1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề tín ngưỡng, phong tục của người việt được phản ánh trên một số tạp chí chuyên ngành văn hóa hiện nay (khảo sát các tạp chí tư tưởng văn hóa, văn hóa nghệ thuật, di sản văn hóa, nguồn sáng dân gian, từ tháng 1200

219 13 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 219
Dung lượng 9,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về các vấn đề cụ thể trong phạm trù văn hoá, được phản ánh trên tạp chí chuyên ngành, sẽ góp phân giúp cho hoạt động báo chí đưa ra được những thông tin cần thiết, để các cơ q

Trang 1

|ĐPUC VÀ ĐÀO TẠO HOC VIEN CHINH TRI - HANH CHINH QUOC ĐH

HO CHi MINH

HOC VIEN BAO CHÍ VÀ TUYEN TRUYEN

TRAN VAN PHUONG

TREN MOT SO TAP CHI GHUYEN NGANH VAN HOA HIEN NAY

(Khảo sát các tạp chí :Tư tưởng văn hoá, Văn hoá nghệ thuật,

Di sản văn hoá, Nguồn sáng dân gian, từ tháng 1/2004 đến tháng 6/2007)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRUYỂN THÔNG ĐẠI CHÚNG

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

HOC VIEN BÁO CHÍ VÀ TUYEN TRUYEN

TRAN VAN PHUONG

VAN BE TIN NGƯỠNG, PHONG TỤC CỦA NGƯỜI VIỆT ĐƯỢC PHÁN ÁNH TREN MOT SO TAP CHI CHUYEN NGANH VAN HOA HIEN NAY

(Khảo sát các tạp chí: Tư tưởng văn hoá, Văn hoá nghệ thuật,

Di sản văn hoá, Nguồn sáng dân gian, từ tháng 1/2004 đến tháng 6/2007)

Chuyên ngành : Báo chí học

Mã số : 60.32.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRUYỂN THÔNG ĐẠI CHÚNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS,TS NGÔ VĂN GIÁ

He veka cua TUvEN TUNE

Trang 3

LOD CAM DOAN

Bio chi vi Fuyén trayén - Woe atin Chink tre -

Đâu đà swe plies agliire eu Mie lip eta

bhée

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trang 4

M6 DAU

Chương 1: VĂN HOÁ VÀ BÁO CHÍ VỚI LĨNH VỰC VĂN HOÁ

1.1 Một số vấn đề về lý luận văn hoá

1.2, Báo chí với lĩnh vực văn hoá

Chương 2: THỰC TRẠNG NHỮNG TÁC PHAM BAO CHi

TREN TAP CHi TTVH, VHNT, DSVH, NSDG PHAN ANH

LĨNH VỰC TÍN NGƯỠNG, PHONG TỤC LẺ HỘI CỦA

NGƯỜI VIỆT

2.1 Vài nét tông quát về các tạp chí TTVH, VHNT, DSVH, NSDG

2.2 Thực trạng tác phẩm viết về đề tài tín ngưỡng, phong tục lễ hội

của người Việt đăng trên tạp chí TTVH, VHNT, DSVH, NSDG

2.3 Đánh giá chất lượng tác phẩm báo chí viết về để tài tín ngưỡng,

phong tục lễ hội người Việt trên tạp chí TTVH, VHNT, DSVH,

NSDG

Chương 3: TÁC ĐỘNG XÃ HỘI VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG

CAO CHẤT LƯỢNG TÁC PHẨM BẢO CHÍ PHẢN ÁNH

TÍN NGƯỠNG, PHONG TỤC LỄ HỘI CỦA NGƯỜI VIỆT

3.1 Tác động xã hội của các tác phẩm viết về đề tài tín ngưỡng,

phong tục lễ hội của người Việt đối với một số nhóm đối tượng

3.2 Những giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng bài viết về đề

tài tín ngưỡng, phong tục lễ hội của người Việt trên tạp chí

Trang 5

DANH MUC CAC CHU VIET TAT

cat’ VIET TAT

Trang 6

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm gần đây, kinh tế đất nước phát triển mạnh mẽ, đời sống vật chất được nâng cao, nhu cầu về một đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh, ` vừa hiện đại, vừa phù hợp với thuần phong mỹ tục và gìn giữ được các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc, đang được đặt ra ngày càng bức thiết Đó là một trong những đòi hỏi chính đáng của đông đảo các tầng lớp nhân dân

Trước sức ép của xu thế hội nhập một cách toàn diện như hiện nay,

những giá trị tỉnh thần, đạo lý truyền thống của Việt Nam vẫn là nhân tố quan trọng đắm bảo sự én định và phát triển bền vững của xã hội Vì vậy việc gìn

giữ các giá trị văn hoá truyền thông nói chung, các giá trị tỉnh thần nói riêng,

càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết

Hiện nay, vấn đề lãnh đạo, quan ly và xây dựng một nền văn hoá Việt

Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đặc biệt là lĩnh vực tỉnh thần cũng

đang gặp rất nhiều khó khăn Bởi lẽ, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cùng

với việc tiếp thu những tỉnh hoa văn hoá nhân loại, các loại văn hoá phẩm độc

hại từ bên ngoài cũng tràn vào và có nguy cơ làm lu mờ, băng hoại các giá trị

đạo đức nhân văn, các giá trị văn hoá truyền thông của dân tộc, dẫn đến sự

suy thoái ý thức hệ, đe doạ nền độc lập về chính trị tư tưởng, văn hoá của đất

nước Một trong những nhiệm vụ cấp bách đặt ra hiện nay cho báo chí nước

nhà là phải vừa xây dựng, giữ gìn một nền văn hoá mới của riêng mình, vừa

chỗng lại sự "xâm lăng văn" hoá từ bên ngoài Để thực hiện tốt được nhiệm

vụ đó, cần phải nắm bắt một cách đẩy đủ, cụ thể, toàn điện, sâu sắc những thông tin về văn hoá, nhất là đối với mảng văn hoá phi vật thế Các phương

Trang 7

tiện truyền thông, trong đó có tạp chí là một trong các phương tiện đáp ứng

được yêu cầu thông tin vừa nêu

Nghiên cứu về các vấn đề cụ thể trong phạm trù văn hoá, được phản ánh trên tạp chí chuyên ngành, sẽ góp phân giúp cho hoạt động báo chí đưa ra được những thông tin cần thiết, để các cơ quan chức năng căn cứ một phan / vào đó nêu ra những định hướng đúng đấn cho hoạt động tín ngưỡng và các phong tục sinh hoạt

Nghiên cứu việc quảng bá, phổ biến các thành tựu của khoa học văn hoá, việc phản ánh những mặt tích cực cũng như tiêu cực của văn hoá tinh thần truyền thống của dân tộc có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện mới Bởi thông qua việc phản ánh, quảng bá những vấn đề văn hoá tinh thần trên, báo chí đã góp phần giáo dục và định hướng tư tưởng, lối sống, đạo đức tác phong cho nhân dân trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế, văn hoá hiện nay

Trong bối cảnh và yêu cầu nhiệm vụ nêu trên, có thể khăng định việc

đặt vấn đề nghiên cứu về "Vấn đề tín ngưỡng, phong tục của người Việt được phan ánh trên một số tạp chí chuyên ngành văn hoá hiện nay" là rất cấp thiết,

có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Từ trước đến nay, đã có khá nhiều các công trình, bài viết về vấn đề

bảo tồn, phát huy văn hoá truyền thống của dân tộc, trong đó iập trung vào ba nội đung lớn như sau:

Một là, những công trình nghiên cứu, tìm hiểu về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước với việc gìn giữ và phát huy các giá trị

văn hoá phi vật thể truyền thống, nổi bật như: Bộ Tịch sử biên niên công tác

tư tưởng - văn hoá của Đảng cộng sản Việt Nam gồm ba quyển của ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương Bộ lịch sử đã ghi lại toàn bộ công tác tư tưởng

Trang 8

bế cuốn sách Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam thời kỳ đối mới (Đại

Adi VI, VIL, VIE, LX) về văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật, giáo dục - đào tạo Cuốn sách này trích lại các văn kiện Đại hội Đảng và một số văn kiện Nghị

quyết hội nghị Trung ương từ Đại hội VI đến Đại hội IX Ngoài ra, tuỳ theo

yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể mà còn có nhiều bài viết của những nhà khoa học, các vị lãnh đạo Đảng, nhà nước được đăng trên các báo tạp chí nữa

Hai là, những công trình nghiên cứu về văn hoá và văn hoá phi vật thể,

bao gồm các nghiên cứu khảo sát, mô tả những công trình, bài viết về văn hoá

phi vật thể ở dạng sách hay các bài báo khoa học trên các tạp chí có thể nói tương đối nhiều và đa đạng, như: Bộ Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, do

nhà xuất bản Khoa học Xã hội gồm hai tập phát hành năm 1977 Đây là bộ

sách tập hợp các công trình nghiên cứu của nhiều chuyên gia đầu ngành về

khoa học xã hội, nhân văn, bao gồm tất cả các lĩnh vực văn hoá vật thể, văn

hoá phi vật thể của làng xã Việt Nam trong lịch sử Năm 1994, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) cho ra mắt độc giả cuốn Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại Đây là cuốn kỷ yếu tập hợp những bài viết của các tác giả trong và ngoài nước đọc tại hội thảo khoa học "Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội

hiện đại" do Trung tâm khoa học xã hội Việt Nam tổ chức từ ngày § đến ngày

13 tháng 3 năm 1993 Nội dung các bài viết đi sâu phân tích vai trò của lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại ở cả khia cach tích cực và tiêu cực, đồng thời nêu những giải pháp phát huy các giá trị của lễ hội truyền thống, trong đó có các giải pháp tuyên truyền, giáo dục vận động trên báo chí Gần đây, vấn đề báo vệ gìn giữ và phát huy các giá trị của đi sản văn hoá đân tộc ngày càng trở lên cấp thiết, nên đã có nhiều nhà khoa học tập trung nghiên

Trang 9

cứu và cho ra các công trình về mảng đề tài này, như: cuốn Ä/ô/ con đường

tiếp cận với di sản văn hoá của Cục đi sản Văn hoá, Bộ VH - TT&DL, xuất

bản năm 2005 Đây là một cuốn sách tập hợp nhiều bài viết của những tác gia

làm công tác nghiên cứu, bảo tồn di sản văn hoá nước ta, nội dung chủ yếu nêu lên cách nhìn, cách tiếp cận, đánh giá và các giải pháp bảo tồn, phát huy

những giá trị văn hoá truyền thống dân tộc trong sự nghiệp xây đựng và bảo `

vệ tổ quốc trong tình hình mới Tháng 3 năm 2008, tác giả Nguyễn Hữu Thức

đã cho ra cuỗn Tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội đân gian Hà Tây Cuốn sách này công bố kết quả khảo cứu của tác giả về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội của người Việt sinh sống trên địa bàn tỉnh Hà Tây Nội dung của công trình này giúp cho độc giả hiểu rõ hơn về điện mạo đời sống văn hoá tỉnh than truyền thống của người dân trong một địa bàn cư trú cụ thể, nhưng đây cũng

là một trong những khu vực tiêu biểu cho cư đân người Việt ở đồng bằng bắc bộ

Thứ ba, là những công trình nghiên cứu về báo chí với văn hoá, văn hoá với báo chí, báo chí với đề tài phân ánh, gìn giữ, phát huy các giá trị văn hod dan tộc nói chung và văn hoá phi vat thé truyền thống nói riêng chủ yếu

là những bài nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí, như: bài "Sứ mệnh văn hoá

của báo chí cách mạng" của tác giả Phạm Tùng Thư, đăng trên tạp chí VHNT,

số 5/2005, "Báo chí và văn hoá của Hà Lâm Tùng", trên tạp chí VHNT, số 6/2006 Đây là những bài viết khá sâu sắc và tiêu biểu về mỗi quan hệ giữa

báo chí với văn hoá, văn hoá với báo chí trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam cũng như trong giai đoạn hiện nay Đối với báo chí nói

chung, đến nay đã có nhiều các công trình nghiên cứu ở mọi bình diện, mọi loại hình, mọi cấp độ, như nghiên cứu tác phẩm, nghiên cứu tác giả, nghiên

cứu quy trình sáng tạo, tác nghiệp, công tác toà soạn ban biên tập, nghiên cứu công chúng tiếp nhận và cơ chế tác động Nhưng đối với tạp chí - một nhóm

Trang 10

là loại bài viết về tín ngưỡng, phong tục, lễ hội được phan ánh trên tạp chị, thì càng ít Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, chúng tôi chỉ thấy xuất hiện phổ biến các bài viết ở một số khía cạnh như đặc điểm phân loại tạp chí, trình bày tạp chí, ngôn ngữ trên tạp chí, giải pháp phát triển và quản lý tạp chí Ví dụ:

Bài "Về sự dị biệt giữa báo và tạp chí” của tac gia Ta Ngoc Tấn, in trong cuốn

Từ lý luận đến thực tiễn báo chí, Nxb Văn hoá Thông tin, năm 1999, "Đặc điểm của ngôn ngữ báo và tạp chi", tac gid Tran Ngoc Dung, trén Tap chí Người làm báo, số 3/1998 "Ngôn ngữ báo và tạp chí: Vài nét đặc thù" của

Phạm Văn Tình, trên Tạp chí Người làm báo, số 11/2006 "Phát triển và quản

lý hệ thống tạp chí", tác giả Văn Hùng, trên tạp chí Người làm báo, số 2/2006

"Một vài vấn đề về ma - két tạp chí hiện nay" của Mai Nam, đăng ở Tap chi Người làm báo, 36 8/2006

Như vậy, có thể thấy tình hình chung là những công trình, bài viết nghiên cứu các tác phẩm viết về đề tài văn hóa phi vật thể, tín ngưỡng, phong tục lễ hội rất hiểm Có một số ít công trình, bài viết mang tính chất chung nhất

và gần với dé tài mà luận văn nghiên cứu như: bài "Vẫn dé vin hóa qua các

tạp chí", của Văn Hùng trên Tạp chí Người làm bao, số 9/2000 "Giá trị chuyển tải thông tin về văn hóa, văn học và sinh hoạt xã hội trên một số tờ tạp

chí xuất bản trước 1945" của Phạm Đình Lân trên Tạp chí Người làm báo, số 3/2005 Có vài công trình có tính hệ thống và quy mô hơn, như: "Van dé gin giữ bản sắc văn hoá dân tộc trong các chương trình phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam" (Nguyễn Thị Thu Liên, Luận văn Thạc sĩ báo chí học, năm 1997) Nội đung của đề tài này là khảo sát các tác phẩm báo chí phát thanh về

đề tài văn hoá dân tộc, thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng bài viết,

Trang 11

nhằm nâng cao hiệu quả thông tin, tuyên truyền nội dung giữ gìn bản sắc văn

hoá dân tộc Với công trình "Báo Văn hoá với vấn để bảo tồn và phát huy di

sản văn hoá dân tộc trong giai đoạn hiện nay" (Trịnh Liên Hà Quyên, Luận

văn Thạc sĩ báo chí học, năm 2006), chủ yếu đi vào kháo sát các bài báo viết

về nội dung thông tin tuyên truyền nhiệm vụ báo tồn và phát huy đi sản văn

hoá trong giai đoạn hiện nay trên tờ báo của ngành văn hoá, chứ không phải

khảo sát các bài thông tin, nghiên cứu về di sản văn hoá dân tộc

Đối với việc nghiên cứu về loại hình báo chí, nhìn chung còn Ít công

trình đặt vấn đề khảo sát, nghiên cứu các tạp chí chuyên ngành văn hoá Về

loại thể, đưới góc nhìn báo chí học, cũng không nhiều công trình nghiên cứu

chuyên sâu và đầy đủ đối với loại bài viết về văn hoá phi vật thể đăng trên các

tạp chí chuyên ngành Đặc biệt, việc nghiên cứu tác phẩm báo chí được viết

dưới dạng nghiên cứu chuyên sâu về đề tài tín ngưỡng, phong tục thì hầu như

không có

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở kết quả khảo sát các tác phẩm viết về đề tài tín ngưỡng,

phong tục, đăng trên tạp chí chuyên ngành, đưa ra kiến nghị giải pháp nâng

cao chất lượng loại bài viết về đề tài này, nhằm tăng hiệu quả tác động đối với

công chúng, góp phần xây dựng nền văn boá tiên tiễn và bền vững, phù hợp

với mục tiêu phát triển của đất nước

3.2 Nhiệm vụ

- Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận văn hoá, báo chí, mối quan hệ

giữa báo chí với văn hoá, văn hoá với báo chí, vai trò của báo, tạp chí với việc

tuyên truyền vấn đề tín ngưỡng, phong tục lễ hội

Trang 12

- Đánh giá hiệu quả tác động của các bài viết phan ánh về tin ngưỡng,

phong tục lễ hội của người Việt trên các tạp chí TTVH, VHNT, DSVH,

NSDG đối với một số nhóm đối tượng công chúng, từ đó nêu ra giải pháp,

kiến nghị nâng cao chất lượng của loại bài viết này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về vấn đề tín ngưỡng, phong tục lễ hội của người

Việt được phản ánh trên tap chi TTVH, VHNT, DSVH, NSDG

4.2 Phạm nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các bài viết thuộc phạm vi vấn để tín ngưỡng,

phong tục lễ hội của người Việt trên các tạp chí TTVH, VHNT, DSVH,

NSDG, từ tháng 1/2004 đến tháng 6/2007 Về tín ngưỡng: Bao gồm các bài

viết về tín ngưỡng gia đình, dòng họ (thờ cúng tổ tiên), tín ngưỡng làng

(vùng), tín ngưỡng quốc gia, (thờ cội nguồn đân tộc, anh hùng dân tộc, danh

nhân văn hoá đân tộc ) và những bài viết liên quan Về phong tục: Ở nước ta

đã và đang tồn tại rất nhiều phong tục khác nhau, như phong tục tang ma,

phong tục cưới gá, phong tục lễ tết Nhưng trong luận văn này tác giả chỉ tập

trung khảo sát nghiên cứu các bài viết thuộc phạm vi phong tục lễ hội, bao

gồm phong tục lễ hội cộng đồng làng (vùng), phong tục lễ hội quốc gia

5 Phương pháp nghiên cứu

%1 Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương

pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử

Trang 13

%2 Phương pháp cụ thé: Bao gồm các phương pháp phân tích và tổng

hợp, phương pháp thống kê và so sánh, phương pháp khái quát, phương pháp

nghiên cứu tác phẩm báo chí, phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp trao

đổi, phỏng vấn sâu để làm nổi bật vẫn đề

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Góp phần làm cơ sở khoa học cho báo chí, nhất là các tạp chí chuyên

ngành văn hoá hoàn thiện và đổi mới nội dung, hình thức các bài viết về đề tài

phong tục tín ngưỡng, nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền trong hoàn cảnh

hiện nay

- Là tài liệu tham khảo cho các đối tượng liên quan

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đâu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

Trang 14

Chuong 1

VAN HOA VA BAO CHi VOI LINH VUC VAN HOA

1.1 Một số van dé về lý luận văn hoá

1.1.1 Quan niệm về văn hoá

Những bài viết về tín ngưỡng, phong tục lễ hội được đăng tái trên các

tạp chí chuyên ngành văn hoá là loại tác phâm báo chí thuộc phạm trù văn

hoá, văn hoá phi vật thể Vì vậy trước khi khảo sát, nhận xét, đánh giá những

bài viết về loại đề tài này, chúng tôi có gắng làm rõ các vấn đề lý luận văn hoá

cũng như mối quan hệ giữa văn hoá với báo chí, từ đó tìm ra những tác động

của các bài viết này đối với một số nhóm đối tượng xã hội, để nêu những giải

pháp nâng cao chất lượng của loại tác phẩm báo chí nói trên

Van hoá là một hiện tượng xã hội, gan với hoạt động của con người Từ

khi con người khẳng định mình thực sự là người thì cũng là lúc bắt đầu của

lịch sử văn hoá Trong lịch sử phát triển ở cả hai khu vực phương Đông và

phương Tây, từ "văn hoá" đều xuất hiện rất sớm với những ý nghĩa khác nhau

từ cụ thé đến trừu tượng Ngay từ thời cổ đại, các nhà triết học La Mã đã đề

cập đến văn hoá như sự phát triển các năng khiếu tỉnh thần của con người, trí

tuệ của con người cũng là cái cần được vun trồng như người nông dân chăm

sóc dat dai

Nếu như việc nhận thức là cả một quá trình thì việc nhận thức văn hoá

là một quá trình vô cùng phức tạp bởi tính đa điện, phong phú của văn hoá

Đến thời cận đại, ở các nước phương Tây, lĩnh vực văn hoá đã thực sự lôi

cuốn sự chú ý của các nhà khoa học từ rất nhiều bình điện khác nhau: dân tộc

học, xã hội học, nhân học Trên cơ sở ấy khoa học văn hoá đã thực sự ra đời

vào giữa thế ký XIX

Trang 15

12

Tuy nhiên, kế từ đó đến nay khoa học văn hoá có những bước phát triển

vượt bậc cả về chiều sâu lẫn bề rộng, nhưng hệ thống quan niệm và các khái

niệm văn hoá vẫn đang là vấn đề chưa hoàn toàn được thống nhất trên phạm

vi toàn cầu, thậm chí trong phạm vi quốc gia hay khu vực

Đến nay, khi nhìn lại lịch sử khoa học của nhân loại, ít có ngành khoa

học nào lại gây nên nhiều tranh luận về đối tượng nghiền cứu của nó như

ngành khoa học văn hoá Ngay từ thế ký XIX đã xuất hiện rất nhiều lý thuyết

nghiên cứu văn hoá, mỗi lý thuyết đưa ra một hướng tiếp cận khác nhau cùng

nhiều biến thái của nó, khiến cho việc đi tìm một định nghĩa văn hoá khả dĩ

thoả mãn tất cả là điều khó có thể thực hiện được Bước sang thế ký XX, thuật

ngữ văn hoá thâm nhập vào đời sống xã hội một cách sâu sắc, văn hoá trở

thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn,

như khảo cỗ học, đân tộc học, xã hội học, triết học, nhân học, sử học, báo chí

- truyền thông

Kể từ định nghĩa văn hoá đầu tiên của Tylor vào năm 1871 tới nay số

lượng định nghĩa văn hoá không ngừng gia tăng Từ năm 1952 hai nhà nhân

chủng học Hoa Ky 1a A.L Kroeber va C.Kluckholhn da thống kê về số lượng

định nghĩa văn hoá như sau: [36, tr 20- 23]

- 1871 : Lan đầu tiên văn hoá có định nghĩa

- 1919 : Có 7 định nghĩa

- 1950 : Có 157 định nghĩa

Năm 1967, nhà xã hội học người Pháp A.Molé chơ biết con số định

nghĩa về văn hoá là 250, những năm đầu thập ky 90 của thế kỷ XX, nhiều nhà

khoa học đã đưa ra con số hơn 400 định nghĩa văn hoá Dựa vào hướng tiếp

cận, sự gần gũi giữa các định nghĩa người ta đã tập hợp chúng thành gần 20

nhóm định nghĩa khác nhau Song điều đáng nói là mỗi nhóm định nghĩa chỉ

Trang 16

chú ý nêu bật một phương điện nào đó của văn hoá, do đó các nhóm định

nghĩa đều mang tính phiến diện

Văn hoá học Mác - xít, nhất là văn hoá học Xô - viết vào các thập ký

60, 80 của thế kỷ XX, kế thừa những quan điểm tiến bộ trong văn hoá học

phương Tây cuối thé ky XIX, dau thê kỷ XX, dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy

vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nhà triết học, văn hoá học

Liên Xô (cũ) đã có nhiều công trình nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về văn

hoá với ba hướng tiếp cận chủ yếu:

- Hướng tiếp cận giá trị, xem văn hoá như tổng thể những giá trị vật

chat và tinh thần đã và đang được con người sáng tạo ra khác với tự nhiên

- Hướng tiếp cận hoạt động, lại khẳng định hoạt động chứ không coi

giá trị là những yếu tố cơ bản của văn hoá

- Hướng tiếp cận nhân cách, xem văn hoá như một phạm trủ, một thuộc

tính của nhân cách Văn hoá hướng vào việc phát triển những năng lực người,

bộc lộ trình độ phát triển của con người

Mỗi hướng tiếp cận trên đi sâu vào một khía cạnh của văn hoá, song lại

không tránh khỏi phiến diện Bởi vậy việc tông hợp cả ba hướng tiếp cận ấy

sẽ đưa đến cái nhìn toàn điện hơn về văn hoá

1.1.2 Một số khái niệm văn hoá tiêu biểu

Với những quan niệm như trên, có thể nói rằng văn hoá có mặt trong

mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong cả đời sống vật chất cũng như đời

sống tỉnh thần Tuy nhiên, ở mỗi lĩnh vực cụ thể khác nhau, nó có những biêu

hiện khác nhau và có thể có những cách gọi tên khác nhau, nhưng dủ thế nào

thì nó vẫn thuộc phạm trù văn hoá

1.1.2.1 Văn hoá

Trang 17

14

Như Hồ Chủ tịch đã nói:

- Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người

mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,

khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt

hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bệ những

sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.[42, tr.43 1]

- Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tỉnh thần do con

người sáng tạo ra trong thực tiễn xã hội - lịch sử và tiêu biểu cho trình

độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội Theo nghĩa hẹp hơn, người

ta vẫn quen nói về văn hoá vật chất ( kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất,

giá trị vật chất và văn hoá); tính thần (khoa học, nghệ thuật, và văn

học, triết học, đạo đức, giáo dục.v.v ) văn hoá là một hiện tượng lịch

sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội

[80, tr, 656]

~ "Văn hoá (culture) là phong tục, niềm tin, nghé thuật, lối sống và tổ

chức xã hội của một quốc gia hay của một nhóm người" [78, tr 323]

- "Văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do

con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử", [58, tr.1062)]

- Theo Federieo Mayor Laragoza nguyên tổng giám đốc UNESCO thì

"Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện

tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các

giá trị, các truyền thống và các thị hiếu- những yếu tổ xác định đặc tính riêng

của mỗi dân tộc" [57, tr.22]

Với các định nghĩa trên, văn hoá được nhìn nhận trên ba nội dung cơ

bản sau:

Trang 18

- Hoạt động của con người, yếu tố quyết định sự hình thành và phát

triển văn hoá

- Văn hoá là thước đo trình độ phát triển và thê hiện những đặc tính

riêng của mỗi dân tộc

Qua nội dung các khái niệm trên ta thấy: văn hoá là sản phẩm của hoạt

động người, song không phải mọi hoạt động người đều là sản phẩm văn hoá

Thuật ngữ "Giá trị văn hoá" đùng để chỉ những sản phẩm kết tỉnh trí tuệ, sức

lao động của con người phục vụ cho mục đích nhân văn và lợi ích chân chính

của con người và tiến bộ xã hội; những sản phẩm đi ngược lại các tiêu chí trên

bị coi là phản giá trị, phản văn hoá Thế giới văn hoá do con người sáng tạo

ra là xã hội đã được nhân đạo hoá, thể hiện phẩm chất nhân tính của con

người, thể hiện rõ tính chân, thiện, mỹ, luôn có xu hướng diệt trừ cái ác, khác

hẳn với tự nhiên hoang sơ cho đến nay vẫn tồn tại những yếu tố, có lợi cho

con người nhưng cũng an chứa đầy hiểm hoạ khôn lường

Văn hoá là sản phẩm của hoạt động người, chỉ có con người mới có khả

năng sáng tạo văn hoá Hoạt động với hành vi có ý thức là đặc trưng riêng

biệt, là sở hữu độc quyền của con người, về bán chất nó khác hắn tập tính,

hành vi của loài vật Tập tính của loài vật luôn có xu hướng thích ứng với môi

trường tự nhiên Hoạt động của con người không chỉ nhằm thích ứng với môi

trường tự nhiên, mà còn tìm cách khám phá bản chất của thế giới tự nhiên,

thấu hiểu quy luật tự nhiên để thiết lập một quan hệ sống hài hoà với nó và cải

tạo nó

Trang 19

16

Về bản chất, hoạt động của con người có tính sáng tạo, tính tự đo và

thấm mỹ Những phẩm chất văn hoá này là kết quả của sự tiễn hoá lâu đài của

loài người thông qua quá trình hoạt động thực tiễn Nhờ vậy văn hoá không

ngừng được sáng tạo và tích luỹ, tiến bộ văn hoá luôn được thực hiện như một

xu hướng phát triển tất yếu của tiến trình lịch sử văn hoá nhân loại

Hoạt động của con người hết sức đa dạng, song có thể khái quát ở hai

hình thái hoạt động cơ bản, đó là hoạt động hướng nội và hoạt động hướng

ngoại Hoạt động hướng nội luôn sáng tạo những giá trị mới; đến lượt nó, các

giá trị này được con người tiếp nhận trong hoạt động hướng nội, để không

ngừng hoàn thiện và phát triển nhân cách Nhờ vậy thông qua hoạt động thực

tiễn, con người không chỉ sáng tạo ra thế giới văn hoá mà còn sáng tạo ra

chính bản thân mình Với nghĩa trên, con người vừa là chủ thể vừa là sản

phẩm của văn hoá

Trong quá trình hoạt động sáng tạo những giá trị văn hoá mới, con

người vận dụng toàn bộ những năng lực thê chất và tỉnh thần của mình, đưa

nó vào hoạt động, tự đối tượng hoá bản thân mình vào các giá trị đo mình làm

ra Bởi vậy, đến lượt nó, các giá trị này lại là tắm gương soi, là thước đo trình

độ phát triển của chính con người

Văn hoá được tích luỹ và chuyển giao qua nhiều thế hệ, với thời gian

truyền thống văn hoá được hình thành ở mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc, thể hiện

rõ những đặc tính riêng của mỗi nền văn hoá

Như vậy, văn hoá- xét từ nội dung bản chất thì đó chính là trình độ phát

triển của con người, bộc lộ qua các quan hệ xã hội của nó Đó là quan hệ giữa

con người với tự nhiên, con người với xã hội và con người với chính bản thân

nó Nói cách khác văn hoá thể hiện trình độ người của các quan hệ xã hội, các

phương thức mà con người sử dụng để cải biến tự nhiên, cải tạo xã hội, hoàn

Trang 20

thiện bản thân theo khuynh hướng tiến bộ và nhân văn Văn hoá vừa là thước

đo trình độ phát triển, vừa là "mật mã di truyền" của mỗi đân tộc

Kế thừa định nghĩa của các nhà khoa học trong và ngoài nước, với sự

phân tích như trên, ta có thể đi đến một định nghĩa văn hoá như sau :

Van hod là hệ thông các giá trị vật chất và tỉnh thân được sảng tạo,

tích luỹ trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người Các

giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong xã hội và liên tiếp

truyền lại cho thế hệ sau Văn hoá thể hiện trình độ phát triển và những đặc

tính riêng của mỗi dân tộc

1.1.2.2 Văn hoá phi vật thể

Khi nghiên cứu văn hoá, các nhà khoa học đã đưa ra, hoặc lựa chọn

những mô hình cấu trúc văn hoá khác nhau tuỳ theo hướng tiếp cận và mục

đích nghiên cứu của mình

Dựa trên hai lĩnh vực sản xuất cơ bản của con người là lĩnh vực sản

xuất vật chất và lĩnh vực sản xuất tỉnh thần, theo đó văn hoá cũng được chia

làm hai bộ phận tương ứng là văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể Tuy

nhiên sự phân chia này cũng chỉ là tương đối, bởi chúng đều là những bộ phận

của một hệ thông hoàn chỉnh là văn hoá Trong văn hoá vật thể luôn hàm

chứa những yếu tố phi vat thé, ngược lại trong văn hoá phi vật thé luôn tồn tại

những yếu tố vật thể, chỉ có điều trong mỗi thành tố văn hoá thì yếu tố vật thé

hay phi vật thể nỗi trội hơn, cái nào là cơ bản hơn và có biểu hiện rõ hơn mà

thôi

Từ hướng tiếp cận triết học, xem văn hoá như cái được sinh ra từ sự tồn

tại của con người trong hoạt động - con người như chủ thẻ hoạt động, chủ thể

sáng tạo, Nhà triết học Xô - viết M.X Kagan đã mô tả văn hoá như vòng xoắn

chập ba: vòng xoắn thứ nhất là hoạt động mang tính vật thể của con người

Trang 21

18

như cơ sở của văn hoá; vòng xoắn thứ hai là sự giao tiếp của con người diễn

ra ở hai bình điện không gian văn hoá và thời gian văn hoá xã hội; vòng xoắn

thứ ba là sáng tạo nghệ thuật - một phương thức để nhân đôi hiện thực của

con người, tạo nên một đời sống "ảo", qua "ảo" đề hiểu thực sâu sắc hon

Nhà triết học Trung Quốc đương đại, GS,TS Trần Chí Lương, lại đưa

ra câu trúc ba tầng để nghiên cứu nền văn hoá truyền thống Trung Hoa trước

chiến tranh thuốc phiện 1839 Đó là tang văn hoá vật chất, tầng văn hoá chế

độ va văn hoá quan niệm, trong đó thiết yêu nhất, cốt lõi nhất là tầng văn hoá

quan niệm, do quan niệm giá trị tâm thái tỉnh thần, phương thức tư duy cấu

thành

Dựa trên đạng tồn tại hữu hình hoặc vô hình của các giá trị văn hoá mà

Đại hội đồng của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc

(gọi tắt là UNESCO) đưa ra mô hình cấu trúc văn gồm bai bộ phận cơ bản, đó

là văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể với những nét vừa thống nhất vừa

khác biệt, cũng như sự xâm nhập khác nhau giữa hai lĩnh vực văn hoá đó Với

quan điểm về mô hình cấu trúc văn hoá như vậy mà trong phiên họp thứ 32,

diễn ra ở Pari từ ngày 29 tháng 9 đến ngày 17 tháng 10 năm 2003, UNESCO

đã thông qua công ước về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể Trong đó "điều 2

- Thuật ngữ" trong mục "Các điều khoản chung" đã nêu rõ khái niệm đi sản

văn hoá phi vật thể:

"Dị sản văn hoá phi vật thể" ở đây được hiểu là các phong tục,

biểu tượng, hình thức, tri thức, kỹ năng - cũng như là các dụng cụ, đồ

vật, khí cụ và các không gian văn hoá đi kèm với chúng - mà các cộng

đồng, nhóm người và trong một số trường hợp, là các cá nhân thừa

nhận là một phần trong di sản văn hoá của họ Di sản văn hoá phi vật

thể này, được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, được thường xuyên

Trang 22

thức về bản sắc cộng đồng, từ đó thúc đẩy sự tôn trọng về tính đa dạng

văn hoá và tính sáng tạo của con người Theo các mục tiêu của công

ước này, quá trình xét duyệt chỉ được dành cho các đi sản văn hoá phi

vat thé pha hợp với các yêu cầu tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng,

nhóm người, cá nhân và các yêu cầu từ sự phát triển bền vững

"Di sản văn hoá phi vật thể" như được định nghĩa ở trên, được biểu hiện trong các lĩnh vực sau :

a- Các phong tục và thành ngữ truyền khẩu, bao gồm cả ngôn ngữ với tư cách là một phương tiện của các đi sản văn hoá phi vat thé;

b- Nghệ thuật biểu diễn;

c- Phong tục, lễ nghi và các lễ hội trong xã hội;

d- Tri thức và các phong tục liên quan đến tự nhiên và vũ trụ;

e- Ngành nghề thủ công truyền thống.[1 1, tr 33]

Trên tinh thần định nghĩa về văn hoá phi vật thể của ƯNESCO và một

số định nghĩa trong từ điển nêu trên, "Luật Di sản vin hod va văn bản

hướng dẫn th hành" của nước ta cũng đưa ra quan niệm:

Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tỉnh thần có giá trị lịch sử

văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền

bằng truyền miệng, truyền nghề, trình điễn và các hình thức lưu giữ,

lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ

thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, điễn xướng dân gian, lối sống,

nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y

Trang 23

20

được học cỗ truyền, về văn hoá âm thực, về trang phục truyền thống

dân tộc và những tri thức dân gian khác [40, tr12-13]

- Ngoài ra, sự phát triển của bản thân con người với tư cách là chủ thê

của hoạt động văn hoá, cũng có thể xem là hình thái người của sự tồn tại đi

sản văn hoá

Văn hoá, đó không chỉ là máy móc, nhà cửa, tác phẩm nghệ thuật, tri

thức khoa học mà còn là những phẩm chất của bản thân con người đã đạt đến

trình độ phát triển tỉnh thần nhất định, có được những tài năng, kỹ xảo, trí

thức cần thiết cho sự hoạt động sáng tạo của nó Người Nhật Bản xem tài

năng của nghệ nhân đân gian như "k#o báu sống” thuộc về tài sản văn hoá vô

hình Ở châu Phi, ông Haphtê-Bâ người đân tộc Buốc-ki-na Fa-sô quan niệm:

Khi một cụ già ở châu Phi mất đi, điều đó cũng có nghĩa là một thư viện cỗ

vừa bốc cháy Như vậy con người phát triển cao hơn thì trở thành "nhân vật

văn hoá", cao hơn nữa thành "danh nhân văn hoá", đều có thể xem là di sản

văn hoá của một cộng đồng xã hội (Xem Hoàng Vinh (2006), Những vấn đề

văn hoá trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, Nxb Văn hoá Thông tin và

Viện Văn hoá)

Chúng ta biết rằng: con người sống mang hai bản thé, ban thé sinh vat

va ban thé văn hoá Là một sinh thể, biểu hiện ở sức mạnh thê chất của nó con

người thuộc về đi sản vật thể Là một nhân cách văn hoá, con người thuộc về

di san phi vat thé, hễ hiện ở các giá trị văn hoá cộng đồng mà con người mang

vác Trường hợp "đưnh nhân văn" hoá đã khuất thì con người ấy hoàn toàn

thuộc về văn hoá phi vật thể

Như vậy khi ta xem xét các khái niệm văn hoá phi vật thê, có thể thấy

Trang 24

- Văn hoá phi vật thể là tất cả những giá trị tỉnh thần được con người

sáng tạo ra trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, những giá trị

ấy bao gồm cả những yếu tố vật chất với tư cách là phương tiện mang chở

những giá trị tỉnh thần và toàn bộ không gian hình thành nên các giá trị Ấy

Văn hoá phi vật thể còn bao gồm cả con người- chủ thể văn hoá

- Các giá trị văn hoá tính thần kể cả giá trị con người được bảo tồn, gìn

giữ, trao chuyền qua các thế hệ dưới nhiều hình thức khác nhau, để càng ngày

càng khẳng định thêm giá trị, với tiêu chí tốt đẹp, nhân văn

1.1.2.3 Tín ngưỡng, phong tục lễ hội

Khái niệm tín ngưỡng

Trước hết ta có thể nói rằng tôn giáo - tín ngưỡng tự thân vốn đã là

những khái niệm rất phức tạp Sự phức tạp càng tăng lên do chỗ chúng còn là

những hiện tượng xã hội hết sức nhạy cảm Do vậy, chúng luôn là mỗi quan

tâm của các nhà quản lý văn hoá xã hội, là đối tượng mà báo chí- truyền

thông luôn theo đối, phản ánh Ở nước ta, van dé này ngày càng trở nên nóng

bong khi trong những năm gần đây, đo xu thế tất yếu của việc hội nhập vào

nhịp sống kinh tế, văn hoá của nhân loại; nhu cầu trở về cội nguồn như một

đối trọng của hội nhập, vừa tự phát, vừa tự giác; đã kéo theo sự phục hồi các

phong tục, lễ hội, cầu cúng, lễ bái, bói toán theo cả chiều hướng tích cực lẫn

không tích cực, điễn ra ở cả gia đình, dòng họ, cho đến quy mô làng, nước

Với tư cách là người tuyên truyền, giáo dục tập thể, cổ vũ tập thể, tổ

chức tập thể, tham gia quản lý xã hội, phản biện xã hội và định hướng dư luận

xã hội, báo chí không thể không hiểu rõ nội hàm khái niệm, nội dung, tính

chất, cơ chế vận hành và ảnh hưởng của tôn giáo - tín ngưỡng, lễ hội trong

đời sống xã hội, để phản ánh đầy đủ, chân thực, tuyên truyền, định hướng có

hiệu quả

Trang 25

2

Tuy nhiên, cho đến nay về mặt thuật ngữ cũng như khái niệm tôn giáo -

tín ngưỡng cũng còn đang là vấn đề tranh cãi và chưa có hồi kết thúc Trong

tiếng Anh, tôn giáo được viết là "religion", tiếng Pháp viết là "religion", con

at

tín ngưỡng tiếng Anh viét la "belief", tiếng Pháp là "croyance"

Trong từ điển trực tuyến trên mạng Internet Wkipedia, tôn giáo

(religion) được giải thích "!2 hệ thống niềm tin và thực hành, thường dựa trên

những quan điểm về đạo đức và cde thé lực siêu nhiên về sự thật, vũ trụ và

bản chất của loài người; và thường được mã hoá bằng những lời cdu nguyén,

lỄ nghỉ và luật lệ tôn giáo " [S1]

Theo từ điển Oxford: Tín ngudng (faith) 1a:

- Niềm tin vào khả năng và kiến thức của một người [T8, tr.415] | Tir dién triét hoc gidi thich : Ton giáo là sự phần ánh hư ảo trong đầu

óc con người những lực lượng bên ngoài thông trị họ trong cuộc sống hàng

Theo tir dién Tiéng Viét:

- Tin nguéng: Tin theo mét tn gido ndo dé

- Tôn giáo:

+ Hình thái ÿ thúc xã hội gồm những quan niệm, dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực | lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục

tùng và tôn thờ

+ Hệ thông những quan niệm tín ngưỡng một hay những vị than linh nào đó và những lễ nghỉ thể hiện sự sùng bái dy.[58, tr.960, 976]

Trang 26

Như vậy, theo người nghiên cứu, những định nghĩa và cách giải thích

tín ngưỡng, tín ngưỡng, tôn giáo trên có phần không nhất quán và chưa thoả

đáng, Đây cũng là lý do dẫn đến nhiều cuộc tranh luận nảy lửa tại các hội thảo

khoa học, mà ở đó có những ý kiến khẳng định tôn giáo và tín ngưỡng là hai

khái niệm khác nhau Có ý kiến lại quả quyết rằng những cái mà ta gọi là tín

ngưỡng như thờ cây đa, thờ tô tiên, đồng cốt đều là tôn giáo cả

Trên thực tế, những năm gần đây trên phương tiện truyền thông đại

chúng, các văn bản và ngôn ngữ hàng ngày, ta thường gặp cách diễn đạt và

hiểu chưa nhất quán về khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo Có người viết tín

ngưỡng tôn giáo liền nhau; trong khi có chỗ viết tín ngưỡng - tôn giáo hoặc

tôn giáo - tín ngưỡng Có người tách tín ngưỡng, tôn giáo với hàm ý có sự

khác biệt; lại có nhà khoa học đồng nhất tín ngưỡng với tôn giáo

Trong Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài tiềm lực "Những đặc điển cơ

bản của hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam", do Trung tâm khoa học về

tín ngưỡng và tôn giáo (nay là Viện nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng), thuộc

Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, đã nêu :

Quan niệm về tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay tạm phân làm mấy

loại sau :

Một là, Tín ngưỡng và tôn giáo là hai khái niệm khác nhau,

nhưng nên hiểu theo hai nghĩa:

Nghĩa rộng, tôn giáo phản ánh niềm tin và sự ngưỡng mộ, sùng kính của con người về một chủ thuyết, một lực lượng nào đó Tín

ngưỡng, tôn giáo chỉ là một dạng của tôn giáo nói chung

Hiểu theo nghĩa hẹp, tín ngưỡng với nghĩa là đức tìn, niềm tin, là

một bộ phận cấu thành chủ yếu của tôn giáo Như vậy tôn giáo khác tín

ngưỡng nói chung, theo nghĩa rộng ở chỗ, tôn giáo có giáo lý với

Trang 27

24

những hệ thống, những quan điểm về thế giới quan, nhân sinh quan với

những tín hiệu phản ánh niềm tin ấy, có giáo luật với những điều cắm

kị, răn dạy, có giáo lễ với những nghỉ thức thờ phụng, có tổ chức giáo

hội với đội ngũ chức sắc, số lượng tín đồ và hệ thống tổ chức nhất định

Dĩ nhiên không phải tôn giáo nào cũng đều có đủ các tiêu chí trên

Hai là, không nên cho là tín ngưỡng có vai trò thấp hơn tôn giáo

và tín ngưỡng nào rồi cũng phát triển thành tôn giáo Tuy nhiên xét về

lịch sử phát triển của các tôn giáo thì những tôn giáo mới xuất hiện

thường chưa có đủ tiêu chí cần thiết để định hình thành tôn giáo với

nghĩa đầy đủ của nó [29,tr.4-5]

Mặc dù hiện đang có các luồng quan điểm không đồng nhất với nhau

về tôn giáo, tín ngưỡng như vậy, nhưng theo "Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo”

được ban hành theo quyết định số 51/2001/QH10, ngày 26 tháng 11 năm

2003 của Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 4 về chương trình xây dựng luật,

pháp lệnh 2004 có nêu: Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn

thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng

động; thờ cúng thân, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động

tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về mặt lịch sử,

văn hoá, đạo đức xã hội [3, tr.8]

Qua một số định nghĩa trên, tác giả luận văn nhận thay dinh nghia vé

tín ngưỡng theo "Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo" là có thể đáp ứng được mục

tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, đo đó chúng tôi xin phép sẽ không tiếp tục đi sâu,

mở rộng tìm hiểu về khái niệm này nữa, mà sẽ lấy định nghĩa trên làm cở sở

cho việc thực hiện những phần tiếp theo của đề tài

Khái niệm phong tục lễ hội

Trang 28

Trên thực tế, không một quốc gia một dân tộc nào mà không có những

phong tục lễ hội đặc sắc của riêng mình, các phong tục ấy được hiểu như là

một trong những hoạt động văn hoá mang đậm những giá trị vật chất, tỉnh

thần sống động nhất; ở đó hội tụ những biểu hiện tiêu biểu của tín ngưỡng,

tâm linh, nhân sinh quan, thế giới quan của cả cộng đồng hay của từng cá

nhân trong cộng đồng Những hoạt động ấy là một trong đối tượng nghiên

cứu và phản ánh thường xuyên của các khoa học xã hội nhân văn, các nhà

truyền thông

Vậy phong tục lễ hội là gì ? Từ điển Ôxfor giải thích :

- Phong tuc (Custom):

+ Một lỗi cư xử được xã hội hoặc cộng đồng công nhận

+ Cách một người ứng xử, một thói quen

- Lễ (Cremony): Là một địp theo quy định của tôn giáo trong đó bao gầm một loạt các nghỉ thức trang trọng và có tính chất truyền

thông

- Hội (Festival): Một loạt các buổi biểu diễn âm nhạc, kịch,

phim thường duoc tổ chức tại một địa điểm, một lần một năm [78, tr

326, 202, 490]

Theo từ điển Tiếng Việt:

- Phong tục: Là thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo

- Lễ: Những nghỉ thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm

một sự việc, một sự kiện có ý nghĩa nào đó (nói tổng quát)

- Hội: Cuộc vui tổ chức cho đông đảo người dự, theo phong tục

hoặc nhân dịp đặc biệt [58, tr.443, 540, 756]

Trang 29

26

Từ điển Bách khoa thư đưa ra một khái niệm tương đối đầy đủ và hoàn

chỉnh hơn:

- Lễ hội:

+ Lễ: Là hệ thống các hành vi, động tác, nhằm biểu hiện lòng tôn

kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính

đáng của con người trước cuộc sống mà họ chưa có khả năng thực

hiện

+ Hội: Là sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật của cộng động, xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống, từ sự phát triển của cộng đẳng, sự

bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh

cho từng dòng họ, sự sinh sôi nậy nở của gia súc, sự bội thụ của mùa

màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm ao ước chung vào bốn chữ "Nhân

khang, vật thịnh", LỄ hội là một hoạt động của một tập thể người, liên

quan đến tím ngưỡng, tôn giáo Do nhận thúc, rất tin vào trời, đất,

sông, núi, vì thế ở các làng xã, thường có rất nhiều miễu thờ Thiên

thân, Thổ thần, Thuỷ thần, Sơn thần Lễ hội cổ truyền đã phản ánh

những hiện tượng đó Tôn giáo có ảnh hưởng đáng kế đến lễ hội Tôn

giáo thông qua lễ hội làm phương tiện phô trương thanh thế, ngược lại,

lễ hội thông qua tôn giáo để than linh hoá những vấn đề trần tục Theo

thư tịch cổ, lễ hội xuất hiện từ thời kỳ nhà Lý (Thế lạ XD, nhưng có

người cho rằng lễ hội của dân tộc Việt Nam đã hình thành và phát triển

cùng lịch sử dân tộc, của đất nước biểu hiện qua trồng đồng Đông Sơn,

mà tiêu biểu ở vùng đẳng bằng Bắc bộ- cái nội của dân tộc Việt, đó là

hội mùa, hội làng ngày hội cố kết công đồng, biểu trưng của những

giá trị của đời sông tâm linh, đời sông xã hội và văn hoá của cộng

Trang 30

đồng Có những lễ hội mang tính toàn quốc như hội đền Hùng, hội đền

Kiếp Bac (77, tr.674]

Bên cạnh những định nghĩa nói trên còn rất nhiều tài liệu của các nhà

nghiên cứu đưa ra những khái niệm về phong tục lễ hội, như: Trần Lâm Biển

(2000), Mới con đường tiếp cận với lịch sứ, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội

Trung tâm khoa học và xã hội và Nhân văn Quốc gia (1994), LỄ hội truyên

thống trong đời sống xã hội hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,(GS Định

Gia Khánh, GS,TS Lê Hữu Tàng chủ biên) Phan Kế Bính, Việt Nam phong

tục, Nxb TP.Hồ Chí Minh Dương Văn Sáu (2004), Lễ hội Việt Nam trong sự

phát triển du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội

Mặc dù tuỳ mục đích nghiên cứu, mà cách tiếp cận vấn đề có khác

nhau, nhưng nhìn chung về cơ bản các tác giả đều có một cái nhìn tương đối

thống về vấn đề phong tục lễ hội Nếu thiên về tìm hiểu bản chất thì phong tục

lễ hội được đặt trong cái nhìn không biệt lập, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, là

một thê tương đối thống nhất, như ba đỉnh của một tam giác trong một vòng

tròn ngoại tiếp là văn hoá, có liên quan chặt chế với nhau, yếu tố nọ là tiền đề

cho yếu tố kia, chứa đựng ít hay nhiều những thành tố của các yếu tổ kia Nếu

thiên về quan sát, mô tả, phản ánh hiện tượng thì tín ngưỡng, phong tục, lễ hội

lại như những vòng tròn đồng tâm, mà vòng ngoài cùng là văn hoá, tiếp theo

là tín ngưỡng rồi đến phong tục, lễ hội

Như vậy, báo chí khi tiếp cận vẫn đề tín ngưỡng, phong tục lễ hội cũng

phải căn cứ vào mục tiêu truyền thông, phương tiện và phương pháp truyền

thông, để xây dựng và truyền tải được những thông điệp có hiệu lực và hiệu

quả cao nhất với công chúng Hay nói cách khác với những đặc điểm của

mình, báo có thể phản ánh, mô tả, thông tin về hiện tượng một cách sống

động, rõ nét nhất về các hoạt động của tín ngưỡng, phong tục lễ hội cũng như

Trang 31

28

những gì liên quan, còn tạp chí thì thông tin sâu đi tìm hiểu kỹ về bản chất và

mỗi quan hệ của hoạt động này

Với sự phân tích nội hàm và mối liên hệ của các khái niệm văn hoá,

văn hoá phi vật thể, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội như trên, từ đây tác giả xin

dùng thuật ngữ "tín ngưỡng, phong tục lễ hội" để nói về vấn đề mà luận văn

tiễn hành khảo sát, nghiên cứu Ở đây tín ngưỡng, phong tục lễ hội trong luận

văn đề cập tới phải hiểu là tín ngưỡng, phong tục lễ hội đân gian bản địa

truyền thống, chứ không phái là tín ngưỡng, phong tục lễ hội ngoại lai và hiện

đại, như Lễ hội du lịch Hạ Long 2008, Festival Hué

1.2 Báo chí với lĩnh vực văn hoá

1.2.1 Mỗi quan hệ giữa văn hoá với báo chí, báo chí với van hod

Trước hết qua tìm hiểu một số vẫn đề lý luận văn hoá, mà chủ yếu là hệ

thống khái niệm, ta có thể khẳng định rằng, sản phẩm báo chí là một sản văn

hoá và báo chí thiên về nhóm văn hoá phi vật thể nhiều hơn

Kể từ khi tờ "Cố vấn của Nhà nước" ra đời ở Bắc Kinh vào cuối thế kỷ

thứ VI được coi là tờ báo đầu tiên trên thế giới [4, tr.196], thì bức tranh toàn

cảnh văn hoá đã có thêm một thành tế mới, góp phần làm phong phú hơn văn

hoá nhân loại, thúc đây nhân loại phát triển theo hướng ngày càng tiến bộ Kể

từ đó cho tới hơn mười thế kỷ sau, văn hoá, báo chí luôn phát triển song hành;

văn hoá là mảnh đất trù phú, là đối tượng vô cùng rộng lớn cho báo chí, khai

thác phản ánh, phát triển ngày càng rực rỡ và đa dạng, bởi có bao nhiêu lĩnh

vực của cuộc sống thì có bấy nhiêu lĩnh vực văn hoá; tất cả những gì do con

người sáng tạo ra đều là văn hóa Ngược lại, báo chí chính là tác nhân quan

trọng giúp cho văn hoá xã hội phát triển theo hướng ngày càng tiễn bộ, là tấm

gương soi cho toàn bộ xã hội tự điều chỉnh chính mình Với tư cách là một

Trang 32

thực thể văn hoá, nhờ sự phát triển của văn hoá, báo chí cũng ngày tự hoàn

thiện mình hơn

Cho tới thế kỷ XX với sự ra đời của nhà nước Vô sản đầu tiên thế giới

(Liên Xô cũ), sự phân chia ý thức hệ theo khuynh hướng đối lập ngày càng rõ

rệt, trong sự phát triển chung của văn hoá nhân loại, thì văn hoá cũng phát

triển theo chiều phân liệt theo mỗi hệ tư tưởng mà mỗi bên theo đuôi Sự phát

triển ay được biểu hiện bằng việc thúc đây khoa học công nghệ phát triển, đây

mạnh sản xuất làm ra nhiều của cải vật chất; báo chí cũng trở thành công cụ

vô cùng đắc lực cho việc tuyên truyền, cổ động phát triển kinh tế, đồng thời

không ngừng xây dựng, củng cố và truyền bá hệ tư tưởng của mỗi bên, với

mục tiêu là giành giật, gìn giữ, bảo vệ quyền lợi cho quốc gia, đân tộc hay hệ

ý thức của mình Lúc này, ngoài việc gìn giữ các giá trị văn hoá của mỗi dân

tộc, báo chí còn cùng với cả hệ thống chính trị ra sức xây dựng cho mình

những giá trị văn hoá mới và tìm cách khẳng định sự đúng đắn của các giá trị

văn hoá của mình Đến những năm 40 của thế kỷ XX, sự mâu thuẫn về quyền

lợi kinh tế và sự đối đầu về hệ tư tưởng đã lên đến đỉnh điểm, không còn cơ

hội dé dung hoà, con tàu nhân loại đã đặt lên đường ray của chiến tranh, cái gì

phải đến đã đến, một bộ phận của chủ nghĩa để quốc cực đoan và điên cuồng -

chủ nghĩa Phát-xít đã đây thế giới đến cuộc thế chiến II Trong bối cảnh ay,

tất cả những sáng tạo văn hoá nhân loại, kể cả báo chí cũng đều tập chung

hướng tới mục tiêu chiến thắng kẻ thù Thời kỳ này cũng là giai đoạn mở đầu

cho những luận thuyết cực kỳ phi nhân bản xuất hiện, như thuyết "Đại Đức",

chủ nghĩa "Bài Do Thái" Về văn hoá vật thể cũng vậy, với sự phát mình ra

bơm nguyên tử đã đưa loài người tới mối lo thường trực - sự huỷ diệt Là một

thành tố văn hoá, nằm trong hệ thống chung, báo chí cũng không thoát khỏi

xu hướng ấy, vẫn phải tuyên truyền cỗ suý cho các giá trị văn hoá cho đủ các

giá trị Ấy đi ngược lại lý tưởng chung của con người

Trang 33

30

Từ cuối thế kỷ XX đến nay, khoa học công nghệ thế giới đã bước vào

giai đoạn phát triển như vũ bão, kinh tế xã hội phát triển Được sự hỗ trợ của

các san phẩm văn hoá vật thế kỹ thuật cao, báo chí cũng phát triển với tốc độ

bing né, hơn bao giờ hết người ta nói nhiều bàn nhiều về báo chí truyền

thông và vai trò của nó đối với sự phát triển xã hội như lúc này (xem Philippe

Breton va Serge Proulx (1996), Bừng nổ truyền thông, Nxb Văn hóa - Thông

tin Hà Nội) Tuy nhiên, đến nay bằng những giải pháp hoà bình loài người

đang dần thoát khỏi mối lo huỷ diệt do chính con người gây ra, nhưng lại xuất

hiện một mối lo khác liên quan đến sự tồn vong của mỗi quốc gia, méi dan

tộc Đó là quá trình toàn cầu hoá Quá trình này ngoài mặt tích cực là đưa các

quốc gia hội nhập với nền kinh tế thế giới để cùng phát triển, nó còn có mặt

trái là đây các quốc gia, các dân tộc tới nguy cơ bị nhất thể hoá về tư tưởng

hệ, bị đồng hoá văn hoá, bị xâm lăng văn hoá Trước tình hình đó, hơn ai hết

báo chí lại phải đưa vai gánh vác sứ mệnh lớn lao là thông tin tuyên truyền để

gìn giữ, bảo tồn, và phát huy các giá trị văn hoá của quốc gia, dân tộc mình

trước nguy cơ bị đồng hoá Đồng thời, mỗi nền báo chí bên cạnh hội nhập với

báo chí thế giới, cũng phải tự bảo vệ để giữ gìn bản sắc báo chí của mình, bởi

báo chí cũng là một thành tố văn hoá, không lẽ lại tự nhiên thoát khỏi sự xâm

lãng văn hoá

Ở nước ta, sau non thế kỷ báo chí cách mạng hành trình cùng dân tộc,

xây dựng, bảo vệ và phục vụ mục tiêu của dân tộc, đến nay, báo chí nước nhà

vẫn không hề xa rời mục tiêu tối thượng ây Đặc biệt trong giai đoạn mới của

cách mạng nước ta, khi văn hoá đang ngày càng thực sự trở thành nền tảng

tỉnh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đây kinh tế xã hội

phát triển, thì bên cạnh những nhiệm vụ quan thiết khác, thúc đẩy sự phát

triển văn hoá bền vững phải được coi là sứ mệnh của báo chí Muốn làm tết

nhiệm vụ ấy, báo chí truyền thông phải luôn là nhịp cẦu nối nhanh nhạy,

i

4

Trang 34

vững chắc, giúp công chúng đến được nhanh nhất với các hiện tượng văn hoá

quan trọng trong và ngoài nước, làm giàu thêm đời sống tinh thần của ho Do

vậy, mạng lưới truyền thông và đội ngũ những người làm báo năng động có

tác động hết sức tích cực trong việc đưa đường lối văn hoá của Đảng vào xã

hội, đến với người dân và phản ánh muôn mặt đời sống văn hoá ở cơ sở tới

những nhà quản lý và hoạch định chính sách văn hoá

Vị thế quan trọng ấy đòi hỏi các cơ quan báo chí, đội ngũ những người

làm báo, ngoài tư cách một công dân, phải là những tấm gương trong phát

triển đời sống văn hoá, nghĩa là họ phải có một nhân cách hội tụ đạo đức công

đân và đạo đức nghề nghiệp báo chí, đi đầu trong việc phá bó cái xấu để giữ

gìn đạo đức, phong hoá, văn hoá dân tộc

Văn hoá đang gia tang vj thé, dang thấm sâu vào mọi bình điện hoạt

động của đời sống xã hội Bằng vào những gì các cơ quan truyền thông,

những người hoạt động báo chí đã, đang và sẽ làm và làm tốt trong việc bảo

tồn và phát huy nên văn hoá đân tộc, có thể tin rằng các cơ quan truyền thông,

những người làm báo sẽ tắm mình trong đời sông văn hoá dân tộc, tu tâm, tích

đức để làm trọn thiên chức nhà báo trong phát triển văn hoá, xây đựng cuộc

sống ngày càng bền vững

Như vậy ta thấy rõ ràng rằng trong suốt tiến trình lịch sử, trên thế giới

cũng như trong nước, tử khi ra đời báo chí với văn hoá, văn hoá với báo chí là

một cặp song hành, có quan hệ biện chứng, phụ thuộc lẫn nhau

1.2.2 Vai trò của báo chí nói chung với việc thông tin cúc vấn đề tin

ngưỡng, phong tục lễ hội

Như đã nói ở trên, tín ngưỡng, phong tục lễ hội là một bộ phận của văn

hoá, là một thực thể văn hóa, có mối liên hệ vô cùng mật thiết với nhau Với

những đặc điểm, tính chất và quy luật vận động của mình, tín ngưỡng, phong

Trang 35

32

tục lễ hội không những là bức tranh sinh động phản ánh đời sống vật chất,

tỉnh thần, đề cao tâm tư, nguyện vọng, ước muốn; phản ánh quan niệm, quan

điểm sống, nhân sinh quan, thế giới quan của nhân dân; mà còn là sự tái hiện

lịch sử, nhằm giáo dục các thế hệ đương thời nhìn nhận đúng, với lòng thành

kính và biết ơn sâu sắc về truyền thống của cha ông, của đân tộc Qua đó để

tìm được một lối ứng sử phủ hợp với tự nhiên, xã hội, nhằm hướng tới một

tương lai tươi đẹp góp phần thúc đây xã hội vươn tới mục đích cao cả là đạt

tới chân, thiện, mỹ Tuy nhiên bên cạnh đó, từ trước tới nay, tín ngưỡng,

phong tục lễ hội cũng là mảnh đất không kém mầu mỡ để cho một số cá nhân

lợi dụng để mưu cầu mục đích riêng, đi ngược lại với mục đích chính đáng

của đông đảo nhân dân, như nạn buôn thần bán thánh, mê tín dị đoan, nhằm

biến các hoạt động tín ngưỡng, phong tục lễ hội thành các sinh hoạt tốn kém,

phản văn hoá, phán lại các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Thậm chí

còn có những kẻ, những thế lực hoạt đầu chính trị lợi dụng những sinh hoạt

tín ngưỡng, những sinh hoạt lành mạnh của lễ hội để chống đối lại các chủ

trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước; thành lập nhiều tín

ngưỡng mang tính tà giáo, dị giáo; tổ chức những sinh hoạt không lành mạnh

làm mất trật tự trị an, gây rối loạn xã hội, làm cho một bộ phận nhân dân

hoang mang, lo sợ Với những lý đo ấy mà từ lâu tín ngưỡng, phong tục lễ hội

luôn là dé tài phong phú và nhạy cảm để báo chí quan tâm, phân ánh, thông

tin đúng, đủ, kịp thời về cả những mặt tích cực cũng như các hiện tượng tiêu

cực kế trên Nhằm truyên truyền đường lỗi, chính sách của Đảng và nhà nước

tới đông đảo quần chúng nhân dân, để nhân dan hiểu được rõ chính sách tôn

giáo tín ngưỡng của Đảng và nhà nước, hiểu được bản chất thật sự, những ưu

điểm của tín ngưỡng Cũng thông qua báo chi mà hầu hết mọi người dân trên

đất nước ta đều nắm rõ được rằng:

Trang 36

Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào

Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy

Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật

Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn

trọng lẫn nhau [3, tr.7- 8]

Cũng nhờ có báo chí mà đến hôm nay đa số nhân đân ta đều nhận thức

được đâu là những phong tục đẹp đế cần được duy trì, phát huy, nhân rộng,

đâu là hủ tục lạc hậu cần phải bài trừ Không chỉ có thế, mà thời gian qua báo

chí nước nhà còn thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội của mình,

kịp thời phát hiện những thiếu sót, bất cập trong các chủ trương chính sách

tôn giáo, tín ngưỡng, các hướng dẫn hoạt động lễ hội để các cơ quan quản lý

kịp thời bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp, tạo điều kiện cho các hoạt động văn

hoá nói chung cũng như hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục lễ hội của

nhân đân được thuận lợi Bên cạnh đó báo chí còn rất tích cực, vạch mặt, lên

án, chống lại những hành vi lợi dụng các sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, tín

ngưỡng, các phong tục lễ hội của các cá nhân hay những thế lực lợi dụng tôn

giáo để chồng phá lại nhà nước, huỷ hoại nền văn hoá tốt đẹp của dân tộc

Cùng với sự phát triển của báo chí thế giới, những năm qua, nền báo

chí nước nhà cũng phát triển rất mạnh mẽ Tính đến tháng 6 năm 2007, cả

nước đã có tới 687 cơ quan báo chí, với hơn 800 ấn phẩm ở đú các loại hình

[39] Điều đặc biệt là với ngần ấy ấn phẩm, dù ở loại hình nào, báo in (báo,

tạp chí), báo hình, báo nói hay báo mạng điện tử đều có đăng tải các tin bài về

văn hoá, có chuyên mục văn hoá, trong đó rất nhiều Ấn phẩm thường xuyên có

Trang 37

34

các tin bài về tín ngưỡng, phong tục lễ hội, nhất là những dịp lễ tết, mùa lễ

hội Hầu hết các tin bài về mảng đề tài này đều dua tin một cách trung thực,

đúng định hướng, thông tin hai chiều một cách kịp thời, đầy đủ, góp phần

nâng cao nhận thức của nhân dân về sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, gìn giữ và

phát huy tốt các phong tục tốt đẹp của đân tộc

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được nói trên, thời gian

qua mảng đề tài về tín ngưỡng, phong tục lễ hội được phán ánh trên báo còn

bộc lộ những hạn chế nhất định :

Một là, các tin bài còn mang nặng tính phản ánh, mô tả sơ sài, chưa đi

sâu tìm hiểu, bóc tách được nội dung, bản chất, mối liên hệ và sự vận động

phát triển của hoạt động tín ngưỡng, sinh hoạt lễ hội; chưa giúp cho công

chúng độc giả hiểu được một cách đầy đủ, ngọn ngành của vấn đề, thậm chí

có bài viết chỉ mới nêu được vấn đề chứ chưa để cập hoặc có những gợi ý mở

nào cho việc giải quyết vấn đề Điều này cũng có nguyên nhân của nó bởi nội

dung thông tin, mức độ thông tin nông, sâu, rộng, hẹp còn phụ thuộc vào mục

đích của chủ thể thông tin, đối tượng tiếp nhận thông tin, loại hình, phương

tiện chuyên tải thông tin Điều này xin được nói kỹ ở mục (1.2.3)

Hai là, trong thời gian qua khi viết về đề tài tín ngưỡng, phong tục lễ

hội, cá biệt đã có những tờ báo vì chạy theo lợi ích kinh tế mà đã xa rời tôn

chỉ, mục đích của tờ báo xa rời định hướng chính trị, chạy theo thị hiếu tầm

thường, kích thích trí tò mò của một bộ phận công chúng; vô hình chung đã

cỗ suý cho những hiện tượng mê tín, đị đoan vốn đang xuất hiện nhiều trong

xã hội ta hiện nay, như vụ "Thánh vật sông Tô Lịch", hay các hiện tượng tâm

linh thần bí mà chưa được khoa học kiểm chứng

Những lệch lạc nói trên vừa qua đã được các cơ quan chức năng uốn

nắn, chỉnh đốn kịp thời, hy vọng với sự định hướng đúng đắn của Đảng, cộng,

Trang 38

với bán lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của các

nhà báo ngày một nâng cao, báo chí trong thời gian tiếp theo khi phản ánh về

vấn đề tín ngưỡng, phong tục lễ hội sẽ không mắc phải những sai sót tương tự

nữa

1.2.3 Vai tré của tạp chỉ đối với vấn đỀ tín ngưỡng, phong tục lễ hội

ở nước ta hiện nạp

Nhìn vào lịch sử báo chí nhân loại ta thấy, từ thời khởi thuỷ báo chí chỉ

có một loại hình duy nhất là báo in, bao gồm báo và tạp chí

Chức năng cơ bản ban đầu của cả báo và tạp chí là thông tin, trong đó

thông tin trên báo là dạng thông tin phản ánh, mang tính thời sự cao, nhất là

đối với nhật báo (ban đầu chưa xuất hiện các báo thưa kỳ, hoặc các bản tin nội

bộ, bản tin phổ biến) Còn thông tin trên tạp chí lại thiên về thông tin mang

tính lý lẽ, thường tập trung bàn luận, tông kết về sự kiện, vấn đề, ma báo do

xuất bản dày kỳ nên không có điều kiện làm việc đó Đây cũng là một trong

những lý do dẫn đến sự khác nhau giữa báo và tạp chí về cách tiếp cận, cách

đặt vẫn đề, làm cho mức độ nông, sâu, rộng hẹp của các bài viết trở nên khác

nhau, mặc đù cùng khai thác đề tài, tín ngưỡng, phong tục lễ hội (Như đã nói

ở mục 1.2.2)

Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật làm báo đã có

sự tiễn bộ vượt bậc, các sản phẩm báo in không những được sản xuất với số

lượng lớn, phát hành rộng rãi, rẻ, đẹp, hấp dẫn cả về mặt nội dung lẫn hình

thức, đáp ứng được nhu cầu về mọi mặt của mọi đối tượng công chúng Tuy

nhiên những đặc điểm về chức năng, nhiệm vụ dù có thay đổi theo chiều

hướng xuất hiện thêm nhiều tiêu chí mới hơn, nhưng báo và tạp chí ngày nay

vẫn giữ được những chức năng cơ bản ban đầu

Trang 39

36

Riêng đối với tạp chí có ý kiến cho rằng tạp chí đứng giữa báo in và

sách “Đặc trưng của tạp chí là làm chức năng tuyên truyện, nghiên citu bp

luận và hoạt động khoa học Khác với báo, tạp chí là cơ quan lÿ luận, học

thuật, khoa học Tạp chí kém chiều sâu so với sách, nhưng gân với sách".[T5]

Từ những đặc trưng về chức năng nói trên cũng như nhìn vào thực tiễn

hoạt động, có thể nhận thấy vai trò của tạp chí đối với vấn đề tín ngưỡng,

phong tục ở nước ta hiện nay được biểu hiện ở một số điểm nổi bật sau :

Thứ nhất là, cũng như báo chí nói chung tạp chí tham gia vào nhiệm vụ

quản lý giám sát xã hội, thông qua việc thông tin hai chiều, đồng thời bàn

luận, lý giái và rút ra những bài học thực tiễn về các chủ trương của Đảng,

các quyết định quản lý nhà nước vấn để tín ngưỡng, phong tục Thực tế,

những năm qua có nhiều chủ trương, chính sách về văn hoá nói chung và vẫn

đề tín ngưỡng, phong tục nói riêng đã được đưa ra đúng lúc, hoặc điều chỉnh,

bổ sung kịp thời qua các thông tin phản hồi với ý kiến của đông đảo quần

chúng và nhiều ý kiến của các chuyên gia mà tạp chí chuyển tải; giúp cho các

chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục ngày càng gần với cuộc sống,

đi vào cuộc sông,

Thứ hai là, thông qua các bài viết chuyên đề sâu sắc, đưới đạng phổ

biến, trao đổi kết quả các công trình nghiên cứu về van dé tin ngưỡng, phong

tục, tạp chí góp phần làm thay đổi nhận thức, hành vi của nhóm đối tượng

công chúng và những công chúng hạt nhân (hẹp hơn báo); từ đó tạo ra hiệu

ứng lan toa, giúp cho đông đảo nhân dân cũng được nâng cao nhận thức, thay

đổi hành vi trong sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, phong tục, lối sống, sinh

hoạt Từ việc thay đổi nhận thức hành vi sinh hoạt tín ngưỡng, phong tục, lỗi

sống ấy, mỗi tập thể, cá nhân trên đất nước đã góp phần gìn giữ được những

giá trị văn hoá truyền thống của đân tộc, xây đựng được những giá trị văn hoá

mới độc lập và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại

Trang 40

Thứ ba là, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, các phong tục lễ hội vừa

mang tỉnh lễ nghỉ vừa là luật tục nhưng đồng thời cũng là thoả mãn nhu cầu

tỉnh thần của nhân dân, nên bán thân nó đã chứa đựng những yếu tố mang tinh

giải trí Hay nói cách khác, yếu tố giải trí trong sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo,

các phong tục lễ hội, vừa là sử mạng tự thân của nó, vừa là nhu cầu của nhân

dan Qua tìm hiểu phân tích các hoạt động tín ngưỡng, phong tục lễ hội, tạp

chí bàn luận về các vấn để giải trí, đưa ra những nhận định, kiến giải giúp cho

các nhà quản lý, cũng như nhân dân thực hiện đúng đủ, có chừng mực, tiết

kiệm tiền của cho các hoạt động vừa mang tính lễ nghi, vừa mang tính giải trí

trong sinh hoạt tôn giáo, lễ hội

Cuối cùng, trong ý kiến trả lời câu hỏi phỏng vấn sâu về ý nghĩa, vai trò

của tạp chí đối với vấn đề tín ngưỡng, phong tục lễ hội khi tiến hành nghiên

cứu đề tài, TS Đặng Văn Bài (Cục trưởng Cục Di sản, Bộ VH - TT & DL) và

TS Nguyễn Thị Bích Hồng (Vụ Văn hóa - Văn nghệ, Ban Tuyên giáo Trung

ương) cho rằng:

Bản thân tín ngưỡng, phong tục lễ hội đã có thuộc tính nhân văn, tỉnh

thần hướng thiện, lòng yêu nước, ý thức cộng đồng, nhưng khi được thông tin

lên tạp chí thì nó còn giúp cho Đảng, nhà nước, nhân dân nhận diện được rõ

ràng hơn các giá trị của tín ngưỡng, phong tục lễ hội; từ đó có lối ứng xử

đúng đắn Cụ thể: hiểu được tín ngưỡng, phong tục lễ hội tức là chúng ta đã

phần nào hiểu được đời sống tỉnh thần của chính mình và nhận thức được

rằng tín ngưỡng, phong tục lễ hội là nhu cầu của xã hội, cần phải được tôn

trọng; xã hội hoá các hoạt động lễ hội, huy động nguồn lực của cộng đồng

vào việc gìn giữ những đi sản phi vật thê của quốc gia, củng cô đoàn kết dan

tộc, én định xã hội Thông tin trên tạp chí về vấn đề tín ngưỡng, phong tục lễ

hội còn góp phần xây dựng bản lĩnh văn hóa đân tộc, hoà nhập nhưng không

hoà tan; tạo cơ sở khoa hoc dé kiến nghị đưa ra cơ chế chính sách quản lý tín

Ngày đăng: 11/11/2021, 19:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

các bài nghiên cứu trên các tạp chí còn lại. (Xem bảng 2.2.2.1) - Vấn đề tín ngưỡng, phong tục của người việt được phản ánh trên một số tạp chí chuyên ngành văn hóa hiện nay (khảo sát các tạp chí tư tưởng văn hóa, văn hóa nghệ thuật, di sản văn hóa, nguồn sáng dân gian, từ tháng 1200
c ác bài nghiên cứu trên các tạp chí còn lại. (Xem bảng 2.2.2.1) (Trang 57)
GÔNG TÁC TỰ TƯỞNG: LÝ LUẬM - THIỰC THÊM - Vấn đề tín ngưỡng, phong tục của người việt được phản ánh trên một số tạp chí chuyên ngành văn hóa hiện nay (khảo sát các tạp chí tư tưởng văn hóa, văn hóa nghệ thuật, di sản văn hóa, nguồn sáng dân gian, từ tháng 1200
GÔNG TÁC TỰ TƯỞNG: LÝ LUẬM - THIỰC THÊM (Trang 137)
HỌC TẬP VÀ LÀN THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO  DỨC  HỖ  CHÍ  BH  - Vấn đề tín ngưỡng, phong tục của người việt được phản ánh trên một số tạp chí chuyên ngành văn hóa hiện nay (khảo sát các tạp chí tư tưởng văn hóa, văn hóa nghệ thuật, di sản văn hóa, nguồn sáng dân gian, từ tháng 1200
HỌC TẬP VÀ LÀN THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO DỨC HỖ CHÍ BH (Trang 137)
xâỳ dựng văn hoá Đảng trong tình hình hiện nay....................... 1Ô Trẩn  Viết  Hoàn:  Đôi  điều  suy  nghĩ  về  một  “cuộc  vận  động”  lớn  §  £  - Vấn đề tín ngưỡng, phong tục của người việt được phản ánh trên một số tạp chí chuyên ngành văn hóa hiện nay (khảo sát các tạp chí tư tưởng văn hóa, văn hóa nghệ thuật, di sản văn hóa, nguồn sáng dân gian, từ tháng 1200
x âỳ dựng văn hoá Đảng trong tình hình hiện nay....................... 1Ô Trẩn Viết Hoàn: Đôi điều suy nghĩ về một “cuộc vận động” lớn § £ (Trang 137)
Hình ảnh con khỉ trong văn hoá Đông phương........ - Vấn đề tín ngưỡng, phong tục của người việt được phản ánh trên một số tạp chí chuyên ngành văn hóa hiện nay (khảo sát các tạp chí tư tưởng văn hóa, văn hóa nghệ thuật, di sản văn hóa, nguồn sáng dân gian, từ tháng 1200
nh ảnh con khỉ trong văn hoá Đông phương (Trang 141)
NGUYỄN ĐĂNG NGHỊ: Quá trình hình thành ca khúc cách - Vấn đề tín ngưỡng, phong tục của người việt được phản ánh trên một số tạp chí chuyên ngành văn hóa hiện nay (khảo sát các tạp chí tư tưởng văn hóa, văn hóa nghệ thuật, di sản văn hóa, nguồn sáng dân gian, từ tháng 1200
u á trình hình thành ca khúc cách (Trang 143)
SỐ NÀY ĐƯỢC HOÀN THÀNH VỚI SỰ CỘNG TÁC CỦA SỞ  VĂN  HÓA  -  THÔNG  TIN  BÌNH  ĐỊNH  - Vấn đề tín ngưỡng, phong tục của người việt được phản ánh trên một số tạp chí chuyên ngành văn hóa hiện nay (khảo sát các tạp chí tư tưởng văn hóa, văn hóa nghệ thuật, di sản văn hóa, nguồn sáng dân gian, từ tháng 1200
SỐ NÀY ĐƯỢC HOÀN THÀNH VỚI SỰ CỘNG TÁC CỦA SỞ VĂN HÓA - THÔNG TIN BÌNH ĐỊNH (Trang 143)
TDN n NI » Về một số quy chuẩn tạo hình của lượng - Vấn đề tín ngưỡng, phong tục của người việt được phản ánh trên một số tạp chí chuyên ngành văn hóa hiện nay (khảo sát các tạp chí tư tưởng văn hóa, văn hóa nghệ thuật, di sản văn hóa, nguồn sáng dân gian, từ tháng 1200
n NI » Về một số quy chuẩn tạo hình của lượng (Trang 149)
Tổ chức các hoạt động: - Vấn đề tín ngưỡng, phong tục của người việt được phản ánh trên một số tạp chí chuyên ngành văn hóa hiện nay (khảo sát các tạp chí tư tưởng văn hóa, văn hóa nghệ thuật, di sản văn hóa, nguồn sáng dân gian, từ tháng 1200
ch ức các hoạt động: (Trang 157)
mẽ hình ảnh của địa phương... Đây còn là nơi  điễn  ra  các  hoạt  động  biểu  điễn  văn  hóa  - Vấn đề tín ngưỡng, phong tục của người việt được phản ánh trên một số tạp chí chuyên ngành văn hóa hiện nay (khảo sát các tạp chí tư tưởng văn hóa, văn hóa nghệ thuật, di sản văn hóa, nguồn sáng dân gian, từ tháng 1200
m ẽ hình ảnh của địa phương... Đây còn là nơi điễn ra các hoạt động biểu điễn văn hóa (Trang 157)
Với tư cách một loại hình văn - Vấn đề tín ngưỡng, phong tục của người việt được phản ánh trên một số tạp chí chuyên ngành văn hóa hiện nay (khảo sát các tạp chí tư tưởng văn hóa, văn hóa nghệ thuật, di sản văn hóa, nguồn sáng dân gian, từ tháng 1200
i tư cách một loại hình văn (Trang 166)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN