luận văn về Xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở huyện Cẩm Xuyên đến năm 2010
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 - Lý do chọn đề tài
Từ khi xuất hiện con người thì cũng là lúc xuất hiện các hiện tượng
xã hội: lao động sản xuất, giao tiếp, giáo dục….Con người trong quátrình đấu tranh cho sự sinh tồn và phát triển đã sáng tạo ra lịch sử củamình Tất cả mọi hoạt động xã hội của con ngưòi đều hướng tới conngười, vì con người, phục vụ con người ngày một tốt hơn, tiến bộ hơn,văn minh hơn Và ngược lại, chính những hoạt động của con người làđộng lực cho xã hội phát triển Con người vừa là mục tiêu vừa là độnglực phát triển của xã hội
Một trong những yếu tố cơ bản, có tính quyết định để thúc đẩynhanh quá trình tiến bộ xã hội đó là con người Ngày nay con ngườiluôn là đối tượng được quan tâm, là mục tiêu nghiên cứu của các nhàkhoa học, nhất là khoa học xã hội Từ ngày có Đảng và đặc biệt là trongthời kỳ đổi mới ở Việt Nam, nhân tố con người luôn được Đảng và Nhànước xác định đó là trung tâm, là động lực quan trọng của sự đổi mới.Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đãnêu rõ định hướng chiến lược, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về phát triển
con người: “ … Phát triển mạnh mẽ nguồn lực con người với yêu cầu ngày càng cao…”
Giáo dục đóng vai trò chủ yếu trong việc giữ gìn, phát triển vàtruyền bá văn minh nhân loại Trong thời đại cách mạng khoa học -công nghệ ngày nay, tiềm năng trí tuệ trở thành nền móng, động lựcchính cho phát triển , tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội
GD - ĐT là môi trường có tính quyết định trong việc tạo ra chấtlượng nguồn nhân lực - con người Xu thế hiện nay trên thế giới, cácnước phát triển cũng như các nước đang phát triển đều coi giáo dục là
Trang 2nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia.
Để tạo ra con người “ vừa hồng vừa chuyên ” đáp ứng ngày một tốt hơnnhững yêu cầu ngày càng cao trong thời đại mới – thời đại kinh tế trithức – với văn minh tin học thì điều duy nhất là không thể không cómột chiến lược tổng thể về xây dựng con người
Chiến lược phát triển KT-XH trong thời kỳ CNH - HĐH đất nướcđặt GD-ĐT: “ Thực sự coi GD - ĐT là quốc sách hàng đầu” Nhận thứcsâu sắc GD - ĐT cùng với KH - CN là nhân tố quyết định tăng trưởngkinh tế và phát triển xã hội
Để Việt Nam có thể nhanh hội nhập với cộng đồng các nước trongkhu vực và trên thế giới, chúng ta cần phải có những con người của thờiđại mới, con người làm chủ xã hội, làm chủ tương lai Bác Hồ kính yêucủa chúng ta đã nói rằng:
“ Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người ”
Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng và Nhà nước đã luôn quantâm tới sự nghiệp GD - ĐT Điều đó được thể hiện qua đường lối, chủtrương, và các chính sách cụ thể về phát triển GD - ĐT Nghị quyết Hộinghị lần thứ 2 - Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã chỉ rõ:
“ Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ
tổ quốc; CNH-HĐH đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc có năng lực tiếp thu tinh văn hoá nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong
Trang 3công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khoẻ, là những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “ Hồng” vừa “Chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ ”
Trong chiến lược phát triển KT-XH của mỗi quốc gia, của mỗi địaphương, cũng như chiến lược về sự phát triển của mỗi ngành, mỗi lĩnhvực, một trong những yếu tố quan trọng góp phần quyết định sự thànhcông của việc hoạch định và thực hiện chiến lược đó là công tác dự báo,xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch Trong văn kiện đạihội IX của Đảng ta nêu rõ : “ Đổi mới hơn nữa công tác kế hoạch hoá,nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch và kếhoạch phát triển KT-XH ”
Để có được một nền giáo dục phát triển, hiện đại thì nhiệm vụkhông thể thiếu được đối với chính phủ và các địa phương và đặc biệt làcác cơ quan quản lý GD là phải dự báo trước được sự phát triển củagiáo dục và các điều kiện phục vụ cho giáo dục, từ đó hoạch đường lối,chính sách, và xây dựng quy hoạch, kế hoạch cụ thể về quá trình pháttriển GD - ĐT Vấn đề này được hội nghị lần 2 - BCHTW khoá VIII, kếtluận của hội nghi 6- BCHTW Khoá IX chỉ rõ một trong bốn giải phápchủ yếu là: đổi mới công tác quản lý giáo dục, mà trước hết là phải “
Tăng cường công tác dự báo và kế hoạch phát triển giáo dục Đưa giáo dục vào quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH của cả nước và từng địa phương …”
Việc quy hoạch không chỉ tiếp cận trên bình diện lớn ở tầm quốcgia, mà nó cần được triển khai ở các cấp quản lý khác nhau trong đó cócấp huyện và được tiếp cận theo vùng và theo lãnh thổ
Một trong những cơ sở khoa học quan trọng của công tác xây dựngquy hoạch là dự báo Khoa học dự báo được hình thành và ứng dụng
Trang 4rộng rãi trong nhiều lĩnh vực KT - XH, đặc biệt là trong vài thập niêngần đây, trên cơ sở các dự báo, sẽ hoạch định và xây dựng chiến lượcphát triển sát hợp với từng thời kỳ.
Trong lĩnh vực GD - ĐT đã có những cuộc hội thảo khoa học quốc
tế và nhiều công trình khoa học nghiên cứu về dự báo giáo dục trongtương lai Khoa học dự báo về GD - ĐT đang được quan tâm nghiêncứu, ứng dụng vào việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, phát triển sựnghiệp GD - ĐT, đã có nhiều công trình địa phương, những công trìnhnày được sử dụng làm cơ sở phương pháp luận và cơ sở cho việc lựachọn phương án xây dựng chiến lược phát triển giáo dục
Cẩm Xuyên là huyện thuộc khu vực bắc miền trung, vị trí địa lýkhông thuận lợi, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt Là một huyện thuần tuýnông nghiệp, nền kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn Nhưng sự nghiệp
GD - ĐT có những bước phát triển vững chắc và đạt được những thànhtựu nổi bật đó là : đơn vị hoàn thành xoá nạn mù chữ sớm nhất trong cảnước và được Bác Hồ gửi thư khen (1946), là điển hình giáo dục CẩmBình - lá cờ đầu trong phong trào giáo dục cả nước trong thập niên70(Tkỷ 20), hoàn thành PCGD tiểu học 1991, hoàn thành PCGD tiểu họcđúng độ tuổi 2001, hoàn thành PCGD THCS 2001 Có được nhữngthành tựu nổi bật đó là do sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ và chínhquyền huyện Cẩm Xuyên, do truyền thống hiếu học của nhân dân, doquá trình phấn đấu không mệt mỏi của cán bộ, giáo viên và các cấp quản
lý GD
Bên cạnh đó vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập: Đó là sự mất cân đối
về đội ngũ GV, chất lượng học sinh đại trà còn thấp, là việc phất triển
hệ thống trường lớp, Một trong những nguyên nhân của sự tồn tại đó làcông tác xây dựng quy hoạch, kế họach về sự phát triển của hệ thống
Trang 5GD Công tác quy hoạch phát triển GD - ĐT nói chung và quy hoạchphát triển Giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở nói riêng của huyệnchưa được chú trọng Bước vào thiên niên kỷ mới, Đứng trước yêu cầucủa sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, của việc đổi mới chưong trình giáodục phổ thông hiện nay GD-ĐT huyện Cẩm Xuyên cần có chiến lược
và các giải pháp hữu hiệu cho phát triển GD-ĐT giai đoạn từ nay đến
2005 và 2010 Đây là một vấn đề bức xúc đặt ra cho GD-ĐT Cẩm
Xuyên Chính vì lẽ đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu là: “ Xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở huyện Cẩm Xuyên đến năm 2010 ”.
2 - Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục TH và THCS huyện CẩmXuyên đến năm 2010
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của quy hoạch phát triển giáo dục TH
- Đề xuất những giải pháp để thực hiện quy hoạch
3 - Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu:
Giáo dục TH và THCS huyệnCẩm Xuyên – tỉnh Hà Tĩnh
Đối tượng nghiên cứu:
Trang 6Thực trạng của giáo dục TH và THCS huyện Cẩm Xuyên và xuhướng phát triển đến năm 2010.
4 - Giả thuyết khoa học
Hệ thống giáo dục TH và THCS trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên sẽphát triển đồng bộ và cân đối, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạonhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự phát triển KT - XH củahuyện Cẩm Xuyên nói riêng và tỉnh Hà Tĩnh nói chung, nếu hệ thốngnày được quản lý bằng một quy hoạch tổng thể mang tính khao học vàkhả thi
5 - Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Nhóm phương pháp chuyên gia
- Nhóm phương pháp khác: so sánh, ngoại suy …
6 - Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi bậc TH và THCS huyện CẩmXuyên - tỉnh Hà Tĩnh
7 - Cấu trúc luận văn
Chương 3 Xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục Tiểu học và
trung học cơ sở huyện Cẩm Xuyên đến năm 2010
Phần kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 7Phần phụ lục
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ TÍNH CHẤT PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NÓI CHUNG VÀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC NÓI RIÊNG.
1.1.1 Quan niệm chung về quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong nền kinh tế thị trường.
Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia là quyhoạch tổng thể, bao gồm: Quy hoạch phát triển các ngành, các lĩnh vực
và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ …
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường công tác nghiên cứu quyhoạch cần phải được xem xét một cách kỹ lưỡng cả về nội dung lẫnphương pháp nghiên cứu để có được nhận thức đầy đủ, đúng đắn về quyhoạch phát triển KT - XH, phải làm rõ được những vấn đề sau:
- Thế nào là quy hoạch phát triển KT - XH;
- Nội dung của quy hoạch phát triển KT - XH;
- Phương pháp nghiên cứu quy hoạch phát triển KT - XH;
- Tổ chức nghiên cứu, lập dự án quy hoạch phát triển KT - XH.Các nước trên thế giới đều khẳng định quy hoạch là vấn đề có ýnghĩa to lớn cả về lý luận cũng như thực tiễn, nhằm mục đích tạo ranhững cơ sở khoa học để hoạch định các chính sách, chương trình pháttriển KT - XH Quan niệm về quy hoạch của một số nước như sau:
Liên Xô và các nước Đông Âu (cũ) quan niệm quy hoạch là tổng
sơ đồ phát triển và phân bố lược lượng sản xuất;
Anh: Quy hoạch được hiểu là sự bố trí có trật tự, sau đó là sựtiến hoá có kiểm soát các đối tượng không gian nhất định
Trang 8Pháp: Quy hoạch được hiểu là dự báo phát triển và tổ chức thựchiện theo lãnh thổ;
Trung Quốc: Quy hoạch là dự báo kế hoạch phát triển, là chiếnlược để quyết định các hoạt động để đạt tới mục tiêu Qua đó sẽ quyếtđịnh các mục tiêu mới, các biện pháp mới;
Hàn Quốc: Nhiệm vụ quy hoạch là xây dựng chính sách pháttriển;
Đối với Việt Nam: Theo Từ điển tiếng Việt thì: “ Quy hoạch là sự
bố trí, sắp xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong từng thời gian,làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn ”
Như vậy có thể hiểu quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mộtđịa phương (hay lãnh thổ) là bản luận chứng khoa học về phát triển KT -
XH (hay bố trí hợp lý KT - XH trên địa bàn lãnh thổ), cũng có thể hiểuquy hoạch như một công cụ thông qua các giải pháp dự báo để xác địnhtối ưu các vấn đề kinh tế - kỹ thuật, các nhiệm vụ, mục tiêu được tổchức thực hiện trong một trình tự thời gian và một không gian xác định
Quy hoạch phát triển KT - XH lãnh thổ bao gồm những nội dung
- Xác định quan điểm, mục tiêu phát triển;
- Luận chứng chọn lựa cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư;
- Xây dựng các phương án phát triển và tổ chức không gian
- Các bước đi cho từng thời kỳ 5 năm và những năm trước mắt (trong đó đặc biệt cần thể hiện rõ các chương trình, dự án cần ưu tiên);
- Các giải pháp thực hiện phương án quy hoạch đã được lựa chọn;Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ cần tậptrung vào những vấn đề then chốt như: quan điểm, mục tiêu và địnhhướng phát triển các giải pháp về cơ chế, chính sách và tổ chức thựchiện, các chương trình và dự án đầu tư quan trọng để thực hiện mụctiêu, phát ttiển của lãnh thổ phù hợp với định hướng phát triển của vùng
và cả nước
Trang 9Cái chung nhất của quy hoạch là đưa ra được những biện pháp giảiquyết các mâu thuẫn về thời gian, về không gian của các yếu tố pháttriển, tạo ra sự phát triển không gian hài hoà, hợp lý và hiệu quả.
Quy hoạch có nhiệm vụ góp phần thực hiện đường lối chiến lượcphát triển, tăng cường cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc ra quyếtđịnh, hoạch định các chính sách, phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch,đồng thời làm nhiệm vụ điều khiển, điều chỉnh trong công tác quản lý,chỉ đạo Quy hoạch là bước cụ thể hoá của chiến lược, còn kế hoạch làbước cụ thể hoá của quy hoạch
Như vậy, chiến lược và quy hoạch là căn cứ, và tiền đề của kếhoạch Chất lượng kế hoạch có được nâng cao, phù hợp với nền kinh tếthị trường và đảm bảo quản lý vĩ mô của Nhà nước hay không chính là
do khâu xây dựng chiến lược và quy hoạch góp phần quyết định Trongcông tác quản lý thì chiến lược, quy hoạch được xây dựng trên cơ sởđường lối, chính sách, quan điểm của mỗi tổ chức và được sắp đặt trongmối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề có liên quan như: Dự báo, chiếnlược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án Vị trí của quy hoạchđược xác định trong mối quan hệ giữa các khâu đường lối, chiến lược,
kế hoạch và dự báo (xem sơ đồ 1)
Trong đó:
- Đường lối: Là công cụ chỉ đạo ở mức cao nhất tổng hợp và kháiquát nhất, trong đó nêu được mục tiêu tổng hợp của toàn hệ thống cácđịnh hướng lớn để thực hiện các mục tiêu, xác định được những khảnăng nguồn lực có thể huy động để thực hiện mục tiêu Đường lối thểhiện được tính hợp lý nhất quán và phù hợp với đường lối thuộc cấp và
hệ thống cao hơn
Sơ đồ 1 Mối quan hệ giữa đường lối, chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch và dự báo
Đường lối
Trang 10- Chiến lược: Là cụ thể hoá ở mức độ toàn hệ thống, trong đó cần
phải xem xét kỹ mối quan hệ giữa các mục tiêu trong những điều kiệnkhông gian và thời gian nhất định
Trên cơ sở sắp xếp các mục tiêu theo thứ tự ưu tiên, xác định mụctiêu khả thi cho từng giai đoạn, định hướng chỉ đạo có bước đi thíchhợp, phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu
- Kế hoạch: Là chương trình hành động, là cụ thể hoá việc thực
hiện 1 hoặc nhiều mục tiêu trong phạm vi không gian, thời gian và điềukiện nguồn lực nhất định, ngoài việc sử dụng tối ưu nguồn lực, kế hoạchphải đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, hợp lý giữa những cá nhân và cơquan, tổ chức tham gia thực hiện kế hoạch, kế hoạch có đặc trưng xácđịnh là đơn vị
- Dự báo: Là những kiến giải có căn cứ khoa học các trạng thái
khả dĩ của đối tượng trong tương lai Đặc trưng của dự báo mang tínhxác suất, xét về mặt tính chất thì dự báo chính là khả năng nhìn trướcđược tương lai với mức độ tin cậy nhất định và trù tính được các điềukiện khách quan để thực hiện nó Dự báo là cơ sở nền tảng cho việc xâydựng kế hoạch, quy hoạch, chiến lược; khi đó dự báo phải thiết lập đượccác phương án, xác định được xu hướng phát triển, các mục tiêu có thểđạt được, từ đó xây dựng quy hoạch và chương trình hành động Ngượclại, quá trình thực hiện quy hoạch phải luôn luôn xem xét sự cân đối
Dự báo
Quy hoạch Chiếnlượ
cường lối
Kếhoạch hhhhoạch
Trang 11giữa mục tiêu và nguồn lực, sự đồng bộ giữa các hành động khác nhautrong phạm vi không gian nhất định Nếu gặp những tác động có tínhchất bất thường thì cần phải điều chỉnh mục tiêu, do vậy cần thiết phảiđiều chỉnh dự báo.
1.1.2 Mục đích, yêu cầu của việc xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ là phục
vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và phát triển KT - XH vàcung cấp những căn cứ cần thiết cho hoạt động KT - XH của nhân dân
và các nhà đầu tư Quy hoạch phát triển KT - XH của lãnh thổ phải đảmbảo các yêu cầu sau:
` - Việc xây dựng quy hoạch phải giúp cho các cơ quan lãnh đạo vàquản lý ở địa phương các căn cứ khoa học để đưa ra các chủ trương, kếhoạch, các giải pháp hữu hiệu để điều hành quá trình phát triển KT - XHcủa địa phương;
- Quy hoạch phải đảm bảo được yêu cầu của nền kinh tế thịtrường, của tiến bộ KH - CN và yêu cầu phát triển bền vững;
- Quy hoạch là một quá trình động, có trọng điểm cho từng thời
kỳ Vì vậy, quy hoạch phải đề cập nhiều phương án, thường xuyên cậpnhật, phải tìm ra các giải pháp, giải quyết các mâu thuẩn và tính tớinhững vấn đề nảy sinh nhằm đảm bảo sự phát triển hài hoà của hệ thống
tự nhiên, kinh tế – xã hội
- Quy hoạch phải là kết quả của quá trình nghiên cứu, đề xuất vàlựa chọn các giải pháp khác nhau cho các nhiệm vụ khác nhau;
- Công tác quy hoạch phát triển KT - XH là công tác tiến hànhthường xuyên, điều chỉnh nhiều lần, cập nhật của sự kế thừa và pháttriển
Trang 121.1.3 Những nguyên tác cơ bản của quy hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội
Một là, quy hoạch phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế và có tính
khả thi; kết hợp giữa yêu cầu phát triển và khả năng hiện thực
Hai là, quy hoạch mới được thực hiện có tính kế thừa của quy
hoạch cũ Cần lựa chọn và sử dụng những bộ phận quy hoạch cũ đangcòn phát huy tác dụng, tránh xoá bỏ toàn bộ để xây dựng mới, gây lãngphí không cần thiết
Ba là, kết hợp giữa phát triển trọng điểm và toàn diện; giữa sự
hoàn thiện tương đối của hệ thống với sự không hoà thiện của một sốphân hệ ( đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay; trong
xu thế khu vực hoá và quốc tế hoá); giữa sự kết hợp định tính và địnhlượng
Bốn là, quy hoạch phát triển KT - XH của địa phương (lãnh thổ)
phải phù hợp với quy hoạch của vùng, của ngành và của cả nước
1.1.4 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu quy hoạch phát triển
KT - XH của địa phương
Phương pháp tiếp cận nghiên cứu quy hoạch phát triển KT - XHcủa địa phương (xem sơ đồ 2 và 3)
1.1.5 Nội dung nghiên cứu quy hoạch phát triển KT - XH
Phần 1: Xác định mục đích yêu cầu của quy hoạch
- Nêu ra những vấn đề cơ bản, quan trọng cần giải quyết trong giaiđoạn quy họach, nhằm tạo ra một bước chuyển biến mới trong phát triển
và phân bố KT - XH;
- Giới hạn phạm vi lãnh thổ sẽ tiến hành quy hoạch;
- Ấn định thời hạn quy hoạch: 5 năm, 10 năm …
Phần 2: Đánh giá thực trạng KT - XH trên vùng quy hoạch về các
yếu tố và nguồn lực phát triển có ảnh hưởng tới quy hoạch như:
- Vị trí, vai trò và chức năng của địa phương trong tổng thể pháttriển KT - XH vùng và cả nước;
Trang 13- Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên;
- Đặc điểm dân số, nguồn nhân lực và bản sắc văn hoá;
- Đặc điểm hệ thống đô thị;
- Thực trạng KT - XH, điểm xuất phát của địa phương;
- Các yếu tố về tình hình phát triển của vùng, cả nước và bối cảnhquốc tế tác động đến quá trình phát triển KT - XH của địa phương;
- Xác định những lợi thế so sánh, thời cơ cũng như khó khăn, hạnchế, thách thức sự phát triển của địa phương
Phần 3: Phương hướng phát triển kinh tế và các giải pháp chủ yếu
trong thời kỳ quy hoạch gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Các quan điểm, mục tiêu và các nhiệm vụ chủ yếu;
- Xác định phương hướng chung, cơ cấu kinh tế và lựa chọnphương án phát triển;
- Quy hoạch phát triển các ngành kinh tế và phát triển kết cấu hạ tầng;
- Quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực xã hội;
- Phương án tổ chức không gian lãnh thổ
- Các bước đi cụ thể đến từng giai đoạn 5 năm trong thời kỳ quyhoạch, các chương trình phát triển và dự án đầu tư;
- Các giải pháp thực hiện phương hướng, mục tiêu;
- Biện pháp tổ chức thực hiện quy hoạch;
Định hướng phát triển của cả nước
v vùngà vùng
Quan điểm chỉ đạo mục tiêu v à vùngphương hướng phát triển d i hà vùng ạn
Tác động của tình hình, các yếu tố
MÔ HÌNH TRIỂN VỌNG
Phươn
g hướng phát triển
d i à ngu hạn 10-
15 năm
Hệ thống chính sách v các à ngu giải pháp thực hiện
Phươn
g hướng phát triển
d i à ngu hạn 10-
15 năm
Phươn
g hướng phát triển
d i à ngu hạn 10-
15 năm
SƠ ĐỒ 2 SỰ TIẾP CẬN NGHIÊN C ỨU QUY HOẠCH PHÁT TRI ỂN KT - XH
Trang 14so sánh thời cơ, khó khăn hạn chế, thách thức đối với sự phát triển của địa phương trước mắt cũng như lâu
d i à vùng
QUAN ĐIỂM MỤC TIÊU PHÁT
TRIỂN
XÁC ĐỊNH PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG VÀ CƠ CẤU
KINH TẾ
LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN PHÁT TRIỂN VÀ CƠ CẤU
ĐẦU TƯ
Quy hoạch phát triển các
ng nh à vùng kinh tế
Xác định phương hướng phát triển các lĩnh vực văn hoá
xã hội
PHƯƠNG HƯỚNG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN LÃNH THỔ
BƯỚC ĐI THEO TỪNG GIAI ĐOẠN ,CÁC CHƯƠNG TRÌNH
* Huy động vốn đầu tư phát triển
hạ tầng.
* Khuyến kích đầu tư tạo việc
l m à vùng
* Quản lý kinh tế
* Đ o t à vùng ạo nghề
* Phát huy nguồn lực của các
th nh ph à vùng ần kinh tế
Tổ chức thực hiện quy hoạch
Kiến nghị với cấp trên, phối
Sơ đồ3 Ph.pháp tiếp cận nghiên cứu quy hoạch phát triển KTXH
Trang 151.2 QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NGÀNH GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
1.2.1.Khái niệm về quy hoạch phát triển ngành Giáo dục - Đào tạo
Từ quan niệm chung về quy hoạch phát triển KT - XH, cho thấyquy hoạch phát triển ngành GD - ĐT thuộc quy hoạch phát triển ngành
và là bộ phận của quy hoạch phát triển KT - XH nói chung
Trên cơ sở lý luận về quy hoạch, thì quy hoạch phát triển ngành
GD - ĐT là bản luận chứng khoa học về quan điểm, mục tiêu, phươnghướng, những giải pháp phát triển và phân bố toàn bộ hệ thống GD -
ĐT, trong đó đặc biệt chỉ rõ yêu cầu nâng cao chất lượng GD - ĐT, pháttriển lực lượng giáo dục phân bổ theo các bước đi và không gian đápứng yêu cầu phát triển toàn diện con người và phát triển KT - XH củađất nước
1.2.2 Mục đích, yêu cầu của quy hoạch phát triển Giáo dục-Đào tạo
Mục đích cơ bản của quy hoạch và phân bố ngành GD-ĐT nhằmxây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chủ trương, chínhsách và kế hoạch phát triển của bản thân ngành cũng như các ngànhkhác và của các địa phương, nhất là việc phục vụ cho việc xây dựngchương trình, kế hoạch, dự án đầu tư phát triển dài hạn và ngắn hạn,
Trang 16quy hoạch phát triển và phân bố ngành GD- ĐT phải đáp ứng được cácyêu cầu cơ bản sau:
Một là, phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển KT-XH
chung của vùng và cả nước, tương thích với mức cần thiết của yêu cầuhội nhập Quốc tế và Khu vực;
Hai là, phù hợp với quy hoạch chung và quy hoạch các ngành khác
liên quan của địa phương;
Ba là, phù hợp với quy mô, cơ cấu và phân bố dân số;
Bốn là, kết hợp trước mắt và lâu dài, có tính toán bước đi cụ thể
tới mức có thể và cần thiết, xác định rõ những vấn đề bức xúc trọngđiểm đầu tư, thứ tự ưu tiên;
Năm là, xử lý tốt mối quan hệ với các ngành, các lĩnh vực khác,
thể hiện được đặc thù của ngành ở chỗ vừa là phúc lợi xã hội (do Nhànước cung cấp), vừa là ngành cung cấp dịch vụ, nên cần phân biệt rõ vaitrò, nhiệm vụ của Nhà nước và của các tổ chức, các cá nhân khác trong
xã hội Xác định cơ chế quản lý và cơ chế hoạt động,nhằm đảm bảo hiệuquả công bằng và dân chủ
1.2.3 Vị trí và mối quan hệ giữa quy hoạch GD - ĐT với các ngành, lĩnh vực khác của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
- Quy hoạch phát triển và phân bố ngành GD - ĐT của địa phương
là một bộ phận hữu cơ của quy hoạch phát triển GD - ĐT của vùng vàcủa cả nước, có quan hệ chặt chẽ với quy hoạch ngành, lĩnh vực kháctrên địa bàn lãnh thổ Do đó cần có sự phối hợp chặt chẽ để xử lý tốtnhững vấn đề liên ngành, liên vùng
- Quy hoạch phát triển GD - ĐT làm cơ sở cho quy hoạch cácngành khác, cung cấp số lượng lao động được đào tạo làm cơ sở để xác định nhu cầu sản xuất của các ngành và toàn xã hội
Trang 17- Quy hoạch phát triển GD - ĐT dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứucủa các quy hoạch khác như kết quả dự báo dân số, phân bố dân cư,nguồn nhân lực, quy mô phát triển và phân bố các ngành sản xuất đểxác định nhu cầu đào tạo kỹ thuật.
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục.
Sự phát triển của giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục tiểuhọc và THCS nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố Để làm tốt công tácquy hoạch, chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ những căn cứ để xây dựngquy hoạch phát triển, các căn cứ đó là:
* Các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước
Các quan điểm cơ bản của Nghị quyết4 - BCHTW Đảng khoá VII(Tháng 1/1993) và Nghị quyết 2 - BCHTW Đảng khoá VIII ( Tháng12/1996), kết luận của nghị quyết6 - BCHTW Đảng khoá IX( Tháng06/2002), luật giáo dục(1998),chiến lược phát triển giáo dục2001-2010(12/2001), đó là:
Một là, GD - ĐT là quốc sách hàng đầu;
Hai là, GD - ĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài;
Ba là, phát triển giáo dục vừa gắn với thực tiển đất nước vừa phù
hợp với xu thế tiến bộ cuả thời đại, xây dựng nền giáo dục cho mọingười, để mọi người đều được học tập, học tập liên tục, học tập suốtđời
Bốn là, đa dạng hoá các hình thức GD - ĐT;
Năm là, giữ vững mục tiêu XHCN trong nội dung, phương pháp
GD - ĐT và trong các chính sách nhất là chính sách công bằng xã hội;
Sáu là, GD - ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và toàn dân.
* Dân số và số dân trong độ tuổi các cấp TH và THCS
Trang 18Đây là cơ sở rất quan trọng và cơ bản làm căn cứ để xây dựng quyhoạch phát triển GD - ĐT Bởi mức tăng, giảm dân số nói chung, sự di
cư dân số, thành phần dân tộc và phân bố dân cư ở thành thị, nông thôn,vùng lãnh thổ, v.v… đều ảnh hưởng đến dân số học đường Nếu dân sốtăng nhanh thì học sinh các lớp đầu cấp sẽ tăng rất nhanh ở các lớp tiểuhọc Nếu quá trình tăng dân số được kiểm soát chặt chẽ, có kế hoạch, tỷ
lệ sinh đẻ giảm dần thì qui mô học sinh TH sẽ giảm Tỉ lệ tăng dân số
ổn định thì sẽ tính được nhu cầu chính xác của các lớp TH
* Quy mô học sinh.
Quy mô học sinh phát triển bình thường thì việc xây dựng quyhoạch sẽ thuận lợi, nếu quy mô học sinh giữa tiểu học và THCS chênhlệch nhau quá lớn, không ổn định sẽ ảnh hưởng đến công tác quy hoạch
Do vậy cần quan tâm đến các lớp đầu cấp tiểu học, tạo điều kiện cho các
em đến tuổi được đi học, đó là căn cứ để xây dựng quy hoạch các cấphọc tiếp theo Quy mô học sinh còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khácnhư mặt bằng dân trí của khu vực, đời sống KT -XH của cộng đồng dân
cư địa phương sở tại, …
Ví dụ: với một quy mô học sinh nhất định, nếu cơ sở vật chất thiếu
thốn, số lớp học được xây dựng ít thì số lượng học sinh trên một lớp sẽcao, ảnh hưởng đến chất lượng học tập, nếu số lớp học tăng thì việc bốtrí số học sinh trên lớp sẽ được đảm bảo theo đúng quy định, học sinh sẽ
có điều kiện học tập tốt hơn
* Thu nhập quốc dân và đầu tư cho giáo dục TH và THCS.
Trang 19Đây là nhân tố quan trọng có tác động rất mạnh đến quy mô pháttriển giáo dục TH và THCS Thu nhập quốc dân và đầu tư cho giáo dụctăng thì nhu cầu đến trường của học sinh tăng, việc đáp ứng những yêucầu về điều kiện học tập của HS và giảng dạy của GV sẽ thuận lợi hơn.
Cơ sở vật chất trường lớp được đảm bảo, đời sống được cải thiện thìgiáo viên yên tâm “ yêu nghề, yêu trẻ “, khi đó chất lượng học sinh sẽđược tăng lên
1.2.5 Nội dung quy hoạch và phân bố hệ thống giáo dục phổ thông.
* Đặc điểm kinh tế - xã hội tác động đến phát triển và phân bố giáo dục phổ thông
- Đặc điểm địa lý tự nhiên vùng quy hoạch
- Trình độ học vấn, quy mô, cơ cấu tuổi và đặc điểm phân bố dâncư
- Trình độ phát triển KT - XH và phát triển KH - CN
- Các nhân tố tâm lý xã hội và truyền thống
* Nội dung đánh giá thực trạng giáo dục phổ thông
- Thực trạng phát triển giáo dục phổ thông
+ Khái quát chung về hệ thống giáo dục phổ thông, khái quát hệthống giáo dục quốc dân và vị trí, yêu cầu của giáo dục phổ thông
+ Phân tích, đánh giá thực trạng quy mô học sinh và xu hướngbiến động số lượng trẻ em trong độ tuổi đi học Tỉ lệ huy động đi học sovới dân số trong độ tuổi đi học cùng cấp
+ Phân tích đánh giá chất lượng giáo dục của các cấp học như: kếtquả học tập, rèn luyện, tỉ lệ lưu ban, bỏ học, lên lớp và tốt nghiệp ởcuối cấp …
+ Phân tích đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên (theo từng cấphọc) về: biến động số lượng giáo viên, số học sinh trên một giáo viên,
số giáo viên trên một lớp …
Trang 20+ Phân tích đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên (theo từng cấphọc) về: biến động số lượng giáo viên một lớp, phân tích nguyên nhâncủa sự biến động về số lượng giáo viên, đánh giá chất lượng đội ngũgiáo viên (đánh giá chung), tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn và cơ cấu giáo viêntheo từng bộ môn …
+ Phân tích, đánh giá thực trạng, chất lượng và sự phân bố hệthống cơ sở vật chất của các cấp học (số trường, lớp học), số học sinhtính cho một phòng học, trang thiết bị cơ sở vật chất khác như phòng thínghiệm, trang thiết bị dạy học, thư viện, cung cấp nước sạch, điện và hệthống chiếu sáng, công trình vệ sinh …
- Thực trạng tài chính cho phát triển giáo dục phổ thông:
+ Đánh giá, phân tích nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước:Tổng chi phí ngân sách cho GD - ĐT, trong đó chi cho giáo dụcphổ thông, tỉ trọng chi cho giáo dục phổ thông so với tổng chi ngân sách
GD - ĐT và tổng chi ngân sách của địa phương nói chung, phân tíchtính hợp lý của tỉ lệ trên;
Cơ cấu chi ngân sách phổ thông: phân tích cơ cấu chi theo các cấphọc và những mục tiêu giáo dục như: chi cho TH, THCS, xoá mù chữ,nâng cao chất lượng giáo viên …; cơ cấu chi cho mục đích sử dụng như:chi thường xuyên, chi xây dựng cơ bản …
+ Đánh giá, phân tích nguồn tài chính, nguồn ngân sách:
Ngân sách nhà nước;
Đóng góp của gia đình học sinh;
Đóng góp của các tổ chức xã hội
- Phân tích đánh giá hiệu quả phát triển giáo dục phổ thông:
+ Hiệu quả “trong” (được xem xét từ bên trong ngành giáo dục,phân tích tính hiệu quả kinh tế vĩ mô của việc sử dụng các nguồn lực)được phân tích đánh giá bằng những chỉ tiêu sau: tỉ lệ học sinh hoàn
Trang 21thành cấp học; thời gian học trung bình của cấp học; hao phí do bỏ học
và lưu ban
+ Hiệu quả: “ngoài” (hiệu quả được xem xét dưới góc độ với xã hội).Hiệu quả này được phân tích, đánh giá, trên cơ sở những chi tiêu sau: những thay đổi trong mặt bằng dân trí của dân cư như: giảm tỉ lệ
mù chữ; tăng tỉ lệ thu hút dân số trong độ tuổi đi học đến trường; thayđổi tiến bộ trong cơ cấu trình độ dân trí của dân cư
* Phương hướng phát triển và phân bố hệ thống giáo dục phổ thông trong thời kỳ quy hoạch
- Bối cảnh và những yếu tố tác động đến phát triển giáo dục:
+ Quy mô và cơ cấu dân số gồm: quy mô dân số, cơ cấu độ tuổidân số, phân bố dân cư;
+ Tác động và yêu cầu của toàn cầu hoá và khu vực hoá, yêu cầunâng cao trình độ học vấn KH - CN và tương thích với trình độ thế giới
và khu vực; tăng cường trao đổi thông tin và giao tiếp;
+ Tốc độ, quy mô phát triển KT - XH và cơ cấu kinh tế, bao gồm:tốc độ và quy mô phát triển KT - XH; chuyển dịch nền kinh tế quốc dân;mức độ quan tâm và đầu tư của xã hội và Nhà nước cho giáo dục
- Quan điểm phát triển và phân bố hệ thống giáo dục phổ thông ( chủ yếu được thể hiện khái quát bằng mục tiêu):
+ Mục tiêu về nâng cao dân trí;
+ Mục tiêu về đào tạo nhân lực
+ Mục tiêu về bồi dưỡng nhân tài;
+ Mục tiêu về tổ chức hệ thống, các giải pháp, bước đi;
+ Về huy động các nguồn lực
- Dự báo phát triển và phân bố mạng lưới hệ thống giáo dục phổthông theo từng cấp học trên địa bàn lãnh thổ:
+ Dự báo quy mô học sinh;
+ Dự báo nhu cầu giáo viên ( số lượng và cơ cấu)
Trang 22+ Dự báo nhu cầu trường lớp, cơ sở vật chất trường lớp và sự phân
bố theo các điểm dân cư; nhu cầu đầu tư
- Tổng hợp dự báo nhu cầu vốn phát triển giáo dục phổ thông:+ Tổng nhu cầu và cơ cấu theo từng cấp, bậc học;
+ Theo nguồn huy động (ngân sách trung ương, ngân sách địaphương, chương trình mục tiêu, sự đóng góp của dân …);
+ Luận chứng phân bố hệ thống các trường gắn bó với hệ thốngcác điểm dân cư và lập danh mục các chương trình, dự án và công trình
ưu tiên đầu tư nhu cầu vốn vác nguồn vốn
* Kiến nghị hệ thống chính sách và biện pháp phát triển hệ thống giáo dục phổ thông
- Các chính sách khuyến khích người đi học, hỗ trợ giáo dục đốivới người nghèo, các vùng sâu, vùng núi cao
- Các chính sách khuyến khích giáo viên (đặc biệt là các giáo viên
ở vùng sâu, vùng xa hải đảo, …)
- Các chính sách huy động vốn ( tăng cường vốn đầu tư của ngânsách Nhà nước, cơ cấu hợp lý các khoản chi ngân sách cho GD - ĐT,huy động vốn từ các nguồn khác, tư nhân và nhân dân đóng góp …)
- Các chính sách đầu tư xây dựng hệ thống trường và trang thiết bịtrường học, đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục và công bằng xã hội
- Kiến nghị về cơ cấu hoàn thiện của hệ thống
Từ những nội dung cơ bản được phân tích ở trên đây, chúng tathấy nội dung quy hoạch và phân bố hệ thống giáo dục phổ thông là một
bộ phận của quy hoạch phát triển phát triển GD -ĐT Để cung cấpnhững căn cứ khoa học cho việc xây dựng quy hoạch phát triển GD -
ĐT, một trong những vấn đề quan trọng là phải tiến hành công tác dựbáo
1.2.6 Vị trí vai trò của giáo dục Tiểu học và THCS trong sự nghiệp phát triển KT - XH.
Trang 23Trong hệ thống giáo dục quốc dân theo Luật giáo dục thì giáo dụcphổ thông có hai bậc học là bậc tiểu học và bậc trung học; THCS là mộtcấp trong bậc trung học (bậc trung học gồm THCS và THPT)
* Giáo dục tiểu học:
“ Giáo dục TH là bậc học bắt buộc đối với mọi tẻ em từ 6 đến 14 tuổi; được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến lớp 5 Tuổi học sinhvào lớp 1 là 6 tuổi ”
- Mục tiêu của giáo dục TH: “Giáo dục TH nhằm giúp học sinhhình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài vềđạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học THCS ”
- Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục đối với bậc TH:
“ Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh có hiểu biết ban đầu, cầnthiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, đọc,viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; cóhiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật ”
đi vào cuộc sống lao động ”
- Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục THCS: “ Giáo dụcTHCS phải cũng cố, phát triển những nội dung đã học ở TH, đảm bảocho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán,lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên,
Trang 24pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiếu về
kỹ thuật và hướng nghiệp ”
Giáo dục TH và THCS là nền tảng văn hoá của một nước, có vaitrò quan trọng trong việc tạo dựng mặt bằng dân trí, là nhân tố hết sức
cơ bản để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động,góp phần đưa đất nước nhanh hoà nhập vào cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật, sự phát triển KT - XH của các nước trong khu vực và quốc tế
1.2.7 Mối quan hệ giữa giáo dục Tiểu học, Trung học cơ sở với kinh tế - xã hội.
Trong đời sống con người, mối quan hệ giữa giáo dục và KT - XHluôn gắn liền với nhau, thúc đẩy sự phát triển lẫn nhau Mỗi sự kiệngiáo dục đều chứa đựng những nội dung kinh tế nhất định, đồng thờimỗi sự kiện KT - XH cũng đều có thành quả của hoạt động giáo dụcđóng góp và bởi giáo dục là một hệ thống quan trọng trong hệ thống lớnKT- XH Sự phát triển của giáo dục luôn gắn chặt với sự phát triển củakinh tế, sự tiến bộ xã hội Giáo dục vừa là mục tiêu phát triển của nền
KT - XH vừa là nhân tố đóng góp vào sự phát triển của nền KT - XH
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò của giáo dục, Nghịquyết Đại hội VI (1986) của đảng Đã chỉ rõ: Giáo đục vừa là mục tiêu,vừa là động lực của sự phát triển KT - XH Đường lối phát triển củaĐảng ta, luôn coi trọng vai trò nhân tố con người, trong đó GD - ĐT lànhân tố quyết định đến việc nâng cao dân trí, bối dưỡng và phát huynguồn lực to lớn của con người Việt Nam, là nhân tố quyết định thắnglợi của sự nghiệp CNH - HĐH Đảng ta xác định GD - ĐT cùng với KH
- CN là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho GD - ĐT là đầu tư cho pháttriển
Bản thân giáo dục không thể trực tiếp tạo ra sự tăng trưởng kinh
tế, nhưng nó góp phần quan trọng và có tính quyết định đến sự tăngtrưởng đó Vì vậy, tích lũy vốn con người và đặc biệt là trí thức sẽ tạo
Trang 25điều kiện phát triển công nghệ mới và đó chính là nguồn duy trì sự tăngtrưởng một cách bền vững nhất.
Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục phổ thông nói chung, TH vàTHCS nói riêng có vai trò vô cùng to lớn trong việc thực hiện đồng thờicác nhiệm vụ chiến lược nhằm đạt mục tiêu vĩ mô là nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Trong hệ thống KT - XH của chúng ta hiện nay thì giáo dục phổthông nói chung và giáo dục Tiểu học và THCS nói riêng được đặt trong
sự gắn kết giáo dục với chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội Đứng trước
xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng KH
-CN, trong sự hội nhập, hợp tác cạnh tranh quyết liệt về kinh tế, mỗi sảnphẩm sản xuất ra đều chứa hàm lượng trí tuệ cao Do đó, trong điều kiệnkinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, giáo dục phải thực hiệnđồng thời 3 chức năng xã hội đó là:
- Chức năng phúc lợi xã hội (P1)
- Chức năng phát triển xã hội (P2)
CN, thì càng có điều kiện tổ chức nền giáo dục tiến bộ, toàn diện và đặt
ra những yêu cầu mới cho sự phát triển giáo dục đào tạo Và ngược lạiGD-ĐT phát triển là tiền đề để đẩy nhanh sự phát triển đồng bộ, bềnvững nền KT-XH của mổi Quốc gia Tuy nhiên, tuỳ chính sách và hoàncảnh của từng nước, quan hệ giữa tốc độ phát triển kinh tế và giáo dục
là khác nhau Tại một số nước phát triển kinh tế đi trước phát triển giáodục; tại một số nước khác phát triển giáo dục lại đi trước một bước Có
Trang 26thể nói không ở đâu phát triển giáo dục mà lại không có phát triển kinhtế.
Sơ đồ 4 Mối quan hệ các chức năng của giáo dục.
Mối quan hệ giữa giáo dục và chất lượng cuộc sống của cá nhâncon người đã qua GD-ĐT cho thấy mục đích của giáo dục là đem lại chongười học những giá trị nhân cách về: “ Đức - Trí - Thể - Mỹ ” Nhữnggiá trị nhân cách này sẽ làm cho con người nắm được nó, có cuộc sốngtinh thần và vật chất với mức cao hơn Sự chênh lệch về thu nhập sẽ dẫntới các chênh lệch khác về vật chất và tinh thần trong cuộc sống bảnthân người lao động Chính vì các quan hệ nêu trên mà mỗi người đi họccùng gia đình và cộng đồng của họ nhận thức được tầm quan trọng củaGD-ĐT
- Về yêu cầu đối với GD - ĐT của các thành viên khác trong xãhội, trong phạm vi hoạt động GD có thể phân biệt trong xã hội nhữngthành viên khác nhau: Người học; gia đình và những người bảo trợ việchọc tập của người học; cộng đồng, tổ chức mà người học là thành viên;người dạy; người quản lý giáo dục vv…Trong quá trình tham gia các
GIÁO DỤC
P1
Trang 27hoạt động giáo dục mỗi thành viên có những mục đích cụ thể, có phầngiống nhau, nhưng cũng có phần khác nhau.
Nhà nước với trách nhiệm thiết lập, quản lý, chỉ đạo hoạt độnggiáo dục của Quốc gia, chú ý các mục tiêu về đạo đức, phẩm chất củangười học, khả năng tìm việc làm, lập nghiệp của từng cá nhân, cũngnhư tổng thể người học Xuất phát từ những mục đích, yêu cầu khácnhau, các thành viên trong xã hội đóng góp nguồn lực về tài chính, về
cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục chung của xã hội với những mụcđích khác nhau
1.3 VAI TRÒ DỰ BÁO TRONG NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY HOẠCH
Trong cơ chế của nền kinh tế thị trường, công tác dự báo có ýnghĩa và vai trò vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu xây dựng quyhoạch, bởi lẽ nó cung cấp thông tin cho việc bố trí các nguồn lực trongtương lai
Dự báo không chỉ tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định chínhsách, xây dựng chiến lược phát triển mà còn cho phép xem xét khả năngthực hiện kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch Những dự báo tốt sẽ cungcấp thông tin cho quá trình nhận thức, ra quyết định và xem xét tácđộng của các lĩnh vực khác nhau, từ vĩ mô đến vi mô, từ bình diện của
cả nước đến các vùng lãnh thổ, từ toàn bộ nền kinh tế đến các ngành vàđến tận các đơn vị cụ thể (tổ chức, công ty, trường học…) được chínhxác và hiệu quả cao, tránh được sự sai lệch và những hạn chế trong việcxây dựng kế hoạch
1.3.1 Khái niệm về dự báo và dự báo phát triển giáo dục
* Khái niệm về dự báo
Dự báo là khả năng nhận thức của con người về thế giới xungquanh Sự nhận thức bao giờ cũng vượt trước sự phát triển vốn có của
hiện tượng như Lê Nin đã viết “ Nếu xem xét bất kỳ một hiện tượng xã hội nào trong sự phát triển và vận động của nó thì bao giờ cũng thấy có những vết tích của quá khứ, những cơ sở hiện tại và những mầm mống của tương lai”
Trang 28Quá khứ, hiện tại và tương lai của các quá trình của xã hội là một
sự kế tục trực tiếp của nhau Nếu nghiên cứu, phân tích tiền sử của sựvật, phát hiện xu hướng phát triển theo thời gian của nó thì có thể thấyđược tương lai Việc nghiên cứu để phát hiện ra quy luật của mối quan
hệ biện chứng chính là cơ sở khoa học của công tác dự báo
Xét về mặt tính chất của công tác dự báo, thì dự báo chính là khảnăng nhìn trước được tương lai với mức độ tin cậy nhất định và ước tínhđược những điều kiện khách quan có thể thực hiện dự báo đó Mục tiêucuối cùng của công tác dự báo là phải thể hiện được một cách tổng hợpnhững kết quả dự báo theo những phương án khác nhau, chỉ ra được xuthế phát triển của đối tượng dự báo trong tương lai, tạo ra tiền đề choviệc lập kế hoạch có căn cứ khoa học
Như vậy đối với mỗi dự báo có hai quan niệm cần được lưu ý:
- Mỗi dự báo phải là một giả thuyết nhiều phương án;
- Mỗi dự báo không chỉ nêu đơn thuần giả thuyết có căn cứ vềnhững gì có khả năng xẩy ra trong tương lai, mà còn dự kiến cả nhữngkhả năng định tính và định lượng cần thiết cho việc thực hiện giả thuyếtđược nêu
Dự báo và kế hoạch hoá là một trong những vấn đề quan trọngnhất của công tác quản lý Không có dự báo thì không có phương hướng
để quản lý; quản lý mà không theo kế hoạch thì chỉ là hoạt động tuỳtiện, không có hệ thống nên không có hiệu quả và dễ phạm sai lầm
* Dự báo giáo dục
Dự báo phát triển giáo dục đào tạo là một trong những căn cứ quantrọng của việc xây dựng quy hoạch GD -ĐT Dự báo là xác định trạngthái tương lai của hệ thống GD -ĐT với một xác suất nào đó Quá trìnhnày có thể phác hoạ (xem sơ đồ 5)
Sơ đồ 5 Quá trình dự báo GD
Trang 29Dự báo có ý nghĩa định hướng làm cơ sở khoa học cho việc xácđịnh các phương hướng nhiệm vụ và mục tiêu lớn của GD - ĐT Dự báo
GD - ĐT gồm một số dự báo chủ yếu sau:
- Về những điều kiện chính trị, KT- XH trong đó hệ thống GDquốc dân sẽ vận hành và phát triển thuận lợi;
- Về những yêu cầu mới cảu XH đối với người lao động, đối vớitrình độ phát triển nhân cách của con người được toàn diện hơn;
- Về những biến đổi trong tính chất, mục tiêu và cấu trúc của hệthống giáo dục do tác động của quá trình XH ngày càng tiến bộ;
- Về những biến đổi trong nội dung, phương pháp và hình thức tổchức dạy học và giáo dục do đòi hỏi của tiến bộ KH-CN và tăng trưởngphát triển KT - XH;
- Về những biến đổi dân số và biến động số lượng, cơ cấu ngườihọc;
1
Trạng thái tương lai với xác suất p
2
Trạng thái tương lai với xác suất p3
Trang 30- Về những biến đổi của đội ngũ giáo viên, của cơ sở vật chấttrường học, thiết bị kỹ thuật dạy học và tổ chức quản lý hệ thống giáodục đào tạo.
Như vậy, đối tượng của dự báo giáo dục đào tạo là hệ thống giáo dục quốc dân của một nước, của địa phương với những đặc trưng về quy
mô phát triển, cơ cấu loại hình, mạng lưới trường lớp, đội ngũ giáo viên, chất lượng đào tạo, tổ chức sư phạm…
Một trong những vấn đề cơ bản của KH dự báo là xác định các phương pháp dự báo Có thể nói độ chính xác của kết quả dự báo phụ thuộc rất nhỉều vào việc lựa chọn các phương pháp dự báo Vì thế việc nắm vững các phương pháp cũng như việc lựa chọn các phương pháp dựbáo phù hợp với điều kiện cụ thể là rất quan trọng
1.3.2 Tổng quan và các phương pháp dự báo
Phương pháp dự báo là cách thức, là những con đường dẫn tới cácmục tiêu đã đề ra trong một nhiệm vụ dự báo cụ thể Có nhiều phươngpháp dự báo và cách phân loại khác nhau Theo cách phân loại thôngdụng và đơn giản nhất hiện nay, người ta chia thành các phương pháphình thức hoá (dưới dạng các mô hình) và các phương pháp phi hìnhthức (các phương pháp trực quan) Có thể khái quát phân loại cácphương pháp dự báo theo sơ đồ 6
Trang 31Sơ đồ 6 Phân loại các phương pháp dự báo
1.3.3 Lựa chọn các phương pháp dự báo
Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài có nhiều phương pháp,trong phạm vi và đặc trưng của đè tài này tác giả đi sâu vào nghiên cứu
4 Khái quát tâm
lý trí tuệ tư
tưởng
4 Phương phápphân tích hìnhthái
Các phương pháp hình thức
Các phươngpháp đánh giátập thể
Các phươngpháp đánh giátập thể
1 Phương phápngoại suy theodãy thời gian
1 Phương pháp
mô hình hoá cấu
trúc
2 Phương phápquan hệ tỷ lệ mô tình hoá toán2 Phương pháp
học
3 Phương pháptương quan hồi
qui
3 Phương pháp
mô phỏng
Trang 32- Một trong những phương pháp thông dụng trong dự báo quy môhọc sinh là phương sơ đồ luồng, nó có thể cho phép tính toán luồng họcsinh suốt cả hệ thống giáo dục, một học sinh hoặc lên lớp, hoặc lưu ban,hoặc bỏ học Do vậy, phương pháp sơ đồ luồng dựa vào ba tỷ lệ quantrọng sau đây: Tỷ lệ lên lớp, tỷ lệ lưu ban và tỷ lệ bỏ học.
Để hình dung rõ hơn phương pháp tính toán chúng ta xây dựng sơ
Trong đó: E11: Số lượng học sinh lớp 1 ở năm học t1;
E12: Số lượng học sinh lớp 1 ở năm học t2;
N2: Số lượng học sinh nhập học vào lớp 1 năm học t2;
Trang 33R11: Tỷ lệ lưu ban của lớp 1 năm t1;
Số lượng học sinh lớp 2 ở năm học t2 sẽ là:
E22 = (E11 x P11) + (E21 x R21)
Tương tự như vậy chúng ta cũng có thể tính được số lượng họcsinh cho các lớp 3,4,…9 ở năm t2
Dân số trong độ tuổi nhập học trong thời kỳ dự báo;
Tỷ lệ nhập học trong tương lai;
Tỷ lệ lên lớp, lưu ban, chuyển cấp, bỏ học trong tương lai
* Phương pháp ngoại suy xu thế.
Phương pháp này dựa vào số liệu quan sát được trong quá khứ củađối tượng dự báo để có thể lập mối quan hệ giữa đại lượng đặc trưngcho đối tượng dự báo và đại lượng thời gian
Mối quan hệ này đặc trưng bởi hàm xu thế
Y = f(t) Trong đó t: là đại lượng đặc trưng cho thời gian
y: là đại lượng đặc trưng cho đối tượng dự báo
- Các bước của phương pháp ngoại suy xu thế là:
+ Thu nhập phân tích số liệu ban đầu trong một khoảng thời giannhất định
+ Định dạng hàm xu thế dựa trên quy luật phân bố của các đạilượng đối tượng dự báo trong khoảng thời gian quan sát của quá khứ
+ Tính toán các thông số của hàm xu thế và tính giá trị ngoại suy.Nếu dạng hàm thời gian được chọn là tuyến tính theo thông số thìviệc tính toán là không khó khăn
Trường hợp hàm là phi tuyến tính đối với tham số người ta tìmcách tuyến tính hoá
Một số trường hợp đơn giản như: Y = a + bt
Trang 34Y = a + bt + ct2
thì các hệ số a, b, c được xác định bằng phương pháp bình phương nhỏnhất và được tính theo các hệ phương trình chuẩn
Phương pháp này cần các điều kiện:
+ Quá trình phát triển của đối tượng ổn định;
+ Thời gian phải là đại lượng đồng nhất (hàng năm, 3 năm, 5 nămhoặc 10 năm …)
- Nhận xét:
Phương pháp ngoại suy xu thế được sử dụng trên nhiều lĩnh vực,
tỏ ra rất hiệu quả đối với những quá trình tương đối ổn định và kháchính xác cho những dự báo ngắn hạn
* Phương pháp chuyên gia.
Là một trong các phương pháp xử lý và đưa ra các dự báo dựa trên
ý kiến các chuyên gia là chính Đối với phương pháp này, mặt lợi thế là
có thể sử dụng trong điều kiện thiếu thông tin, song về mặt định lượng
bị hạn chế hơn
Khâu quan trọng trong phương pháp này là tìm được chuyên gia lànhững người có am hiểu sâu về kinh nghiệm trong lĩnh vực cần nghiêncứu Quá trình tích luỹ kinh nghiệm của các chuyên gia đã giúp họ tổngkết và phát hiện những quy luật của quá khứ, hiện tại và có thể mườngtưởng, tiên đoán về tương lai; phương pháp chuyên gia thường phát huytác dụng khi được kết hợp với các phương pháp định lượng khác nhưphương pháp mô hình hoá
Phương pháp chuyên gia được tiến hành theo hai hình thức hộiđồng (tập thể) và các phương pháp Delphi (lấy ý kiến t chuyên gia rốitổng hợp lại)
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ
TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN CẨM XUYÊN 2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN CẨM XUYÊN 2.1.1 Đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Cẩm Xuyên là huyện thuộc khu vực bắc miền trung, phía bắc giápThị Xã Hà Tĩnh, nam giáp huyện miền núi Kỳ Anh, phía đông giáp biển,phía tây giáp huyện miền núi Hương Khê Khí hậu nhiệt đới gió mùa.Điều kiện tự nhiên vô cùng khắc nghiệt: một mùa là nắng nóng – gióLào, một mùa là mưa dầm và gió bấc, bão lụt thường xuyên xẫy ra Nơiđây vào những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, giặc Mỹ đã trút xuốnghàng vạn tấn bom đạn nhằm cắt đứt sự chi viện của hậu phương chochiến trường Miền Nam Đất canh tác vừa ít vừa bạc màu, đồng bằnghẹp Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đó rất không thuận lợi cho sựphát triển KT-XH: không phải là trung tâm giao thông - thương mại,không có nhà ga, bến tàu, hải cảng, sân bay Trước những năm 80 đờisống của nhân dân vô cùng khó khăn, tổng thu ngân sách chỉ bằng 36 %chi ngân sách hàng năm
Huyện có 26 xã, và một thị trấn Có, 6 xã miền núi, 4 xã miềnbiển Tổng diện tích là 63.559,5 ha, trong đó đất canh tác nông nghiệplà11.579 ha, đất đồi rừng là18653,4 ha, đất nuôi trồng thủy sản 44,58
ha Nền sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, có một bộ phận nhỏ dân cưlâm nghiệp, ngư nghiệp Nền kinh tế nông nghiệp mang tính tự cung tựcấp Nguồn thu ngân sách rất hạn chế: chủ yếu là nguồn thu từ thuếnông nghiệp Do những hạn chế về mặt vị trí địa lý nên dịch vụ, du lịchcũng kém phát triển Nhìn chung nền kinh tế – xã hội của huyện vẫn còngặp nhiều khó khăn
Từ năm 1986, bắt đầu sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng,cùng với cả nước, nền KT-XH của huyện Cẩm Xuyên có những chuyển
Trang 36biến tích cực: Tự túc được lương thực, hệ thống cơ sở hạ tầng được cảithiện và từng bước hiện đại An ninh chính trị được giữ vững Phát huytruyền thống hiếu học, cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷĐảng và chính quyền địa phương, sự nghiệp GD-ĐT có những bước đivững chắc, điều đó góp phần đẩy nhanh sự phát triển KT-XH trên địabàn.
2.1.2 Dân số và nguồn nhân lực.
* Quy mô dân số và nguồn lực lao động
Theo tài liệu điều tra dân số của Phòng thống kê huyện CẩmXuyên, đến tháng 12 năm 2001 toàn huyện có152.674 người (trong đónam: 75.131 người, chiếm 49,21 %; nữ: 77.143 người, chiếm 50,79 %)
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: Năm 1992 là 2,58 %; năm 1997 là 1,54
% năm 2001 là 1,05 %
Mục tiêu những năm tiếp theo giảm tỷ lệ gia tăng dân số từ 0,08%đến 0,1%/ năm
Dự báo dân số của huyện từ nay đến năm 2010 (xem bảng 1)
Qua bảng 1 ta nhận thấy dân số hàng năm tăng lên, nhưng dân sốtrong độ tuổi TH và THCS có xu hướng giảm, điều đó nói lên công tác
kế hoạch hoá gia đình đã được chú trọng và có hiệu quả cao
* Mật độ dân số:
Trung bình 240 người/Km2, Thị trấn là trung tâm huyện lỵ có mật
độ dân số cao hơn, còn xã có mật độ dân số ít hơn
* Nguồn lực lao động:
Số người trong độ tuổi lao động là 66.941 người (chiếm 43,85 %),chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, số người làm việc trong các ngànhnghề khác rất ít; nguồn lực lao động dồi dào nhưng chưa được khai thác
và chưa phát huy hết tác dụng do thiếu việc làm đặc biệt là số lao độngchưa qua đào tạo nghề chiếm tỷ lệ cao
* Thu nhập dân cư:
Trang 37Do nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông, một ít từ lâm nghiệp,ngư nghiệp, dịch vụ và du lịch cho nên thu nhập của người dân thấp,năm 1996: 1.493.000đ/người, năm 2000: 2.019.000đ/ người
Bảng 1 Thống kê và dự báo dân số huyện Cẩm Xuyên đến 2010.
Đơn vị tính: Người
( người )
Dân số trong độtuổi tiểu học(6-14)
Dân số trong độtuổi THCS(11-18)
(nguồn: UBDS-KHHGĐ, Phòng GD-ĐT huyện Cẩm Xuyên)
2.1.3 Thực trạng về phát triển kinh tế của huyện
* Tăng trưởng kinh tế:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trên địa bàn những nămgần đây có xu hướng tăng lên: Thu nhập bình quân đầu người năm 1996:1.493.000đ, đến năm 2000 là 2.019.000đ
* Kết cấu hạ tầng kinh tế:
Việc đầu tư hạ tầng kinh tế những năm gần đây đã được sự chú ýquan tâm và đầu tư của Nhà nước sự chăm lo của chính quyền địaphương nên đã có những chuyển biến mạnh mẽ Hệ thống đê điều được
tu bổ thường xuyên, từ năm 1996 đến năm 1999 đã đầu tư 170.887 triệuđồng cho giao thông, thuỷ lợi, xây dựng Hệ thống đường giao thôngđược mở rộng, cũng cố theo hướng nhựa hoá, bê tông hoá với tốc độnhanh Về thông tin liên lạc phát triển nhanh, hiện nay các xã, thị trấn
Trang 38đều có đường dây điện thoại, bình quân 1máy điện thoại/100 người dân;các xã đều có trạm bưu điện văn hoá xã, có 27/27 xã có trạm đài truyềnthanh cơ sở, 100% các xã được phủ sóng phát thanh và truyền hình,27/27 xã có trạm xá kiên cố phục vụ cho việc chăm sóc sức khoẻ nhândân Đời sống nhân dân từng bước được ổn định và nâng lên, số hộ đóinghèo giảm đáng kể (năm 1996 là 28,7 % Năm 2001 là 10,11%), số hộ
đủ ăn và có tích luỹ đang được tăng lên, nhất là các gia đình có vườnđồi và trang trại ngày càng nhiều Hệ thống trường học ngày càng đượchoàn thiện, CSVC trường học được xây dựng theo hướng hiện đại vớitốc độ nhanh, trang thiết bị trường học được bổ sung ngày càng nhiều
Tóm lại: Cẩm Xuyên là huyện thuần nông, còn nhiều khó khăn về
thu ngân sách, thu hàng năm chỉ đáp ứng được trung bình từ 40% đến50% nhu cầu chi, song cơ sở hạ tầng kinh tế của huyện đã được Nhànước và nhân dân quan tâm, củng cố, đầu tư tương đối tốt, phần nào đãđáp ứng được đời sống nhân dân, tạo tiền đề cho sự phát triển KT- XHnói chung và sự ngiệp GD - ĐT nói riêng
2.2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN CẨM XUYÊN
2.2.1 Tình hình chung về Giáo dục - Đào tạo của huyện Cẩm Xuyên
Sau 10 năm đổi mới, nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường có
sự điều tiết của Nhà nước, nước ta đã bước ra khỏi cuộc khủng hoảngkinh tế trầm trọng Đời sống của nhân dân huyện Cẩm Xuyên nói riêngcũng như cả nước nói chung đã từng bước được nâng lên Sự nghiệp GD
- ĐT của huyện những năm gần đây luôn được các cấp uỷ Đảng, chínhquyền, đoàn thể quan tâm Cơ sở vật chất của các trường học có nhiềuchuyển biến tích cực:10/58 trường có đủ phòng học học 1 ca số còn lạiđều học 2 ca, không có phòng học tranh tre, tạm bợ CSVC từng bướcđược kiên cố hoá theo hướng khoa học và hiện đại Hiện tại có 30/58trường có nhà cao tầng Cảnh quan các trường học ngày một khang
Trang 39trang Đời sống giáo viên ở địa phương được nâng lên; cán bộ, giáo viênđều yên tâm công tác, yêu ngành, yêu nghề Phong trào thi đua học tậptrong thanh thiếu niên được duy trì thường xuyên liên tục Nhiều hìnhthức khuyến khích học tập, giúp đỡ học sinh nghèo vượt khó, xây dựngquỹ khuyến học, vv… là nguồn cổ vũ động viên, và là những điều kiệnthuận lợi cho phát triển sự nghiệp GD - ĐT của huyện.
2.2.2 Quy mô phát triển giáo dục huyện Cẩm Xuyên tỉnh hà Tĩnh.
Sau quá trình sắp xếp, tách các trường PTCS thành trường TH vàTHCS, đến nay trên địa bàn huyện có:
33 trường TH, với 2.0577 học sinh 652 lớp;
25 trường THCS với 18.062 học sinh 422 lớp;
3 trường THPT với 108 lớp , 5.587 học sinh;
01 trường THPT dân lập, với13 lớp, 697 học sinh;
01 trung tâm giáo dục thường xuyên, với 13 lớp - 652 học sinh;
01 trung tâm KTTHHNDN với 4.738 học sinh
Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục toàn ngành là 1.569người
Nghiên cứu quy mô giáo dục TH và THCS của huyện(bảng 2 và 3)
Bảng 2 Quy mô Giáo dục - đào tạo năm học 2002- 2003
n v : Ng i Đơn vị: Người ị ười Bậc học Số lớp
Sốphònghọc
Số lượnghọc sinh
Sĩ số bq/
lớp
Sĩ số BQcao nhất
Sĩ số BQthấpnhất
(Nguồn: GD - ĐT huyện Cẩm Xuyên)Các xã, Thị trấn đều có trường TH, 25/27 xã thị trấn có trườngTHCS, 2xã còn lại đều có phân hiệu THCS; việc xây dựng lớp đã đượcquan tâm, phù hợp tối đa với điều kiện của học sinh, và có chú ý đếntính hợp lý tương đối về sĩ số học sinh bình quân/ lớp
Trang 40Bảng 3 Tình hình số lượng học sinh từ năm 1996 - 2002
n v : Ng iĐơn vị: Người ị ười
BẬC
HỌC
NĂM HỌC
96 - 97 97- 98 98 - 99 99-2000 “00-01 01-02 02 - 03T.Học 24.212 24.948 25.115 24.680 23.514 22.355 20.577THCS 9.811 11.104 12.506 14.313 15.786 17.007 18.062
(Nguồn: Phòng GD - ĐT huyện Cẩm Xuyên )
2.2.3 Thực trạng về đội ngũ cán bộ, giáo viên TH và THCS