu Điều ước quốc tế cơ bản là hành vi pháp lý đơn phương, cho phép một quốc gia thay đổi hoặc chấm dứt hiệu lực của một hoặc một số điều khoản trong các điều ước quốc tế mà họ tham gia.

ĐƯQT có quy định vấn đề phê chuẩn chỉ phát sinh hiệu lực nếu như tất cả các quốc gia đã ký kết phê chuẩn điều ước

- Cơ sở pháp lý: Điều 2.1.b, Khoản 2 Điều 84 Công ước Vienna 1969

Phê chuẩn ĐƯQT là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm chính thức công nhận hiệu lực ràng buộc của điều ước quốc tế đối với quốc gia Khi một quốc gia ký kết phê chuẩn điều ước, điều ước đó sẽ phát sinh hiệu lực với quốc gia đó.

=> chỉ cần đủ số lượng điều ước quy định , Khoản 2 Điều 84 CƯ Vienna chỉ cần quốc gia thứ 35 phê chuẩn là ĐƯ có hiệu lực.

Quy phạm được chủ thể của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên và tự nguyện thực hiện thì được xem là nguồn của luật quốc tế

Nguồn của luật quốc tế được hình thành từ các quy phạm pháp luật quốc tế, bao gồm các quy tắc xử sự mà các chủ thể của luật quốc tế thỏa thuận hoặc thừa nhận Những quy phạm này được biểu hiện dưới hai hình thức: thành văn qua điều ước quốc tế và bất thành văn qua tập quán quốc tế Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế chính là hai nguồn chính của luật quốc tế.

 Điều kiện trở thành nguồn của điều ước => ko thỏa mãn 3 đk thì ko thể trở thành nguồn.

Khi ký kết ĐƯQT các chủ thể phải được đăng ký cho Ban Thư ký LHQ

ký cho Ban Thư ký LHQ.

 CSPL: Đ102 Hiến chương và Điều 77 CƯ Vienna 1969.

Quy trình ký kết điều ước quốc tế (ĐƯQT) bao gồm hai giai đoạn chính: đầu tiên là giai đoạn xây dựng văn bản điều ước, bao gồm các bước đàm phán, soạn thảo, thông qua và ký kết; thứ hai là giai đoạn làm phát sinh hiệu lực của điều ước, với các bước phê chuẩn, phê duyệt và gia nhập Đáng lưu ý, trong quy trình này không yêu cầu phải đăng ký với Ban Thư ký Liên Hợp Quốc, vì vậy đây không phải là bước bắt buộc khi tiến hành ký kết ĐƯQT.

Đăng ký tài liệu tại Ban Thư ký LHQ nhằm lưu trữ và sao y bản chính, đồng thời gửi đến các chủ thể của luật quốc tế, đặc biệt là các thành viên của LHQ Điều này giúp công bố rộng rãi các điều ước quốc tế và làm bằng chứng cho việc áp dụng các thiết chế bảo trợ của LHQ.

Người đại diện của quốc gia ký kết ĐƯQT không đúng thẩm quyền thì ĐƯQT không phát sinh ràng buộc pháp lý với quốc gia đó

 CSPL: điều 46 CƯ Vienna 1969, Điều 8

Việc xác định thẩm quyền của người đại diện quốc gia trong việc ký kết điều ước quốc tế (ĐƯQT) phụ thuộc vào quy định của nội luật quốc gia đó, theo Điều 46 của Công ước Vienna về Luật điều ước.

Theo Công ước Vienna 1969, một quốc gia không thể coi việc đồng ý tham gia một điều ước quốc tế là thiếu hiệu lực chỉ vì vi phạm quy định nội bộ về thẩm quyền ký kết, trừ khi vi phạm đó rõ ràng và liên quan đến quy tắc cơ bản của luật trong nước Do đó, việc đại diện của quốc gia ký kết điều ước quốc tế không đúng thẩm quyền không đủ để khẳng định rằng điều ước đó không tạo ra ràng buộc pháp lý cho quốc gia đó.

=> không đúng nhưng được các quốc gia thừa nhận => vẫn có hiệu lực

Việc thông qua dự thảo ĐƯ phải được sự đồng ý của tất cả các thành viên

Theo Điều 9 của Công ước Vienna 1969, việc thông qua văn bản của một tổ chức quốc tế không chỉ tuân theo quy tắc đa số, mà nếu diễn ra tại hội nghị quốc tế, cần đạt ít nhất hai phần ba số phiếu của các quốc gia có mặt và tham gia bỏ phiếu.

=> Do các QG thỏa thuận với nhau (số lượng bao nhiêu là tùy ý).

Việc ký ad Referendum không làm phát sinh hiệu lực của điều ước

 Nhận định sai (Điều 12) hoặc các QG tự thỏa thuận.

Ký ad Referendum được áp dụng khi người đại diện không đủ thẩm quyền hoặc không có hướng dẫn cụ thể để ký bình thường Chữ ký của họ cần sự xác nhận từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo luật Nếu cơ quan này đồng ý, chữ ký của người đại diện sẽ hợp pháp và có hiệu lực trong việc phát sinh điều ước.

Quốc gia đã ký ĐƯQT có nghĩa vụ phải phê chuẩn điều ước đó

Quốc gia có quyền từ chối phê chuẩn điều ước quốc tế (ĐƯQT) nếu nhận thấy việc này không mang lại lợi ích cho mình, và hành động từ chối này không bị xem là vi phạm pháp luật quốc tế Do đó, việc một quốc gia đã ký kết ĐƯQT không đồng nghĩa với việc họ bắt buộc phải phê chuẩn điều ước đó.

27 Quốc gia đã ký kết điều ước quốc tế có nghĩa vụ phải phê chuẩn điều ước đó

Trường hợp điều ước quốc tế yêu cầu phải phê chuẩn, việc này cần được thực hiện nhân danh Nhà nước và Chính phủ, nhưng nếu điều ước trái với luật hoặc nghị quyết của Quốc hội, thì không thể phê chuẩn Ngược lại, nếu điều ước không quy định việc phê chuẩn và không được thực hiện nhân danh, quốc gia đó không có nghĩa vụ phải phê chuẩn.

28 Một quốc gia đã ký kết điều ước quốc tế có quyền không phê chuẩn điều ước đó

 CSPL: điều 28 và Khoản 2 Điều 85 LĐUQT 2016,

Nếu điều ước không tuân thủ quy định và trình tự thủ tục ký kết, cũng như không thuộc các khoản phải phê chuẩn theo Điều 28 của Luật Điều ước quốc tế 2016, quốc gia có quyền từ chối phê chuẩn điều ước đó.

29 Nếu điều ước quốc tế đòi hỏi sự phê chuẩn thì nó không ràng buộc hiệu lực đối với quốc gia chưa phê chuẩn điều ước đó

 CSPL: áp dụng điều kiện có hiệu lực HCLHQ

Điều ước quốc tế cần có phê chuẩn thông qua việc trao đổi thư phê chuẩn Đối với hiệp định song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, ngày các bên hoàn tất thủ tục đa phương theo Công ước Luật Biển 1982 là 16/11/1994, và theo Công ước Vienna 1961 là từ 24/4/1964, sau 30 ngày kể từ khi nước thứ 22 phê chuẩn.

Thời điểm chấm dứt hiệu lực: quy định trong điều ước

Khi ĐƯ quy định số lượng PCPD để có hiệu lực, ĐƯ chỉ có hiệu lực đối với các bên đã thực hiện PCPD Các bên chưa thực hiện PCPD không có nghĩa vụ phải tuân thủ, ngoại trừ trường hợp HCLHQ.

Phê chuẩn và phê duyệt là các giai đoạn của quá trình ký kết điều ước quốc tế 19 31 Chỉ khi đã được phê chuẩn, phê duyệt thì Điều ước quốc tế mới phát sinh hiệu lực 19 32 Khi phê chuẩn là bắt buộc, nhưng cơ quan có thẩm quyền trong nước không phê chuẩn sau khi ký kết thì ĐƯQT không phát sinh ràng buộc với quốc gia đó

 Giải thích: Có 3 giai đoạn của quá trình ký kết điều ước quốc tế và phê chuẩn, phê duyệt không nằm trong 3 giai đoạn.

Mà phê chuẩn và phê duyệt là hai phương thức quan trọng trong việc làm phát sinh hiệu lực của điều ước quốc tế, bên cạnh các hình thức khác như ký kết, chấp thuận và trao đổi văn kiện hợp thành.

Phê chuẩn/phê duyệt là một (dùng “hoặc” chứ ko phải “và”) -> chỉ là một bước chứ ko phải các giai đoạn

31 Chỉ khi đã được phê chuẩn, phê duyệt thì Điều ước quốc tế mới phát sinh hiệu lực

Ngoài việc phê chuẩn và phê duyệt Điều ước quốc tế (ĐƯQT), các hành động như ký kết chính thức, trao đổi văn kiện hợp thành và gia nhập cũng tạo ra hiệu lực cho các Điều ước quốc tế.

32 Khi phê chuẩn là bắt buộc, nhưng cơ quan có thẩm quyền trong nước không phê chuẩn sau khi ký kết thì ĐƯQT không phát sinh ràng buộc với quốc gia đó.

 Nhận định Sai ĐÚNG Giống câu 28 (đúng dị ahihi)

 Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 84 CƯV 1969

Khi phê chuẩn là bắt buộc, nếu cơ quan có thẩm quyền trong nước không phê chuẩn sau khi ký kết, ĐƯQT vẫn có hiệu lực ràng buộc với quốc gia đó Đối với các quốc gia phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước viên 1969 sau khi đã lưu chiểu văn kiện thứ 35, Công ước sẽ có hiệu lực từ ngày thứ 30 kể từ thời điểm lưu chiểu văn kiện phê chuẩn hoặc gia nhập.

Phê chuẩn và gia nhập điều là sự xác nhận đồng ý ràng buộc của quốc gia đối với một điều ước quốc tế

Gia nhập điều ước quốc tế là hành vi pháp lý của chủ thể luật quốc tế, thể hiện sự chấp nhận hiệu lực pháp lý của một điều ước quốc tế đa phương Trong khi đó, phê chuẩn là việc xác nhận sự đồng ý ràng buộc của quốc gia đối với các điều ước quốc tế, bao gồm cả song phương và đa phương.

Điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp bắt buộc phải được phê chuẩn theo pháp luật Việt Nam

 Giải thích: Không phải mọi điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp bắt buộc phải được phê chuẩn theo pháp luật Việt Nam.

Theo quy định tại Điều 21 Luật TTTP năm 2007, cơ quan có thẩm quyền từ chối thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự khi có một trong 05 căn cứ.

Theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế về việc tham gia tổ chức quốc tế phải được Quốc hội phê chuẩn

 CSPL: điểm b khoản 1 điều 29 Luật ĐƯQT 2016.

Quốc hội chỉ phê chuẩn việc tham gia tổ chức quốc tế nếu sự tham gia đó tác động đến các chính sách cơ bản của quốc gia trong các lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, tài chính và tiền tệ.

Gia nhập ĐƯQT là hành vi đơn phương của quốc gia chấp nhận sự ràng buộc đối với ĐƯQT đã phát sinh hiệu lực

Theo Điều 2, khoản 1 của Công ước Vienna 1969, gia nhập điều ước quốc tế (ĐƯQT) là hành động của một quốc gia thể hiện sự đồng ý của mình trên bình diện quốc tế và cam kết tuân thủ các quy định của ĐƯQT đó.

Theo Điều 10, Khoản 2 của Luật ĐƯQT 2016, gia nhập là hành vi pháp lý do Quốc hội, Chủ tịch nước hoặc Chính phủ thực hiện nhằm chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế nhiều bên đối với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngay cả khi Việt Nam không ký điều ước đó, không phụ thuộc vào việc điều ước đã có hiệu lực hay chưa.

Gia nhập ĐƯQT là hành động tự nguyện của quốc gia, thể hiện sự chấp nhận các nghĩa vụ của ĐƯQT, bất kể ĐƯQT đó đã có hiệu lực hay chưa Việc này có thể xảy ra khi ĐƯQT đã có hiệu lực hoặc khi quá trình ký kết đã hoàn tất nhưng chưa chính thức có hiệu lực.

Quốc gia có nghĩa vụ phải chuyển hóa vào luật trong nước những ĐƯQT không trái với pháp luật quốc gia mình

Khi một quốc gia tham gia vào một điều ước quốc tế (ĐƯQT), họ có thể thực hiện bằng cách nội luật hóa hoặc tuyên bố công nhận giá trị pháp lý của ĐƯQT đó Đối với những ĐƯQT mà quốc gia chưa tham gia, họ không có nghĩa vụ chuyển hóa vào luật trong nước, và có thể áp dụng trực tiếp mà không cần nội luật hóa theo khoản 2 Điều 6 Luật ĐƯQT 2016.

Mọi TQQT đều là nguồn của luật quốc tế hiện đại

Một TQQT muốn trở thành nguồn của LQT hiện đại thì cần có 3 điều kiện:

- Được áp dụng lặp đi lặp lại trong 1 thời gian dài trong thực tiễn pháp lý quốc tế.

- Thừa nhận rộng rãi như những quy phạm pháp lý có tính chất bắt buộc.

- Nội dung phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của LQT hiện đại.

Trong mối quan hệ giữa 2 ĐƯQT va TQQT thì cả 2 có giá trị pháp lý như nhau 21 40 TQQT cũng chính là kết quả của sự thỏa thuận giữa các quốc gia và chủ thể khác của LQT

ĐƯQT và TQQT có giá trị pháp lý tương đương, nhưng việc áp dụng quy phạm nào phụ thuộc vào lĩnh vực và mối quan hệ cụ thể Trong trường hợp một vấn đề có cả ĐƯQT và TQQT điều chỉnh, ĐƯQT thường được ưu tiên hơn do có thỏa thuận rõ ràng và thành văn giữa các bên, cung cấp chứng cứ pháp lý vững chắc trong giải quyết tranh chấp Vì vậy, ĐƯQT có lợi thế hơn trong việc áp dụng các quy phạm quốc tế.

40 TQQT cũng chính là kết quả của sự thỏa thuận giữa các quốc gia và chủ thể khác của LQT

TQQT, hay tập quán quốc tế, là những quy tắc ứng xử được các quốc gia và chủ thể luật quốc tế công nhận rộng rãi, thường hình thành từ sự thỏa thuận giữa các bên Những quy tắc này được lặp đi lặp lại và được coi là hợp pháp bởi các chủ thể khác Tuy nhiên, cũng có những TQQT được hình thành từ hành vi đơn phương của một quốc gia, chẳng hạn như việc tuyên bố chủ quyền đối với không gian và lãnh thổ Các quốc gia thường đưa ra tuyên bố đơn phương mà không cụ thể hóa, và sự công nhận này dẫn đến việc thiết lập biên giới quốc gia trên không và dưới lòng đất.

Tất cả các ĐƯQT đều được xây dựng trên cơ sở các TQQT

ĐƯQT được hình thành từ sự thỏa thuận và bình đẳng qua đàm phán, ký kết TQQT chỉ có vai trò hỗ trợ trong việc hình thành và phát triển ĐƯQT Một số TQQT có thể được thay thế và phát triển thành ĐƯQT, nhưng không phải tất cả ĐƯQT đều dựa trên TQQT.

Phương tiện bổ trợ nguồn của LQT không chứa đựng các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế

 CSPL: Điều 38 Quy chế Tòa án công lý quốc tế

Nguồn cơ bản của luật quốc tế bao gồm các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế được quy định trong các điều ước quốc tế Các phương tiện bổ trợ nguồn không chứa quy phạm pháp luật quốc tế, mà chỉ nhằm hỗ trợ cho nguồn pháp lý chính, bao gồm các nguyên tắc pháp luật chung, phán quyết của Tòa án Công lý, nghị quyết của các tổ chức quốc tế, học thuyết và các công trình nghiên cứu.

Các phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế có giá trị bắt buộc đối với mọi quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế

 Cspl: Điều 38 Quy chế Tòa án công lý quốc tế

 Giải thích: Các phương tiện bổ trợ nguồn của LQT bao gồm:

 Các nghị quyết xét xử của Tòa án Công lý quốc tế

 Các học thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật pháp công khai của nhiều dân tộc khác nhau

Các phương tiện bổ trợ không phải là nguồn cơ bản của luật quốc tế và không chứa đựng các nguyên tắc cũng như quy phạm luật quốc tế Chúng không thể điều chỉnh trực tiếp các quan hệ quốc tế mà chỉ giúp làm rõ tính pháp lý của việc áp dụng các nguồn cơ bản và chủ yếu của luật quốc tế Do đó, các phương tiện bổ trợ này không có giá trị bắt buộc đối với mọi quốc gia và các chủ thể khác trong luật quốc tế.

Chứng minh rằng các phương tiện bổ trợ nguồn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng pháp luật quốc tế

 Nguồn hỗ trợ sẽ được áp dụng khi không có các QPPL được ghi nhận trong nguồn cơ bản.

Nguồn hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích và hướng dẫn áp dụng pháp luật quốc tế cho từng trường hợp cụ thể, đặc biệt khi các quy định trong điều ước quốc tế còn mập mờ hoặc do tính không thành văn của các thỏa thuận quốc tế khiến việc xác định nội dung trở nên khó khăn.

Bài viết này nhằm làm rõ các quy định của luật quốc tế (LQT), từ đó tạo điều kiện cho các chủ thể LQT có thể tiếp cận và hiểu biết về LQT theo một cách thống nhất và chung nhất.

Quy chế và cấu trúc địa chất của đảo đã được làm rõ thông qua phán quyết của Tòa án trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc, tuy nhiên, Điều 121 của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 vẫn chưa cung cấp những thông tin cụ thể.

Vụ việc thềm lục địa Biển Bắc năm 1969 giữa Đức, Hà Lan và Đan Mạch đã làm rõ các nguyên tắc phân định thềm lục địa, điều mà Công ước Luật Biển 1958 chưa quy định một cách rõ ràng Sự kiện này không chỉ ảnh hưởng đến quan hệ giữa các quốc gia liên quan mà còn định hình lại cách thức áp dụng luật quốc tế trong việc phân chia tài nguyên biển.

Phán quyết của trọng tài Max Huber trong vụ Las Palmas đã làm sáng tỏ vấn đề chủ quyền lãnh thổ và cách thức chiếm hữu lãnh thổ hợp pháp theo luật quốc tế hiện đại Quyết định này đã được viện dẫn trong nhiều vụ tranh chấp lãnh thổ khác, góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền lãnh thổ.

 Chứng minh sự tồn tại của các NT, QPPLQT trong nguồn cơ bản.

Các chủ thể của Luật quốc tế có thể sử dụng các phương tiện hỗ trợ, như phán quyết của tòa án, để xác định trách nhiệm của các bên liên quan.

Dựa trên phán quyết của tòa án quốc tế về tranh chấp giữa Thái Lan và Campuchia liên quan đến đền Preah Vihear, Thái Lan không có cơ sở để khẳng định quyền sở hữu ngôi đền này.

Góp phần làm hình thành nguồn cơ bản của luật quốc tế.

Phán quyết của tòa án quốc tế trong vụ tranh chấp ngư trường giữa Anh và Na Uy đã khẳng định phương pháp đường cơ sở thẳng cho các quốc gia có bờ biển khúc khuỷu Mặc dù ban đầu chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên tranh chấp, phán quyết này đã được áp dụng rộng rãi và trở thành tập quán quốc tế, được cộng đồng quốc tế công nhận trong công ước Luật Biển.

VD2: Các luận điểm trong tác phẩm “Biển quốc tế” của tác giả Hugues Grotius có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây dựng Luật biển quốc tế.

Các phán quyết của Tòa trọng tài trong các vụ kiện giữa Mỹ và Iran, cũng như trong các vụ xét xử tội phạm chiến tranh ở Nam Tư, đã đóng góp quan trọng vào việc pháp điển hóa các quy phạm luật quốc tế Những quyết định này không chỉ xác định trách nhiệm pháp lý quốc gia mà còn làm rõ trách nhiệm hình sự của cá nhân trong bối cảnh quốc tế.

Quy phạm tập quán của luật môi trường quốc tế nêu rõ rằng "không một quốc gia nào có quyền sử dụng hoặc cho phép sử dụng lãnh thổ của mình dẫn đến việc gây thiệt hại bởi ô nhiễm do khói bay sang hoặc trên lãnh thổ của một quốc gia khác," như đã được xác định trong vụ Trail Smelter giữa Mỹ và Canada Nguyên tắc này đã trở thành nền tảng pháp lý cho nhiều điều ước quốc tế về môi trường, bao gồm Nghị định thư Kyoto của Công ước khung Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu năm 1997.

Phán quyết của TAQT không chỉ áp dụng cho các bên tranh chấp mà còn giúp các quốc gia hiểu rõ hơn về các quy định liên quan, vì nó phản ánh kết quả từ quá trình nghiên cứu của các chuyên gia có trình độ cao.

 Trong trường hợp có TC xảy ra mà chưa có ĐƯQT hay TQQT quy định cách giải quyết => có thể ad các phương tiện bổ trợ.

 Phương tiện bổ trợ làm sáng tỏ nội dung các nguồn cơ bản là ĐƯ và TQ

 Cơ sở hình thành nên các nguồn cơ bản.

 Được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ pháp lý quốc tế trong trường hợp không có nguồn cơ bản.

Bài tập

ĐƯQT là thỏa thuận tự nguyện và bình đẳng giữa các chủ thể của luật quốc tế, nhằm thiết lập các quy tắc pháp lý bắt buộc Những quy tắc này có vai trò quan trọng trong việc xác định, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên trong quan hệ quốc tế.

+ Hình thức thỏa thuận giữa quốc gia A và quốc gia B: bằng văn bản;

+ Chủ thể tham gia thỏa thuận: quốc gia A và quốc gia B là chủ thể của luật quốc tế; + Nguyên tắc: bình đẳng và tự nguyện;

+ Luật điều chỉnh: Luật quốc tế;

+ Không vi phạm 7 nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, đặc biệt tuân thủ nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế;

+ Về tố tụng: thỏa thuận giữa hai quốc gia nhằm mục đích xác lập, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý của 2 bên;

+ Về tên gọi: được xác lập bởi bất kỳ tên gọi gì;

+ Thỏa thuận được xác lập bởi các văn kiện khác nhau: bức thư, biên bản hội nghị.

Khi điều ước phát sinh hiệu lực:

Quan hệ giữa A và B sẽ tuân theo Điều 10, áp dụng các điều ước quốc tế với bảo lưu, ngoại trừ những trường hợp có điều kiện liên quan đến bảo lưu Như vậy, A chính thức trở thành một bên tham gia vào điều ước với B.

Quan hệ giữa A và C được điều chỉnh theo Điều 10, thông qua việc áp dụng điều ước mà không có bảo lưu, hoặc có thể không tồn tại điều ước, tùy thuộc vào quan điểm của từng bên.

Quan hệ giữa A và D áp dụng Điều 10, trong đó nếu D không có ý kiến phản đối trong vòng 12 tháng kể từ khi nhận được tuyên bố bảo lưu của A, thì được coi là đã chấp thuận Tuyên bố bảo lưu của A.

D bằng các điều ước quốc tế áp dụng bảo lưu, trừ các trường hợp điều kiện liên quan tới bảo lưu A trở thành 1 bên tham gia điều ước với D

Quan hệ của B,C và D không có ràng buộc tại Điều 10

Hành động của A và B sẽ xác định ĐƯQT liên quan đến tuyên bố đơn phương Z của B, tùy thuộc vào quy định về phê chuẩn và phê duyệt Chỉ sau khi các quy định này được xem xét, sự ràng buộc đối với quốc gia B mới có thể được xác định.

Theo em quan điểm của Y đúng.

Công ước Geneva 1958 không có tính ràng buộc về mặt pháp lý đối với Y.

Mặc dù quy tắc đường trung tuyến được áp dụng trong việc phân chia thềm lục địa, nhưng không có bằng chứng cho thấy các quốc gia thực hiện hành động này dựa trên nhận thức rằng họ đang tuân thủ luật pháp.

Công ước Geneva không khẳng định nguyên tắc đường cách đều là quy tắc bắt buộc trong việc phân định thềm lục địa giữa các quốc gia liền kề theo luật tập quán quốc tế Do đó, công ước này không có hiệu lực pháp lý để thiết lập một quy phạm như vậy, và thực tiễn quốc gia hiện tại vẫn chưa đủ để rút ra kết luận rõ ràng.

Các quốc gia không bắt buộc phải áp dụng công ước 1958, miễn là nó không mâu thuẫn với luật của nước mình Đồng thời, việc sử dụng biện pháp phân định dựa trên đường trung tuyến cũng không phải là quy phạm bắt buộc trong luật tập quán.

Hãy xác định trách nhiệm pháp lý giữa các bên và dự kiến hướng giải quyết vụ việc tranh chấp trên?

 Xác định trách nhiệm pháp lý giữa các bên:

 Trách nhiệm pháp lý của quốc gia B: tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình trong điều ước M mà QG B đã kí kết.

Theo Khoản 2 Điều 61 của Công ước Vienna 1969, Quốc gia B không thể đình chỉ thực thi điều ước, vì việc này sẽ dẫn đến việc không thực hiện các nghĩa vụ đã ký kết Hệ quả là toàn bộ hệ thống đập sẽ không thể hoàn thành, gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng.

QG B đã vi phạm nguyên tắc pacta sunt servanda.

 Trách nhiệm pháp lý của quốc gia A: bồi thường thiệt hại và khôi phục nguyên trạng.

Hành vi đơn phương xây dựng đập Z của quốc gia A đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho quốc gia B mà không có sự đồng ý từ quốc gia này.

Quốc gia B, nhận thấy việc thực hiện Điều ước M có thể gây hại cho môi trường, nên tiến hành đàm phán lại với Quốc gia A và C về các biện pháp bảo vệ môi trường Việc này không chỉ giúp xác nhận tính chính xác của những lo ngại mà Quốc gia B đã đưa ra mà còn tạo điều kiện cho các bên cùng giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, tuân thủ nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình theo Điều 33 của Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945.

Quốc gia A đã đơn phương xây dựng con đập Z nhằm điều chỉnh nguồn nước, dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng về môi trường cho quốc gia B Hành động này vi phạm các điều ước đã ký kết giữa hai quốc gia, gây ra căng thẳng trong quan hệ ngoại giao Để khắc phục hậu quả, quốc gia A sẽ chịu trách nhiệm bồi thường và cam kết không tái phạm trong tương lai.

Quốc gia A nên công bố đơn phương hành động của mình để nhận được sự đồng ý từ quốc gia B, nhằm hoàn tất việc xây dựng con đập mới Điều này cần được thực hiện với các biện pháp hiệu quả, đảm bảo không gây ảnh hưởng đến các nước lân cận, đặc biệt là quốc gia B.

Asteria, Branica, Catonia và Delfina là bốn quốc gia láng giềng đã ký kết hiệp ước Ratona vào năm 2014 nhằm khuyến khích và bảo hộ đầu tư của công dân Hiệp ước này yêu cầu các bên ký kết phải phê chuẩn theo pháp luật của mỗi quốc gia và sẽ có hiệu lực khi có đủ 3/4 số quốc gia phê chuẩn.

2015, điều ước nói trên đã phát sinh hiệu lực.

Quốc gia Delfina khẳng định rằng việc ký kết ĐƯQT không đồng nghĩa với việc họ có nghĩa vụ phải phê chuẩn điều ước này Họ cũng cho rằng do chưa phê chuẩn, điều ước sẽ không có hiệu lực ràng buộc đối với Delfina.

1 Các quan điểm của quốc gia Delgina có đúng không?

Ngày đăng: 14/11/2021, 12:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành ĐƯQT   ra   đời   trải   qua  quy - ôn tập CPQT chương 2
Hình th ành ĐƯQT ra đời trải qua quy (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w