Trong các chuyên ngành đào tạo nghiệp vụ, trong đó có Khoa Xuất bản là nơi đào tạo cử nhân chuyên ngành biến tập, thì mục tiêu tông quát đầu ra là đào tạo những cử nhân có trình độ đại
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYEN
Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài khoa học
Cấp cơ sở trọng điểm năm 2011
KỸ NĂNG VÀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG N GHIEP VU
CHO SINH VIEN CHUYEN NGANH XUAT BAN
Trang 2MỤC LỤC
1 Lí do chọn đề tài St vn St 21111 2511111111 11 015211111811.211EEE1EEEEeEeErrrree 1
2 Lich sit Van 8 o.oo eceecsssessesssssssessssesssssseesecsssssssssssssnssesessssssseesseceeesssenssneeeseeasen 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên €ỨU 2 + +2 + 2 xxx cv re rxerke 6
4 Phạm vi, giới hạn nghiên cỨu - - 6 SE v1 3E SE gen sec se ca 7
5 Nội dung và phương pháp ch 12211 errrre 7
6 Câu trúc của báo cáo tông quan đề tài: - ác cxvErrsrerrkeeree 8
00 /-<‹4 9
I DÁN NHẬP 2-5 2 2<S22H T1 2111711021211 1111111111111 111111111 1k rtrrkerrreg 9
H PHẠM VI KIÊN THỨC LÝ THUYẾT 22 s+z+cs+E2Es2EszEeterszsece- 10
1 Những nội dung kiến thức về xuất bản 2- -©ccsvEvtvEsereresreccee 10
"in pin 33 12
HI KHÁI NIỆM KỸ NĂNG VÀ MỘT SÓ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 13
1 Về khái MIEM “KY MAN” eececccscessesscseescecseeeceevseseussessesussesecssssesseuseavens 13
LD KY năng là gÌ? ch HH HH HH TH HT HH na 13 1.2 Về khái niệm kỹ năng nghiỆp Vụ - - -Ặ Sàn SH ngài 14
2.4 Vấn đề HC HÀ HHÍH QQ QQnHH.nTH.HnH ng KH HH KH ket 40
2.5 Khái niệm “thực fẾ” ccckcccStE E111 terrrrrrererrrei 41 2.6 VỀ khái niệm “thyrc tp” cccccceccsesscscsescssscsscssssssssessessssessssecssssesssscsssesssees 44
0ï i0 47
I PHAM VI, GIOI HAN CAC KY NANG NGHIỆP VỤ BIÊN TẬP 47
Il YEU CAU DOI VỚI CAC NHAN TO CUA VIEC DAY HQC KY NĂNG G1 2s TH TH HH HH 101 x1 egerrreerei 50
1 Môi trường dạy kỹ năng - - S5 5S nh ng Heo 50
2 Hoạt động của người hướng "1 0 ::‹:.S 53 2.1 Quan niệm về người hướng dẫn s5 ScSs St ng 53 2.2 Nhiệm vụ của người giáo viên rèn kỹ Hăng cccccccccseexcee 54
3 Hoạt động học tập của sinh viÊn che 57
4 Điều kiện vật chất của dạy kỹ nắng - «HH HH nếp 59
4.1 Nguồn ,1.//0/.,0PEEEREESPRERAe ha 59 4.2 Phòng thực HhÈHÍ4 S1 nh TH TH TH HT 61
TW HE THONG KY NANG CO BAN TRONG HOAT DONG BIEN TAP XUAT BAN ¬ 63
Trang 31.1 Biên tập theo nghĩa rỘHE - ánh vn HH HH HH ng rưệt 63
1.2 Biên tập theo nghĩa hẹp 64
1.3 Biên tập xuất bản - 5-5 TL HH 64
2 Các kỹ năng trong công tác biên tập xuất bản - sec 65
2.1 Các kỹ năng trong công tác đề tài và kế hoạch đ tài c« sec 65
2.2 Các kỹ năng trong công tác cộng tác viên, tô chức bản thảo 66
2.3 Các kỹ năng trong công tác biên tập bản thảo ccccecseescee 67
2.4 Kỹ năng sửa bài trong khiẪM ÏHL cà chinh rrree 71
2.5 Kỹ năng trong khâu phát là HÌH chen 71
3 Những kỹ năng thuộc một số môn riêng biệt 2 scs+evrxe 74
3.1 Biên tập ngôn Hgữ LH TT 110111111 01111111111111111x tre 74
KSHWYVó@I a4 ốnn na e a5 74
3.1.2 Kỹ năng phát hiện, phân tích và sửa lỗi ngôn ngĩữ - -ceccecesrea 75
3.2 Kỹ năng biên tập trong môn Sách điện tử và xuất bản sách điện tử 77
si) 78
IV NGUYÊN TẮC DẠY KỸ NĂNG ¿-©cc C2 EExetrrkrrrkerrke 79
1 Nguyên tắc thực hành - sex tk tt ctgkSESErErrkerkrrrrsrrerrree 79
2 Nguyên tắc trực quan LH TH KH HT HT Hàng 80
3 Nguyên tac WE thong cccccccccccccscesssessssssssesesssssesvesuessussssessesussnsssecsavesecsseceneesecenes 81
4, Nguyén tac phit Wp o.cccccccccccccscecssesssssssesssessssssscssessucsssssecsusenssscsusssuesseceneeseeenes 81
5 Nguyén tac dinh huwong sng ta0 ccccecsessccsesssessecssececsecseeesecssecssveseeenes 83
V PHƯƠNG PHÁP DẠY KỸ NĂNG 2- -©ccEEEEEktrkrerkeereerkvee 84
1 Yêu cầu về phương pháp -2-2-2Se2EE+EEEECEEEEEEEEEEEEEEEELkrrLkerrkeree 84
2 Một số phương pháp cơ bản về dạy kỹ năng sex 85
2.1 Phương pháp rèn luyện theo MAU ccccccccccscscccccssescesesessstsssssssessssestseneavens 85
2.2 Phicong phap thirc harh phan tach 0 ccccccccccccsssesesecsstessessssessesesssseseseseeaes 86
2.3 Phiwong phap so saith, d0i CHiGU .cecccccceccsssesssssssssessssssssessesssssseseessesseeseeens 87
2.4 Phương pháp giao tiep c.cccccccccccccscescsssssssssesssessssssessessesesesavansssesscsessesneseeens 88
KẾT LUẬN - 5: cc 22x 12112E11211112111211211E27x111C2EE.1111eererrree 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO s5 sS 1ESEE92EEEEXESEEEEEEESEEEEELeerrkeerkeed 91
Trang 4MO DAU
1 Li do chon dé tai
Trong chương trình đào tạo ở bậc đại học, việc nâng cao chất lượng đào
tạo nghiệp vụ chuyên ngành trong các khoa nghiệp vụ đã được đặt ra từ lâu và
theo hướng phải được đảm bảo sinh viên ra trường không chỉ có trình độ lí _
luận mà còn phải có kiến thức thực hành và kỹ năng nghiệp vụ thuần thục
Những yếu tố này góp phần làm nên năng lực hoạt động chuyên môn nghiệp
vụ trong hành trang của người học Đó là những kỹ năng cơ bản mà một
người lao động bình thường nhất cần có để phát triển bản thân và hòa nhập
được với môi trường làm việc thực tế Thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam
được đánh giá là một thế hệ thông minh, cần cù, sáng tạo và tiếp thu rất nhanh
các thông tin kiến thức về khoa học, công nghệ hiện đại Đây chính là lực
lượng chính tiên phong trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế và bảo vệ
Tổ quốc Chính vì vậy, việc rèn luyện kỹ năng cho công việc cũng như cuộc
sống hiện nay rất quan trọng, nhất là đối với sinh viên đang học trên ghế nhà
_ trường Đó sẽ là cơ sở cho việc thích nghi với môi trường làm việc cũng như
bắt kịp tốc độ phát triển của xã hội Tuy nhiên, theo nhận xét ở trên, thanh
niên Việt Nam lại bị đánh giá là những người lao động thiếu kỹ năng, làm
việc thiếu quy trình và công cụ để chuyên những kiến thức học được trong
trường thành sản phẩm phục vụ xã hội “Theo thống kê của Bộ Giáo dục và
Đào tạo, hiện 37% sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm Trong khi
đó, chúng ta không thiếu việc làm mà đang thiếu những sinh viên làm được
việc Đó một phần là do chương trình đảo tạo không theo kịp sự phát triển của
xã hội, không đào tạo ra người có thể làm được việc ngay Do vậy, sinh viên
mới ra trường thiếu quá nhiều kỹ năng để làm việc, đặc biệt là các kỹ năng
“mềm” như tư duy phân tích, tông hợp, giao tiếp hay làm việc đồng đội ”
Trang 5dẫn theo Tienphongonline] “Kỹ năng của sình viên hiện nay là con số 0
Thiếu kiến thức, yếu kỹ năng, thiếu tự tin hoặc tự tin thái quá, ứng xử ngớ
ngắn, vụng về, mơ hồ về mục tiêu nghề nghiệp đã khiến không ít bạn trẻ đánh
mat điểm trước các nhà tuyển dụng” (Bà Nguyễn Thu Giao, Giám đốc Nhân
sự Công ty lterfloour Việt Nam nhận xét - dẫn theo Tiên phongonline)
Như đã biết, năng lực của mỗi người được cấu thành bởi ba yếu tố: Kiến
thức, kỹ năng, thái độ Kiến thức là bình đẳng với Google, với enter, với
800.000 đầu sách mỗi năm Ngày nay ta hơn nhau bởi có kỹ năng làm việc,
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng trình bày Và hơn thế là thái độ nhiệt tình, say mê
làm việc, ham muốn đóng góp và công hiến Sinh viên Việt Nam ngày nay đã
có đầy đủ tố chất để thành công nhưng thiếu đi kỹ năng nghiệp vụ được đào
tạo cho nên họ không đủ năng lực để thành công Điều đó nên chăng cần phải
được cải thiện ngay từ ngày hôm nay?
Xuất bản là một nghề, quá trình đào tạo nghề phải lấy trọng tâm là đào
tạo nghiệp vụ, cho nên việc rèn kỹ năng cho người học cần rất nhiều thời gian
thực tế Tuy nhiên, hiện nay nội dung chương trình và cả phương pháp vẫn
còn nặng về trang bị lí thuyết; việc dạy kỹ năng còn chưa được chú ý đúng
mức, chưa được: dành thời lượng thoả đáng cho việc này
Cho nên, việc rèn kỹ năng nghiệp vụ biên tập cho sinh viên chuyên
ngành biên tập cảng trở nên cấp thiết khi mà hoạt động xuất bản hiện nay
trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, chất lượng xuất bản
phẩm nói chung và sách nói riêng phụ thuộc vào trình độ và năng lực biên tập
của biên tập viên Thực tế, chất lượng sinh viên khi ra trường chưa đáp ứng
được yêu cầu của cộng việc, không thể biên tập được chủ yếu là do chưa có
kỹ năng Diên tập Ngay cả giáo viên, vốn đã không có kiến thức về biên tập
thực tế, nên cũng không có kỹ năng biên tập nên dạy kỹ năng lại càng khó
hoặc không thẻ
Trang 6Trong các chuyên ngành đào tạo nghiệp vụ, trong đó có Khoa Xuất bản
là nơi đào tạo cử nhân chuyên ngành biến tập, thì mục tiêu tông quát đầu ra là
đào tạo những cử nhân có trình độ đại học về biên tập và một trong những mục tiêu cụ thể và cũng là đòi hỏi về kiến thức gồm 2 mảng: lí thuyết cơ bản
và thực hành, nói khác đi và cụ thé hon là /í luận về nghiệp vụ và kỹ năng
nghiệp vụ biên tập Từ trước tới nay, trên báo chí và trên bài giảng, chúng ta
thường nói đến tình trạng sinh viên ra trường yếu về kỹ năng và luôn yêu cầu
phải đưa nội dung công việc này vào giảng dạy Nhưng thực tế là, việc đào
tạo nghề vẫn chủ yếu chỉ tập trung vào việc cung cấp những kiến thức ở mảng
thứ nhất, tức là dạy lí thuyết về hoạt động xuất bản mà chưa chú ý đến việc
rèn kỹ năng về nghiệp vụ biên tập Chỉ từ mấy năm trở lại đây, đã có sự đối
mới nội dung chương trình và phương pháp, trong đó có vẫn đề rèn kỹ năng
cho sinh viên nhưng cho đến nay vẫn chưa có giáo trình riêng về dạy kỹ năng,
cũng chưa có công trình nào, thậm chí bài viết nào nghiên cứu về vấn đề này
Tuy nhiên, do hạn chế về nhiều mặt mà đề tài này không đặt mục tiêu tìm
hiểu thực trạng công tác đào tạo chuyên ngành này ra sao, cũng không đi sâu
đánh giá tình hình hay dạy và học nghiệp vụ ở Khoa Xuất bản như thế nào mà
chủ yếu là nêu ra những vấn đề lý thuyết liên quan đến khái niệm kỹ năng,
trên cơ sở đó xác định ở mức độ tương đối cụ thể những kỹ năng cần phải dạy
cho sinh viên chuyên ngành Ngoài ra, dựa vào sự kết hợp với lý luận về
phương pháp giảng dạy đại học, đề tài cố gắng nêu lên những nguyên tắc và
phương pháp dạy kỹ năng nghiệp vụ thuộc chuyên ngành biên tập xuất bản để
người dạy, người hướng dẫn có cơ sở để thực hiện công việc rèn kỹ năng có
hiệu quả ở mỗi học phần khác nhau
Với tất cả những lí do đó, chúng tôi quyết định chọn và thực hiện để tài
này nhằm góp phần xác định những phạm vi nội dung dạy kỹ năng trong
nghiệp vụ xuất bản, cũng là góp tiếng nói khẳng định sự cần thiết phải điều
Trang 7chỉnh lại việc dạy và tăng cường việc rèn kỹ năng nghiệp vụ biên tập cho sinh
viên ngành xuât bản
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề rèn kỹ năng là nội dung thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau,
cả về lí thuyết lẫn ứng dụng thực tế, cả lí luận nghiệp vụ lẫn thực hành nghiệp
vụ Trong đó, kỹ năng được coi là đối tượng chủ yếu được quan tâm nghiên
cứu nhiều hơn cả là của các ngành khoa học như: tâm lí học, giáo dục học, sư phạm học, xã hội học, quản lý xã hội, hành chính, ngôn ngữ học Mỗi ngành,
mỗi lĩnh vực đều có những quan niệm về đối tượng, hướng tiếp cận khác nhau, bằng phương pháp khác nhau nhằm những mục đích khác nhau, theo đó kết quả thu được cũng không giống nhau Ở các lĩnh vực nghiên cứu lí thuyết,
người ta nghiên cứu một loạt vấn đề, bất đầu từ những khái niệm cơ bản và
những khái niệm quan trọng khác có liên quan với tư cách là những thành phần thuộc nội dung kỹ năng Sau đó nghiên cứu những phạm vi ứng dụng lí -
thuyết về kỹ năng trong các lĩnh vực hoạt động cụ thể Có thể kế đến một số
loại kỹ năng thuộc các ngành như nghiệp vụ du lịch gồm kỹ năng thu hút
khách du lịch, kỹ năng tổ chức, hạch toán, hướng dẫn các tour du lịch, kỹ
năng nấu ăn trong các khách sạn, kỹ năng buồng, bàn, bar; kỹ năng sư phạm
như: kỹ năng hướng dẫn làm thí nghiệm, ngoại khoá; kỹ năng đạy lao động
hướng nghiệp, kỹ năng quản lí lớp trong công tác chủ nhiệm, kỹ năng viết
bảng, kỹ năng soạn giáo án, kỹ năng thuyết trình : trong các trường đào tạo
cán bộ có các kỹ năng như: kỹ năng quản lí, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng nhân
sự, kỹ năng đàm phán thương mại và hợp tác đầu tư : nhà trường phố thông
nước ta đang triển khai dạy và rèn một số kỹ năng sống cho học sinh như: kỹ
năng tránh thương tích, kỹ năng ứng xử đạo đức trong các môi trường gia
đình, nhà trường và xã hội
Trang 8Nhìn một cách tổng thể, kết quả và cũng là mục tiêu quá trình học tập
của sinh viên là phải thu nhận được 2 mảng kiến thức cơ bản: kiến thức lí
thuyết và kỹ năng thực hành Nói khác đi, kỹ năng là kết quả cụ thể về mặt
thực hành, thực tiễn của một quá trình học tập Những năm gần đây, trong các
nhà trường, nhất là trong những trường đại học, trường dạy nghề, trường
chuyên nghiệp đào tạo nguồn nhân lực thực hành, người ta nói nhiều đến
thuật ngữ “kỹ năng” vừa là mục đích rèn luyện vừa như một nội dung quan
yếu của phương châm đào tạo mới; nào là kỹ năng sống, kỹ năng thực hành
xã hội, kỹ năng vận động, kỹ năng nghiệp vụ, kỹ năng viết văn,v.v là những
khái niệm về kỹ năng thuộc những lĩnh vực, công việc khác nhau Và các kỹ
năng trong những lĩnh vực đào tạo ở những bậc học, ngành học cụ thể khác
nhau được người ta quan niệm như thế nào thì chưa có nhiều công trình
nghiên cứu Đặc biệt là những kỹ năng trong hoạt động biên tập xuất bản thì
mới chỉ được nêu lên rải rác trong một số tài liệu liên quan một cách chung
chung, mà chưa có sự giải thích một cách đầy đủ, kỹ càng, sâu rộng Chính vì
trong nhà trường giáo dục của nước ta hiện nay chưa coi trọng đào tạo kỹ
năng nên sinh viên khi ra trường thường thiếu kinh nghiệm làm việc, chưa
biết tạo ra được tác phong chuyên nghiệp
Như vậy, có thể thấy lí luận về kỹ năng đã được nghiên cứu sâu rộng
trên thế giới và ở Việt Nam, những kỹ năng về các nghiệp vụ cụ thê cũng
được nghiên cứu và đã đạt được nhiều thành tựu, đặc biệt là trong các lĩnh
vực như giáo dục, sư phạm, các môn thê thao và nghệ thuật Riêng kỹ năng về
nghiệp vụ biên tập — xuất bản thì đến nay ở nước ta chưa có công trình nào
nghiên cứu, bởi cho đến hiện nay mới chỉ Khoa Xuất bản là địa chỉ đào tạo
biên tập viên chuyên ngành Thực tế nội dung chương trình đào tạo, hệ thống
sách giáo trình và tài liệu giảng dạy chủ yếu là cũng cấp cơ sở lý thuyết mà ít
chú ý đến việc hướng dẫn rèn kỹ năng Việc rèn luyện thực hành đã được
triên khai ở các môn nghiệp vụ nhưng còn mang tính tự phát và trông chờ vào
Trang 9sự chủ động của giảng viên chứ chưa có tô chức việc biên soạn thành giáo
trình riêng Rải rác đây đó trong bài giảng các môn nghiệp vụ xuất bản có đề
cập đến khái niệm kỹ năng nhưng cũng chưa có một định nghĩa minh xác nào
được đưa ra, cũng như chưa chỉ ra được nội hàm, đặc trưng hay những đặc
điểm của những kỹ năng cụ thể Do đó cũng chưa có tài liệu nào nói về các
hoạt động mang tính kỹ năng nghiệp vụ chính thức được giới thiệu cho sinh
viên, thậm chí chưa có bài viết nào về vấn đề rèn kỹ năng cho sinh viên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích:
- Giúp cho người học hiểu biết cơ bản về kỹ năng nói chung: về đặc
điểm, vai trò của các loại kỹ năng, trong sự phân biệt với những nhận thức về
lý thuyết, phân biệt cái gì thuộc tri thức lí thuyết, cái gì thuộc phạm vi thực
hành cần rèn luyện để trở thành kỹ năng nghề nghiệp; giúp nhận diện được
_ những kỹ năng chuyên môn hẹp của lĩnh vực biên tập xuất bản trong từng
khâu, từng phương diện và khía cạnh của bản thảo trong công tác biên tập
xuất bản, trong việc biên tập các loại sách chuyên ngành; từ đó hình thành
năng lực chuyên môn có thể áp dụng trong thực tế khi ra trường, vào nghề
- Cung cấp cho người dạy về những nội dung, nguyên tắc và phương
pháp dạy kỹ năng biên tập trong giảng dạy nghiệp vụ cho sinh viên, đặc biệt
là hướng dẫn kỹ năng thực hành biên tập các loại sách chuyên ngành theo
hướng tiến gần hơn mục tiêu đào tạo biên tập viên chuyên ngành biên tập đáp
ứng nhu cầu xã hội, từ đó góp phần minh giải thêm cho những vấn đề thuộc lí
luận về biên tập xuất bản
3.2 Nhiệm vụ:
- Trình bày những khái niệm cơ bản và quan hệ giữa chúng, những vấn
_để liên quan đến mảng kiến thức lý luận về nghiệp vụ trong chương trình đào
Trang 10tạo Quan niệm về nội dung và xác định phạm vi, giới hạn và sự thể hiện của
những vấn đề đó trong chuyên ngành biên tập xuất bản
- Tìm hiểu những yếu tố cấu thành quy trình đạy kỹ năng, những yếu tố
chi phối việc dạy, học và rèn kỹ năng biên tập
- Chỉ ra những khâu và những công đoạn cụ thể nào cần phải có những
kỹ năng gì trong quy trình biên tập xuất bản
- Trình bày một số nguyên tắc và phương pháp dạy kỹ năng như thế nào
dé dat được hiệu quả và nâng cao trình độ nghiệp vụ cho sinh viên
4 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
- Đề tài được tiếp cận theo cả hướng đồng đại và lịch đại
- Trên cơ sở tổng quan về nội dung kiến thức lý luận về biên tập xuất
bản để từ đó giới hạn phạm vi kỹ năng nghiệp vụ và cụ thể hơn là kỹ năng
biên tập bản thảo sách
,
- Nghiệp vụ biên tập gồm nhiều hoạt động rải rác ở nhiều khâu gồm cả lí
thuyết nghiệp vụ và kỹ năng; chúng tôi cố gắng chỉ ra những kỹ năng đó ở
từng khâu ứng với sự phân chia về mặt lí thuyết trong chương trình đào tạo
của Khoa Xuất bản
5 Nội dung và phương pháp
Š.1 Nội dung:
- Giới thiệu những hiểu biết chung về lí thuyết kỹ năng như là một trong
2 mảng kiến thức cơ bản cần cung cấp cho người học thông qua trình bày
những khái niệm cơ bản và những vấn đề có liên quan đến kỹ năng và kỹ
năng biên tập ở các khâu cơ bản của công tác biên tập xuất bản
- Về kỹ năng nghiệp vụ biên tập, chúng tôi sẽ giải quyết những vấn đề:
các nguyên tắc và phương pháp rèn kỹ năng; giới thiệu những kỹ năng biên
tập điển hình, tập trung ở một số khâu quan trọng thể hiện rõ nhất có tính định
Trang 11lượng và đặc thù của hoạt động biên tập mà có thể đánh giá được thông qua
kết quả kiểm tra trình độ nắm và thực hành biên tập của người học
6 Cầu trúc của báo cáo tông quan đề tài:
Ngoài phan Mo dau va Kết luận, nội dung chính văn của bảo cáo tông quan được chia thành Ìchương
Chương Một: Giới thuyết về kỹ năng và những vấn đề liên quan
Chương Hai: Những vấn đề về dạy kỹ năng nghiệp vu xudt ban
Trang 12-Chương ]
GIOI THUYET VE KY NANG
VA NHUNG VAN DE LIEN QUAN
I DAN NHAP
Trong gido duc, ngudi ta néi dén ti thitc trong sự phân biệt với kỹ năng Vì đây lại là 2 yếu tố làm nên năng lực của con người nói chung Chúng cũng có quan hệ với nhau như là hai mặt cần thiết bổ sung cho nhau làm cơ sở
và cũng là mục đích mà mỗi người đều mong muốn vươn tới để có được trong suốt quá trình sống và làm việc Hai mặt này có thể hiểu là những kiến thức
nói chung về lí luận và thực tiễn, cho nên khi có đầy đủ, toàn diện 2 mặt này thì sẽ làm nên sự hoàn thiện, hoàn hảo về năng lực của mỗi người Tuy nhiên,
do dung lượng vấn đề lý thuyết về kiến thức khá rộng nên chúng tôi không bàn về lý thuyết mà chỉ nêu phạm vi những kiến thức có liên quan đến nội dung dé tài nay
— Một cách khát quát, toàn bộ những kiến thức mà sinh viên được học
theo nội dung chương trình hiện hành được chia thành 2 mang lớn: những tri thức hay kiến thức lí thuyết và những năng nghiệp vụ Riêng ở mảng thứ nhất, các kiến thức lại bao gồm 2 nhóm là nhóm kiến thức cơ sở chung của chương
trình đào tạo đại học dành cho mọi trường như chính trị, ngoại ngữ, các môn
CƠ SỞ khác và nhóm kiến thức chuyên ngành cụ thể, gọi là lí luận nghiệp vụ
Với việc lấy khái niệm kỹ năng làm trung tâm, chúng tôi sắp xếp các khái
niệm khác có liên quan theo 2 nhóm chính tương ứng với hai mảng kiến thức
vừa nêu là kiến thức lí thuyết và kỹ năng thực hành
Để có cơ sở cho việc trình bày những nội dung găn với mục tiêu của đề tài là dạy kỹ năng, ở phần này, sau những vấn đề thuộc lý thuyết là van dé tài trung tâm của đề tài Nói cách khác, chương này chúng tôi đưa ra một cái nhìn tổng quát về lượng kiến thức chung sẽ trang bị cho sinh viên thông qua việc trình bày những hiệu biết về kỹ năng và một số khái niệm liên quan đên đê
Trang 13tài; đó là nhóm các khái niệm có liên quan với nhau như: kỹ năng, kỹ xảo, kỹ
thuật; tri thức, kinh nghiệm; thực tế, thực tập, thực hành Những khái niệm
này có điểm chung là đều hàm chứa ý niệm tri thức hay là sự hiểu biết trong
những điều kiện, bối cảnh, lĩnh vực khác nhau, và chúng đều có liên quan đến
khái niệm kỹ năng Tuy nhiên, do mục tiêu của đề tài này chỉ thu hẹp trong
phạm vi chuyên ngành biên tập xuất bản cho nên chúng tôi không nói đến
mảng kiến thức cơ sở trong toàn bộ chương trình đào tạo
H PHẠM VI KIÊN THỨC LY THUYET
1 Những nội dung kiến thức về xuất bản
Như đã nói biết, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực đều có những mang tri thức nhất định Mảng kiến thức mang tính chất lí luận có vai trò cung cấp tri thức
chung làm nền như một sự chuẩn bị để tiến hành rèn luyện kỹ năng cho sinh
viên, đó là kiến thức lí luận nghiệp vụ, tắt nhiên, ở đây bao gồm cả mảng kiến
a Ngoài những kiến thức cơ sở chung theo quy định chung của Bộ GD
&ĐÐT đối với bậc đại học, ở lĩnh vực xuất bản, kiến thức lý thuyết cơ sở
chuyên ngành là những nội dung kiến thức lý luận nên tảng về xuất bản mà
trước hết là một loạt khái niệm như:
- Khái niệm xuất bản, đặc trưng, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của hoạt
động xuất bản
- Quan hệ của hoạt động xuất bản với các lĩnh vực khác của đời sống xã
hội như chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội
- Khái niệm sách và xuât bản phâm, chức năng của sách, phân loại sách
Trang 14- Khái niệm đê tài và kê hoạch đê tài
- Khái niệm cộng tác viên và công tác cộng tác viên
- Biên tập viên với vai trò và nhiệm vụ biên tập
- Khái niệm bản thảo và công tác biên tập bản thảo
- Khái niệm biên tập, nguyên tắc, phương pháp biên tập, nội dung, quy trình biên tập
b Mang kién thitc lp thuyết về nghiệp vụ biên tập bản thảo
- Công tác biên tập bản thảo: tiếp nhận bản thảo, đọc nhận xét, đánh giá bản thảo, hoàn thiện bản thảo
các loại bản thảo; vấn đề lý thuyết về biên tập nội dung, biên tập hình thức
của bản thảo
- Lý luận về biên tập kỹ thuật, mỹ thuật bao gồm: định nghĩa, vai trò,
_ nguyên tắc trình bày, minh hoạ sách; nhiệm vụ- của biên tập viên kỹ thuật và
mỹ thuật sách
- Trong công tác in và sửa bài: định nghĩa, vai trò, vị trí của công tác in sách; các đơn vị đo lường và sản phẩm trong ngành in; các phương pháp và
quy trình in chủ yếu; nhiệm vụ của người sửa bài
Trong công tác phát hành: khái niệm xuất bản phẩm và thị trường xuất bản phẩm; đặc trưng của phát hành xuất bản phẩm trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam; chức năng của hoạt động phát hành xuất bản phẩm trong
nền kinh tế thị trường có định hướng; những nhiệm vụ cơ bản của phát hành
xuất bản phẩm
c Những kiến thức thuộc các môn hỗ trợ liên quan đến hoạt động xuất bản:
- Kinh tế xuất bản, hạch toán kinh doanh và marketing trong hoạt động
xuât bản
Trang 15- Vân đề quản lí nhà nước về hoạt động xuất bản
- Van dé ban quyên
- Lịch sử sách, lịch sử ngành xuất bản Việt Nam và lịch sử xuất ban thé
ĐIỚI;
- Vấn đề liên doanh, liên kết trong hoạt động xuất bản
- Vấn đề hợp tác quốc tế trong lĩnh vực xuất bản
- Vấn đề sách điện tử và xuất bản sách điện tử
2 Nhận xét
- Những kiến thức lý luận nghiệp vụ là những kiến thức không chỉ là lý
luận về xuất bản mà còn mang tính miêu tả tư liệu hiện thực đòi hỏi người học phải quán triệt, ghi nhớ cho nên chỉ cần học £huộc lòng để nhớ, ít đòi hỏi
tư duy trừu tượng và không mang tính sáng tạo Cái khó cần trang bị cho người học là kỹ năng thực hành nghiệp vụ biên tập Và kỹ năng biên tập trở
thành hành trang, thành năng lực cơ bản trong toàn bộ vốn trình độ, năng lực
chuyên môn của họ
- Trong nội dung chương trình đào tạo chuyên ngành biên tập — xuất bản
có 2 mảng kiến thức rõ rệt là mảng kiến thức học để biết va mang hoc dé làm
Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang tính tương đối, không phải lúc nào cũng rạch ròi; ở 2 mảng này vẫn có những phần vừa để biết vừa để làm, tức là vừa có lý thuyết vừa có thực hành Hơn nữa, trong một số nội dung lí thuyết vẫn có những công đoạn thực hành; ví dụ, công tác kế hoạch đề tài có những hoạt động mang tính thủ tục đòi hỏi phải có kỹ năng như việc lập bản tổng hợp về kế hoạch đề tài của nhà xuất bản; hoặc trong công tác cộng tác viên có những hành vi hoạt động giao tiếp, tiếp xúc với cộng tác viên lại rất can
những động thái, hành vi xã giao văn hoá thuần thục và chu đáo của biên tập
viên; hoặc trong thủ tục lập hô sơ bản thảo có việc làm biên bản tiêp nhận và
Trang 16bàn giao bản thảo cần đến những kỹ năng thực hiện một số hành vi mang tính
chuyên nghiệp
- Đặc điểm của biên tập là cầẦn có kiến thức vừa đa dạng, vừa chuyên sâu Những kiến thức rộng là gồm nhiều chuyên ngành thuộc cả tự nhiên, xã
hội càng nhiều càng tốt; sâu là tối thiểu phải đạt trình độ cử nhân về chính
những mảng kiến thức cụ thể này Thực tế là những kiến thức đó sinh viên đã
được trang bị trong nội dung chương trình đào tạo ở bậc đại học nhưng chưa
đủ, chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc biên tập sách chuyên ngành, do
đó sinh viên xuất bản ra trường vẫn không thể tiến hành công việc biên tập đúng chuyên môn đã được đào tạo
IH KHÁI NIỆM KỸ NĂNG VÀ MỘT SÓ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1 Về khái niệm “kỹ năng”
1.1 Kỹ năng là gì?
Theo bản thân ngữ nghĩa của từ, kỹ năng (skills) là kỹ thuật ứng dụng, ˆ
phát triển một khả năng, năng khiếu nào đó Theo từ điển Việt Nam
(Vdict.com), kỹ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiến
Đây là một định nghĩa khái quát
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa: kỹ năng là “Khả
năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào do vào
thực tế
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, kỹ năng là khả năng con người thực hiện một công việc nhất định trong một khoảng thời gian và không gian nhất
định, là giai đoạn trung gian giữa tri thức và kỹ xảo trong quá trình nắm vững
một phương thức hành động Đặc điểm của kỹ năng là đòi hỏi sự tập trung
chú ý cao, sự kiểm soát chặt chẽ của thị giác, hành động chưa bao quát, còn
có động tác thừa Kỹ năng được hình thành do luyện tập hay do bắt chước
[38]
Trang 17Dưới góc độ xã hội học, một cách chung nhất, kỹ năng được hiểu là năng
lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh
nào đó, có được từ hoạt động thực tiễn cuộc sống hoặc thực tế nghề nghiệp,
được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc phát sinh trong cuộc
sông hay công việc
Để giải thích nguồn gốc hình thành kỹ năng có lẽ không có cơ sở lý
thuyết nào tốt hơn 2 lý thuyết của Tâm lí học về Phản xạ có điều kiện và Phản
xạ không điều kiện Phản xạ có điều kiện được hình thành trong thực tế cuộc
sống của cá nhân, còn Phản xạ không điều kiện là những phản xạ bẩm sinh
mà cá nhân sinh ra đã sẵn có Trong đó, kỹ năng của cá nhân gần như thuộc
về cái gọi là phản xạ có điều kiện, nghĩa là kỹ năng được hình thành từ khi
một cá nhân sinh ra, trưởng thành và tham gia hoạt động thực tế cuộc sống
1.2 Về khái niệm kỹ năng nghiệp vụ
_ ~ Các ngành nghề, lĩnh vực chuyên môn khác nhau hoạt động thực, _ thực tiễn đều có kỹ năng thuộc lĩnh vực riêng của mình và được gọi chung là
kỹ năng nghiệp vụ Đó là những kỹ năng trong những phạm vi môi trường
sống, lĩnh vực hoạt động, gắn với những công việc nghề nghiệp khác nhau sẽ
được sự quan tâm và thực hiện bởi những người chuyên nghiệp khác nhau
Chúng chỉ được xác định cụ thể khi con người tham gia vào những hoạt động
mang tính chuyên biệt trong nghề, nghiệp vụ cụ thể và chúng trở thành mục
tiêu phấn đấu, rèn luyện nhằm đạt được của những người ở lĩnh vực đó Ví
dụ: kỹ năng lãnh đạo, quản lí; kỹ năng ra quyết định, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ
năng giải quyêt vân đê, kỹ năng làm nhóm trưởng,v.v
Như vậy, khi tham gia vào bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào phục vụ cho xã hội, đòi hỏi chúng ta phải thỏa mãn những yêu cầu về kỹ năng tương
ứng, tức là phải đáp ứng những kỹ năng mà hoạt động hay nghề nghiệp đó đòi
hỏi nếu không chúng ta không thể tham gia vào đó được Kỹ năng là yếu tố
làm nên tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức
Trang 18- Kỹ năng nghiệp vụ thường bao gồm một số kỹ năng chung của một số
nhóm ngành hay những kỹ năng liên quan đến nhiều ngành và những kỹ năng
riêng mang tính đặc chủng của lĩnh vực hay chuyên ngành đó Ví dụ, kỹ năng
nghiệp vụ sư phạm bao gồm một số kỹ năng thuộc lĩnh vực giao tiếp ngôn
ngữ, kỹ năng thuộc lĩnh vực tâm lý học sư phạm, kỹ năng giáo dục học Hơn
nữa, trong các kỹ năng đó lại có thể có những kỹ năng chuyên môn có quy
ước, có phạm vi hạn hẹp trong những ngành, nghề, cơ quan, tô chức, những
công việc cụ thể Ví dụ: trong kỹ năng sư phạm có kỹ năng làm giáo cụ trực
quan, kỹ năng viết bảng, kỹ năng hướng dẫn ngoại khoá, kỹ năng làm công
tác chủ nhiệm lớp ; trong nghiệp vụ báo chí có các kỹ năng như kỹ năng lấy
tin, kỹ năng tiếp thị, thu hút quảng cáo, kỹ năng phỏng vấn, kỹ năng lên trang,
kỹ năng trình bày mỹ thuật báo,v.v |
- Như đã nói, những kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của một người thường được quan tâm chú ý rèn luyện và được hình thành khi anh ta tham gia
vào những hoạt động nghề nghiệp hay nghiệp vụ với tư cách là người đảm
nhận những công việc cụ thể trong ngành nghề hay nghiệp vụ đó Tuy nhiên,
kỹ năng cũng có thê được rèn luyện từ rất nhỏ Chẳng hạn, việc truyền nghề
của các nghệ nhân dân gian cho con cháu của họ về nghệ thuật hát chèo, hát
ca trù, hát quan họ hoặc các nghề thủ công mỹ nghệ như nghề mộc, nghề
khảm trai, nghề kim hoàn được thực hiện trực tiếp (không sách vở) ngay từ
lúc chúng còn nhỏ
- Những kỹ năng nghiệp vụ thường khá phức tạp, đa dạng với nhiều
công đoạn, mức độ và giai đoạn khác nhau cho nên muốn có được kỹ năng
nghiệp vụ thì phải học tập và rèn luyện Một trong những chức năng và mục
tiêu của các trường lớp đào tạo về nghiệp vụ chính là trang bị cho người học
những kiến thức lí luận và thực hành về kỹ năng một cách bài bản, hệ thống
và rèn các kỹ năng đó đạt đến mức thuần thục Dạy kỹ năng biên tập xuất bản
là một trong những công việc đào tạo nghề theo hướng như vậy
Trang 19Thực chất kỹ năng nghiệp vụ chính là những kỹ năng được sử dụng trong
lĩnh vực chuyên môn cụ thể, nó gồm kỳ năng cứng được đào tạo và những kỹ
năng mêm liên quan hỗ trợ cùng kỹ năng cứng để đạt được chất lượng và
hiệu quả công việc
1.3 Các loại kỹ năng Xét ở một góc độ nào đấy, kỹ năng là thuật ngữ dùng để chỉ những năng lực kỹ thuật quan trọng của con người trong cuộc sống Dựa vào các tiêu
chí khác nhau mà người ta chia kỹ năng thành các loại khác nhau
1/ Dựa vào phạm vì hoạt động của con người làm tiêu chí để phân loại
kỹ năng Theo đó, kỹ năng sẽ bao gồm: &ÿ năng sống và kỹ năng làm việc
(hay kỹ năng lao động)
a Kỹ năng sống
Theo UNICEE, kỹ năng sống là tập hợp rất nhiều kỹ năng tâm lí - xã hội
và cá nhân hữu ích, nó giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở,
hay là giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và quản
lí bản thân giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả Từ kỹ năng
sống có thể thể hiện thành những hành động cá nhân và những hành động đó
sẽ tác động đến hành động của những người khác, cũng như dẫn đến những
hành động nhằm thay đỗi môi trường xung quanh, giúp nó trở nên lành mạnh
và tốt đẹp hơn
Kỹ năng sống là những kỹ năng cơ bản trong đời sống cá nhân hằng ngày Mọi phạm vi, mọi lĩnh vực của cuộc sống đều cần có các kỹ năng này;
tất cả những hành vi hoạt động của con người có thể tập luyện được và truyền
dạy cho nhau được đều được gọi chung là kỹ năng sống Đây cũng là loại kỹ
năng tự phát mà người ta có thể tự rèn luyện mà có, trong đời sống, sinh hoạt
tự do của mỗi người Nó gồm những kỹ năng như: kỹ năng học tập; kỹ năng
Trang 20làm việc theo nhóm; kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giao tiếp; kỹ năng
ứng xử, xử thể, Iỹ năng vượi khó, kỹ năng thư giãn, giải trí
— Tổ chức Y tế Thế giới WHO- định nghĩa kỹ nănng sống là “khả năng thích nghi và là hành vi cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với
nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày", và khuyến cáo rằng, ngay từ
bậc giáo dục tiểu học và giáo dục trung học, đã nên chú ý rèn kỹ năng sống
cho con trẻ, đó là một tập hợp những hiểu biết và những khả năng được rèn
luyện để đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hóa; ví dụ cuộc
sống bao gồm quản lý tài chính (cá nhân), chuẩn bị thức ăn, vệ sinh, cách diễn
đạt và kỹ năng tô chức, phòng chống thương vong
Cũng theo WHO, kỹ năng sống được chia thành 2 loại là kỹ năng tâm lý
xã hội và kỹ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy, với 10 yếu tế như: tự nhận
thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử với người
khác, ứng phó với các tình huống căng thắng và cảm xúc, biết cảm thông, tư
duy bình luận và phê phán, cách quyết định, giao tiếp hiệu quả và cách
thương thuyết
Tại nhiều nước phương Tây, thanh thiểu niên đã được học những kỹ
năng sống về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện và
đương đầu với những khó khăn, và cách vượt qua những khó khăn đó cũng
như cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực giữa người và người Tại
Hàn quốc, học sinh tiểu học được học cách đối phó thích ứng với các tai nạn
như cháy, động đất, thiên tai tại Trung tâm điều hành tình trạng khẩn cấp
Seoul Tại Việt Nam, kỹ năng sống đang được quan tâm, tuy nhiên trong nhà
trường chủ yếu học sinh chỉ được dạy kỹ năng học tập và chính trị, còn việc
giáo dục kỹ năng sống chưa được quan tâm nhiều Hiện nay, thuật ngữ kỹ
năng sống được sử dụng khá phô biến nhưng có phần bị "lạm dụng" khi chính
những người huấn luyện hay tô chức và các bậc cha mẹ cũng chưa thật hiểu gì
Trang 21vê nó Trong tương lai và về lâu dài, cần xây dựng chương trình môn học giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 1 đến lớp 12 [40]
b Kỹ năng làm việc
Kỹ năng làm việc (hay kỹ năng lao động) là khả năng vận dụng những
kiến thức đã thu nhận được trong cuộc sống để áp dụng vào công việc, bao
gồm các kỹ năng như: kỹ năng lao động sản xuất; kỹ năng lãnh đạo, quản lí;
ky nang ra quyết định; kỹ năng lập kế hoạch; kỹ năng giải quyết vấn đề,v.v
Kỹ năng lao động dù ở trình độ sơ cấp hay cao cấp cũng đều không thể tự
nhiên mà có, mà phải là kết quả của quá trình đào tạo, giáo dục, hoặc tự trau
dồi nghiêm túc, lâu dài Sự đảo tạo và giáo dục có thể sẽ cho ra những con
người với kỹ năng lao động với đủ các loại cấp bậc, song môi trường và hoàn
cảnh sống, bản lĩnh, tài năng và ý chí cá nhân trong quá trình tiếp tục tự đào
tạo, tự giáo dục, tự trau dồi mới có ý nghĩa quyết định sự thành công thực sự
của một con người
2/ Nêu căn cứ vào tính chật của các kỹ năng thì có thể chia thành 2 loại
cơ bản là: kỹ năng cứng và kỹ năng mêm
a Kỹ năng cứng
- Kỹ năng “cứng” (hard skills) là kỹ năng mà chúng ta có được do được đào tạo từ nhà trường hoặc tự học, đây là kỹ năng có tính nền tảng Nó thể
hiện khả năng học van của mỗi người, kinh nghiệm và sự thành thạo về
chuyên môn và được ghi dấu trên bản lý lịch của người đó Kỹ năng cứng gắn
với môi trường đào tạo chuyên nghiệp Kỹ năng nghiệp vụ thuộc loại kỹ năng
cứng, trong đó có kỹ năng biên tập Đây là đối tượng khảo sát chính của đề tài
này nên sẽ được trình bày kỹ và nhiều hơn ở những phần sau
b Kỹ năng mêm
- Theo từ điển Wikipedia, kỹ năng "mềm" (soft skiIls) là thuật ngữ dùng
đê chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người như: kỹ năng sông,
Trang 22kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thư giãn, kỹ năng vượt qua
khủng hoảng, kỹ năng sáng tạo vã đối mới Thực tế thời đại ngày nay đòi hỏi con người không dừng lại ở kỹ thuật công nghệ mà đang chuyền sang thời đại của kỹ năng, nhất là kỹ năng mềm Kỹ năng mềm là loại kỹ năng cực kỳ phong phú và không kém phần quan trọng so với kỹ năng cứng Ngoài những
kỹ năng kể trên, danh sách các kỹ năng mềm còn có thể là: kỹ năng thuyết trình, kỹ năng đàm phán và thuyết phục, kỹ năng làm việc theo nhóm (team- work), kỹ năng lập kế hoạch và quản lý thời gian, kỹ năng khám phá năng lực bản thân; kỹ năng xác định mục tiêu, kỹ năng giải quyết stress,v.v Những kỹ năng mềm cũng được gọi là tập hợp một nhóm gồm các kỹ năng với tên gọi là
“kỹ năng liên quan” (transferable skills), tức là những kỹ năng liên quan đến các nghề nghiệp khác nhau [40]
- Quan niệm về các kỹ năng với những đặc tính, phạm vi khác nhau ở các lĩnh vực cũng như các quốc gia cũng khác nhau Ở Mỹ, Uỷ ban Lao động -
Mỹ đã thông qua I3 kỹ năng cơ bản của một người lao động trong thế kỷ 2I,
trong đó có 9 kỹ năng mềm cơ bản được tham khảo từ nhiều nguồn với hy vọng có thể hỗ trợ các sinh viên trẻ khá nhiều trong công việc cũng như trong cuộc sống Đó là: có ý chí chiến thắng: có quan điểm lạc quan; có tỉnh thần
đồng đội, hòa đồng với tập thể; giao tiép hiệu quả, tự tin; mài dũa kỹ năng
sáng tạo; chấp nhận và học hỏi từ những lời phê bình; thúc đây bản thân và
dẫn dắt người khác; đa nhiệm vụ và xác định trước những việc cần làm; có cái
Ở Việt Nam, khi nói đến các kỹ năng cần thiết cho sinh viên thì những
kỹ năng thường được đề cập nhiều nhất là kỹ năng nói, nghe tiếng Anh Ngoài
Trang 23ra, các kỹ năng thiết yếu khác thường được trang bị một cách không hệ thống
qua các bài tập thực hành, mà thường gặp nhất là những kỹ năng cứng như kỹ
năng phẫu thuật, kỹ năng tiêm chích, kỹ năng cấy khuẩn lạc, kỹ năng quản trị
mạng, kỹ năng thương mại, kỹ năng soạn thảo văn bản hành chính
Tổng hợp các nghiên cứu của các nước và thực tế Việt Nam, các nhà sư phạm hướng nghiệp đưa ra 10 kỹ năng cơ bản và quan trọng hàng đầu cho
người lao động trong thời đại ngày nay, đó là: kỹ năng học cách học
(Learning to learn), kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân (Self
leadership & Personal branding), kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm
(Initiative and enterprise skills), kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc
(Planning and organising skills), kỹ năng lắng nghe (Listening skills), k¥ nang
thuyét trinh (Presentation skills), kỹ năng giao tiếp và ứng xử (Interpersonal
skills), kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skIlls), kỹ năng làm việc
đồng đội (Team work), kỹ năng đàm phán (Negotiation skills)
* Nhận xét
- Như đã biết, các kỹ năng thuộc về hoạt động, năng lực và sở trường của mỗi con người cụ thể trong những phạm vi sống và làm việc nhất định,
nhưng có một số kỹ năng lại ton tại trong nhiều phạm khác nhau của cuộc
sống, như kỹ năng lao động, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ
năng xử thế, kỹ năng thư giãn, giải trí Người ta gọi đó là những kỹ năng
phô quát và ai cũng muốn có và sử dụng thuần thục các kỹ năng này vì chúng
rất quan trọng và rất cần thiết cho mọi người Chúng trở thành kiến thức nền
tảng cho những hoạt động khác nhau của con người Kinh nghiệm cho thấy,
kỹ năng sống cần được rèn luyện càng sớm càng tốt Ở các nước tiên tiến,
người ta dạy những kỹ năng này cho lứa tuổi từ tiểu học, Mỗi kỹ năng này lại
gồm những kỹ năng cụ thể hơn nữa mà ở đây chúng tôi không đề cập đến do
mục đích và yêu cầu của đê tài
Trang 24- Khác với kỹ năng mêm, kỹ năng cứng đê chỉ trình độ chuyên môn,
kiến thức chuyên môn hay bằng cấp và chứng chỉ chuyên môn Nói cách
khác, nếu kỹ năng cứng tạo tiền đề vững chắc về chuyên môn, thì kỹ năng -
mềm tạo nên sự phát triển hài hoà và toàn diện Thực tế cho thấy người thành
đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại được quyết
định bởi những kỹ năng mềm họ được trang bị Chìa khóa dẫn đến thành công
thực sự là phải biết kết hợp cả hai loại kỹ năng này
- Những sự phân chia như trên đều không triệt để và không thê bao quát hết được mọi trường hợp do có những kỹ năng có thể vừa thuộc về loại kỹ
năng cứng, lại vừa thuộc kỹ năng mềm; có loại vừa thuộc kỹ năng sống nhưng
cũng có thể xếp vào kỹ năng làm việc, do có sự quan niệm và giải thích khác
nhau về các loại khác nhau như vừa nêu ở trên Đôi khi kỹ năng sống nhưng
không phải luôn luôn, khác biệt với các kỹ năng nghiệp vụ (trong nghề
nghiệp) Chúng ta thấy rằng, xã hội ngày nay đang thay đổi rất nhanh, nhưng
nó cần sự phát triển uyễn chuyển chứ không cần sự cứng nhắc Và một điều
nữa, tuỳ ngành nghề mà độ cân bằng giữa kỹ năng cứng và mềm có sự chênh
lệch Nếu như các ngành nghề thiên về xã hội thì cần nhiều về kỹ năng mềm
hơn, trong khi các ngành nghề kỹ thuật cần nhiều kỹ năng cứng hơn Nhưng
để phát triển được nghề nghiệp của mình, thì không thể có sự chênh lệch quá
lớn giữa cứng và mềm
- Trong số các kỹ năng có thể có ở nhiều phạm vi hoạt động của con
người thì kỹ năng giao tiếp là một kỹ năng khá đặc biệt Tính chất đặc biệt
của kỹ năng giao tiếp thể hiện ở chỗ, nó có mặt và cần thiết ở tất cả mọi lĩnh
vực, phạm vi của cuộc sống, trong mọi quan hệ g1ữa con người với con người
từ lúc còn nhỏ cho đến cuối cuộc đời Bởi lễ, giao tiếp vừa là phương tiện
không thể thiếu vừa là động lực cho mọi hoạt động của con người, là nhân tố
thúc đây xã hội phát triển thông qua hoạt động trao đổi, chia sẻ thông tin mọi
mặt của từng cá nhân trong xã hội Vì thế, giao tiếp là đối tượng quan tâm
Trang 25xem xét của nhiều ngành khoa học về con người và xã hội Ở đây, chúng tôi
quan niệm giao tiếp ở 2 tư cách, vừa là kỹ năng mềm, vừa là kỹ năng cứng
trong một số khâu của công tác biên tập xuất bản
- Kỹ năng giải trí là khả năng vận động thê chất và tinh thần một cách
khoa học, phù hợp với điều kiện thể chất và hoàn cảnh cá nhân cũng như môi
trường, nhằm tăng cường và duy trì sức khoẻ, mang lại năng suất lao động
tăng, chất lượng học tập, hiệu quả công tác, giảm sự mệt mỏi, chéng stress, chống lại bệnh tật
1.4 Dic diém của kỹ năng
a Kỹ năng vừa mang tính chất cả nhân, vừa mang tính xã hội
Do chỗ, kỹ năng là sản phâm của con người nên đặc điểm dễ thấy của kỹ
năng là nó thuộc hoạt động của con người, mà con người có hai mặt cá nhân
và xã hội nên kỹ năng cũng mang tính chất hai mặt đó
Trước hết, kỹ năng là những hành vi cá nhân, những động tác riêng lẻ
trong một chuỗi những hành, trong động của một công việc nào đó Khi đã
định hình tiềm tàng thành vốn tri thức, vốn sống của mỗi người thì kỹ năng vần thuộc về những cá nhân cụ thê
Mặt cá nhân của kỹ năng mềm có một phần là yếu tố bẩm sinh, tuy nhiên phần lớn con người nếu chịu khó rèn luyện thì vẫn có thể nâng cao đáng
kê kỹ năng của bản thân Nói cách khác, kỹ năng mềm thuộc về tính cách con người, không mang tính chuyên môn, thường không được học trực tiếp từ
trong nhà trường, không thể sờ nắm được, mà phụ thuộc chủ yếu vào cá tính
của từng người Cụ thể hơn, chúng có liên quan tới các đặc tính con người,
thói quen cá nhân, tính thân thiện, sự lạc quan, sử dụng ngôn ngữ mà dựa
vào đó con người được đánh giá theo nhiều mức độ khác nhau .Chúng quyết định ta là ai, làm việc thế nảo, là thước đo hiệu quả công việc của mỗi người
Để thành công trong cuộc sống, chúng ta phải có được cả kỹ năng cứng và
Trang 26_ những kỹ năng mềm cần thiết và phải biết vận dụng linh hoạt và phù hợp hai
loại kỹ năng cơ bản này trong cuộc sống vả công việc Điều này thực sự cần thiết, bởi vì kỹ năng mềm là một trong những yếu tố quan trọng nhất đưa con người đến thành công
Như vậy, nhìn dưới góc độ các hành vi tự thân cá thể mỗi con người thì
kỹ năng mang tính cá nhân, nhưng mặt khác nhìn ở dạng tông thể, theo chiều rộng và nhìn dưới góc độ xã hội thì, hoạt động của mỗi người lại hướng ra ngoài xã hội, chịu sự chỉ phối của quy luật và chế ước của xã hội do đó nó có
vai trò một hoạt động xã hội
Trong các hoạt động mang tính xã hội, cộng đồng, tập thể, khi nhiều người cùng thực hiện những công việc như nhau thì những thành tựu khái quát về các kỹ năng nào đó sẽ trở thành hiểu biết chung, có thể định lượng và quy thành những hoạt động ôn định, chuẩn mực, thậm chí thành kỹ xảo với nhiều ngành nghề thuộc kỹ thuật hay nghệ thuật, được ghi thành sách vớ, tài
liệu dùng để giảng dạy và học tập, va do đó, kỹ năng cũng mang tính xã hội
Đặc biệt là khi nó tác động và đem lại hiệu quả đối với xã hội thì tính chất xã
hội của nó là khá nỗi bật, dễ nhận ra
Điển hình của loại kỹ năng mang tính chất xã hội là kỹ năng quản lí mà quan hệ quản lý với điều kiện cần là các yếu tố chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, nguyên tắc và cách thức quản lý đã nói lên tính chất xã hội của kỹ
năng này Một trong những kỹ năng cần có của nhà quản lí gồm: Một là kỹ
năng kỹ thuật, chuyên môn, tức là kỹ năng thực hiện tốt một công việc chuyên
môn cụ thể Kỹ năng này là một đảm bảo về uy tín của nhà quản li trong cơ
quan mà anh ta phụ trách Hai là kỹ năng tư duy, nhận thức, tức là khả năng
thu thập thông tin, nắm bắt cơ hội, nhận thức được nguy cơ Có được khả
nang nay, anh ta là người có khả năng tạo ra sự thay đổi cho cơ quan của anh
ta, đồng thời cũng là người tránh được những nguy cơ thách thức và rủi ro
cho cơ quan Ba là kỹ năng nhân sự, tức là khả năng giao tiệp và giáo dục con
Trang 27người - nguôn nhân lực của cơ quan; anh ta có thê là nguôn động viên đôi với
_ mọi người trong cơ quan, tạo ra khôi đoàn kết nội bộ Kỹ năng giao tiêp vừa
có tính chất cá nhân, vừa mang tính chất xã hội
kỹ năng Nói cách khác, kỹ năng cũng phải được kiểm nghiệm qua thực tiễn
Một người được xem là có những kỹ năng nào đó thì phải được đánh giá qua
sự thể hiện trên thực tiễn hoạt động của người đó Như vậy, người ta có thé đánh giá một kỹ năng nào đó đã thuần thục hay chưa Ví dụ, những người làm
công tác truyền thông miệng chẳng hạn thì ngoài các kỹ năng phụ trợ như chọn tài liệu, hay các hành vi phi lời thì kỹ năng chủ yếu của họ là nói; nói
trước đám đông như thế nào để cuốn hút được họ, tác động, làm thay đối
được nhận thức và hành vi của họ, thì đó chính là kỹ năng thuyết trình ở anh
ta đã đạt đến mức thuần thục Hoặc là, qua hoạt động giao tiếp, ta có thể đánh giá được kỹ năng giao tiếp của những người tham gia, cũng tương tự như vậy, qua thực tiễn biên tập thì đánh giá được kỹ năng của người biên tập Hơn nữa, tính thực hành còn thể biện ở chỗ, đa số kỹ năng trong các ngành nghề, nghiệp vụ là những công việc mà những người trong ngành xuất bản thường
nói là mang tính chất “bếp núc” Ở đó, lí thuyết được vận dụng và kỹ thuật
của những thao tác sẽ làm nên kỹ năng thuần thục của tay chân Tuy nhiên, nói như vậy không có không nghĩa là mọi kỹ năng đều gắn với lao động hay
sự hoạt động của chân tay Chúng ta nhớ là kỹ năng giao tiếp và các hoạt động giao tiếp nói chung đều được thực hiện chủ yếu bằng miệng và tai Theo
Trang 28đó, đích của dạy biên tập phải là dạy kỹ năng nhưng để dạy được kỹ năng thì
cũng phải có lí thuyết về biên tập để người học vận dụng vào việc rèn kỹ
năng Còn kỹ năng nghiệp vụ thì chỉ có được qua hoạt động thực hành, thực
tế, thực tập Điều này giải thích vì sao trong đề tài có tính hướng nghiệp này,
chúng tôi phải đề cập đến những vấn đề thực hành, thực tế, thực tập
c Tính chất bắt chước
Kỹ năng có một phần mang tính bẩm sinh, tuy nhiên phần lớn lại là do
con người học tập, rèn luyện mà có Điều này thực sự cần thiết, bởi vì bên
cạnh những kiến thức thì kỹ năng là một trong những yếu tố quan trọng nhất
đưa con người đến thành công Những hiểu biết chung chung về nghiệp vụ thì
không thể coi là kỹ năng được Chẳng hạn như trong công tác biên tập bản
thảo, thì các khái niệm, đặc trưng, chức năng, yêu cầu, nguyên tắc biên tập
đều thuộc mảng kiến thức lí thuyết Không có kỹ năng thực hành là thiếu đi
một nửa những khả năng cần thiết để một người có thể hoàn thành được
nhiệm vụ nghiệp vụ cơ bản mà anh ta đảm nhận; thiếu kỹ năng, không có khả
năng đáp ứng được yêu cầu về công việc chuyên môn được giao, anh ta chỉ có
thể nói được một cách rất hay ho về công việc nào đó như sách vở nhưng anh
ta không thê làm được công việc đó Nói như vậy không có nghĩa là kỹ năng
chỉ dừng lại ở sự bắt chước và thuần tuý máy móc Các nhà nghiên cứu về kỹ
năng lao động đã chỉ ra rằng, sự bắt chước máy móc chỉ ở giai đoạn đầu, sau
khi đã được định hình thì lại là trở thành cơ sở cho sự sáng tạo về kỹ năng
Nói khác đi, sự sáng tạo là dựa trên cơ sở kỹ năng định hình
Giáo dục kỹ năng phải năm được đặc điểm này để có phương pháp rèn
luyện thích hợp và đạt được hiệu quả, tuy nhiên từ đó cũng đặt ra yêu cầu là
việc làm mẫu sao cho phải chính xác, chuẩn mực nhưng dễ thực hiện Biên
tập là một nghề cho nên việc dạy kỹ năng càng bám sát được thực tế bao
nhiêu thì sau khi ra trường, sinh viên càng nhanh chóng làm quen với công
Trang 29việc bấy nhiêu và tránh phải mắt thời gian “làm quen” do những điều đã học
với thực tế khác xa nhau
d Tinh chat lap đi lặp lại nhiễu lần
Kỹ năng có cấu trúc là những hành vi, động tác cụ thể hay nói cách khác, từ các hành vi ta có kỹ năng Lặp lại hành vi sẽ thành thói quen, và đó
cũng chính là con đường hình thành kỹ năng Kỹ năng không thể được thiết
lập một lần ở những hành vi hay động tác đầu tiên của hoạt động Lúc mới
được thực hiện, chúng chỉ là những động tác, thao tác chưa được hoàn thiện
Một lần thực hành chưa thé gọi là kỹ năng được Dần dần chúng được hình
thành rồi đi vào ổn định chủ yếu bằng sự luyện tập có mục đích và hệ thống;
nhờ quá trình lặp lại nhiều lần các động tác như là các yếu tố thành phần của
kỹ năng, mà từ đó kỹ năng trở nên hoàn thiện và thuần thục Kỹ năng này là
hệ quả tất yếu của tính chất bắt chước Nói khác đi, tính chất lặp lại của thao
tác chính là tạo ra kỹ năng và định hình nó Nói khác đi, kỹ năng được hình
thành chủ yếu bằng sự luyện tập có mục đích và hệ thống, được đánh giá về
mặt kỹ thuật, thao tác Ví dụ: kỹ năng vận động trong thể dục thể thao là khả
năng vận dụng hành động tạo nên cơ sở kỹ thuật trong các loại hình vận động
thé thao Kỹ năng vận động biểu hiện bằng các động tác ở mức tập trung cao
yếu tố thành phần động tác, phương pháp giải quyết nhiệm vụ vận động chưa
được hoàn thiện Nhờ quá trình lặp lại nhiều lần một động tác kỹ thuật mà các
yếu tố thành phần của kỹ năng vận động trở nên hoàn thiện, cơ chế phối hợp
vận động dan dan được tự động hoá cao và kỹ năng vận động chuyển thành
kỹ xảo vận động Kỹ năng vận động là những bậc thang chuyển tiếp để hình
thành kỹ xảo vận động.[3 8]
1.5 Vai trò của kỹ năng
- Trong cuộc sông, kỹ nang rat cân thiết Mỗi kỹ năng đều có những giá trị, hiệu quả riêng Con người càng có nhiêu kỹ năng thì năng suất lao động
cảng cao, hiệu quả công việc càng lớn và chât lượng cuộc sông cũng cao hơn
Trang 30Kỹ năng sống hướng vào việc giúp con người có nhận thức đúng đắn, thay
đôi thái độ tiêu cực và nâng cao giá trị bản thân Từ đó dẫn đến hành động
theo hướng tích cực, mang tính xây dựng Kỹ năng sống thường được thiết
lập với những kỹ thuật riêng biệt giúp mọi người có thể hiểu và thực hành Kỹ
năng sống liên hệ mật thiết với những nội dung giáo dục thực hành giúp giải
quyết những vấn đề như: thái độ sống tích cực, khả năng tự học, giải toả
stress, giải quyết xung đội
Những kỹ năng liên quan giữa các công việc trong các nghề nghiệp là
vô cùng quan trọng Khi tham gia vào bất kì hoạt động nghề nghiệp nào phục
vụ cho cuộc sống của con người đều đòi hỏi chúng ta phải đáp ứng được
những yêu cầu với những kỹ năng tương ứng Ví dụ, nghề tư vấn thì tương
ứng là nhà tư vấn phải có những kỹ năng tư vẫn; nghề luật sư thì phải có kỹ
năng hành nghề luật sư Như vậy, bất kì một hoạt động chuyên môn hay
nghiệp vụ nào mà chúng ta tham gia thì chúng ta đều phải đáp ứng được
những kỹ năng mà hoạt động hay nghề nghiệp đó đòi hỏi, nếu không, chúng
ta không thê tham gia vào đó được
Các kỹ năng ở mỗi lĩnh vực chuyên môn có góp phần làm nên tính chuyên nghiệp của người làm trong nghề nghiệp đó Nó có vai trò làm tăng
năng suất lao động và hiệu quả công tác, giảm tốn phi về sức lực, thời gian
làm việc và tài chỉnh Con người càng có nhiều kỹ năng thì càng ít mắc sai sót
và va vấp khi làm việc; công việc càng có hiệu quả và làm tăng giá trị sức lao
động của con người Kỹ năng nghiệp vụ làm phong phú thêm phẩm chất năng
lực chuyên môn của cá nhân người lao động, tạo nên sự đồng bộ trong phối
hợp và liên kết lao động trong cộng đồng, tập thẻ
Kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lí độc lập và thuộc về hành trang của mỗi cá nhân để có thể tự mình sống độc lập và tương tác với môi trường
sống một cách hiệu quả Kỹ năng sống cũng là những giải pháp để ứng phó,
giải quyết những vấn đề, những thách thức trong cuộc sống hàng ngày Về
Trang 31lĩnh vực sinh hoạt, cư xử trong đời sông, một người có kỹ năng sống từng trải,
nhiều kinh nghiệm thì cũng thường được đánh giá là người lịch lãm, lịch sự,
có văn hoá, tự tin và chiếm được cảm tình của nhiều người trong cộng đồng
Đôi khi việc thay đổi nghề nghiệp cần đến những kỹ năng khác bên ngoài
công việc của con người Vì thế, các nhà tâm lý học lao động khuyên mỗi
người nên lập danh sách những kỹ năng mà mình đã thu nhận được từ cuộc
song thường nhật và xác định những kỹ năng nào phù hợp với công việc mình
đang làm
Bên cạnh những kỹ năng cụ thể còn có những kỹ năng tổng quát Chang hạn, kỹ năng mềm cũng là những kỹ năng liên quan giữa các nghề nghiệp bao
gồm những kỹ năng hữu ích trong đời sống hàng ngày của cá nhân, được chia
thành những nhóm nhỏ như kỹ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết ), kỹ
năng chuyên môn (thiết kế web, lập trình, sửa chữa máy móc ), kỹ năng
phân tích (nghiên cứu, phân tích, tài chính, thống kê ), kỹ năng làm việc
nhóm (lang nghe, chat van, thuyét phục, tôn trọng, trợ giúp, sẻ chia, chung
sức) Những kỹ năng này có thể sử dụng trong nhiều ngành nghề khác nhau,
ví dụ như kỹ năng lãnh đạo, tô chức, quản lý dự án Trong các lĩnh vực sản
xuất vật chất, nó bổ trợ cho kỹ năng cứng thuộc về kỹ thuật chuyên môn của
nghề nghiệp Một số kỹ năng mềm (hay kỹ năng liên quan giữa các nghề
nghiệp) là những kỹ năng con người đạt được từ quá trình làm việc và trong
cuộc sống mà con người có thể sử dụng trong công việc hay nghề nghiệp
chuyên môn
Hầu hết cả các chuyên gia về nhân sự và những người giàu kinh nghiệm
đều khẳng định, cách duy nhất để trau dồi kỹ năng "mềm" là phải luyện tập,
học hỏi thường xuyên, tạo cho mình một phản xạ tức thời mỗi khi gặp các
tình huống cần thiết Và chìa khoá dẫn đến thành công thực sự là chúng ta
phải biết kết hợp các kỹ năng
Trang 32Kỹ năng là cơ sở cho hình thành kỹ xảo, tức là kỹ năng đạt đến mức
thuần thục ở trình độ cao Điều nảy đặc biệt quan trọng đối với các loại lao
động nghệ thuật đặc thù như nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật điện ảnh, nghệ
thuật xiếc, nghệ thuật hội hoạ, nghệ thuật tạo hình
Những người theo lý thuyết hành vi đã khái quát con đường hình thành
và hệ quả của việc rèn kỹ năng trong cuộc sống là: gieo hành vi, gặt thói
quen, gieo thói quen, gặt tính cách, gieo tính cách, gặt số phận
Thế giới phẳng, thông tin là bình đẳng với mọi người nhưng làm thế nào
để biến thông tin thành kiến thức và gia tăng giá trị cho nó thì chúng ta phải
.có kỹ năng Kỹ năng giúp cuộc sống của chúng ta đẹp hơn, ý nghĩa hơn
2 Một số khái niệm liên quan
2.1 Khái niệm tri thức
2.1.1 Định nghĩa
Tri thức hay kiến thức (A: The Knowledge) là những hiểu biết nói
chung, hay là trình độ kiến thức chuyên môn được đánh giá bằng bằng cấp,
chứng chỉ chuyên môn Tri thức của con người rất đa dạng thuộc nhiều lĩnh
vực khác nhau và được đánh giá theo những mức độ, tiêu chuẩn khác nhau
Có loại tri thức tông hợp thuộc đa ngành, đa lĩnh vực, có tri thức thuộc
chuyên ngành, chuyên ngành hẹp và chuyên ngành rất hep [38]
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa: tri thutc Ia “những điều hiểu biết có hệ thống về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội (nói khái
quát)” [28]
Như vậy, những gì đã biết, đã được thu nhận trong một lĩnh vực cụ thể
hay toàn bộ, trong tông thể những kiến thức đa dạng, tổng hợp nhiều lĩnh vực
thường được gọi là tri thức nền hoặc nói một cách hình ảnh là phông văn hoá,
còn tri thức về một lĩnh vực hẹp hay một nghề nghiệp chuyên môn cụ thể nào
đó thường được gọi là kiến thức/ tri thức về chuyên môn nghiệp vụ
Trang 33Tri thức là những hiểu biết hoặc những thứ tương tự các thông tin, các
tài liệu, các cơ sở lý luận, các kỹ năng khác nhau có được, đạt được bởi một
tổ chức hay một cá nhân thông qua các trải nghiệm thực tế hay thông qua sự
giáo dục đào tạo; các hiểu biết về lý thuyết hay thực tế về một đối tượng, một
van dé, có thê lý giải được về nó Tri thức giảnh được thông qua các quá trình
nhận thức phức tạp: quá trình tri giác, quá trình học tập, tiếp thu, quả trình
giao tiếp, quá trình tranh luận hay kết hợp các quá trình này
Tri thức là kết quả của các quá trình nhận thức của con người về đối tượng được nhận thức; làm tái hiện trong tư tưởng con người những thuộc
tính, những mối quan hệ, những quy luật vận động, phát triển của đối tượng
và được diễn đạt bằng ngôn ngữ tự nhiên hay hệ thống kí hiệu khác
Tóm lại, tri thức là sư hiểu biết bằng lý luận và thực tiễn về sự vật, hiện
tượng tự nhiên hoặc xã hội Tri thức có nhiều ý nghĩa tùy theo văn cảnh,
nhưng lúc nào cũng có liên quan với những khái niệm như hiểu biết, ý nghĩa,
thông tin, giảng dạy, giáo dục, giao tiếp, diễn tả, học hỏi và kích thích trí óc,
văn bản và truyền thông Môn học về tri thức được gọi là nhận thức luận
Trong nhận thức luận, một định nghĩa phổ biến của tri thức là nó bao gồm ba
tiêu chí khả tín, xác thực và chứng minh duoc [40]
2.1.2 Các loại trì thức
a Xét về môi trường kiến tạo hay nguồn gốc thì có thể nói đến 2 loại tri
thức: íri thức thông thường và tri thức khoa học _
Tri thức thông thường là tri thức thực tiễn, tức là những tri thức người ta
thu nhận, học được trong cuộc sống, được hình thành do hoạt động quan sát
và trải nghiệm hằng ngày của mỗi cá nhân và mang tính chất kinh nghiệm,
cảm tính, trực tiếp, bề ngoài và rời rạc Loại trì thức này là cơ sở để hình
thành nên kinh nghiệm sống, hay như cách nói thông thường, được đúc rút
thành những bài học kinh nghiệm trong cuộc sống
Trang 34Tri thức khoa học hay còn gọi là kiến thức sách vở, được phản ánh qua
trình độ cao của con người khi đi sâu vào nhận thức đỗi tượng nhăm vạch ra
bản chất của đối tượng Tri thức khoa học lại được chia thành tri thức kinh
nghiệm và tri thức lí luận Tri thức kinh nghiệm do quan sát, mô tả, thực
nghiệm mang lại, thường dùng làm cơ sở cho sự tông hợp, khái quát thành tri
thức lí luận Nói cách khác, tri thức lí luận là kết quả của sự khái quát hoá
những tri thức kinh nghiệm (những tài liệu kinh nghiệm, kết quả thực nghiệm)
để xây dựng các hệ thống lí luận phản ánh những mối liên hệ tất yếu cơ bản
của sự vật, hiện tượng hay lớp sự vật, hiện tượng.[38]
b Xét về dạng thức tồn tại và sự thể hiện của tri thức, người ta chia tri
thức thành 2 dạng chính là tri thức ân và tri thức hiện
- Tri thức ấn là những tri thức thu được từ sự trải nghiệm thực tế, dạng
tri thức này thường ẩn tàng trong mỗi cá nhân, rất khó “mã hoá” và chuyên
giao, thường bao gồm: niềm tin, giá trị, kinh nghiệm, bí quyết, kỹ năng Ví
dụ: Trong bóng đá, các cầu thủ chuyên nghiệp có khả năng cảm nhận bóng rất
tốt Đây là một dạng tri thức ân, nó nằm trong mỗi cầu thủ Nó không thể “mã
hoá” thành văn bản, không thể chuyển giao, mà người ta chỉ có thể có bằng
cách tự mình luyện tập
- Tri thức hiện là những tri thức được giải thích và mã hoá dưới dạng văn bản, tài liệu, âm thanh, phim, ảnh thông qua ngôn ngữ có lời hoặc
không lời, nguyên tắc hệ thông, chương trình máy tính, chuẩn mực hay các
phương tiện khác Đây là những tri thức đã được thê hiện ra ngoài và dễ dàng
chuyên giao, thường được tiếp nhận qua hệ thống giáo dục và đào tao.[38]
Căn cứ vào tính chât “ân-hiện” từ cách phân loại tri thức như trên, kết
hợp với việc dựa vào các hình thức giao tiếp, tức cách thức chia sẻ và tri nhận
tri thức, có thể chia tri thức thành các dạng chính sau đây
Trang 35L) Án - ấn: Khi người chia sẻ và người tiệp nhận giao tiếp trực tiếp với
nhau (vi du: hoc nghé, giảng bài ) thì việc tiếp nhận nay là từ trí thức ấn
thành tri thức ẩn Tri thức từ người này không qua trung gian mà chuyên ngay
thành tri thức của người kia
2) Ân - hiện: Một người mã hoá tri thức của mình ra thành văn bản hay
— tác hình thức hiện hữu khác thì đó lại là quá trình tri thức từ ẩn (trong đầu
người đó) trở thành hiện (văn bản, tài liệu, v.v.)
3) Hiện - hiện: Tập hợp các tri thức hiện đã có để tạo ra tri thức hiện
khác Quá trình này được thê hiện qua việc sao lưu, chuyển giao hay tổng hợp
dữ liệu Xuất bản là hoạt động truyền bá tri thức chủ yếu theo hình thức này
4) Hiện - ẩn: Tri thức từ dạng hiện trở thành dạng ấn Điển hình quá
trình này là việc đọc như đọc sách báo, tài liệu nói chung Học sinh đọc sách
(tri thức hiện) và rút ra được các bài học, tri thức cho mình, đó là những trí
thức an [40]
Trong tiếng Việt, tri thức và kiến thức về cơ bản là giống nhau, đồng nghĩa với nhau Tuy nhiên, giữa chúng vẫn có nét khác biệt Theo đó, tri thức
là nói thiên về những hiểu biết lí thuyết một cách có hệ thống trong lĩnh vực
khoa học, còn kiến thức lại thiên về những hiểu biết về thực tế và thực tiễn,
hoặc “Những điều hiểu biết có được, hoặc do từng trải, hoặc nhờ học tập (nói
tông quát)” [28], có lẽ là do xuất phát từ cách hiểu khác nhau ở thành tố
nghĩa gốc ứz¿ (hiểu, biết) và kiến (thấy bằng mắt, một từ gốc Việt) Ở đây
chúng tôi dùng hai từ này đồng nghĩa với nhau
Trong thực tế sử dụng thì tri thức là một thuật ngữ trong các khoa học giáo dục, tâm li hoc , còn kiến thức lại là một từ thông dụng và phố cập hơn
vì nó mang tính chất tổng hợp bao gồm cả hai loại hiểu biết ay Điều này giải
thích vì sao từ điển bách khoa không có mục từ “kiến thức” Bởi vì 2 từ này
Trang 36đều được dùng khá phố biến trong giao tiếp thường ngày cũng như thực tế
dạy và học nghiệp vụ chuyên ngành nên chúng tôi nẽu cả 2 ở đấy
Như vậy, kiến thức được hiểu theo 2 nghĩa rộng và hẹp khác nhau; hẹp
nghĩa là tri thức, đồng nghĩa với tri thức, tức là độc lập với kỹ năng và cùng
với kỹ năng hợp thành 2 mặt, 2 mảng vốn tri thức chung của năng lực hay
phẩm chất của người một nảo đó Theo nghĩa rộng là nghĩa của một danhtừ -
khái quát chỉ sự hiểu biết nói chung về cả lí luận và thực tiễn hay cả lí thuyết
và kỹ năng Bên cạnh đó, kỹ năng là thuật ngữ trỏ những kiến thức hay hiểu
biết của con người ở thực tế, thực hành nhưng chủ yếu và phần lớn các trường
hợp là dùng để nói đến những hiểu biết thực hành mà con người tiếp thu được
bằng quan sát và hoạt động tập luyện mà thành Vì vậy, trong chuyên đề này,
chúng tôi quan niệm kỹ năng theo nghĩa rộng, tức là một dạng kiến thức và sử
dụng từ “kiến thức” để nói về nội dung của nó hay những khía cạnh liên quan
đên nó; và mặc dù “tri thức” là đồng nghĩa với “kiến thức” nhưng khi dùng đề
biếu đạt sự hiểu biết về kỹ năng thì người ta gọi là kiến thức về kỹ năng mà
không nói #r¡ thức về kỹ năng
2.1.3 Quan hệ giữa kỹ năng và tri thức
Quan hệ giữa kỹ năng và tri thức, như đã nói, nếu tri thức là những hiểu
biết về lí luận được tích luỹ thành tiềm năng, thì kỹ năng là khả năng thực
hiện bằng hoạt động thục hành, thực tiễn, trên cơ sở vận dụng chính những tri
thức lí thuyết tiềm tàng đó Nếu kiến thức là sự hiểu biết về công việc thì kỹ
- năng chính là cách thức làm việc, là tổ chức triển khai công việc, là trả lời câu
hỏi: làm công việc đó như thế nào? Để có kiến thức lí thuyết thì sinh viên phải
tiếp thu lí luận sách vở qua việc đọc sách vở, tài liệu, nghe giảng, còn để có
kỹ năng năng nghiệp vụ thì sinh viên phải thực hành tập luyện trong thực tế
về công việc chuyên môn
Trang 37Như vậy, tri thức và kỹ năng là hai mảng kiến thức về hai mặt lí luận và
— eñng như sự phân phối chương trình mà có sự sắp xếp cụ thể, phù hợp Có thể— m—
hình dung mồi quan hệ này như sau: Tri thức — kỹ năng — kỹ xảo
Cũng từ quan niệm như trên, ta có thể nhận thấy, trong quá trình nắm vững một hoạt động nào đó, thì kỹ năng là giai đoạn trung gian của quá trình
đó Giai đoạn trung gian giả định các giai đoạn đầu - cuối trong quá trình tiếp thu hoàn thiện một hoạt động; hai giai đoạn trước và sau kỹ năng đó là: giai
đoạn nhận thức tri thức lí thuyết - giai đoạn đầu và giai đoạn hoàn thiện đích -
giai đoạn cuôi
Bản thân chúng ta lúc mới sinh ra chưa có kỹ năng vê một khía cạnh cụ
thé nao, nhất là kỹ năng công việc, mà thường chỉ có các hành vi tự phát, các
hoạt động bằm sinh, đó là lí do hình thành hệ thống đào tạo nghề nghiệp hiện
có ở bất kì quốc gia nào Các nhà nghiên cứu về lao động xã hội cho rằng, đa
số kỹ năng chúng ta có được và hữu ích với cuộc sống của chúng ta là xuất
phát từ việc chúng ta được giáo dục đào tạo Và như thế, nền tảng cho sự
thành công của con người trong cuộc sống là do có 98% được đào tạo và tự
dao tao, tự rèn luyện kỹ năng mà thành, chỉ có 2% là do kỹ năng bam sinh
tham gia vào sự thành công đó Như vậy, nếu xuất phát từ các hành vi hoạt
động mà xét thì thực chất kỹ năng cũng chính là những hoạt động, thao tác cụ
thể nhưng đã đạt đến một mức độ được đánh giá trong thang độ về ức độ én
định, tính chất thuân thục và tính hiệu quả của những hoạt động đó Có thể
hình dung quan hệ giữa yếu tố này như sau: Các hoạt động khởi phát - kỹ
năng — kỹ xảo
Trang 38Như vậy, khởi thuỷ là các hành động tự nhiên, đến một lúc nào đó, các
hành động đó trở thành phản xạ tự nhiên, được thực hiện một cách chính xác,
đầy đủ, hoàn mỹ như những khuôn mẫu Và cũng khi đó, tri thức đã được
chuyển hoá nhuần nhuyễn vào kỹ năng như là nguồn gốc, là nguyên nhân
tiêm tàng của các kỹ năng đó
2.2 Về khải niệm “kỹ xảo”
2.2.1 Định nghĩa
Kỹ xảo cũng là một danh từ chỉ một kỹ năng nào đó đạt đến mức thuần thục và có tính ổn định cao Nói cách khác, kỹ xảo là trình độ cao của kỹ
năng: kỹ năng là cơ sở cho sự hình thành kỹ xảo Đối với các loại hình lao
động nghệ thuật đặc thù như sân khấu, điện ảnh, xiếc thì mục tiêu người ta
hướng đến xa hơn kỹ năng, tức là kỹ xảo, chứ không chỉ dừng lại ở kỹ năng
Kỹ xảo là “kỹ năng đạt đến mức thuần thục” [28] Từ kỹ năng đến kỹ xảo là
đên cao, từ chưa hoàn thiện đên sự hoàn thiện, viên mãn
2.2.2 Quan hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo
Kỹ năng và kỹ xảo là hai thuật ngữ thường được sử dụng nhiều trong
các ngành, các lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ chuyên môn đòi hỏi kỹ thuật cao
và mang tính chuyên nghiệp Nếu kỹ năng là hiện tượng phổ biến rộng rãi và
đại trà ở nhiều lĩnh vực ngành nghà, thì kỹ xảo chủ yếu được nói đến chỉ ở
những phạm vi hẹp của những nghề nghiệp mang tính chất đặc chủng Sự thể
hiện trên thực tế xã hội là như vậy nhưng cách hiểu về hai thuật ngữ này còn
có chỗ chưa hoàn toàn thống nhất Đa số các quan niệm cho rằng kỹ năng là
những nắc thang đầu, còn kỹ xảo là những nắc thang cuối nằm trên cùng một
thang độ đánh giá khả năng thực hiện một hoạt động nào đó, như quan niệm
nêu trên của Từ điển bách khoa Việt Nam Nhưng cũng có khi người ta lại
nhìn nhận kỹ xảo là thành tố của kỹ năng, là những yếu tố của kỹ năng đã
Trang 39được tự động hoá Họ cho rằng kỹ xảo là “mức độ lĩnh hội hoạt động của cá
nhân được tự động hoá một cách có ý thức, ví dụ, kỹ xảo học tập, kỹ xáo lao
động sản xuất,v.v Kỹ xảo có một số đặc điểm như sau:
1) Mang tính chất kỹ thuật thuần tuý;
2) Được hình thành chủ yếu bằng sự luyện tập có mục đích và hệ thống;
3) Không gắn với một tình huống nhất định nào cả;
4) Được đánh giá về mặt kỹ thuật, thao tác và thâm mỹ;
5) Mức độ tự động hoá khá cao, do đó không sửa được khi cần;
6) Động tác mang tính khái quát, không có động tác thừa, kết quả cao, ít tốn năng lượng thần kinh và cơ bắp” [38]
Như vậy, dù có những sự nhìn nhận hai khái niệm này có chỗ chưa gặp
gỡ nhau hoàn toàn nhưng về cơ bản đều thừa nhận, kỹ năng mang tính chất
_ máy móc, còn kỹ xảo mang tính chất tự động hoá Ranh giới giữa kỹ năngvà -
kỹ xảo khó có thể chỉ ra một cách thật rạch roi, dứt khoát trong thực tế Điều này giải thích tại sao hằng ngày nhiều người vẫn coi kỹ năng và kỹ xảo là đồng nghĩa, thậm chí đồng nhất, mặc dù ở mặt lí thuyết người ta có thể xác định được Chẳng hạn, có người không phân biệt rõ kiến thức và kỹ năng khi nói về “Hệ thống kỹ năng nghề nghiệp cơ bản cần có ở người cán bộ tuyên giáo” như sau:
- Nắm vững nghiệp vụ công tác tuyên giáo, am tường nghệ thuật tuyên
truyền miệng, thuyết trình và diễn đạt tốt, biết soạn thảo các văn bản thuộc
lĩnh vực công tác tư tưởng
- Có phong cách làm việc dân chủ, khoa học và khả năng đối thoại với
quần chúng, có văn hoá trong ứng xử, giao tiếp, có nghệ thuật lôi kéo quần
chúng tham gia vào công tác tư tưởng
Trang 40- Có năng lực sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông đại
chúng, nhất là các phương tiện hiện đại để tác động đến ý thức quần chúng
- Có năng lực tư duy lí luận cao để hướng vào nghiên cứu các vấn đề tư
tưởng — chính trị, khả năng nắm bắt, dự báo, định hướng dư luận xã hội, phát
hiện, lí giải những khuynh hướng tư tưởng phát sinh trong các tầng lớp dân cư
_ khác nhau.[4|
Tuy nhiên, với kỹ năng, kỹ xảo dưới góc độ giáo dục, rèn luyện thì, khi đánh giá năng lực chuyên môn nghiệp vụ của người học, người ta vẫn cố gắng
đưa ra những chỉ số mang tính chất số học nhằm lượng hoá việc đánh giá chất
lượng và trình độ của các kỹ năng, kỹ xảo Do đó có thể nói, kỹ năng, kỹ xảo
là những thuật ngữ dùng để đánh giá chất lượng của các hoạt động chứ không
phải để đánh giá trình độ nắm kiến thức lí thuyết của sinh viên, nhưng thông
qua chất lượng của hoạt động, người ta vẫn có thể đánh giá được mức độ
thông hiểu kiến thức của các em Đối với hoạt động biên tập, việc đánh giá
chỉ lấy tiêu chí ở thang độ kỹ năng mà không phải kỹ xảo Có thể dựa vào một _
vài tiêu chuẩn đánh giá kỹ năng sau đây để xem xét khả năng thành thạo trong
việc thực hiện hành động ở sinh viên: mức độ thuần thục của thao tác, chất
lượng của thao tác (có mắc lỗi hay không, có thừa nhiều động tác hay không),
thời gian thực hiện thao tác, kết quả của thao tác
2.3 Về khái niệm kỹ thuật
Ở góc độ lý luận khoa học, lại có quan niệm cho rằng, kỹ thuật là “kinh
nghiệm, kỹ năng, các thao tác, các cơ câu, các máy móc, các hệ thông, các