Nguyên tắc chú ý đến tâm lí và trình độ Tiếng Việt vốn có của HSTH: - Dạy Tiếng Việt rất khó để chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập nhưng GV lại chuyển hoạt động rất nh[r]
Trang 1Trường Đại học Đồng Nai
Khoa sư phạm Tiểu học – Mầm non
BÀI KIỂM TRA GIỮA HỌC PHẦN
Tên SV: Đậu Thị Lan Nhi
Lớp: ĐH Tiểu học A- K5
Năm học : 2017 - 2018
Trang 2BÀI KIỂM TRA GIỮA HỌC PHẦN
MÔN: PPDH Tiếng Việt 1
Yêu cầu 1: Xem xét – đánh giá việc thực hiện 3 nguyên tắc dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểu học:
Trong thời gian kiến tập 4 tuần ở trường Tiểu học Nguyễn Du em đã học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm Qua đây em xin trình bày về việc thực hiện 3 nguyên tắc dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểu học
Nguyên tắc phát triển tư duy:
- GV đã chú ý rèn luyện thao tác tư duy cho HS qua hệ thống câu hỏi mà GV đưa ra và HS phải suy nghĩ, phân tích, khái quát… thì các em mới có thể trả lời được câu hỏi từ đó nắm nội dung bài học Tiết dạy tập đọc “ Câu chuyện bó đũa”:
GV dẫn vào bài bằng cách cho HS quan sát tranh, đặt câu hỏi bức tranh vẽ gì? HS suy nghĩ rồi nói lên ý kiến của mình
GV yêu cầu HS đọc bài kết hợp chia đoạn và tìm nội dung chính trong từng đoạn
HS suy nghĩ dơ tay trả lời các câu hỏi của bài học
GV đã giải đáp, hướng dẫn HS hiểu được các từ ngữ ( từ mới, từ khó)
Với các câu hỏi GV mở rộng thì HS được tự do trả lời theo ý kiến riêng của mình, như vậy giúp HS biết thể hiện nội dung bằng các phương tiện ngôn ngữ
Nguyên tắc này được đảm bảo
Nguyên tắc giao tiếp: Hướng vào hoạt động giao tiếp là nguyên tắc đặc trưng của việc dạy học Tiếng Việt Để hình thành ngôn ngữ thì HS phải hoạt động trong môi trường giao tiếp cụ thể
Trong tiết Tập làm văn lớp 2 bài “ Kể về gia đình em’’
Trang 3 GV yêu cầu HS thảo luận nhóm bàn kể về gia đình em gồm mấy người? Đó là những ai? Nói về từng người trong gia đình em…
Từ những điều vừa kể trên HS sẽ viết đoạn văn nói về gia đình mình
Sau đó sẽ trình bày đoạn văn mình viết trước lớp và trả lời các câu hỏi các bạn dưới lớp đặt ra
Thông qua hoạt động thảo luận nhóm hay hoạt động hỏi đáp trước lớp giúp HS phát triển lời nói, hình thành kĩ năng, kĩ xảo ngôn ngữ, HS hiểu được lời nói của người khác đồng thời để người khác hiểu được ý kiến của mình Nguyên tắc này được đảm bảo
Nguyên tắc chú ý đến tâm lí và trình độ Tiếng Việt vốn có của HSTH:
- Dạy Tiếng Việt rất khó để chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập nhưng GV lại chuyển hoạt động rất nhẹ nhàng, gây được hứng thú cho HS bằng các bài hát, các câu hỏi gợi nội dung bài hay các trò chơi
- Trong giờ học, GV luôn có các hoạt động thảo luận nhóm đôi, nhóm bàn giúp HS hình thành lời nói hoàn chỉnh trong các cuộc hội thoại VD: Trong tiết tập đọc: Sự tích câu vú sữa
Vì tâm lí của HS tiểu học rất mất tập trung nên trong tiết tập đọc GV cho HS đọc nối tiếp câu, đoạn vừa giúp HS chú ý bài vừa có thể kiểm tra trình độ đọc của HS
GV tổ chức cho HS hoạt động thảo luận nhóm để trả lời các câu hỏi bài học mà GV mở rộng để HS hoàn chỉnh lời nói của mình hơn khi giao tiếp với các bạn
Các tiết dạy Tiếng Việt ở trường tiểu học đều là một tiết dạy tích
cực:
- Mọi học sinh đều được hoạt động: cả lớp rất sôi nổi giơ tay, thảo luận
nhóm đôi, nhóm bàn đóng góp ý kiến Khi chỉ có một vài bạn được tham gia trò chơi thì các HS còn lại sẽ theo dõi và nhận xét
- GV chỉ là người điều hành, tổ chức, hướng dẫn, HS tự phát hiện ra tri
thức: GV chỉ nêu yêu cầu và HS sẽ tự điều hành nhóm thảo luận tìm ra kết
quả, trình bày kết quả và GV nhận xét, góp ý
Trang 4- Tạo bầu không khí lớp học thoải mái, vui vẻ: thông qua các bài hát, trò
chơi giúp HS tiếp thu được kiến thức mà vẫn vui vẻ, không gượng ép
VD tiết dạy luyện từ và câu bài: Mở rộng vốn từ về công việc gia đình Câu kiểu Ai làm gì?
- GV tổ chức các hoạt động trò chơi “ Chọn hoa” mà trong đó là các câu hỏi bài cũ, để kiểm tra bài cũ cũng như sửa đáp án bài tập, vừa tạo không khí thoải mái, vui vẻ chơi mà học cho HS
- Với bài tập thì GV yêu cầu HS thảo luận nhóm để tìm đáp án và đại diện các nhóm thi đua điền kết quả lên bảng Như vậy mọi HS trong lớp đều hoạt động, tham gia đóng góp ý kiến trong nhóm và sau khi các nhóm làm bài xong thì sửa bài, đóng góp ý kiến
- Với bài tập “ Gạch chân dưới bộ phận Ai? Làm gì?” thì HS quan sát mẫu của GV và tự gạch chân vào SGK Như vậy GV chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, còn HS tự tìm đáp án và tự sản sinh ra tri thức
Yêu cầu 2 : Liệt kê các băn khoăn, thắc mắc của bản thân khi tiếp xúc thực tế các tiết dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểu học:
- Thực sự chỉ có các tiết hội giảng thì GV mới dạy đúng quy trình của một tiết học, còn các tiết lên lớp khác thì GV dạy rất sơ sài, chỉ cho HS ghi nội dung và dạy sơ sài -> GV cần tuân thủ đúng quy trình của một tiết dạy để đảm bảo đủ kiến thức và phát triển các kĩ năng cần thiết cho HS
- Tiết tập viết, GV không hướng dẫn cách viết mà chỉ kêu HS lấy vở ra ghi
-> Lí giải: GV chỉ để ý đến việc HS ghi có đủ bài hay không chứ chưa thực
sự quan tâm đến HS viết đẹp, viết đúng, đủ nét -> Giải pháp: GV cần lên
lớp tiết tập viết đúng quy trình, hướng dẫn chi tiết cách viết các con chữ và luyện cho HS viết chữ đúng, đẹp
- GV bỏ qua các tiết dạy kể chuyện, hầu như không lên lớp tiết kể chuyện
Lí giải: GV nghĩ tiết kể chuyện không cần thiết, trong một buổi dạy không kịp thời gian để dạy tiết kể chuyện -> Giải pháp: GV cần dạy tiết kể chuyện
để giúp HS phát triển năng khiếu, ngôn ngữ nói, tiết kể chuyện là tiết dạy thoải mái giúp HS hứng thú, đỡ căng thẳng trong một buổi học
- Trong một tiết dạy GV chỉ gọi các hs khá giỏi trả lời câu hỏi và chưa thực
sự quan tâm đến các đối tượng HS trung bình, yếu -> lí giải: Vì để hoạt động
của tiết dạy diễn ra nhanh chóng, kịp thời gian thì GV chỉ gọi HS khá giỏi
Trang 5trả lời cho nhanh Giải pháp: Cần quan tâm đến tất cả đối tượng HS trong
lớp, bao quát lớp hơn
- Tiết chính tả, hoạt động tìm từ khó GV không để hs tự tìm mà GV nêu ra luôn và cho HS ghi bảng con Có những HS chép bài chính tả không kịp thì
GV cho mở sách ra chép Lí giải: Làm như vậy GV sẽ tiết kiệm thời gian của tiết dạy Giải pháp: Cho HS thảo luận nhóm đôi để tìm từ khó và
khuyến khích HS không mở sách chép bài chính tả