1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự phân công lao động theo giới trong gia đình nhập cư hiện nay khảo sát tại phường bình thọ (quận thủ đức và phường tân tạo a (quận bình tân), tp hồ chí minh)

111 48 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1

  • 2

Nội dung

Một trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất về các dàn xếp trong gia đình, vai trò của nam và nữ, người trẻ tuổi và người già, các quan hệ của họ trong lao động, và các hàm ý của các

Mục tiêu của đề tài

Tìm hiểu sự phân công lao động theo giới trong gia đình nhập cư tại hai phường đƣợc khảo sát

Tìm hiểu thực trạng và các yếu tố tác động tới sự phân công lao động theo giới trong gia đình nhập cƣ hiện nay:

- Phân công lao động theo giới trong gia đình giữa vợ và chồng theo nhóm công việc nội trợ, chăm sóc – giáo dục con cái, tham gia hoạt động cộng đồng

- Quyền quyết định giữa vợ và chồng đối với những vấn đề quan trọng trong gia đình: sản xuất – kinh doanh, định hướng nghề nghiệp và quyết định việc học hành của con cái.

Đối tƣợng nghiên cứu

Sự phân công lao động theo giới trong gia đình nhập cƣ hiện nay.

Khách thể nghiên cứu

Những hộ gia đình nhập cư tại hai phường: Bình Thọ (quận Thủ Đức) và Phường Tân Tạo A (quận Bình Tân), thành phố Hồ Chí Minh Để phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm tìm hiểu sự phân công lao động giữa hai giới nam và nữ trong gia đình nên đối tƣợng đƣợc chọn ở đây phải là những gia đình có đầy đủ cả vợ và chồng.

Nội dung nghiên cứu

 Thực trạng phân công lao động theo giới trong gia đình nhập cƣ hiện nay: -Theo nhóm công việc nội trợ, chăm sóc – giáo dục con cái, tham gia hoạt động cộng đồng

-Theo quyền quyết định đối với các vấn đề quan trọng của gia đình: sản xuất – kinh doanh, định hướng nghề nghiệp và hôn nhân của con cái

 Những yếu tố tác động tới sự phân công lao động theo giới trong gia đình

 Sự tác động của loại hình phân công lao động ấy tới mối quan hệ vợ chồng trong gia đình.

Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa lý luận: Đề tài mong muốn từ các kết quả nghiên cứu có thể bổ sung cho hệ thống lý luận các vấn đề về giới Ý nghĩa thực tiễn:

Từ việc nhận thấy tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu đề tài, người làm đề tài hy vọng những kết quả nghiên cứu của mình sẽ phần nào làm rõ hơn thực trạng phân công lao động theo giới trong gia đình nhập cƣ hiện nay Và có thể là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai có ý định nghiên cứu cùng chủ đề

7 Kết cấu của đề tài

Kết cấu của đề tài này gồm 3 phần: phần mở đầu, nội dung và kết luận

Trong phần mở đầu, tác giả khái quát những vấn đề cần nghiên cứu nhƣ: lý do chọn đề tài, đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu, mục tiêu, nhiệm vụ và ý nghĩa của đề tài

Trong phần nội dung bao gồm: Chương 1 Cơ sở lý luận Đối với chương này, để có thể áp dụng vào đề tài, tác giả đã tìm những tài liệu có liên quan đến đề tài, các phương pháp được áp dụng, một số khái niệm liên quan, các giả thuyết nghiên cứu, lý thuyết và cách tiếp cận Chương 2 trình bày kết quả nghiên cứu “ Sự phân công lao động theo giới trong các gia đình nhập cƣ tại TPHCM hiện nay thong qua các yếu tố: sự phân lao động trong việc lao động tạo thu nhập, hoạt động tái sản xuất, hoạt động cộng đồng, quyền quyết định và những yếu tố tác động đến sự phân công lao động tại xã

Trong phần kết luận đề tài rút ra những kết luận thu đƣợc sau khi chứng minh giả thuyết nghiên cứu của đề tài

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Ngay từ những năm cuối của thế kỉ 19, F Engel một trong những nhà sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tƣ hữu và nhà nước” đã chỉ ra rằng: trong nền kinh tế gia đình cộng sản cổ xưa, gồm nhiều cặp vợ chồng và con cái, việc tề gia nội trợ của phụ nữ là một công việc xã hội thực sự cần thiết, ngang với việc tìm kiếm thức ăn ở nam giới; nhưng với gia đình gia trưởng và gia đình cá thể người vợ trở thành người đầy tớ trong gia đình và bị loại ra khỏi mọi hoạt động sản xuất xã hội Theo ông, chỉ có đại công nghiệp hiện đại mới mở ra con đường tham gia sản xuất xã hội cho những phụ nữ thuộc gia cấp vô sản nhưng nếu họ làm tròn nhiệm vụ với gia đình thì họ lại bị loại ra khỏi nền sản xuất xã hội còn nếu họ muốn tham gia nền sản xuất xã hội và có thu nhập độc lập thì họ không làm tròn nhiệm vụ gia đình Từ sự phân tích quá trình chuyển biến các hình thức hôn nhân trong lịch sử, ông đã chỉ ra đối kháng giai cấp đầu tiên trong lịch sử ăn khớp với sự đối kháng giữa hai giới trong chế độ hôn nhân cá thể, áp bức giai cấp đầu tiên cũng ăn khớp với sự áp bức của đàn ông với đàn bà trong gia đình (chương II: Gia đình, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước)

Một trong những nghiên cứu khá bổ ích cho chủ đề này là một nghiên cứu tổng quan lại tất cả các nghiên cứu về phân công lao động trong gia đình trong những năm 80-90 của thế kỉ 20 Nghiên cứu này đã đƣợc đăng tải trên tạp chí Hôn nhân và Gia đình (Journal of Marriage and Family) Scott Coltrane (2000) đã tổng quan hơn 200 nghiên cứu về lao động trong gia đình giữa những năm 1989-1999 Theo ông, các nhà nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu việc làm thế nào các công việc gia đình liên quan tới các quá trình phức tạp của phúc lợi của các gia đình, tới cấu trúc giới và tái sản xuất xã hội Các vấn đề lí thuyết và phương pháp cũng như các khuyến nghị trong lĩnh vực nghiên cứu về lao động trong gia đình đều đƣợc ông tóm lƣợc trong bài báo này Tóm lại, trong khi thời gian làm việc nhà của phụ nữ giảm và thời gian làm việc nhà của đàn ông có tăng nhẹ nhƣng phụ nữ vẫn làm việc nhà nhiều gấp hai lần đàn ông Các chỉ báo về công việc , thu nhập, các vấn đề về tư tưởng giới, các vấn đề khác trong cuộc sống thì không thay đổi Việc chia xẻ công bằng hơn các công việc thường ngày của gia đình liên quan tới việc phụ nữ nhận thức về sự công bằng, trải nghiệm ít sự căng thẳng và tưởng thưởng sự hài lòng hơn về hôn nhân [Scott Coltrane 2000

Research on Household Labour: Modeling and Measuring the Social Embeddedness of Routine Family Work Journal of Marriage and Family V62, Issue 4, p.1208-1233, Nov 2000]

Tóm lại, các nghiên cứu quốc tế đã phân tích và mổ xẻ sự bất bình đẳng trong lao động gia đình từ nhiều góc độ khác nhau: từ chế độ tƣ hữu, tới những vấn đề liên quan tới tầm mức cá nhân như thu nhập, quỹ thời gian, tư tưởng giới…nhưng tất cả các nghiên cứu đều chỉ ra rằng sự bất bình đẳng này có thu hẹp lại theo thời gian và sự phát triển kinh tế, xã hội, nhƣng không biến mất và vẫn tồn tại dai dẳng ở các quốc gia và nhiều nền văn hóa khác nhau

1.1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Trong vài thập niên gần đây chủ đề giới đƣợc xem nhƣ một lĩnh vực nghiên cứu cụ thể và được nhiều người quan tâm Các công trình nghiên cứu về chủ đề giới hết sức phong phú và đa dạng Từ một số nguồn tiếp cận được, phần tổng quan dưới đây tác giả sẽ trình bày tổng quát về những nghiên cứu có trước để thấy được những vấn đề về giới đang tồn tại trong gia đình hiện nay

Tại Việt nam, ngay từ năm 1946, trong Hiến pháp đầu tiên của đất nước ta, ở Muc B, điều 9 đã quy định là đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện Tới hiến pháp sửa đổi năm 1992, chương V, điều 63 nhấn mạnh rằng „công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ…‟ Căn cứ vào những quy định nhƣ thế này của hiến pháp, ngày 19/11/2006 Quốc hội khóa X, trong kì họp thứ 10 đã kí ban hành luật bình đẳng giới Trong luật này, chương II, điều 18 quy định rõ về bình đẳng giới trong gia đình trong đó có nhấn mạnh rằng các thành viên nam nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình

Và trong Hiến pháp pháp mới nhất ban hành năm 2013, Vấn đề bình đẳng giới lại được nhấn mạnh tại chương II, điều 26 quy định công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt và nhà nước có chính sách đảm bảo quyền và cơ hội bình đẳng giới…Như vậy, bình đẳng giới trong gia đình và trong phân công lao động gia đình không phải là một khái niệm mới lạ trong xã hội Việt nam Có thể nói rằng về lĩnh vực này, xã hội Việt nam có một nền tảng pháp luật tiên tiến để bảo vệ quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong mọi mặt của đời sống trong đó có lĩnh vực phân công lao động gia đình Nhƣng thực tế cuộc sống trong các gia đình Việt nam, có sự phân công lao động gia đình một cách bình đẳng không? Hãy điểm qua các nghiên cứu về chủ đề này trong một vài thập kỉ gần đây

Trong các nghiên cứu về gia đình, nhiều tác giả quan tâm vấn đề bất bình đẳng giới trong phân công lao động các việc nhà, cho thấy phụ nữ Việt Nam phải đảm nhiệm công việc gia đình hết sức nặng nề trong điều kiện đời sống kinh tế còn thấp, các dịch vụ công cộng kém phát triển, mọi công việc chế biến lương thực, nấu nướng, lấy nước, giặt giũ – kể cả việc chăm sóc người già, người ốm đều do gia đình tự làm và người làm nhiều nhất là người phụ nữ Trong nghiên cứu "Phân công lao động theo giới trong gia đình nông dân" (Lê Ngọc Văn, 1997), cũng đã khẳng định sự bất bình đẳng trong phân công lao động nội trợ - nơi phụ nữ đảm nhận chủ yếu

Vũ Tuấn Huy và Deborah S Carr i với nghiên cứu: "Phân công lao động nội trợ trong gia đình" (2000) cho rằng người phụ nữ gắn liền với vai trò người vợ, người mẹ, người nội trợ trong gia đình Các tác giả nhấn mạnh đến quan niệm chung của người phụ nữ, những phẩm chất nhƣ biết nội trợ giỏi, biết nuôi dạy con cái đƣợc đánh giá quan trọng hơn đối với những đặc điểm nhƣ trình độ học vấn cao hay nghề nghiệp có uy tín và có địa vị trong cao trong xã hội Hơn nữa, phụ nữ vẫn đánh giá cao vai trò trụ cột về kinh tế của người chồng và bằng lòng với vai trò người nội trợ

Theo đánh giá trong báo cáo của UNDP về khác biệt giới trong sự chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, chiếm

48,4% lực lượng lao động nhưng phụ nữ thường tham gia vào các công việc không chính thức và dễ bị tổn thương Theo Điều tra về Nhà ở và mức sống hộ gia đình (VHLSS) năm 2008, chỉ có 24,22% phụ nữ làm các công việc phi nông nghiệp trong khi tỷ lệ này ở nam giới là 35,5% Nhiều người trong số các chị em phụ nữ phải tự tạo việc làm hoặc làm việc trong gia đình mà không đƣợc trả công Theo số liệu về khuynh hướng việc làm tại Việt Nam, 53% phụ nữ làm việc gia đình mà không được trả công, trong khi con số này đối với nam là 32% Phụ nữ làm việc trong các khu vực không chính thức có tiền công thấp hơn, tay nghề thấp hơn và ít cơ hội nâng cao tay nghề và đào tạo hơn nam giới Ƣớc tính, tỷ lệ thu nhập kiếm đƣợc của nữ so với nam là 0,69, nghĩa là cứ 100.000 đồng nam giới kiếm đƣợc thì nữ giới chỉ kiếm đƣợc 69.000 đồng

Trách nhiệm song song của người phụ nữ vừa chăm sóc con cái vừa làm nội trợ, cũng như tạo thu nhập cản trở người phụ nữ tham gia vào các công việc được trả công, đặc biệt công việc trong khu vực chính thức Để hỗ trợ sự tham gia của phụ nữ, cần thiết phải giải quyết những bất bình đẳng nhƣ cơ hội đƣợc đào tạo, quyền đƣợc cấp giấy sử dụng đất cũng nhƣ phải có hệ thống bảo trợ xã hội toàn diện Đồng với những quan điểm trên, trong cuộc điều tra về gia đình mang tính toàn quốc đƣợc tiến hành vào 2006 (Bộ Văn Hóa Thể thao và Du lịch, Tổng cục thống kê, UNICEF và Viện Gia đình và giới, 2006) cho thấy việc phân công lao động theo giới trong gia đình Việt nam vẫn phổ biến là người phụ nữ hay người vợ được coi là phù hợp hơn với các công việc ở trong nhà hay gần nhà như nội trợ và chăm sóc người thân trong gia đình, còn nam giới đƣợc coi là phù hợp với các công việc sản xuất kinh doanh và ngoại giao ở ngoài nhà hay xa nhà Sự phân công lao động theo giới này có xu hướng bình đẳng hơn trong các gia đình ở đô thị, nhóm giầu và người có trình độ học vấn cao Tại những hộ mà cả hai vợ chồng cùng đi làm bên ngoài thì người chồng chia sẻ công việc nội trợ với vợ nhiều hơn

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG THEO GIỚI TRONG GIA ĐÌNH

Ngày đăng: 29/04/2021, 00:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w