1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết người việt

68 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 648,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, việc nghiên cứu công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết không chỉ có ý nghĩa soi sáng một móc xích trong kết cấu của truyền thuyết mà còn thấy được mối

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NGỮ VĂN

HOÀNG THỊ THANH NHÀN

CÔNG THỨC MIÊU TẢ CÁI CHẾT CỦA NGƯỜI ANH HÙNG TRONG TRUYỀN THUYẾT NGƯỜI

VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC DÂN GIAN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

ThS NGUYỄN THỊ THANH TRÂM

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự

hướng dẫn tận tình của cô giáo Ths Nguyễn Thị Thanh Trâm cũng như

những ý kiến đóng góp thiết thực của các thầy cô giáo trong tổ bộ môn văn

học Việt Nam trung đại, khoa Ngữ Văn trường Đại học Vinh

Xin cảm ơn những bạn bè, cảm ơn những người thân trong gia đình

đã luôn dành cho tôi sự động viên khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc

nghiên cứu của tôi

Mặc dù đã có những cố gắng, tìm tòi song bước đầu nghiên cứu nên

khoá luận vẫn còn nhiều thiếu sót Chúng tôi mong nhận được những ý kiến

đóng góp của các thầy cô và những ai quan tâm đến đề tài

Vinh, ngày 07 tháng 05 năm 2012

Tác giả

Hoàng Thị Thanh Nhàn

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Lịch sử vấn đề 3

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Cấu trúc của khoá luận 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI VÀ LÝ THUYẾT CÔNG THỨC TRUYỀN THỐNG 1.1 Lý thuyết " Công thức truyền thống trong văn học dân gian 6

1.1.1 Khái niệm "Công thức truyền thống" 6

1.1.2 Công thức truyền thống trong thể loại truyền thuyết 8

1.2 Truyền thuyết và nhân vật người anh hùng trong truyền thuyết 9

1.2.1 Khái niệm truyền thuyết 9

1.2.2 Nhân vật người anh hùng trong truyền thuyết 13

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CÔNG THỨC MIÊU TẢ CÁI CHẾT CỦA NGƯỜI ANH HÙNG TRONG TRUYỀN THUYẾT NGƯỜI VIỆT 2.1 Thống kê công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết người Việt 17

2.2 Các motif trong công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết người Việt 18

2.2.1 Motif hoá thân 18

2.2.2 Motif người anh hùng tử trận 32

2.2.3 Motif người anh hùng tự vẫn 35

2.2.4 Motif người anh hùng bị chặt đầu - lắp đầu lại 39

2.2.5 Motif "mối đùn thành mộ" 42

2.2.6 Motif vinh phong và motif hiển linh, âm phù 44

Trang 4

2.2.7 Ngoài những motif có tần số cao nói trên, truyền thuyết còn sử dụng

công thức miêu tả cái chết người anh hùng đẫm tính hiện thực 45

CHƯƠNG 3: LỊCH SỬ VÀ HƯ CẤU TRONG CÔNG THỨC MIÊU TẢ CÁI CHẾT CỦA NGƯỜI ANH HÙNG TRONG TRUYỀN THUYẾT NGƯỜI VIỆT 3.1 Cảm hứng lịch sử trong công thức miêu tả cái chết của người anh hùng 49

3.2 Yếu tố hư cấu trong công thức miêu tả cái chết của người anh hùng 55

KẾT LUẬN 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Truyền thuyết quan tâm tới những sự kiện lịch sử trọng đại, có liên quan đến làng, đến nước, có tính chất khái quát một thời đại hoặc những biến động lớn, sâu sắc trong lịch sử dân tộc Với đặc trưng thể loại, truyền thuyết hướng tới miêu tả người anh hùng, trong đó cái chết của người anh hùng là một yếu tố được tác giả dân gian đặc biệt chú ý Vì thế, việc nghiên cứu công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết không chỉ có ý nghĩa soi sáng một móc xích trong kết cấu của truyền thuyết mà còn thấy được mối quan hệ giữa lịch sử và hư cấu, đồng thời lý giải những quan niệm, thái độ đánh giá lịch sử và các nhân vật lịch sử của tác giả dân gian

1.2 Đặc trưng của văn học dân gian là tính truyền thống, tính lặp lại, tính công thức Vì thế, việc nghiên cứu văn học dân gian, cụ thể là thể loại truyền thuyết từ góc độ công thức truyền thống là một hướng nghiên cứu phù hợp với bản chất, đặc trưng và thi pháp của đối tượng Đây cũng là một khuynh hướng nghiên cứu tương đối mới trong ngành folklore học Đặc biệt, trong truyền thuyết việc miêu tả cái chết của người anh hùng được tác giả dân gian đặc biệt chú ý, thể hiện bằng những motif độc đáo và có tần số xuất hiện cao Vì vậy, công thức miêu tả cái chết của người anh hùng được lặp lại ở nhiều truyền thuyết người Việt Nghiên cứu công thức miêu tả cái chết của người anh hùng vừa có ý nghĩa làm rõ đặc trưng thể loại truyền thuyết vừa có ý nghĩa thực tiễn góp phần tích cực vào việc giảng dạy tác phẩm văn học dân gian trong nhà trường phổ thông

1.3 Công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết người Việt là một đề tài mới, trước đây chưa có công trình nào đề cập tới Do đó nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hi vọng đóng góp được phần nào trong việc nghiên cứu những đặc trưng về thi pháp, cấu trúc của thể loại truyền thuyết nói riêng, văn học dân gian nói chung

Trang 6

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Công thức miêu tả cái chết của người anh hùng là một trong những công

thức truyền thống trong thể loại truyền thuyết, trong đó các motif được sử dụng

với tần số lặp lại khá cao Đề tài hướng tới khảo sát, thống kê sự hiện diện của

các motif đó, để từ đó làm rõ những quan niệm chủ đề, thái độ, đánh giá của

nhóm tác giả dân gian gửi gắm trong đó Để giải quyết những mục tiêu đó,

chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Giới thuyết chung một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài như lý

thuyết về công thức truyền thống, về nhân vật người anh hùng trong truyền

thuyết …

- Tiến hành khảo sát, thống kê các công thức miêu tả cái chết của người

anh hùng được sử dụng trong truyền thuyết người Việt

- Tìm hiểu sự chi phối của cảm hứng lịch sử và yếu tố hư cấu trong việc

miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết; giải mã những quan

niệm, cảm quan dân gian ẩn chứa trong những motif, những công thức miêu tả

để thấy được thái độ đối với lịch sử cũng như cảm quan nghệ thuật của tác giả

dân gian

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong

truyền thuyết của người Việt Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ chọn đối

tượng nghiên cứu là công thức miêu tả cái chết của nhân vật người anh hùng

(những anh hùng chống giặc ngoại xâm, những anh hùng sáng tạo văn hóa,

những anh hùng nông dân chống phong kiến) Trong phạm vi của đề tài chúng

tôi không có điều kiện khảo sát công thức miêu tả cái chết của nhân vật người

anh hùng trong bộ phận truyền thuyết của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, mà chỉ khảo sát và nghiên cứu công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong

một bộ phận truyền thuyết của người Việt Tư liệu chúng tôi dùng để khảo sát là

cuốn Tổng tập văn học dân gian người Việt - truyền thuyết dân gian người Việt,

Trang 7

thuật, chức năng của truyền thuyết Hoàng Tiến Tựu trong cuốn "Giáo trình văn

học dân gian" (tập 2, Nxb ĐHSP, 1990) đã đưa ra một số vấn đề mang tích chất

lí luận (khái niệm, đặc trưng của thể loại truyền thuyết); Cao Huy Đỉnh trong

cuốn "Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam" (Nxb KHXH, 1974) giới

thiệu một cách khái quát về vấn đề thể loại truyền thuyết; Lê Chí Quế trong

cuốn "Văn học dân gian Việt Nam" (Nxb ĐHQG Hà Nội, 2006) đã đưa khái niệm và cách phân loại về thể loại truyền thuyết; Nhiều tác giả với cuốn "Tổng

tập văn học dân gian người Việt" (tập 4,5, Nxb KHXH, 2004) đưa ra khái niệm,

đặc trưng thể loại truyền thuyết và những truyền thuyết thuộc các thời kì khác nhau

Ngoài ra một số tác giả cũng có những chuyên luận hoặc bài viết nghiên cứu

chuyên sâu về thể loại truyền thuyết Việt Nam như: Lê Văn Kỳ với cuốn "Mối

quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng" (Nxb KHXH

Hà Nội,1997) đưa ra và phân tích, chứng minh mối quan hệ giữa truyền thuyết

người Việt và các lễ hội về các anh hùng; Cao Huy Đỉnh với cuốn "Người anh

hùng làng Gióng", (Nxb KHXH, H.1969); Trần Thị An với luận án tiến sĩ "Đặc trưng thể loại truyền thuyết và quá trình văn bản hoá truyền thuyết dân gian Việt Nam" (Viện văn học) đã nêu lên những đặc trưng nội dung và đặc trưng

nghệ thuật của thể loại truyền thuyết

4.2 Những công trình, bài viết tiêu biểu nghiên cứu về công thức truyền thống trong văn học dân gian và trong truyền thuyết nói riêng

Công thức truyền thống là một đặc trưng của tác phẩm văn học dân gian nói

chung Vì thế, việc nghiên cứu công thức truyền thống trong văn học dân gian

đã được nhiều nhà nghiên cứu khai thác Bùi Mạnh Nhị trong cuốn "Văn học

Trang 8

dân gian những công trình nghiên cứu" (Nxb GD, H.2001) giới thiệu một cách

khái quát về công thức truyền thống; Nguyễn Xuân Kính trong cuốn "Thi pháp

ca dao" (Nxb ĐH quốc gia Hà Nội, 2006) giới thiệu những công thức truyền

thống trong thể loại ca dao; Nguyễn Bích Hà trong cuốn "Giáo trình văn học

dân gian" (Nxb ĐHSP, H.2001) giới thiệu về công thức truyền thống (công thức

kết cấu, công thức miêu tả thời gian) của thể loại truyền thuyết; Nguyễn Thị

Thanh Trâm trong bài giảng "Thi pháp văn học dân gian" (Trường ĐH Vinh) đã

đưa ra cách hiểu khái quát về công thức truyền thống

4.3 Những công trình, bài viết nghiên cứu về công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết

Cao Huy Đỉnh trong cuốn "Người anh hùng làng Gióng" (Nxb KHXH

1969) đã trực tiếp đề cập tới công thức miêu tả cái chết của người anh hùng (motif hoá thân): Thánh Gióng sau khi đánh thắng giặc Ân, cả người lẫn ngựa bay lên trời, đó là các chết được thần thánh hoá, người anh hùng trở thành "bất tử" cùng non sông, đất nước

Nhiều tác giả trong cuốn "Tổng tập văn học dân gian người Việt" (Nxb

KHXH, 2004) thuộc phần Khảo luận đã trực tiếp chỉ ra và phân tích được ý nghĩa một số motif (motif hoá thân, motif hiển linh) trong công thức miêu tả cái chết của người anh hùng của truyền thuyết: Với lý do, không muốn người anh hùng phải chết nên tác giả truyền thuyết đã sử dụng motif hoá thân (người anh hùng khi chết có thể biến thành giao long, đám mây vàng bay về trời ) để chỉ

sự bất tử của người anh hùng Chết tức là mở ra một đời sống mới với cấp độ tinh thần cao hơn (motif hiển linh âm phù)

Tóm lại, đã có rất nhiều công trình, bài viết đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới thể loại truyền thuyết nói chung, tới công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết người Việt nói riêng Tuy nhiên chưa có công trình, bài viết nào đi vào phân tích một cách hệ thống các motif, các công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết người Việt Dù vậy, sự phân tích của các tác giả trong những công trình, bài viết của mình đã khẳng định sự tồn tại và ý nghĩa của công thức miêu tả cái chết của người anh

Trang 9

tiền đề mang tính lý luận, gợi mở cho chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết người Việt

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê

Đây là phương pháp quan trọng, không thể thiếu trong việc nghiên cứu văn

học dân gian nói chung, công thức truyền thống trong truyền thuyết nói riêng Phương pháp này giúp người nghiên cứu có thể đưa ra những số liệu khách quan, làm cơ sở tiền đề quan trọng, chi phối những ý nghĩa, kết luận trong toàn bài viết Ở đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê các truyện có công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong các truyền thuyết của người Việt

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

Đây là phương pháp tiến hành phân tích cụ thể từng motif trong công thức

miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết người Việt, từ đó rút ra

ý nghĩa ẩn chứa đằng sau từng motif và rút ra kết luận chung cho vấn đề mà đề tài nghiên cứu

- Phương pháp so sánh liên ngành

Đây là phương pháp vận dụng tri thức của nhiều lĩnh vực vào nghiên cứu

Cụ thể ở đây chúng tôi đã dùng kiến thức văn hóa học, lịch sử học để soi sáng vấn đề cần nghiên cứu

6 Cấu trúc khóa luận

Để phù hợp với logic khoa học của vấn đề nghiên cứu, ngoài phần mở đầu

và phân kết luận, nội dung chính của luận văn được triển khai trong 3 chương Chương 1: Tổng quan về đề tài và lý thuyết công thức truyền thống

Chương 2: Khảo sát công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết người Việt

Chương 3: Lịch sử và hư cấu trong công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết người Việt

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

VÀ LÝ THUYẾT CÔNG THỨC TRUYỀN THỐNG

1.1 Lý thuyết "Công thức truyền thống" trong văn học dân gian

1.1.1 Khái niệm "Công thức truyền thống"

Công thức truyền thống là những kiểu mẫu diễn đạt đã thành quen thuộc, được sử dụng lặp lại trong nhiều tác phẩm, có tính ước lệ và bền vững, phù hợp với tâm lý, truyền thống văn hóa, thẩm mỹ của dân tộc Công thức truyền thống được thể hiện ở nhiều cấp độ: từ vựng (một từ, nhóm từ, dòng thơ), cấu trúc (công thức mở đầu, kết thúc, motif, biểu tượng .) Trong đó, motif và biểu tượng là những công thức điển hình và quan trọng

Khác với văn học viết, quá trình sáng tác văn học dân gian là sự sáng tạo kết hợp giữa truyền thống và ứng tác, giữa yếu tố bất biến và yếu tố khả biến Công thức Folklore là hình thức biểu hiện trực tiếp của tính truyền thống trong văn học dân gian Đó là sự chọn lọc, kết tinh và điển hình hóa kinh nghiệm văn hóa, xã hội, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng, được hình thành và thử thách trong một thời gian dài Vì thế, công thức folklore ẩn chứa nhiều tầng bậc

ý nghĩa, chiều sâu văn hóa dân tộc được mã hóa trong đó Công thức truyền thống không bất biến khô cứng mà bên cạnh tính bền vững, nó cũng có quá trình hình thành và biến đổi linh hoạt trong những lần sáng tác khác nhau

Tìm hiểu công thức truyền thống nghĩa là nghiên cứu tác phẩm từ góc độ thi pháp cấu trúc tác phẩm Mỗi công thức là một móc xích tham gia cấu tạo tác phẩm Vì thế, việc tìm hiểu công thức truyền thống giúp chúng ta giải mã tác phẩm từ góc độ cấu trúc, từ đó làm rõ chủ đề, ý nghĩa nội dung thể hiện qua hình thức cấu trúc tác phẩm

Việc nghiên cứu công thức truyền thống rất quan trọng, bởi trong tác phẩm, những yếu tố lặp đi lặp lại được xem là những tín hiệu nghệ thuật biểu hiện tập

Trang 11

học dân gian khác nhau, công thức truyền thống biểu hiện ở những cấp độ hình thức khác nhau

Trong các thể loại tự sự dân gian như cổ tích, truyền thuyết, thần thoại thì motif là một trong những công thức truyền thống điển hình và quan trọng cho từng thể loại Vậy thế nào là motif?

Motif là thuật ngữ vay mượn tiếng Pháp Thuật ngữ này đã được nhiều nhà khoa học, nhiều đề tài nghiên cứu đề cập tới Theo A.N Vexelopxki, khái niệm

motif được hiểu là: "những công thức trả lời cho các vấn đề mà giới tự nhiên

đặt ra cho con người từ thủa nguyên sơ, khắp mọi nơi hoặc là những ấn tượng

về hiện thực được đúc kết nổi bật hoặc tỏ ra quan trọng và được lặp đi lặp lại"

[22, tr.133-134]

Theo định nghĩa trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, motif " từ Hán

Việt là mẫu đề (Do người Trung Quốc phiên âm chữ motif của tiếng pháp) có thể chuyển thành các từ khuôn, dạng hoặc kiểu trong tiếng Việt, nhằm chỉ những nhân tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định, bền vững và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật, nhất là trong văn học dân gian" [7, tr.197]

Giáo sư Trần Đình Sử định nghĩa: "Motif là các đơn vị cố định thể hiện

một nội dung nào đó được sử dụng nhiều lần là một hiện tượng phổ biến không chỉ trong văn học dân gian mà cả trong văn học viết" [ 22, tr.134 ]

Như vậy, có thể hiểu motif là đơn vị tham gia cấu tạo cốt truyện, được hình thành ổn định bền vững, xuất hiện lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm như một ấn tượng nghệ thuật, nhằm thể hiện một tư tưởng, một quan niệm nào đó của tác giả Motif có tính bền vững , tính lặp lại, tính quan niệm Song chúng ta cần thấy rằng không phải bất kì yếu tố lặp đi lặp lại nào cũng đều trở thành motif Một yếu tố lặp đi lặp lại để trở thành motif phải có cái gì đó khắc sâu, gây

ấn tượng làm cho người ta nhớ đến, nghĩa là chúng phải có giá trị nghệ thuật nào

đó, có hiệu quả thẩm mỹ nhất định nhằm truyền tải những nội dung tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm

Trang 12

1.1.2 Công thức truyền thống trong thể loại truyền thuyết

Công thức truyền thống được xem là đơn vị tế bào cơ bản phản ánh tập trung bản chất, đặc trưng mĩ học folklore trong truyền thuyết Công thức truyền thống trong truyền thuyết thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau

Trong cấu trúc truyền thuyết có một số công thức truyền thống cơ bản như sau: Công thức cốt truyện: Trong truyền thuyết cốt truyện thường được kết cấu

ba phần, ở mỗi phần đều có sử dụng các motif

- Phần 1: Hoàn cảnh xuất hiện và đặc điểm của nhân vật chính Trong phần này sử dung motif sự sinh nở thần kì như sự kết hợp giữa bà mẹ với tự nhiên

(Thánh Gióng, Sự tích Đà công thời Hùng Vương…), bà mẹ với con vật lạ (Truyện Tản Viên Sơn Thánh, Sự tích Trâu Á, Trâu Thành thời Hùng Vương…)

- Phần 2: Hành trạng và chiến công của nhân vật (motif về hành động phi thường)

- Phần 3: Kết thúc sự nghiệp nhân vật và sự đánh giá của nhân dân (motif hoá thân, motif hiển linh, motif vinh phong )

Công thức mở đầu: Truyền thuyết thường được mở đầu với sự lặp đi lặp lại những cụm từ nói về xuất xứ của câu chuyện được kể Các cụm từ như: "Theo

sự tích, Tục truyền rằng, Tương truyền, Huyền tích kể rằng, Theo sự tích…" Công thức kết thúc: Truyền thuyết kết thúc khi nhân vật kết thúc sự nghiệp của mình Sử dụng các motif: hoá thân, hiển linh, vinh phong…

Công thức miêu tả thời gian: Trong truyền thuyết tác giả dân gian luôn cố gắng định vị cho câu chuyện một thời gian xác định, đó là thời gian quá khứ - xác định, thường gắn với một thời đại, một giai đoạn lịch sử hoặc những mốc thời gian cụ thể: "Thời đại Hùng vương, Thời đại An Dương Vương…"

Công thức miêu tả không gian: Không gian trong truyền thuyết là không gian lịch sử có tính xác định, cụ thể, định vị bởi các địa danh cụ thể, xác thực, các chứng tích lịch sử - văn hoá (địa danh, đền thờ, phong tục, lễ hội) Chẳng hạn, Truyện Thánh Gióng: địa bàn vùng Trung Châu từ làng Kẻ Đổng đến núi

Trang 13

Sóc Sơn và hàng loạt dấu tích: "Làng Cháy, 99 ao chuôm vây quanh làng, cồn Phò Lò, cồn Cây táo "

Tìm hiểu công thức truyền thống ở thể loại truyền thuyết nghĩa là nghiên cứu truyền thuyết từ góc độ thi pháp cấu trúc truyền thuyết, mỗi công thức là một móc xích tham gia cấu tạo tác phẩm truyền thuyết Trong đó, motif là một trong những công thức truyền thống điển hình và quan trọng của thể loại truyền thuyết

Khi miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết của người Việt, tác giả dân gian đã sử dụng nhiều motif, công thức khác nhau: motif hóa thân, motif tử trận, motif "mối đùn thành mộ", motif tự vẫn

Những motif, công thức được sử dụng lặp lại ở nhiều truyền thuyết khác nhau trở thành những kiểu mẫu diễn đạt ổn định, điển hình, có thể khái quát thành quy luật sáng tạo và quan niệm thẩm mĩ của thể loại Thông qua những motif này ta thấy được bản chất, đặc trưng của thể loại truyền thuyết cũng như thấy rõ được những dụng ý của tác giả dân gian khi miêu tả cái chết của người anh hùng dân tộc

Tìm hiểu công thức truyền thống giúp chúng ta giải mã được tác phẩm truyền thuyết nói chung, hình tượng nhân vật người anh hùng nói riêng từ góc

độ thi pháp thể loại

1.2 Truyền thuyết và nhân vật người anh hùng trong truyền thuyết

1.2.1 Khái niệm truyền thuyết

Trên thế giới, khoa học về truyền thuyết dân gian hay gọi tắt là truyền thuyết học, vốn là một thuật ngữ khoa học được dịch từ tiếng Đức: Folksagenkunde

Volk có nghĩa dân gian, sagen có nghĩa là truyền thuyết, kunde có nghĩa là môn khoa học Đây là một thuật ngữ đã khá thông dụng trong Folklore học quốc

tế thời cận đại Tương đương với từ "sage" trong tiếng Đức, tiếng Anh có legend

và tiếng Pháp có legenda Truyền thuyết tuy là từ gốc Hán nhưng không phải là

thuật ngữ có từ xa xưa ở Trung Quốc, theo giới Folklore Trung Quốc cho biết

thì đây cũng chỉ là một danh từ được chuyển dịch từ thuật ngữ sage kể trên

Trang 14

Dựa trên những điều có thật trong lịch sử, người dân tô điểm thêm những tình tiết có tính huyền thoại như các nhân vật là thần thánh, yêu quái làm cho câu chuyện thêm phần hấp dẫn và dễ lưu truyền trong dân gian từ thế hệ này sang thế hệ khác Trước khi truyền thuyết được sưu tầm và ghi lại bằng văn tự,

nó là một thể loại của văn học truyền miệng

Ở Việt Nam, có lẽ Đào Duy Anh là người sớm sử dụng từ truyền thuyết khi

ông viết về vấn đề: "Những truyền thuyết đời thượng cổ nước ta" trên tạp chí Tri

tân (số 30, tháng 1 năm 1942): "Sách xưa của người Trung Quốc không chép việc Triệu Đà đánh An Dương Vương để chiếm Tượng Quận, nhưng cứ truyền thuyết ấy, nếu ta bỏ đi những yếu tố hoang đường thì cũng còn lại cái kỉ niệm của một cuộc chiến tranh hẳn có"

Đến những năm 50 của thế kỷ 20, thuật ngữ truyền thuyết đã được sử dụng

nhiều hơn Các tác giả nhóm Lê Quý Đôn trong công trình Lược thảo lịch sử văn

học Việt Nam, khi xác định ranh giới giữa thần thoại với truyền thuyết, đã bước

đầu định nghĩa truyền thuyết như sau: "Truyền thuyết là tất cả những truyện lưu

hành trong dân gian có thật xảy ra hay không thì không có gì đảm bảo Như vậy

có những truyền thuyết lịch sử, mà cũng có những truyền thuyết khác, hoặc dính dáng về một đặc điểm địa lý, hoặc kể lại gốc tích một sự vật gì, hoặc giải thích những phong tục tập quán, hoặc nói về sự tích các nghề nghiệp, và tất cả những chuyện kì lạ khác" [Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, Nxb Xây dựng, Hà

Nội, 1957, tr 60]

Theo các tác giả trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, "Truyền thuyết là

một thể loại truyện dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải các nhân vật, sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng đối với một thời kì, một bộ tộc, một dân tộc, một quốc gia hay một địa phương" [7, tr 367]

Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (Nxb KHXH, H.2001), Nguyễn Bích Hà cho rằng: "Truyền thuyết là truyện kể về những nhân vật và sự kiện hư cấu

hay xác thực, có liên quan và ảnh hưởng tới lịch sử của dân tộc hay giai cấp, qua

Trang 15

Từ những định nghĩa về truyền thuyết nêu trên, có thể khẳng định: Truyền thuyết là thể loại thuộc loại hình tự sự bằng văn xuôi (thuộc dòng tự sự lịch sử),

kể lại các sự kiện và nhân vật lịch sử hoặc có liên quan đến lịch sử địa phương, dân tộc, thường dùng yếu tố tưởng tượng để lý tưởng hóa các sự kiện và nhân vật được kể, nhằm thể hiện ý thức lịch sử và thái độ tình cảm của nhân dân

Do tính chất gắn bó với lịch sử nên một số nhà nghiên cứu coi truyền thuyết là dã sử (lịch sử truyền miệng, lịch sử không chính thức) Vì vậy, họ không coi truyền thuyết là một khái niệm thuộc phạm trù văn học dân gian Nhưng hiện nay hầu hết các nhà nghiên cứu thống nhất quan niệm coi truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự của văn học dân gian

Xác định truyền thuyết là một thể loại tự sự dân gian, bởi truyền thuyết ngoài chức năng nhận thức, chức năng giáo dục còn có chức năng thẩm mỹ, một đặc trưng quan trọng của các loại hình nghệ thuật

Với đặc trưng của thể loại, truyền thuyết phản ánh lịch sử theo cách nhìn của dân gian Cụ thể, đó là cách nhìn, sự đánh giá về hình tượng người anh hùng, về các sự kiện lịch sử của tác giả dân gian Thông qua cái nhìn đó, tác giả hướng tới mục đích giáo dục ý thức lịch sử, ý thức cộng đồng và lòng tự hào, tự tôn dân tộc, giáo dục con cháu ý thức về nguồn gốc và truyền thống cao đẹp của dân tộc, lòng biết ơn đối với các thế hệ cha ông, bồi dưỡng tinh thần yêu nước trong mỗi người dân

Với chức năng thẩm mỹ, truyền thuyết thể hiện thái độ đánh giá và khát vọng, tình cảm của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử thông qua trí tưởng tượng và hư cấu nghệ thuật Ngoài cái lõi lịch sử, truyền thuyết xây dựng những hình tượng nghệ thuật đẹp đẽ, lý tưởng về những anh hùng tài năng của dân tộc Yếu tố hoang đường, kỳ ảo khi miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết đã tạo nên sự hấp dẫn cho thể loại

Đặc trưng chính của truyền thuyết đó là phản ánh lịch sử một cách độc đáo

Có thể nói, những sự kiện lịch sử rộng lớn, trọng đại, có liên quan đến làng, đến nước, có tính chất khái quát một thời đại hoặc những biến động lớn, sâu sắc

Trang 16

trong lịch sử dân tộc chính là những vấn đề truyền thuyết quan tâm Sự gắn bó với lịch sử không chỉ thể hiện ở nội dung mà còn chi phối quan niệm nghệ thuật

và nguyên tắc sáng tạo trong truyền thuyết Người kể truyền thuyết luôn cố gắng làm cho người nghe tin có tính chất xác thực của câu chuyện Cảm quan lịch sử khiến truyền thuyết có xu hướng lịch sử hóa, nhân danh hóa mọi nhân vật và sự kiện, dù không phải bao giờ nhân vật và sự kiện trong truyền thuyết cũng là lịch

sử đích thực Điều này chi phối nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức cốt truyện

và không gian, thời gian nghệ thuật trong truyền thuyết Sự gắn bó với lịch sử hay nói cách khác, cái lõi sự thật lịch sử và ý thức về lịch sử dân tộc của nhân dân đã tạo nên đặc trưng nghệ thuật của thể loại truyền thuyết

Truyền thuyết phản ánh lịch sử, nhưng sự phản ánh của truyền thuyết khác với sử học Nếu sử học ghi chép lịch sử một cách chính xác và khách quan thì lịch sử trong truyền thuyết được khúc xạ qua sự lựa chọn và sáng tạo của tác giả dân gian, mang trong đó yếu tố hư cấu, hoang đường

Khi miêu tả cái chết của người anh hùng, tác giả dân gian đã vận dụng đặc trưng trên của thể loại Các motif trong công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết có sự đan xen, hoà quyện, không tách rời giữa cảm hứng lịch sử và yếu tố hư cấu, hoang đường và ẩn đằng sau chính là quan niệm của tác giả dân gian về cái chết của những nhân vật anh hùng Đó có thể là những con người có thực trong lịch sử: Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Đinh Tiên Hoàng, Lê Lợi hay những nhân vật anh hùng do trí tưởng tượng của tác giả dân gian sáng tạo: Trần Giới, Trần Hà; Năm anh em làng Na; các nàng chim Thước… Tuy nhiên dù có thực hay là sự sáng tạo khi miêu tả cái chết của người anh hùng, đằng sau yếu tố hoang đường, kì lạ ấy là cái lõi sự thật lịch sử ẩn chứa bên trong Điều này thể hiện tập trung và rõ nét thông qua các motif (motif hoá thân, motif tử trận, motif tuẫn tiết, motif thiên táng,…) trong công thức miêu tả cái chết của người anh hùng

Một đặc trưng nữa mà chúng ta cần phải đề cập của thể loại truyền thuyết:

Trang 17

dân gian khác, nhân vật và các sự kiện trong truyền thuyết không chỉ sống trong

truyện kể mà còn hiện diện trong tín ngưỡng, phong tục, nghi lễ thờ cúng

Trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người anh hùng trở thành thần thánh, Thành

Hoàng làng, thần thiêng của một vùng, tổ sư của một nghề nào đó Sự tích và

nghi lễ thờ cúng anh hùng được lưu giữ trong các đình, đền, quán, các di tích

lịch sử và danh lam thắng cảnh có mặt khắp nơi trên đất nước Việt Nam Truyền thuyết và lễ hội có quan hệ gắn bó hai chiều Truyền thuyết là lời minh

giải, là linh hồn của các hình thức nghi lễ, lễ hội và ngược lại, các hình thức sinh

hoạt văn hóa đó là minh chứng cho tính chất thực tại lịch sử của truyền thuyết làm cho diễn xướng truyền thuyết trở nên sinh động hơn

Như vậy, những đặc trưng của thể loại truyền thuyết được thể hiện một

cách tập trung, đầy đủ trong việc miêu tả nhân vật, chi phối cách miêu tả, lựa

chọn các công thức miêu tả Đặc trưng của thể loại truyền thuyết đã được thể

hiện trong công thức miêu tả cái chết của người anh hùng

1.2.2 Nhân vật người anh hùng trong truyền thuyết

Nhân vật là hình thức cơ bản để biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con

người trong tác phẩm Vì thế, việc phân tích hình tượng nhân vật và cách miêu

tả nhân vật rất có ý nghĩa

Nếu nhân vật chính trong thần thoại là thần - sự kì vĩ hóa và nhân hóa hết

sức tự nhiên thì nhân vật chính trong truyền thuyết là những con người trong

mối quan hệ lịch sử (cá nhân với cộng đồng, cộng đồng với cộng đồng) Đó là

những con người phi thường mang tầm vóc lịch sử, những đại diện xuất sắc cho

sức mạnh và trí tuệ của cộng đồng Đó có thể là những thủ lĩnh tài ba của bộ lạc,

những người anh hùng của dân tộc, những vị tổ sư sáng lập ra nghề nghiệp, danh

nhân văn hóa

Từ đặc trưng của thể loại truyền thuyết, chúng ta có thể khẳng định nhân vật

chính mà truyền thuyết hướng tới miêu tả đó là nhân vật người anh hùng Trong

mỗi thời kì quan niệm nhân vật người anh hùng lại được tác giả dân gian thể

Trang 18

hiện khác nhau Mỗi loại nhân vật được sử dụng những biện pháp nghệ thuật khác nhau để xây dựng hình tượng

Nhóm nhân vật anh hùng của truyền thuyết thời Văn Lang - Âu Lạc mang đậm màu sắc thần thoại Họ là những anh hùng bộ tộc được nhào nặn, thần thánh hóa qua trí tưởng tượng bay bổng của nhân dân mà trở thành thần thánh với những hình tượng nghệ thuật như Thánh Gióng, Sơn Tinh, Cao Lỗ, An Dương Vương Nhóm nhân vật anh hùng của truyền thuyết thời Bắc Thuộc đã gần hiện thực hơn Nhân vật anh hùng là những nhân vật lịch sử được hình tượng hóa và mĩ hóa Hai Bà Trưng cưỡi Hạc về trời, Triệu Việt Vương hiển linh Nghệ thuật bất tử hóa đó khiến nhân vật vẫn là nhân vật lịch sử nhưng lung linh màu sắc huyền thoại và ngưng đọng trong đó niềm ngưỡng mộ của nhân dân Đến nhóm nhân vật anh hùng truyền thuyết thời kì tự chủ cũng là những nhân vật lịch sử được hình tượng hoá và mĩ hóa Quan niệm thẩm mĩ mang màu sắc huyền thoại đã nhạt dần nên người anh hùng được xây dựng gần hiện thực hơn Tuy vậy giữa nhân vật truyền thuyết và nhân vật lịch sử vẫn có một khoảng cách, đó là khoảng cách do hư cấu tưởng tượng tung hoành Những

hư cấu ấy chủ yếu mang mục đích đề cao nhân vật, dựng tượng đài người anh hùng nhằm thể hiện lòng kính yêu và ngưỡng mộ của nhân dân

Lê Trường Phát trong cuốn "Thi pháp văn học dân gian" [15] quan niệm về

nhân vật anh hùng trong truyền thuyết bao gồm:

- Người anh hùng dân tộc

- Người anh hùng nhân dân

Tác giả Kiều Thu Hoạch trong cuốn "Truyền thuyết anh hùng dân tộc trong

loại hình tự sự dân gian Việt Nam" [10], phân chia người anh hùng trong truyền

thuyết bao gồm:

- Người anh hùng chống xâm lược

- Người anh hùng sáng tạo văn hoá

- Người anh hùng tôn giáo

Trang 19

Nhóm tác giả trong cuốn "Tổng tập văn học dân gian người Việt" [16, tr.35]

cho rằng: Trong truyền thuyết về nhân vật, bao gồm những nhân vật anh hùng sau:

- Anh hùng chống ngoại xâm

- Anh hùng văn hóa

- Anh hùng nông dân

Như vậy, đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về người anh hùng trong truyền thuyết Dựa trên những quan niệm này khi tiến hành thực hiện đề tài công thức miêu tả cái chết của người anh hùng, chúng tôi đưa ra quan niệm về người anh hùng gồm ba loại sau:

- Người anh hùng chống ngoại xâm: Nhân vật Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi

- Người anh hùng văn hóa (những anh hùng sáng tạo văn hóa, tổ sư các ngành nghề, danh nhân văn hóa): Lư Cao Sơn tổ sư nghề rèn, Chu Văn An

- Nhân vật anh hùng nông dân khởi nghĩa chống lại giai cấp phong kiến bạo ngược, đấu tranh vì quyền dân chủ của nhân dân: Quận He, Ba Vành, Thằng Lía, Bà Ba Cai Vàng

Với sự phân chia trên thì chúng ta có thể hiểu nhân vật anh hùng là nhân vật - con người có công lao, đóng góp đối với cộng đồng, với lịch sử của địa phương, dân tộc Nhân vật anh hùng trong truyền thuyết có thể là những nhân vật có thật trong lịch sử của dân tộc (Truyện Đinh Tiên Hoàng; Lý Thái Tổ; Phạm Ngũ Lão ) hoặc cũng có thể là những nhân vât hư cấu do nhân dân sáng tạo như: Trần Giới, Trần Hà; Sự tích Thiên Đá và Đường Lô đánh giặc Ân; Sự tích Lữ Gia

Truyền thuyết hướng tới miêu tả người anh hùng theo công thức cốt truyện: miêu tả hoàn cảnh ra đời, xuất thân, những đặc điểm ngoại hình, tài năng, những hành động anh hùng xuất chúng đóng góp cho cộng đồng, cái chết của người anh hùng Trong đó, cái chết của người anh hùng là một yếu tố được tác giả dân gian quan tâm và chú ý tô đậm

Trang 20

Ứng với quan niệm về nhân vật người anh hùng ở trên thì trong công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết của người Việt, chúng tôi sẽ nghiên cứu trong phạm vi, quan niệm về người anh hùng như trên Đề tài này tìm hiểu những công thức miêu tả đó và việc phân tích cụ thể sẽ được làm rõ trong các chương 2 và chương 3

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Ở chương 1, chúng tôi đã tiến hành giới thuyết chung về một số khái niệm: công thức truyền thống trong văn học dân gian nói chung và truyền thuyết nói riêng, truyền thuyết, đặc trưng của truyền thuyết, nhân vật anh hùng trong truyền thuyết làm cơ sở lí luận của việc nghiên cứu đề tài

Việc tìm hiểu những quan niệm về nhân vật người anh hùng trong truyền thuyết làm cơ sở quan trọng để từ đó đưa ra cách hiểu cũng như quan niệm về nhân vật người anh hùng Ứng với quan niệm nhân vật anh hùng có những loại nào thì khi miêu tả cái chết của người anh hùng cũng nằm trong giới hạn này Trên đây là công việc rất quan trọng, không thể thiếu giúp chúng tôi định hướng được phạm vi nghiên cứu cho đề tài

Trang 21

CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CÔNG THỨC MIÊU TẢ CÁI CHẾT CỦA NGƯỜI ANH HÙNG TRONG TRUYỀN THUYẾT NGƯỜI VIỆT

2.1 Thống kê công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết người Việt

Sau khi khảo sát truyền thuyết của người Việt được biên soạn trong cuốn

Tổng tập văn học dân gian người Việt [16,17], chúng tôi thống kê được 202

truyện sử dụng công thức miêu tả cái chết của người anh hùng

Ở công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết người Việt, tác giả dân gian đã sử dụng nhiều motif khác nhau Các motif được sử dụng trong công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết người Việt là:

- Motif hóa thân (82 truyện, chiếm 40.6 %)

- Motif người anh hùng tử trận (24 truyện, chiếm 11,9 %)

- Motif người anh hùng tự vẫn (tuẫn tiết ) (39 truyện, chiếm 18,8 %)

- Motif người anh hùng bị chặt đầu - lắp đầu lại (4 truyện, chiếm 2 %)

- Motif thiên táng - "mối đùn thành mộ" (12 truyện, chiếm 5,9 %)

- Motif hiển linh, âm phù

- Motif vinh phong

Ngoài những motif có tần số cao nói trên, truyền thuyết còn sử dụng công thức miêu tả cái chết người anh hùng đẫm tính hịên thực: người anh hùng khi về già rồi mất hoặc do những lý do khác (37 truyện, 18,8 %)

Trên đây là một số motif cơ bản khi miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết mà theo định nghĩa của Vêxêlopski "là những công thức nguyên sơ", "những đơn vị trần thuật bằng hình tượng", "những khái quát sơ khởi bằng hình tượng" để giải đáp những câu hỏi mà tự nhiên và đời sống xã hội đặt ra cho con người Những motif này có khả năng biến hóa, khả năng nhào nặn

và phổ biến trong truyền thuyết như những công thức thể loại Tuy nhiên phải

Trang 22

thấy rằng, đây không phải là những yếu tố cố định của cốt truyện, chúng hoạt động khá tự do, được sử dụng tùy theo từng câu chuyện, từng người kể Vì thế,

ở nhiều truyện motif không giữ nguyên dạng mà có thể biến dạng khác nhau Sự lựa chọn những motif hoặc những biến thể của motif khi miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết khác nhau đã làm nên tính đa dạng, linh động của thể loại truyền thuyết mà qua mỗi thời đại với những nhận thức, những cách kể khác nhau, công thức miêu tả cái chết của người anh hùng ngày càng được bồi đắp, phong phú và đa dạng hơn

Công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết thường xuất hiện ở cuối truyện, thuộc phần kết của truyện sau khi người anh hùng hoàn thành sứ mệnh lịch sử hoặc sau khi người anh hùng đã thực hiện một số công trạng đối với địa phương, đối với dân tộc

Khi miêu tả cái chết của người anh hùng tác giả truyền thuyết đã sử dụng linh hoạt các motif, qua đó thấy được sự quan sát, trí tưởng tượng của tác giả dân gian rất phong phú, đa dạng Từ đó thấy được mối quan hệ giữa người anh hùng với cộng đồng, với dân tộc Việc miêu tả cái chết của mỗi nhân vật người anh hùng không theo một công thức cố định bất biến mà nhiều khi, ở mỗi bảng

kể lại sử dụng một cách kể, một motif khác nhau Để tiện cho việc trình bày, trong phần phân tích các motif cụ thể, chúng tôi sẽ lập bảng thống kê hoặc lập danh mục các truyện kể sử dụng các motif miêu tả cái chết của người anh hùng

2.2 Các motif trong công thức miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết người Việt

2.1.1 Motif hóa thân

Sau khi khảo sát truyền thuyết của người Việt được thống kê, biên soạn

trong cuốn Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 4, 5 [16] chúng tôi thống

kê được 82/202 truyện có motif hóa thân Motif hóa thân trong công thức miêu

tả cái chết của nhân vật người anh hùng có thể xuất hiện ở cuối truyện hoặc giữa truyện

Trang 23

Bảng thống kê motif hoá thân trong công thức miêu tả cái chết của người

anh hùng trong truyền thuyết người Việt

1 Sự tích sáu vị thần tướng thời

Hùng Duệ Vương đánh giặc

Nam Chiếu và giặc Thục

Đại vương cưỡi mây lên trời mà biến

2 Truyện Trung Đinh công thời

Hùng Vương

Bỗng nhiên xuất hiện đám mây vàng thấy ông bay ra khỏi giữa dòng Nguyệt Giang mà biến mất

3 Sự tích Nam Hải Tạo Lực đại

vương

Bỗng thấy trời đất tối đen mịt mù, ông thấy con rắn dài hơn thước rẽ nước

mở đường mà tự hoá

4 Sự tích Cái số đại vương và Lôi

công đại vương thời Hùng

6 Sự tích Mang công, Mỹ công,

Lộ công thời Hùng Vương

Trời đất u ám, ba vị bỗng nhiên "hoá"

7 Sự tích Thổ Thống và Nại

nương thời Hùng Vương

Thổ Thống biến thành con rắn to dài hơn mười trượng nhảy xuống vực

8 Sự tích Cao Sơn, Quý Minh Trời nổi cơn mưa gió, có một đám

mây sa xuống dinh ngài, rồi ngài hoá

9 Sự tích Nại nương và các gia

thần thời Hùng Vương

Nằm mộng thấy Đức Thánh đem quân đón Đức Bà về trời, bà chợt tỉnh, trời đất tối tăm, tự nhiên Đức Bà hoá

Trang 24

Hai ông Hiếu, Lương bỗng nhiên hoá còn ông Thành khi con rồng vàng tự trong người ông bay vút lên trên không, ông liền hoá

12 Trần Giới, Trần Hà Cả hai lặn xuống sông không thấy trở

lại

13 Sự tích Minh Lang, Sát Hải,

Quế Hoa, Quỳnh Hoa, Mai Hoa

thời Hùng Vương

Hai vị đại vương cùng với ba vị phu nhân đã xuống thuyền rồng về thuỷ quốc

14 Sự tích hai anh em Thiện -

Quang thời Hùng Vương

Hai ông hoá làm hai con giao long xuống sông

15 Sự tích Hùng Hải, Đỗ Huy thời

Hùng Vương

Con rồng vàng bay ra từ tướng quân Hùng Hải, trong giây lát tướng quân hoá

Một ngôi sao từ trong mình tướng quân bay ra, chốc lát Đỗ tướng quân hoá

16 Sự tích Đà công thời Hùng

Vương

Biến thành con rắn dài hơn mười trượng xuống sông đi mất

17 Sự tích bảy anh em Lương, Hải,

Long,Lôi, Sơn, Nhạc, Lĩnh, thời

Hùng Vương

Tự nhiên có con rồng vàng từ trong mình Vĩnh công bay ra, Vĩnh công liền hoá

Bỗng có con hổ trong mình Nhạc công và Lĩnh công, hai ông liền hoá

Trang 25

18 Sự tích Thành công, Mang

công, Vĩnh công, Mộc công và

Lại công thời Hùng Vương

Bỗng có hai con hổ từ trong mình hai ông nhảy ra, Mộc công và Lại công liền hoá

19 Sự tích Anh công, Dực công

thời Hùng vương

Bỗng có hai con rồng từ hai chiếc thuyền bay lên trời biến mất Hai ông đều hoá

20 Sự tích Câu Mang thời Hùng

Vương

Câu Mang hoá thành con rắn dài hơn

20 trượng, xuống nước biến mất

21 Sự tích Dương công và Nguyệt

Tinh công chúa thời Hùng

Vương

Bỗng nhiên hai vị đều hoá

22 Sự tích Đào An, Đào Ý thời

Hùng Vương

Hai ông bay theo đám mây rồi biến mất

23 Sự tích Linh công, Thuỷ công,

Đài công thời Hùng Vương

Ba vị trở về thuỷ cung cùng thân mẫu

24 Sự tích Thần Thông, Cương

Nghị, Hùng cường thời Hùng

Vương

Ba con hổ xám từ trong mình ba vị nhảy ra và bay thẳng lên trời, ba vị liền hoá

25 Sự tích Đức Thiên Cang thờ

Hùng Vương

Đức Thiên Cang tự nhiên biến hoá

26 Sự tích Cao Sĩ đời Hùng Vương Bỗng trời đất u ám, sấm sét ầm ầm, ở

trên đầu có đám mây vàng che phủ, một lát thì ngài hoá

27 Sự tích Nhạc Sơn cư sĩ thời

Tự nhiên ngài bay lên không

29 Sự tích Niệm Hưng đánh Thục Ngài theo đám mây mà biến mất

Trang 26

30 Truyện Đổng Thiên Vương Cả người lẫn ngựa bay lên trời

31 Sự tích Thiên Đá và Đường Lô

đánh giặc Ân

Hai vị bay về trời

32 Anh em làng Hà Đến núi Độc thì biến mất

33 Năm anh em làng Na Mọi người đang vui vẻ, bỗng cầu vồng

năm sắc hiện xuống đưa năm ông về trời

34 Đền Xóm Thọ Ba anh em hoá kiếp ở cây Bồ Đề

35 Sự tích Chiêm Thành Cửa Ải

đại vương

Dải cầu vồng đưa ông về trời

36 Truyện An Dương Vương An Dương Vương cầm sừng tê bảy

tấc, rùa vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống bể

37 Thục An Dương Vương với đất

Đám mây vàng đưa ngài về trời

39 Sự tích Doãn công dẹp giặc Tô

Định

Ngôi sao to trong người Doãn công bay lên, ngài hoá

40 Sự tích Học công, Nga nương,

Hồng nương thời Hai Bà Trưng

Đám mây đỏ rơi xuống đón các vị

41 Sự tích Phương Dung công

chúa thời vua Trưng

Đức Thái Bà cưỡi xe theo mây lên không mà đi

42 Sự tích Phạm Đống Ngài hoá, để lại mũ áo

43 Truyện tam vị thiên thần thời

Trưng Vương

Tam công liền cưỡi ngựa cùng mây bay lên không trung

44 Sự tích Thiều Hoa công chúa Cơn dông phát ra dữ dội, tự nhiên bà thác

45 Đinh Thị Phật Nguyệt Bỗng dưng có phù kiều nổi lên đón

nàng

Trang 27

46 Ba vị thần ở Tam Bảo Châu Trời nổi phong ba, một đám mây vàng

sà xuống và hai người cùng hoá

xuống đón cả hai người

48 Sự tích Nguyễn Công Bảo giúp

Triệu Việt Vương đánh giặc

Lương

Ngài thấy tự nhiên chuyển động, mây

u ám mù mịt rồi ngài tự hoá

49 Sự tích Nam Hải đại vương và

Đông Hải đại vương Nguyễn

Phục

Biến thành con rắn xanh, rẽ nước mà

tự hoá

50 Sự tích Trình An Tể thời Đinh Ngài thấy tự trong mình hiện ra một

con rồng trắng bay thẳng lên trời, rồi ngài vô bệnh mà hoá

51 Sự tích Đô công, Chất công,

Đinh công thời Đinh Tiên

Hoàng

Quay về thuỷ giới

52 Sự tích Đô Quan thời Tiền Lê Đô công bay theo dải mây mà hoá

53 Sự tích bốn anh em cùng một bọc

có công giúp vua Lê Đại Hành

Bốn vị từ biệt nhân dân rồi bay lên không trung mà biến hoá

55 Nhã Lang và Đình Chu Chàng Nhã Lang xong việc bay về trời

56 Quế nương và Dung nương Bay về trời

57 Truyện Cao Sơn đại vương thời

Cao Sơn bay lên Từ Lầu thành mà biến mất

58 Sự tích Minh Chu đại vương và

Minh Khiết đại vương

Tự nhiên trời đất tối tăm, gió mưa mù mịt, cả hai vị đều hoá

59 Sự tích hai anh em Phạm

Quang, Phạm Huy thời Lý

Trời đất mù tối, hai ngài đều hoá

Trang 28

60 Truyện bốn anh em cùng một

bọc có công chống ngoại xâm

thời Lý Thánh Tông

Bốn vị bay lên trời mà hoá

61 Sự tích Trần Hưng Đạo Gió mưa mù mịt, sấm sét vang lừng,

Ngài được triệu về trời

64 Sự tích Đức Thánh Ông Ngày 12 tháng 1 năm Đinh Hợi, Mã

Giám Hoa hoá thân, hồn phách nhập vào miếu

65 Truyện Bảng công và Hải công

đời Trần

Bỗng nhiên trời đất tối om, dưới núi

hổ báo kéo tới, dưới biển muôn vật kéo tới…Nhị vị đều hoá trong cảnh tượng đó

66 Sự tích Quý Minh thời Trần Bà Quý Minh chợt thấy thân mình bay

lên lầu rồi biến hoá mất

67 Sự tích Linh Thông Hoà

Thương đời Trần

Đám mây vàng đón Ngài đi

68 Sự tích công chúa Lê Ngọc Bái

con gái Lê Lợi

Chợt thấy một ông cụ già áo mũ chỉnh

tề đến đón nàng về giời

69 Truyện nàng chim Thước Cả bảy anh em hoá kiếp trở lại thành

đàn chim Thước

70 Sự tích Hạc Lai và Vũ Cố giúp

Lê Lợi đánh giặc Minh

Chỗ Lã công ngồi có một chim Hoàng Hạc bay, kêu ba tiếng rồi bay lên trời, lúc đó Ngài cũng hoá

Vũ công bay về trời

Trang 29

71 Sự tích Ngọc Côn và Thuấn

Nghị đời Lê Thái Tổ

Hai ngài bay vào đám mây rồi biến mất

72 Truyện Phúc công thời Lê Phúc công tự biết mệnh mình, nằm

ngay ở nhà mà hoá

73 Sự tích Đô Lâm đại vương Khi mãn tiệc bỗng thấy nhị vị vương

bảo: tướng quân đã mãn hạn với thiên đình và ngài hoá

74 Sự tích Hoàng Việt đại vương -

Đông Bảng đaị vương thời Lê

Con rồng vàng bò ở chỗ ngài ngự đi

ra, biến mất, thế là ngài hoá

75 Chàng Út Soi Mồ hôi Út Soi chảy ra tầm tả…còn Út

Soi thì tan hết cả người vào bãi bồi bên sông bón cho rau màu tươi tốt

76 Nhà sư chùa An Ninh với vị

tướng quân

Trời đổ mưa sầm sập, mọi người quay lại nhìn Nguyễn tướng quân thì kỳ lạ thay ông vừa thăng thiên

77 Sự tích các thần ở đền Cao Một hôm trời nỗi sấm sét giông tố,

năm anh em đã hoá thân về trời

78 Ông Đổng Đông Khê và sự tích

giếng lăn

Ông bay lên trời, không để lại dấu vết

79 Bà Áo The Đất nước thanh bình, cô gái cũng về trời

80 Nàng Vú Thúng Thất trận nàng phi ngựa về phía làng

Đùng, đôi vú sưng tấy lên, đau đớn dữ dội Nàng gục xuống chết hoá thành một dãy núi lớn

Trang 30

Motif hóa thân chiếm tỉ lệ lớn nhất (40,6 %) trong công thức miêu tả cái chết của người anh hùng Trong cùng một truyện có khi một motif, một công thức miêu tả được sử dụng cho nhiều nhân vật Nhưng có khi cùng một nhân vật

với những bản kể khác nhau lại sử dụng những công thức miêu tả khác nhau

Motif hóa thân thường xuất hiện nhiều ở những truyền thuyết kể về người anh hùng chống giặc ngoại xâm (đặc biệt truyền thuyết thời Hùng Vương) Lịch

sử Việt Nam là lịch sử chống giặc ngoại xâm Chính trong hoàn cảnh lịch sử đó, nhiều nhân vật anh hùng đã xuất hiện góp sức mình trong sự nghiệp dựng nước

và giữ nước Những người anh hùng với sức mạnh phi thường, tinh thần chiến đấu dũng mãnh đã đóng góp cho dân tộc những công trạng to lớn mà chỉ thần thánh mới có thể làm được và khi "chết" đi những người anh hùng đó cũng đã trở thành "thần", "bất tử" cùng non sông Hình ảnh nhân vật anh hùng Thánh Gióng: cậu bé làng Gióng lên ba tuổi vẫn không biết nói, biết cười, nhưng khi nghe tin sứ giả tìm người hiền tài đánh giặc Ân xâm lược, cậu bé bỗng cất tiếng nói, yêu cầu sứ giả về tâu với nhà vua sắm vũ khí để cậu ra trận và từ đó cậu lớn nhanh như thổi Ngày ra trận, đánh giặc gãy gậy sắt rồi, người dũng sĩ khổng lồ

ấy lại nhổ từng bụi tre ngà mà quật tiếp vào đầu giặc cho tới khi toàn thắng Đi đến đất Sóc Sơn huyện Kim Hoa, thiên tướng cởi áo cưỡi ngựa mà bay lên trời Hình ảnh người anh hùng làng Gióng, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, sứ mệnh lịch sử thì người anh hùng này đã ra đi, trở thành thần nhà trời để tiếp tục phù hộ cho nhân dân Vì thế, người anh hùng này trở thành một trong " tứ bất tử" được nhân dân nhiều nơi lập đền thờ thờ cúng Anh hùng làng Gióng nói chung, cái chết hoá thân nói riêng đã trở thành một trong những biểu tượng tuyệt vời thể hiện tinh thần yêu nước và chống giặc ngoại xâm của nhân dân Việt Nam ngay

từ buổi đầu dựng nước và giữ nước Đó chính là ý chí quyết chiến quyết thắng

và tinh thần quật cường, mạnh mẽ của nhân dân ta

Khi sáng tạo hình tượng nhân vật truyền thuyết, tác giả dân gian dường như đã gặp một nghịch lý trong quan niệm về người anh hùng, một mặt họ nhìn

Trang 31

hùng phải chết Để giải quyết nghịch lý này, tác giả truyền thuyết sử dụng motif hóa thân để diễn tả cái chết "bất tử" của người anh hùng Cái chết của nhân vật

được thay thế bằng sự hoá thân: người anh hùng biến thành giao long (Thánh

Linh Lang, Sự tích hai anh em Thiện, Quang thời Hùng Vương ), theo đám mây

vàng bay lên trời (Truyện Trung Định công thời Hùng vương; Sự tích Mục công

thời Hùng Vương; Sự tích Cao Sơn, Quý Minh; Sự tích Đào An, Đào Ý thời Hùng Vương; Bà Chén; Sự tích Đường Hoàng thời vua Trưng ), nhân vật hoá

thân bằng hình ảnh "bay lên trời" (Truyện Thánh Gióng; Sự tích Tiên Lạp Thạch

tướng quân ) hay "đi xuống biển" ( An Dương Vương)

Trong truyền thuyết, motif hóa thân xuất hiện ở nhiều nhân vật khác nhau Đó có thể là những nhân vật làm việc nghĩa giúp dân trừ họa, sau khi họ hóa thân giúp dân sau đó lại chết hay những nhân vật hóa thân để thể hiện tình cảm, tình yêu Nhưng ở đây, chúng tôi chỉ nghiên cứu motif hóa thân trong công thức miêu tả cái chết của người anh hùng Người anh hùng là những con người sau khi hoàn thành công viêc, đã có những công trạng đối với cộng đồng, đối với dân tộc và sau đó người anh hùng "hoá" vào thiên nhiên đất trời

Theo Từ điển triết học, từ nguyên hóa có nghĩa là "thay đổi thành cái

khác", hóa thân là "biến hóa của thần thánh thành người hay thành vật khác"

[25, tr.817,819] Như vậy, sự biến hoá hay hoá thân là thuộc tính của thần thánh chứ không phải là thuộc tính của người thường Motif hoá thân là công thức miêu tả cái chết của người anh hùng một cách độc đáo, ở đó nhân vật không

"chết" theo nghĩa bình thường mà biến hoá sang một dạng khác (thường trở thành thần thánh) hoặc "đi" sang một thế giới khác (thượng giới, thuỷ phủ…) Theo quan niệm dân gian, con người "chết" đi nghĩa là cơ thể ngừng mọi hoạt động, thể xác dần dần tiêu tan theo thời gian còn linh hồn từ bỏ cõi trần gian trở

về cõi chết (âm phủ) Dù không miêu tả cái chết của người anh hùng theo quan niệm bình thường đó nhưng đằng sau motif hoá thân, người đọc truyền thuyết vẫn ngầm hiểu về tri thức biểu đạt trong đó là cái chết Bằng việc sử dụng motif hoá thân, tác giả dân gian đã né tránh nhắc đến cái chết của người anh hùng Mặt

Trang 32

khác, phong cho họ những phẩm chất của thần thánh, người kể chuyện truyền thuyết đã nâng năng lực của người anh hùng lên bậc thần thánh trong niềm

"ngưỡng vọng", tôn kính của mình Trong niềm ngưỡng vọng đó, nhân dân quan niệm và mong muốn người anh hùng luôn bất tử cùng với non sông, đất nước và những chiến công của họ, những hy sinh của họ đã phục vụ cho dân tộc, cộng đồng sẽ được ghi ơn mãi mãi

Trong truyện có motif hoá thân, cái chết của người anh hùng được miêu tả với những hình ảnh, chi tiết hết sức kì lạ, hoang đường Nhân vật người anh hùng trong truyền thuyết khi chết có thể biến thành con Hổ mãng xà như trong

Truyện thần Câu Mang thời Hùng Vương: "Mang công bái tạ vua cha, bỗng trời

đất nổi cơn mưa gió mịt mù, Mang Công liền hoá thành con Hổ mãng xà rồi

biến vào ngày mồng 2 tháng 11…", theo đám mây bay về trời như trong Sự tích

Linh Thông hòa thượng đời Trần : " chợt thấy một đám mây vàng, tự trong đền

ra giăng thẳng lên, giời đất mù mịt, không thấy Ngài đâu " [16, tr.153], theo cầu

vồng bay lên trời như trong Năm anh em làng Na: " Giữa lúc mọi người vui

vẻ, bỗng cầu vồng năm sắc lại hiện xuống đưa năm ông bay lên trời và biến

mất" [16, tr.344], hoặc biến thành giao long như Sự tích hai anh em Thiện,

Quang thời Hùng Vương có viết " Sau khi chiến thắng, nhà vua hạ lệnh khải

hoàn, hai ông về đến cửa sông Viên Môn thuộc đạo Sơn Nam, trời bỗng tối tăm, sóng cuộn ầm ầm, hai ông hóa làm hai con giao long ” [16, tr.230], biến thành

bạch xà như Truyện nàng công chúa đời Trần có viết "Khi ấy, buổi đương chính

ngọ, bỗng trời đất tối sầm, mây mưa mù mịt Tự nhiên dồn dậy gió mưa, nước sông dâng cao, chợt hiện rắn trắng thân dài mười trượng, rẽ nước thành luồng,

đón nàng Ngọc trở lại thủy cung " [17, tr.41] Các yếu tố hoang đường khi

miêu tả cái chết của người anh hùng thường đi kèm với những điềm báo lạ của đất trời, của tự nhiên: "trời đất mịt mù", "trời đất tối tăm, sóng cuộn ầm ầm",

"mây mưa mù mịt"… Người anh hùng chết biến hoá thành tự nhiên, trở về với

tự nhiên nơi người anh hùng được sinh ra

Trang 33

Có thể thấy, công thức miêu tả cái chết của người anh hùng bằng motif hóa thân là cách miêu tả không gần với hiện thực, chứa đựng nhiều chi tiết hoang đường Tư thế bay lên phơi phới của Thánh Gióng và hình ảnh âm thầm

rẽ nước vào lòng biển của An Dương Vương tuy có khác xa nhau nhưng lại thống nhất ở chỗ thể hiện được chiều sâu thái độ và ý thức của nhân đân đối với lịch sử, đối với những con người "đã làm nên lịch sử"

Trong cách miêu tả người anh hùng của truyền thuyết có tính nhất quán ở kết cấu đầu - cuối tương ứng: người anh hùng được sinh ra một cách kì lạ (người anh hùng có nguồn gốc từ thần thánh, từ tự nhiên) thì khi chết cũng chết một cách kì lạ (trở về nơi sinh ra) Chẳng hạn, Thánh Gióng con thần Dông bão, được sinh ra khi bà mẹ ướm thử "vết chân lạ" nơi vườn cà sau một đêm dông bão thì khi chết đi hoá thành thần nhà trời Thánh Linh Lang được tưởng tượng

là con của giao long sinh ra từ bến nước, lúc trưởng thành đánh giặc thì quỹ gió

kêu mưa, lúc chết thì lại hóa thành giao long trườn xuống nước Năm anh em

làng Na được sinh ra do cầu vồng sa xuống bụng bà mẹ thì khi hóa họ cũng theo

cầu vồng mà bay lên trời Nàng chim Thước sau khi được sinh ra từ bảy cái trứng, sau khi nghe Lê Lợi khởi binh bảy anh em đã lập được những chiến công

to lớn và sau khi đã hoàn thành sứ mệnh chống giặc ngoại xâm họ trở lại thăm gia đình nhưng những người nuôi dưỡng họ đã đi xa nên cả bảy anh em hóa kiếp thành đàn chim Thước Đầu truyện với motif sinh nở thần kì, cuối truyện tác giả dân gian lại hư cấu motif hoá thân để trả người anh hùng trở về nơi đã sinh ra

Trong quan niệm của nhân dân, người anh hùng với tài năng xuất chúng phải chăng là lực lượng thần thánh hoá thân xuống trần gian giúp dân đánh giặc, cứu nước Nói cách khác, nghệ thuật truyền thuyết đã thần thánh hoá tài năng, công trạng của người anh hùng dân tộc để nâng họ lên hàng thần thánh trong cảm hứng ngợi ca, tôn kính Cùng với bút pháp thần thánh hoá là nghệ thuật bất

tử hoá Với kết cấu và nghệ thuật này, truyền thuyết hé mở cho ta thấy quan niệm về bản chất thiêng của người anh hùng của tác giả dân gian Họ sinh ra từ

tự nhiên và sau khi hoàn thành nhiệm vụ giúp dân diệt giặc ngoại xâm thì họ lại

Trang 34

trở về với tự nhiên, thành khí thiêng sông núi, hồn thiêng dân tộc, trường tồn với dân tộc Chết tức là mở ra một đời sống mới với cấp độ tinh thần cao hơn, người anh hùng được xây dựng để vượt qua sự hữu hạn của một cá nhân, trở thành bất

tử Sau nữa, có thể thấy rất rõ thái độ của truyền thuyết : muốn chữa lại kết cục

bi thảm của thực tế Truyện An Dương Vương miêu tả "vua cầm sừng tê bảy tấc, rùa vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống bể" [16, tr.379] An Dương Vương không chết, Ông trở về về với biển; Hai Bà Trưng không chết, họ trở về trời; Thánh Gióng cũng không chết mà cũng trở về trời để trở lại hiển linh âm phù cho đời sau Hiển linh âm phù, đó là sự mở ra một đời sống tinh thần mới ở cấp độ cao hơn Ta thử so sánh với cổ tích Cổ tích có sử dụng motif hóa thân, nhân vật cổ

tích sau khi chết có thể biến thành thần, con vật, đồ vật…(Sự tích ba ông đầu

rau, Sự tích trầu cau, Sự tích núi vọng phu, Tấm Cám…) Sự hóa thân này

không thành những tượng đài để thờ phụng mà thành tấm gương soi biểu hiện những ý nghĩa đạo đức và bài học luân lý Còn trong truyền thuyết, cái chết hoá thân của người anh hùng mang âm hưởng hùng tráng, ngợi ca tài năng cũng như sức mạnh của người anh hùng dân tộc hay cũng chính là ngợi ca sức mạnh của nhân dân, của dân tộc

Motif hóa thân khi miêu tả cái chết của người anh hùng trong truyền thuyết còn có một biến dạng là "gieo sự sống" Ông Thần Đổ đã nhờ chim thần tưới máu mình khắp quê hương, truyện nàng Trăm Sắc đề nghị băm mình thành ngàn mảnh để gieo sự sống và chí khí trên quê hương Máu chảy đến đâu, thịt rải đến đâu thì mọc lên lớp lớp con cháu anh hùng, tiếp bước cha ông dệt nên trang sử mới Hơn ở đâu hết, những biến thể của motif hóa thân đã diễn tả một cách sinh động sự tiếp nối thế hệ, sự liên tục của truyền thống đánh giặc cứu nước trên mảnh đất quật cường mấy nghìn năm

Chính nhờ sự hóa thân mà người anh hùng dân tộc vẫn còn sống mãi, người anh hùng hoá thân thành thần thánh biến hóa vào thiên nhiên để hiển linh phù trợ cho nhân dân qua rất nhiều hình thức khác nhau: hiện về, báo mộng,

Ngày đăng: 16/09/2021, 17:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Minh Đạo. Nhân vật chức năng trong thể loại truyền thuyết. Tc nguồn sáng dân gian, số 4/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật chức năng trong thể loại truyền thuyết
2. Nguyễn Xuân Đức. Những vấn đề thi pháp văn học dân gian. Nxb KHXH, H.2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
Nhà XB: Nxb KHXH
3. Cao Huy Đỉnh. Người anh hùng làng Gióng. Nxb KHXH, H.1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người anh hùng làng Gióng
Nhà XB: Nxb KHXH
4. Cao Huy Đỉnh. Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam. Nxb KHXH, H.1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: Nxb KHXH
5. Cao Huy Đỉnh. Tuyển tập tác phẩm. Nxb Lao động TTVH ngôn ngữ Đông Tây, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tác phẩm
Nhà XB: Nxb Lao động TTVH ngôn ngữ Đông Tây
6. Nguyễn Định. Yếu tố thần kì trong truyền thuyết và truyện cổ tích người Việt ở Nam Trung Bộ. Nxb KHXH, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố thần kì trong truyền thuyết và truyện cổ tích người Việt ở Nam Trung Bộ
Nhà XB: Nxb KHXH
7. Lê Bá Hán. Từ điển thuật ngữ văn học. Nxb GD, H.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb GD
8. Trần Tấn Hành. Di tích danh thắng Hà Tĩnh. Sở văn hoá thông tin Hà Tĩnh, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích danh thắng Hà Tĩnh
9. Kiều Thu Hoạch (chủ biên). Truyền thuyết dân gian người Việt. Nxb KHXH, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết dân gian người Việt
Nhà XB: Nxb KHXH
10. Kiều Thu Hoạch. Truyền thuyết anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam. Nxb KHXH, H.1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam
Nhà XB: Nxb KHXH
11. Bùi Mạnh Nhị (chủ biên). Văn học dân gian những công trình nghiên cứu. Nxb GD, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian những công trình nghiên cứu
Nhà XB: Nxb GD
12. Nguyễn Xuân Kính. Thi pháp ca dao. Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội
13. Đinh Gia Khánh. Văn học dân gian Việt Nam. NXb GD, H.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
14. Trần Thế Pháp (chủ biên). Lĩnh nam chích quái. Nxb văn hoá, H.1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lĩnh nam chích quái
Nhà XB: Nxb văn hoá
15. Lê Trường phát. Thi pháp văn học dân gian. Nxb GD, H.2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp văn học dân gian
Nhà XB: Nxb GD
16. Nhiều tác giả. Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 4): Truyền thuyết dân gian người Việt. Nxb KHXH, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học dân gian người Việt
Nhà XB: Nxb KHXH
17. Nhiều tác giả. Tổng tập văn học dân gian người Việt (tâp 5): Truyền thuyết dân gian người Việt. Nxb KHXH, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học dân gian người Việt
Nhà XB: Nxb KHXH
18. Trần Ngọc Thêm. Cơ sở văn hoá Việt Nam. NXb GD, H.2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
19. Hoàng Tiến Tựu. Văn học dân gian Việt Nam, (tập 2). Nxb ĐHSP, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: Nxb ĐHSP
20. Đỗ Bình Trị. Những đặc điểm thi pháp của thể loại văn học dân gian Việt Nam. Nxb GD, H.1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm thi pháp của thể loại văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: Nxb GD

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w