ðối với Tiền Giang, trong những năm vừa qua, ngồi việc tiếp cận một số tư liệu thành văn, tư liệu điền dã về các thiết chế tín ngưỡng thờ Mẫu - di sản văn hĩa phi vật thể trong tỉnh và m
Trang 1KHOA VĂN HÓA HỌC -0O0 -
NGUYỄN THỊ LỆ HẰNG
TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU CỦA NGƯỜI VIỆT
Ở TIỀN GIANG TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.70
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TIẾN SĨ HUỲNH QUỐC THẮNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Năm 2011
Trang 2Việc tìm hiểu, nghiên cứu về tơn giáo tín ngưỡng của một tộc người trên vùng đất cụ thể là một trong những vấn đề quan tâm của các nhà nghiên cứu ðối với Tiền Giang, trong những năm vừa qua, ngồi việc tiếp cận một số tư liệu thành văn, tư liệu điền dã về các thiết chế tín ngưỡng thờ Mẫu - di sản văn hĩa phi vật thể trong tỉnh và một cuộc Hội thảo khoa học kết hợp với Liên hoan múa bĩng rỗi Nam Bộ được tổ chức vào 2007, thì đối với các hiện tượng tự phát, tự giác của cộng đồng người Việt ở Tiền Giang trong tín ngưỡng thờ Mẫu, việc nghiên cứu vẫn cịn rất hạn chế
Hơn 300 năm “từ thưở mang gươm đi giữ nước”, vùng đất bên bờ bắc sơng Tiền này đã chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử, biết bao sự kiện đã xảy ra
và cĩ ảnh hưởng nhất định đối với con người Sống trong hồn cảnh đĩ, tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vẫn tồn tại âm thầm, bền bĩ diễn ra trong đời sống văn hĩa tâm linh của họ, xét ở gĩc độ nào đĩ, đã tạo chỗ dựa tinh thần cho người Việt ở Tiền Giang mặc dù cĩ những lúc tưởng như tín ngưỡng thờ Mẫu đã bị khỏa lấp, che khuất bởi thời gian, bởi các nhãn quan thời sự, hay thậm chí bị cấm đốn và chìm vào quên lãng
Trong bối cảnh hội nhập mới hiện nay cùng với sự giao lưu kinh tế và văn hĩa diễn ra mạnh mẽ, tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang cĩ cơ hội bùng phát và cĩ xu hướng bị quy luật phát triển của kinh tế chi phối Trước tình hình ấy,
ý tưởng nghiên cứu sâu về tín ngưỡng dân gian này của người Việt trên vùng đất Tiền Giang để qua đĩ cĩ cái nhìn tổng thể, thấu đáo hơn, đánh giá khách quan hơn làm cơ sở cho việc định hướng bảo tồn và phát triển loại hình văn hĩa phi vật thể của địa phương, bảo tồn bản sắc văn hĩa tộc người ở vùng đất cụ thể
Xin cám ơn sâu sắc Khoa Văn hĩa học Trường ðại học Khoa học Xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, cám ơn quý Thầy Cơ đã tận tình dạy dỗ, cung cấp kiến thức chuyên ngành cho tơi trong thời gian 2 năm học Cao học, đặc biệt, Tiến sĩ
Trang 3Huỳnh Quốc Thắng - người hướng dẫn khoa học, ñã trực tiếp tạo ñiều kiện và giúp
ñỡ tôi hoàn thành ñề tài nghiên cứu này
Khi chọn ñề tài “Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang từ góc nhìn văn hóa học” ñể làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, mặc dù ñã ñổ nhiều công sức ñể sưu tầm tư liệu, ñã cố gắng trình bày một cách ngắn gọn và ñầy ñủ nhất nhưng chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót về phương pháp nghiên cứu; chúng tôi rất mong ñược sự góp ý chân thành của quý Thầy Cô, các nhà nghiên cứu và các bạn ñể luận văn ñược hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn./
Trang 41/ Tắn ngưỡng thờ Mẫu ựược viết là tục thờ Bà, từ Mẫu ựược thay bằng từ Bà theo cách nói của người Việt Nam Bộ
2/ Ngoại trừ 2 hình (hình 1 và 2) ựược sưu tầm từ Internet, tất cả hình ảnh còn lại ựều do tác giả chụp từ thực tế, cho nên những hình ảnh ựó sẽ không dẫn nguồn 3/ Trong luận văn có ựắnh kèm ỘSơ ựồ ựịnh vị cơ sở thờ tự tắn ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền GiangỢ do họa sĩ Di Linh thực hiện trên cơ sở vẽ lại từ bản
ựồ hành chắnh tỉnh Tiền Giang
4/ Phần Phụ lục hình ảnh minh họa ựược chia ra làm nhóm:
- Nhóm 1: Từ hình 39 ựến hình 46: Một số miễu thờ Bà ở Tiền Giang
- Nhóm 2: Từ hình 47 ựến hình 51: Hình ảnh cộng ựồng người Việt ựến chiêm bái Mẫu thần tại các cơ sở thờ tự
- Nhóm 3: Từ hình 52 ựến hình 53: Hình thức trang thờ Bà tại gia ựình người Việt
- Nhóm 4: Từ hình 54 ựến hình 58: Lễ vật dâng cúng Bà
- Nhóm 5: Từ hình 59 ựến hình 66: Một số gương mặt bà bóng tiêu biểu ở Tiền Giang
Nhóm 6: Từ hình 67 ựến hình 70: Các nghệ nhân hát bội chuẩn bị hát cúng Tứ
Vị đại Càn tại đình điều Hòa
- Nhóm 7: Từ hình 71ựến hình 78: Các hình thức múa bóng và múa ựạo cụ trong lễ cùng Bà ở Tiền Giang
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 5 PHẦN MỞ ðẦU 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 15
1.2 Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Tiền Giang nhìn từ hệ tọa ñộ văn hóa 25
1.3 Khái quát về ñời sống văn hóa tâm linh của người Việt ở Tiền Giang 38
CHƯƠNG 2 TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU NGƯỜI VIỆT Ở TIỀN GIANG NHÌN TỪ BÊN TRONG ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED 2.1 Lịch sử tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang 42
2.1.1 Quan niệm của người Việt ở Tiền Giang về tín ngưỡng thờ Mẫu 42
2.1.2 Quá trình hình thành, phát triển tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền
Trang 62.2 Cấu trúc tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang 46
3.1 Những tương ñồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu người Việt so với tín ngưỡng thờ
3.1.1 Có cùng cội nguồn tín ngưỡng bản ñịa văn hóa nông nghiệp 85 3.1.2 Sự giao lưu văn hóa tín ngưỡng giữa cộng ñồng người Việt với người Hoa,
3.2 Những khác biệt trong tín ngưỡng thờ Mẫu người Việt so với tín ngưỡng thờ
Trang 7KẾT LUẬN 128
DANH MỤC TÀI LIỆU 131
PHỤ LỤC 138
1 Bảng liệt kê miễu thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang 138
2 Một số bài rỗi ñược sử dụng trong lễ cúng miễu, tạ trang ở Tiền Giang 144
3 Một số bài viết liên quan ñến tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang 153
Trang 8PHẦN MỞ đẦU
Tiền Giang ựược xem là trung ựiểm giao lưu về kinh tế - văn hóa giữa miền đông và Tây Nam Bộ trong thời gian dài, là một trong những ựịa phương ựược xem
là nơi dừng chân sớm nhất của lưu dân người Việt ựi vào Nam khai hoang Nơi ựây
có nhiều tộc người cùng cộng cư: Việt, Hoa, Chăm, Khmer, trong ựó người Việt chiếm số ựông và ựóng vai trò chủ yếu trên nhiều lãnh vực Lịch sử cho biết, các cộng ựồng người này có chung quá trình lịch sử di dân ựến ựây khai hoang, có cùng ựiều kiện kinh tế - xã hội và những tương ựồng về văn hoá; nhưng người Việt với tắnh linh hoạt trong ứng xử ựã tiếp thu, cải biến văn hoá du nhập kết hợp với tắn ngưỡng bản ựịa ựể tạo sắc thái riêng trong văn hoá tộc người
Phần lớn người dân Tiền Giang sống bằng nghề nông nên tắn ngưỡng thờ Mẫu
- tắn ngưỡng văn hóa bản ựịa của cư dân nông nghiệp vẫn tồn tại một cách phổ biến, bền bĩ và âm thầm trong tâm linh người Việt như là một nhu cầu tất yếu của ựời sống tinh thần, họ Ộrất tin tưởng vào tôn giáo mà mình ựã tắn ngưỡngỢ [Huỳnh Minh, 1973:257] Nghiên cứu tắn ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở vùng ựất mới
cụ thể là ở Tiền Giang vừa góp phần hiểu văn hóa vùng ựất ựó, vừa góp phần tìm hiểu văn hóa tâm linh của tộc người trong quá trình hình thành và phát triển của nó Cho ựến nay, việc nghiên cứu tắn ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều của các nhà khoa học và các biểu hiện trong cách thức thờ cúng của người Việt nơi ựây lại không ựược các cấp quản lý nhìn nhận dưới góc nhìn văn hoá Do vậy, nghiên cứu tắn ngưỡng thờ Mẫu của người Việt góp phần làm sáng tỏ diện mạo ựời sống văn hoá tâm linh cũng như cho chúng
ta hiểu ựược thế giới quan, nhân sinh quan của người Việt ở Tiền Giang; ựặc biệt, trong bối cảnh hội nhập toàn cầu như hiện nay thì việc bảo tồn văn hóa bản ựịa là việc làm cần thiết, góp phần trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 9Xuất phát từ những lý do trên, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, ñề tài
“Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang từ góc nhìn văn hóa học” ñã ñược chọn ñể làm luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Văn hóa học
2 ði tng và phm vi nghiên cu
ðối tượng của luận văn hướng tới nghiên cứu là hệ thống thần phả, các hình thức và những nghi lễ thực hành có liên quan ñến tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở phạm vi cộng ñồng và trong gia ñình
Phạm vi nghiên cứu của luận văn ñặt trọng tâm ñến cộng ñồng người Việt ở Tiền Giang từ lúc có sự hiện diện của họ trên vùng ñất này cho ñến nay tại những khu vực dân cư sống tập trung
3 M c ñích nghiên cu
Luận văn này ñược thực hiện nhằm:
Nghiên cứu diện mạo văn hoá tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt thông qua các dạng thức tín ngưỡng và những hoạt ñộng thờ cúng tại các cơ sở thờ tự nơi công cộng, tại gia ñình nhằm phác thảo lại một phần ñời sống tâm linh của người Việt ở Tiền Giang Qua ñó luận văn góp phần nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang với văn hóa cội nguồn của người Việt ở miền Bắc ñể từ ñó làm rõ hơn sắc thái văn hóa ñịa phương
Trên cơ sở nghiên cứu diện mạo văn hóa của người Việt ở Tiền Giang qua tín ngưỡng thờ Mẫu, luận văn sẽ so sánh với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Hoa, Chăm, Khmer ñể tìm những ñặc ñiểm khác biệt và những giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang
Luận văn mong muốn ñem ñến cho các cấp quản lý có cái nhìn ñúng ñắn hơn
về tín ngưỡng dân gian, có những giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở ñịa phương nhằm bình ổn tâm hồn con người, góp phần giải quyết nhu cầu tâm linh của cộng ñồng
Trang 10Thờ Mẫu thực chất là “tín ngưỡng bản ñịa của cư dân nông nghiệp với khuynh hướng ñề cao phụ nữ với việc thờ hàng loạt nữ thần… Việc thờ các loại Mẫu ở Việt Nam mạnh ñến nỗi có thể xem nó như một thứ tôn giáo dân tộc ñặc biệt – ðạo Mẫu” [Trần Ngọc Thêm, 2006:254] Tuy nhiên, việc nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian nói chung, tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang nói riêng còn khá
sơ sài, tản mạn, chưa thành hệ thống trong khi nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam và Nam Bộ ñã ñược nhiều học giả quan tâm
Trong công trình Nếp cũ với hai tập Làng xóm Việt Nam, Hội hè ñình ñám (quyển Thượng) xuất bản năm 1992 của Toan Ánh, ñề cập ñến lễ vía Bà Chúa Xứ
ở núi Sam, thị xã Châu ðốc, tỉnh An Giang và hội ðền Linh Sơn Thánh Mẫu ở núi
Bà ðen thuộc tỉnh Tây Ninh; có nhắc ñến các thần tích và tục lệ ngày lễ ỏ hai ñịa phương trên nhưng cũng chỉ ở mức ñộ khảo tả sơ bộ và xem ñây là trường hợp ñiển hình cho tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Nam Bộ
Trong công trình Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam (2001) do Ngô ðức Thịnh chủ biên, có viết về tục thờ bà Chúa Xứ ñược coi như là một hiện tượng tôn giáo lớn ở Nam Bộ thu hút ñông ñảo nhân dân các tỉnh ở miền Tây Nam
Bộ ñến lễ bái và chiêm ngưỡng Tuy nhiên, công trình này chỉ giới thiệu mang tính khảo sát sơ bộ ở 2 ñịa phương có lập ñền thờ Bà Chúa Xứ nổi tiếng nhất: núi Sam (An Giang) và núi Bà ðen (Tây Ninh), mang tính chất tiêu biểu cho toàn Nam Bộ
Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền (2007) và sau ñó là công trình hai tập mang tên ðạo Mẫu Việt Nam (2009), Ngô ðức Thịnh ñã tập hợp các bài nghiên cứu từ nhiều năm trước ñó và sau này của ông, ñã nâng ðạo Mẫu lên một tầm nhận thức mới và tiếp cận ðạo Mẫu một cách toàn diện hơn với tính cách là một chuyên khảo, ñể tìm
ra các sắc thái ñịa phương ba miền Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ trong tín ngưỡng thờ Mẫu
Công trình Văn hóa dân gian Nam Bộ, những phác thảo (1997) của Nguyễn Phương Thảo với 16 tiểu luận ñề cập ñến các vấn ñề văn hóa dân gian ở Nam bộ;
Trang 11trong ñó, ở mục Tục thờ Mẫu, tác giả giới thiệu một cái nhìn tổng quan về tín ngưỡng thờ Mẫu với hệ thống thần phả gộp chung của cả Nam Bộ, kiến trúc và cách bài trí ñiện thần ở các cơ sở thờ Mẫu thần nổi tiếng ñã trở thành di tích phục
vụ cho nhu cầu du lịch ngoài chức năng tín ngưỡng vốn có của chúng ở hai tỉnh An Giang và Tây Ninh (công trình của Ngô ðức Thịnh ñã ñề cập)
Công trình Lễ hội dân gian ở Nam Bộ (2003) của Huỳnh Quốc Thắng cũng ñề cập ñến tín ngưỡng thờ Mẫu của cư dân Tây Nam Bộ với những sắc thái riêng của văn hóa vùng miền và yếu tố ñịa văn hóa góp phần quan trọng làm nên nét riêng ñó Các công trình vừa kể và nhiều bài viết khác là cơ sở cho việc nghiên cứu, tìm hiểu chung về tín ngưỡng thờ Mẫu của các cộng ñồng người Việt, Chăm, Hoa, Khmer ở nước ta hiện nay, ñặc biệt là ở Nam Bộ
Một số công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu về ñịa phương Tiền Giang,
cụ thể là: Gò Công Xưa & Nay (1969), ðịnh Tường (Mỹ Tho) xưa (1973) của Huỳnh Minh, Sổ tay hành hương ðất phương Nam do Huỳnh Ngọc Trảng chủ biên
2002 - ñây là những công trình sưu khảo văn hóa ở các ñịa phương Trong các công trình này, các tác giả giới thiệu một số di tích tín ngưỡng tiêu biểu ở nhiều tỉnh trong ñó có Tiền Giang qua việc ñề cập sơ nét miếu Thiên Hậu Thánh Mẫu và Miếu thờ trinh nữ ở Cai Lậy - ñây là hai trong số các cơ sở thờ tự công cộng phản ánh tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Trong hai công trình này, các tác giả cho biết: trong quan niệm của cộng ñồng người Việt ở Tiền Giang, các Mẫu thần ñược thờ có thể là một con người cụ thể nhưng cũng có thể là một ñấng siêu nhiên vô hình, họ có khả năng mang ñến cho cộng ñồng những “phúc - họa” tùy theo thái
ñộ tôn trọng của cộng ñồng với người khuất mặt ấy Ở ñây chúng ta hiểu thêm phần nào nhân sinh quan, vũ trụ quan của người Việt ở vùng ñất Tiền Giang
Công trình ðịa chí Tiền Giang, tập I (2005) của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang, ñây là một công trình khoa học tập hợp nhiều nhà nghiên cứu trên các lãnh vực khác nhau Trong công trình này có viết về hệ thống thần phả của tín ngưỡng
Trang 12thờ Mẫu nhưng không ñầy ñủ và chỉ mang tính liệt kê Bài viết Tục thờ Bà1
và nghệ thuật múa bóng rỗi (2008) của Mai Mỹ Duyên ñăng trong Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 290, giới thiệu khái quát các ñối tượng là Thần Mẫu ñược tôn thờ và
mô tả khá chi tiết không gian và nghi lễ thờ Mẫu ở Tiền Giang ðặc biệt, tác giả có
sự quan tâm ñến múa bóng rỗi – một trong những nghi lễ cúng Bà và nhìn nghi lễ này dưới nhiều góc ñộ khác nhau như: là một loại hình diễn xướng dân gian ñồng thời cũng là loại hình nghệ thuật dân tộc với ñầy ñủ các tính chuyên nghiệp, tính giao lưu và tính giải trí2
Tóm lại, việc nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang ñặc biệt là hệ thống thần phả, các hình thức thờ cúng tại cơ sở thờ tự của cộng ñồng và tại gia ñình của người Việt ở Tiền Giang còn nhiều ñiều bỏ ngỏ; vì vậy, việc kế thừa các công trình ñi trước về mặt phương pháp và cách tiếp cận ñể tìm hiểu tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang, theo chúng tôi là một việc làm cần thiết có ý nghĩa khoa học lẫn ý nghĩa thực tiễn
Luận văn tập trung vào việc tìm ra nguồn gốc hình thành, mối quan hệ giao lưu văn hoá với các dân tộc cùng cộng cư ở ñây ñể người Việt ở Tiền Giang ñã linh hoạt kết hợp với tín ngưỡng thờ Mẫu bản ñịa mang theo từ miền Trung vào ñể có các hoạt ñộng thờ cúng tại các cơ sở thờ tự công cộng và tại gia với những ñặc ñiểm riêng
Tìm hiểu văn hoá tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang là dạng nghiên cứu tín ngưỡng dân gian trường hợp ở một ñịa bàn cụ thể; do ñó, nó ñược gắn liền với ñịa phương, góp phần hiểu chuyên sâu hơn về tín ngưỡng thờ Mẫu của cộng ñồng người Việt ở vùng ñất này thông qua hệ thống thần phả Ngoài ra, kết
1 Cách nói dân gian của cư dân Tây Nam bộ khi nhắc ñến các Mẫu Thần ñược thờ phụng
2 Mai Mỹ Duyên cho rằng ñây là một trong những loại hình nghệ thuật dân tộc
Trang 13quả nghiên cứu sẽ là nguồn tư liệu thực tế có thể làm cơ sở ñể các công trình nghiên cứu liên quan có thể so sánh, ñối chiếu
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giúp các cơ quan chức năng có cơ sở ñề ra những chính sách quản lý phù hợp ñối với các cơ sở thờ tự và hoạt ñộng thờ cúng của tín ngưỡng thờ Mẫu trên ñịa bàn tỉnh Tiền Giang
Giúp các cơ quan có liên quan ñề ra kế hoạch, phương án bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của tín ngưỡng thờ Mẫu; tạo ñiều kiện cộng ñồng thỏa mãn phần nào ñời sống văn hóa tâm linh thông qua thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu
6 Ph0ng pháp nghiên cu và ngu2n t li4u
6.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hoá học ñể tiếp cận và nghiên cứu ñối tượng, cụ thể:
- Sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, logic và lịch sử ñể tìm hiểu lịch sử hình thành và tồn tại của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ nói chung, Tiền Giang nói riêng;
- Sử dụng phương pháp cấu trúc - loại hình ñể nghiên cứu các thành tố của tín ngưỡng thờ Mẫu, ñồng thời trên cơ sở ñó nghiên cứu mối quan hệ giữa các thành
tố này;
- Sử dụng phương pháp so sánh văn hoá ñể tìm ra những khác biệt và tương ñồng trong văn hóa cội nguồn của người Việt ở miền Bắc, miền Trung với người Việt ở Tiền Giang; Tương tự như thế trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt với người Hoa, Chăm ở Tiền Giang
Trong quá trình nghiên cứu, các thao tác như phân tích, tổng hợp, sưu tầm, ñiền dã … cũng ñược sử dụng ñể bổ sung nguồn tư liệu thực tiễn
6.2 Nguồn tư liệu
Trang 14Ngoài tư liệu ñiền dã do chính tác giả sưu tầm, ghi chép; luận văn còn sử dụng các nguồn tài liệu từ những công trình nghiên cứu của các học giả khác như sách, bài báo, bài tham luận hội thảo khoa học, v.v có liên quan ñến luận văn
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các thông tin, tài liệu … của một số cơ quan, ñơn vị ở Tiền Giang cung cấp
7 B c c c7a lu8n văn
Luận văn bao gồm 3 chương với các nội dung:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương này tập trung giới thiệu các khái niệm: văn hoá, văn hoá tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ Mẫu; Khái quát về vùng ñất, diện mạo và ñời sống văn hóa tâm linh của cộng ñồng người Việt ở Tiền Giang Chương 1 ñược xem là cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc triển khai ñề tài
Chương 2 Tín ngưỡng thờ Mẫu người Việt ở Tiền Giang nhìn từ bên trong Nội dung chương này nhằm giới thiệu lịch sử hình thành, cấu trúc và các hoạt ñộng của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang
Chương 3 Tín ngưỡng thờ Mẫu người Việt ở Tiền Giang nhìn từ bên ngoài Nội dung của chương 3 nhằm so sánh tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Hoa, Chăm, Khmer ñể tìm những tương ñồng và khác biệt nhất ñịnh từ trong nhận thức lẫn hoạt ñộng thờ cúng; Vị trí, ý nghĩa, giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt trong các hoạt ñộng xây dựng ñời sống văn hóa ở Tiền Giang và vấn ñề bảo tồn, phát huy giá trị của tín ngưỡng ấy trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay
Trang 15Tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian có vai trò ñặc biệt trong ñời sống tâm linh của cư dân nông nghiệp Nó tồn tại và hiện diện trong tâm thức của con người như một nhu cầu tất yếu của cuộc sống vốn luôn có những mối nguy hiểm, bất trắc ngoài ý muốn có thể xảy ra trong quá trình sinh hoạt Với người Việt, tín ngưỡng này ñược nhiều người tin tưởng, cầu vọng và phổ biến rộng khắp và ñược coi như là một ñạo dù rằng nó chưa có một giáo lý, giáo luật bắt buộc dưới sự ñiều hành của một giáo chủ nào Tuy nhiên, hàng trăm năm nay, tín ngưỡng thờ Mẫu ñã
và ñang hiện diện trong ñời sống văn hóa tâm linh của người Việt và có những giai ñoạn phát triển rực rỡ
1.1 C0 s; lý lu8n
1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng
Từ xưa ñến nay, dù sống trong xã hội nào con người cũng có trong tiềm thức một niềm tin Niềm tin ấy ñược ñặt vào một ñối tượng cụ thể ðối tượng ấy có thể là một tôn giáo, một chính sách, một ñảng phái,…hay một con người cụ thể nhưng cũng có thể ñó chỉ là một ñấng siêu nhiên, một nhân vật mơ hồ do trí tưởng tượng của con người hình dung ra Họ cho rằng, con người ấy, ñấng siêu nhiên ấy chính là thần, là thánh với sức mạnh diệu kỳ có khả năng giúp con người tồn tại một cách bình yên, ñem lại cho con người cuộc sống mới tốt hơn, hạnh phúc hơn so với quá khứ và hiện tại mà họ ñã và ñang trải nghiệm Niềm tin ấy, sự ngưỡng mộ ấy ñược khái quát lên và không còn tồn tại trong một cá thể mà nó ñược lan rộng ra cả một hoặc nhiều cộng ñồng, vượt cả không gian và thời gian ñể hiện diện ñồng thời nhiều nơi, ở mọi thời ñiểm với những biến thể khác nhau tùy thuộc vào nhận thức của con người, vào xã hội con người mà nó tồn tại
Ở phương Tây, các nhà nghiên cứu thường dùng khái niệm tôn giáo với ý nghĩa bao hàm cả các tôn giáo có hệ thống và tổ chức, tôn giáo dân gian và tôn giáo
Trang 16nguyên thủy; bởi vì, theo họ, tín ngưỡng là bộ phận quan trọng của tơn giáo, nằm trong khái niệm tơn giáo, là cơ sở để hình thành tơn giáo
Trên cơ sở đĩ, các nhà nghiên cứu phương Tây đã cĩ nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm tín ngưỡng tùy theo trường phái mà mình nghiên cứu Dưới gĩc nhìn của trường phái tiến hĩa luận, E.B.Tylor cho biết: “Vật linh giáo (animism) là tiền đề, nguồn gốc ra đời của tín ngưỡng và tơn giáo” [E.B.Tylor 2001:939] ðiều này đồng nghĩa với việc chính thuyết vật linh nguyên thủy là nền tảng, cơ sở vững chắc để những tập quán, tín ngưỡng khác nhau ra đời và phát triển
Từ gĩc nhìn của trường phái chức năng luận, trong cơng trình Ma thuật khoa học và tơn giáo, Malinowski cho rằng tín ngưỡng ra đời khi mà cuộc sống của con người cĩ nhiều sự trở ngại và bất trắc đe dọa đến sinh mạng, đến sự sống cịn của họ Trong khi ấy, X.A Tokarev - nhà nghiên cứu tơn giáo nổi tiếng của Nga cho biết: “Mặc dù bác bỏ luận thuyết về sự phát triển nội tại của tơn giáo, chúng tơi vẫn khơng bao giờ phủ định sự tồn tại của những mối liên hệ nguồn gốc giữa các tín ngưỡng Chúng ta đã thấy rõ những tín ngưỡng đĩ cĩ tính bảo thủ đến mức nào Bất
kỳ một tín ngưỡng nào đã bắt rễ vững chắc cũng đều tồn tại trong nhân dân rất lâu bền, thậm chí tồn tại trong nhân dân rất lâu bền, thậm chí tồn tại ngay cả lúc những điều kiện sản sinh ra nĩ đã thay đổi” [X.A.Tocarev 1994:55] Theo ơng, các hình thức tơn giáo sơ khai là: Tơ tem giáo, bùa mã và lễ ám hại, chữa bệnh bằng phù phép, lễ dục tình, ma chay, lễ thành niên, sự thờ cúng của nghề săn bắt, sự thờ cúng của thị tộc mẫu hệ, sự thờ cúng tổ tiên, Shaman giáo, Naguan giáo, sùng bái hội kín, thờ cúng thủ lĩnh, thờ thần bộ lạc, thờ thần nơng
Tại Việt Nam, vào thế kỷ 20, quan niệm về thế giới quan, nhân sinh quan cịn
cĩ nhiều hạn chế nên suốt thời gian dài từ những năm 60 cho đến cuối những năm 80 của thế kỷ này hầu như việc nghiên cứu, xuất bản các cơng trình về tín ngưỡng tơn giáo bị cấm đốn Bởi trong giai đoạn này, người ta đánh đồng tín ngưỡng với mê tín
dị đoan Thực ra, đây là hai khái niệm hồn tồn khác biệt: Mê tín dị đoan là niềm tin mù quáng, mang tính tiêu cực vì cĩ ảnh hưởng đến tài sản, sinh mệnh, tiền
Trang 17bạcẦmà kẻ xấu lợi dụng vào niềm tin tắn ngưỡng của người khác ựể trục lợi, mưu
ựồ xấu nhằm thu lợi cho bản thân; nó hoàn toàn khác với tắn ngưỡng vốn chỉ là niềm tin chắnh ựáng, là bộ phận của ựời sống tinh thần con người
Nhưng sau ựó, nhận thức ựược tôn giáo tắn ngưỡng luôn hiện diện trong ựời sống tâm linh của con người và có thể biểu hiện ở nhiều góc ựộ khác nhau, ựó là món ăn tinh thần không thể thiếu ựược ựối với tâm hồn con người như cơ thể của chúng ta luôn cần có cái ăn ựể ựảm bảo sự tồn tại của phần xác; trong Báo cáo chắnh trị đại hội đảng lần thứ VII năm 1991 ựã xác ựịnh Ộtắn ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dânỢ [Văn kiện đại hội đảng lần thứ VII, 1991:78] Với xu hướng ựó, từ năm 1992 hàng loạt công trình nghiên cứu, các bài viết giới thiệu về tôn giáo tắn ngưỡng của các học giả, nhà nghiên cứu ựược công bố rộng rãi Trong nhiều công trình nghiên cứu sau ựó, cũng ựã có nhiều ý kiến mang tắnh khái quát về tắn ngưỡng điển hình như đào Văn Tập trong Tự điển Việt Nam Phổ Thông, Ộtắn ngưỡng là lòng tin tưởng và ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩaỢ [Dẫn theo Toan Ánh 2005:11] điều này ựúng trong thực tế của cuộc sống, bởi vì ựại ựa số các nhà nghiên cứu ựều cho rằng nói ựến tắn ngưỡng là bao hàm ý nghĩa ngưỡng mộ và tin tưởng một cách say mê của con người và ựừng ựem khoa học ra giải thắch một cách rạch ròi, cặn kẽ bởi trên lãnh vực tắn ngưỡng thuộc về ựời sống tâm linh của con người thì có nhiều lý lẽ riêng mà khoa học không giảng giải nổi dù có những chứng minh hiển nhiên nhưng cũng không ựủ sức thuyết phục con người hãy ựặt trọn niềm tin vào khoa học
Một nhà nghiên cứu khác, quan niệm: ỘKhi ựời sống và trình ựộ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tắn ngưỡng) Ờ tắn ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức ựời sống cá nhân rất quan trọngẦ Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, do mạnh về tư duy tổng hợp mà thiếu óc phân tắch nên các tắn ngưỡng dân gian chưa chuyển biến hoàn toàn ựược thành tôn giáo theo ựúng nghĩa của nóẦỢ [Trần Ngọc Thêm 2006:233]
Trang 18Trong Cơ sở văn hĩa Việt Nam của Lê Văn Chưởng cĩ nêu khái niệm tín ngưỡng như sau: “Tín ngưỡng là lịng tin tưởng, sự ngưỡng mộ, sự tơn sùng của một chủ thể về một đối tượng, một nhân vật, một chủ nghĩa hay một giáo thuyết Nĩi chung, tín ngưỡng là thái độ cĩ tính cách xã hội của các cá nhân, đồn thể đối với một năng lực mà theo ý họ năng lực này đang hành xử và định đoạt quyền lợi, cuộc đời và số phận của họ.” [Lê Văn Chưởng 1996:159] Ơng cũng nêu lên ví dụ như là tín ngưỡng thờ tổ tiên, thờ đình thần, thờ thần núi …
Theo Wikipedia, tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng… Tín ngưỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hĩa dân gian Trong tín ngưỡng cĩ sự hịa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ cúng và nghi lễ cịn phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ Như vậy, tín ngưỡng cĩ thể được hiểu
là niềm tin của con người đặt vào cái gì đĩ rất thiêng liêng, cao cả đối lập hồn tồn với trần tục và con người thì khơng sao giải thích được sự thiêng liêng, cao cả đĩ Tuy nhiên, tín ngưỡng xuất hiện trong đời sống tâm linh của con người một cách tự phát và tự giác; nĩ cĩ thể tồn tại hoặc khơng tồn tại trong tâm tưởng của con người tùy theo mức độ tin tưởng của con người đặt vào một sự vật, một hiện tượng, một đối tượng cụ thể nào đĩ đã được thiêng hĩa Chính vì hiểu như vậy mà cĩ nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm: “Tín là niềm tin, ngưỡng là ngẩng lên nhìn …Tín ngưỡng biểu hiện lịng tin của con người vào một lực lượng siêu nhiên cĩ tính tự giác trong ý thức của mỗi cá thể, hoặc một cộng đồng xã hội, nhưng khơng tuân thủ những quy chế tổ chức nghiêm ngặt” [Tuấn Giang 2006:47 - 48]
Nĩi chung, cĩ rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tín ngưỡng ðặng Nghiêm Vạn cho rằng: “Thuật ngữ tín ngưỡng cĩ thể cĩ hai nghĩa Khi ta nĩi tự do tín ngưỡng, người ngoại quốc cĩ thể hiểu đĩ là niềm tin nĩi chung (belief, believe, croyance) hay niềm tin tơn giáo (belief, believe, croyance religieuse) Nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin thì cĩ một phần ở ngồi tơn giáo, nếu hiểu là tơn giáo (belief, believe theo nghĩa hẹp, croyance religieuse) thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ
Trang 19yếu nhất cấu thành của tôn giáo” [ðặng Nghiêm Vạn 2005:91] Cũng theo ông, tín ngưỡng chính là niềm tin tôn giáo biểu hiện ở những nền văn hóa khác nhau và rất
ña dạng
ðặc biệt, tín ngưỡng tồn tại trong hệ ý thức của con người mà không có sự phân biệt ñẳng cấp, thành phần xã hội, giới tính Tín ngưỡng tồn tại và phát triển trong ñời sống tâm linh của con người, biểu hiện dưới những dạng khác nhau theo những tập quán khác nhau do chính cộng ñồng người tiếp nhận Do vậy, có nhà nghiên cứu cho rằng: “Về thực chất, tín ngưỡng là một bộ phận cấu thành của văn hóa dân gian” [Phan Hữu Dật 1999:328]
Trong Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành năm 2004, mặc dù không ñề cập ñến khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo, nhưng
có ñưa ra khái niệm hoạt ñộng tín ngưỡng Theo ñó, hoạt ñộng tín ngưỡng ñược hiểu
là hoạt ñộng thể hiện sự tôn thờ tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng ñồng, thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt ñộng tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt ñẹp về lịch
sử, văn hóa, ñạo ñức xã hội Những hoạt ñộng này có vai trò nhất ñịnh trong ñời sống tâm linh của cộng ñồng người và mang lại những giá trị nhân văn sâu sắc Gần ñây, còn có thêm một số khái niệm có liên quan ñến tín ngưỡng: Tín ngưỡng bản ñịa, tín ngưỡng ngoại nhập và tín ngưỡng dân gian Thuật ngữ tín ngưỡng dân gian ñược sử dụng khi tín ngưỡng ñược qui chiếu vào hệ thống nghiên cứu văn hoá dân gian (Folklore) Patrick B Mullen - một nhà nghiên cứu văn hoá dân gian cho biết: “Tín ngưỡng dân gian là một thể loại lớn bao gồm sự biểu cảm và cách ứng xử mà ta gọi là mê tín, tín ngưỡng bình dân, làm phép, các hiện tượng siêu nhiên, … các lời cầu khấn tụng niệm, những người hay vật mang ñồ rủi, … những ñiềm tốt hay ñiềm xấu, các chuyện yêu ma và những ñiều cấm kị” [Ngô ðức Thịnh, Frank Proschan 2005:273] Theo ñó, tín ngưỡng là một bộ phận của văn hóa dân gian mang các ñặc ñiểm như: gắn liền với nghề nghiệp, mang tính thần bí, bị chi phối bởi yếu tố vùng, miền và dân tộc, có tính nguyên hợp
Trang 20Trên cơ sở các ý kiến của những nhà nghiên cứu ñi trước, chúng tôi cho rằng:
“Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng mộ thành kính của cá nhân hay cộng ñồng một cách tự phát hoặc tự giác ñối với ñối tượng cụ thể ñã ñược thiêng hóa.”
1.1.2 Văn hoá tín ngưỡng
Chúng ta cũng biết, bản thân tín ngưỡng là một loại hình văn hóa dân gian cho nên nó bao hàm cả những giá trị văn hóa và phi văn hóa Trong giới hạn của ñề tài này, chỉ ñề cập nghiêng về tính văn hóa của tín ngưỡng thờ Mẫu với những biểu hiện trong các lãnh vực và ñóng góp của nó trong ñời sống của cộng ñồng người Việt ở Tiền Giang
Khi ñưa ra khái niệm tín ngưỡng, người ta cũng thường ñề cập ñến một khái niệm liên quan: văn hoá tín ngưỡng Trong một số công trình nghiên cứu của Ngô ðức Thịnh, người ta thấy khái niệm này xuất hiện và thậm chí trở thành tên gọi của công trình như Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam (xuất bản 2001) Trong bài viết về Các dạng thức văn hoá ở Việt Nam, ông có ghi: “Bản thân các tôn giáo tín ngưỡng ñã là một hình thức văn hoá ñặc thù, ñấy là chưa kể, trong quá trình hình thành và phát triển, mỗi tôn giáo tín ngưỡng bao giờ cũng sản sinh, tích hợp trong nó những hiện tượng, những sinh hoạt văn hoá nghệ thuật” [Ngô ðức Thịnh 2006:28] ðiều này góp phần khẳng ñịnh tín ngưỡng ñược xem môi trường ñã sản sinh, tích hợp và bảo tồn các dạng thức sinh hoạt văn hoá dân gian
Như vậy, tín ngưỡng luôn tồn tại trong dân gian, ñược tích hợp và lưu truyền từ ñời này sang ñời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác Tuy nhiên, nó không chỉ tồn tại một cách biệt lập, ñơn lẻ mà còn tích hợp các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể khác như: cơ sở thờ tự, lễ hội, truyền thuyết, diễn xướng dân gian v.v… có liên quan
ñể tạo thành văn hóa tín ngưỡng Patrick B.Mullen có ý kiến tương tự về vấn ñề này như sau: “Tín ngưỡng dân gian không chỉ tồn tại ở dạng trừu tượng mà nó còn tồn tại trong thực tiễn và các ứng xử thực tế Xin nhắc lại, văn hoá dân gian không chỉ là sự phản ánh một thế giới quan văn hoá trừu tượng, mà nó còn tồn tại trong cuộc sống hằng ngày như là một phương tiện sáng tạo văn hoá” [Ngô ðức Thịnh - Frank Proschan 2005a: 280]
Trang 21Theo UNESCO, tín ngưỡng là bộ phận của loại hình văn hoá phi vật thể Tín ngưỡng ra ñời trong một bối cảnh không gian văn hoá (quốc gia, dân tộc, vùng ñất…) sẽ mang những nét ñặc trưng của không gian và con người nơi ñó Nó còn thể hiện ñược các ñặc ñiểm văn hoá của nơi sản sinh ra nó Ngoài ra, tín ngưỡng có phần ñóng góp vào việc hình thành văn hoá và tính cách dân tộc, kết nối cả cộng ñồng lại với nhau ðiều này cho thấy vai trò của tín ngưỡng trong ñời sống văn hóa của cộng ñồng người là rất lớn
Năm 1871, E.B Tylor ñã ñưa ra quan ñiểm của mình về văn hóa như sau:
“Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, ñạo ñức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác ñược con người chiếm lĩnh với tư cách là thành viên của xã hội” [E.B.Tylor 2001:13] ðịnh nghĩa này mang tính liệt kê tất cả các hoạt ñộng sáng tạo của con người Tương ñồng với quan ñiểm trên, Các Pốp, nhà văn hóa Liên Xô cho rằng: “Văn hóa là toàn bộ những của cải vật chất và tinh thần, kết quả của những hoạt ñộng có tính chất xã hội và lịch sử của loài người” [Dẫn theo Nguyễn ðăng Duy 2001:25]
Có thể nói, với nội hàm rộng lớn, khái niệm văn hóa ñã ñược các nhà nghiên cứu phân tích và ñưa ra các ñịnh nghĩa khác nhau và chưa ai có thể thống kê chính xác có bao nhiêu khái niệm Trong một công trình nghiên cứu của mình, Phan Ngọc cho rằng “văn hóa không phải là một ñồ vật, mà là một quan hệ, có mặt ở mọi tộc người và chỉ ở con người mà thôi” [Phan Ngọc 2006:16]; quan niệm này của ông ñã góp phần khẳng ñịnh văn hóa chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội loài người Ngoài Phan Ngọc, Trần Ngọc Thêm còn chỉ ra rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt ñộng thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2006: 25]
Như vậy, văn hóa là những hoạt ñộng sáng tạo mang bản chất con người, nhằm tái tạo lại mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và thể hiện sự ñịnh vị
Trang 22của mỗi cá thể người trong các mối quan hệ ñó Những hoạt ñộng này ñược ñối tượng hóa thành những sản phẩm vật chất và tinh thần, chứa ñựng những giá trị ñược toàn cộng ñồng công nhận và noi theo, và ñược kết tinh thành truyền thống mang ñặc trưng mọi mặt của cộng ñồng người sáng tạo ra văn hóa ðồng thời, khái niệm về văn hóa ñã giúp chúng ta có cái nhìn về “cái còn lại” của văn hóa “Cái còn lại” ñó
có thể bằng vật chất, có thể bằng tinh thần Thực tế, mọi hoạt ñộng của con người hay bất kỳ hiện tượng, sự kiện nào xảy ra trong xã hội loài người ñều mang tính hai mặt: tốt và xấu, thiện và ác, nên và không nên, v.v… Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng mang tính hai mặt, nghĩa là cũng có yếu tố phi giá trị (ñồng nghĩa với khái niệm phi văn hóa trong tín ngưỡng); ñề tài này nhằm chú trọng ñến tính giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu
Dưới góc nhìn văn hóa, tín ngưỡng là sự biểu hiện của văn hoá tinh thần của con người có giá trị giúp con người củng cố niềm tin trong cuộc sống hiện tại quá nhiều bất trắc Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Văn hóa học của Dương Hoàng Lộc ñã ñưa ra quan niệm của mình về văn hóa tín ngưỡng như sau: “Văn hoá tín ngưỡng là một tiểu văn hoá (sub culture), ở ñây tín ngưỡng ñã tích hợp các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể khác có liên quan ñược thể hiện qua các hoạt ñộng thờ cúng, ñặc biệt các hình thức này biểu hiện rõ nét tính văn hóa” [Dương Hoàng Lộc 2008: 37]
Xuất phát từ quan ñiểm của các công trình, tài liệu ñã tiếp cận, xin ñưa ra quan ñiểm về khái niệm văn hóa tín ngưỡng như sau: “Văn hóa tín ngưỡng là toàn bộ những giá trị về các quan niệm, lòng tin, phương thức và nghi thức hành lễ của con người ñối với một ñối tượng cụ thể ñã ñược thiêng hóa trong ñời sống tâm linh của
họ tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội mà họ ñang sống.”
Trong giới hạn của ñề tài nghiên cứu này, chúng tôi xét về cái còn lại bằng tinh thần, tức là nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang mà theo cách nói của người Việt Nam Bộ là: thờ Bà Chúng tôi cũng sử dụng cách nói này trong quá trình nghiên cứu
Trang 23có nét văn hóa chung là tôn thờ nữ thần, tôn vinh vị thần cội nguồn của ñất nước và dân tộc là là Nữ thần, gọi là Thánh Mẫu – Thần Mẹ” [Ngô ðức Thịnh 2001:145] Quan ñiểm của Trần Ngọc Thêm thì cho rằng “gắn liền với cuộc sống nông nghiệp và nguyên lý âm dương là khuynh hướng ñề cao phụ nữ với việc thờ nữ thần: Bà Trời, Mẹ ðất, Bà Thủy, Bà Hỏa, 12 bà mụ, v.v…”[Trần Ngọc Thêm, 2006: 254] ðiều này cho thấy, Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp lúa nước truyền thống, vì vậy, trong tư duy của họ rất coi trọng ðất: ðất là chỗ họ ñang
cư trú, ñất là nơi họ bỏ biết bao công sức và tâm huyết ñể khai khẩn canh tác sản xuất ñem lại nguồn sống cho bản thân và gia ñình và cho cả cộng ñồng; do ñó con người nơi ñây ñề cao, tôn thờ nữ thần, tôn thờ Mẫu (Mẹ - ðất) là ñiều hiển nhiên
Vì vậy, chúng ta cũng không lấy làm lạ khi phát hiện trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt và một số dân tộc anh em, việc tôn thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần là một hiện tượng khá phổ biến
Thực ra, tín ngưỡng thờ Mẫu ñã phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan của con người về tự nhiên Trong lịch sử, con người khi sinh ra ñã phải ñối ñầu với hiểm họa của thiên nhiên gây ra và do cả sự choáng ngợp của con người trước các hiện tượng tự nhiên mà trình ñộ nhận thức khoa học của họ lúc ñó chưa giải thích ñược Họ ñâm ra lo sợ và mong ước có một sự chở che, an ủi, giúp họ có thể chiến thắng nỗi sợ hãi và gặp thuận lợi trong cuộc sống Như vậy, có thể nói: “Nền tảng
Trang 24tâm linh của tín ngưỡng thờ Mẫu là ý thức của người nông dân Việt cầu mong ở ñất ñai mùa màng tươi tốt Vị thần ðất là vị thần mà người nông dân sáng tạo ra, ñể họ gởi gắm các khát vọng của mình Vị thần ấy, ngay từ buổi ñầu, ñã mang một cốt lõi uyên nguyên, mang yếu tố âm, nên thường xuất hiện dưới dạng nữ thần Nói khác
ñi, tín ngưỡng thờ Mẫu gắn bó mật thiết với người nông dân Việt, … là nhu cầu tâm linh của người nông dân Việt từ bao ñời nay” [Nguyễn Phương Thảo 1997:181] Chính vì thế, con người chỉ có thể ñặt niềm tin vào thế giới siêu nhiên mà họ ñã và ñang khát khao muốn biết, muốn tìm hiểu, muốn chinh phục mà chinh phục không ñược thì chỉ có con ñường khuất phục Họ khuất phục trước sức mạnh huyền bí và
họ dựa dẫm vào ðất – nguồn sống của họ, và họ tôn xưng là Mẹ, là Bà, là Thánh Mẫu, là Nương Nương và nhiều mỹ từ khác; miễn sao họ có cảm giác mình ñã bình yên vì ñã có một thế lực vô hình ñang chở che, hiểu ñược khát khao, ước muốn của
họ và sẽ giúp họ hoàn thành ý nguyện ðiều này càng làm rõ hơn sự tác ñộng bởi lịch sử tự nhiên và hoàn cảnh xã hội tới ý thức của con người và góp phần hình thành, phát triển tín ngưỡng thờ Mẫu ở nhiều vùng miền, nhiều dân tộc khác nhau Tuy nhiên, phải hiểu rằng: “Trước nhất, ñạo Mẫu phát triển trên cái nền thờ
nữ thần, thường gắn với tính chất quốc gia, như thờ các Vương Mẫu, Quốc Mẫu, Thánh Mẫu, như nguyên phi Ỷ Lan, Mẹ Gióng, Mẫu Tây Thiên, Thiên Ya Na, Linh Sơn Thánh Mẫu - Bà ðen, Bà Chúa Xứ Về cơ bản lớp thờ nữ thần và mẫu thần mang tính bản ñịa, nội sinh Lớp mẫu tam phủ, tứ phủ hình thành trên cơ sở lớp tín ngưỡng thờ nữ thần và mẫu thần kết hợp với tiếp thu những ảnh hưởng của ðạo giáo Trung Hoa.” [Ngô ðức Thịnh 2010]
Tín ngưỡng thờ Mẫu ñã cùng với người Việt từ miền ngoài vào vùng ñất phía Nam, là hành trang tinh thần giúp lưu dân Việt có niềm tin, sự dũng cảm ñể trụ lại
xứ sơn lam chướng khí này Tại ñây, qua quá trình sống, lưu dân Việt cùng cộng cư với các tộc người khác và hiện tượng giao lưu văn hóa, hỗn dung văn hóa là ñiều không thể tránh khỏi Tín ngưỡng thờ Mẫu ñược gọi là thờ Bà theo cách nói của người Việt Nam Bộ, bởi theo quan niệm của họ, gọi là Bà tạo cho người ta cảm giác vừa tôn kính, vừa gần gũi, thân mật Trịnh Hoài ðức ñã từng khẳng ñịnh: “Họ tin
Trang 25việc ựồng bóng, kắnh trọng nữ thần như bà chúa Ngọc, bà chúa động (quen gọi người phu nhân tôn quý bằng bà), bà Hỏa Tinh, bà Thủy Long, và cô Hồng, cô Hạnh v.vẦỢ [Trịnh Hoài đức 1972:4, tập Hạ] Có thể nói, tắn ngưỡng thờ Mẫu ựã trải qua quá trình tắch hợp nhiều giá trị văn hóa của các tộc người ựể tạo ra nhiều sản phẩm văn hóa có bản sắc riêng trong ựiều kiện tự nhiên, môi trường xã hội khác nhau Ngô đức Thịnh có viết: Ộựạo Mẫu ựã sản sinh và tắch hợp nhiều yếu tố, giá trị văn hoá: Văn học ựạo Mẫu, diễn xướng ựạo Mẫu (âm nhạc, múa, hát chầu văn, sân khấu), kiến trúc và nghệ thuật trang trắ, lễ hội và sinh hoạt cộng ựồng gắn với ựạo MẫuỢ [Ngô đức Thịnh 2001:765]
Nhiều nhà nghiên cứu cũng thừa nhận tắn ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tắn ngưỡng dân gian, có có sức sống bền bĩ, âm thầm vượt qua mọi biến cố lịch sử ựể tồn tại trong ựời sống tâm linh của người làm nghề nông - vốn luôn xem trọng đất Ờ
Mẹ - Bà, những biểu tượng gần gũi trong cuộc sống ựời thường của họ Với họ, tắn ngưỡng này ựem lại sức mạnh tinh thần rất lớn, rất có ý nghĩa
Trên cơ sở ựó, tắn ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang sẽ ựược tiếp cận từ: Văn hóa tâm linh và các hoạt ựộng, ựặc ựiểm tắn ngưỡng thờ Mẫu của cộng ựồng, từ ựó có thể rút ra vai trò, ý nghĩa nhân văn của tắn ngưỡng thờ Mẫu trong ựời sống tâm linh của người Việt ở vùng ựất này
1.2.1 Không gian văn hoá
Tiền Giang là một trong số 13 tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ với 10 ựơn vị hành chắnh bao gồm 1 thành phố loại II và 9 huyện thị; ựó là: thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công và 8 huyện: Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Tân Phước, Chợ Gạo, Gò Công Tây,
Gò Công đông, Tân Phú đông (xem hình 1) Trung tâm hành chắnh của tỉnh ựặt tại thành phố Mỹ Tho bao gồm 172 ựơn vị hành chắnh cấp cơ sở (trong ựó có 8 thị trấn, 16 phường và 157 xã).
Trang 26Vào thế kỷ 17, vùng ñất Tiền Giang còn thưa thớt người ở và trải qua thời gian hơn 300 năm khai phá, vùng ñất này có nhiều tên gọi khác nhau Thưở ấy, người ta gọi nơi ñây là Vũng Cù và Mỹ Tho “Theo lịch sử thì Mỹ Tho xuất hiện từ năm
1744 chúa Võ Vương lập ñạo Trường ðồn gồm ñất Mỹ Tho và Cao Lãnh Truyền thuyết cho rằng: Mỹ Tho do tiếng Miên (Mi saur) có nghĩa là cô gái ñẹp Do quyển
Le Cambodge của ð Aymonier, thì chữ “Mỹ Tho chỉ là tiếng Mé so (nàng tiên, cô
kỹ nữ) ñọc trại (Mỹ Tho en effer, n’ est autreque la corre de Méso)” [Huỳnh Minh 1973:45] Có thuyết cho rằng tên gọi Mỹ Tho xuất phát từ Mỹ Tho ñại phố khi có người Hoa ñến vùng ñất này sinh sống và lập phố chợ Về sau, Mỹ Tho có tên gọi là ðịnh Tường Năm 1976, vùng ñất này ñược gọi là Tiền Giang và tên này ñược duy trì ñến ngày nay
Hình 1 Bản ñồ hành chánh tỉnh Tiền Giang Ảnh Nguồn Internet
Tiền Giang là tỉnh thuộc ñồng bằng sông Cửu Long, nằm trải dọc trên bờ Bắc sông Mê Kông (Cửu Long) Phía Bắc giáp tỉnh Long An và thành phố Hồ Chí
Trang 27Minh, phắa Tây giáp tỉnh đồng Tháp, phắa Nam giáp tỉnh Bến Tre và Vĩnh Long, phắa đông giáp biển đông Với diện tắch khoảng 2.481,8km2 lại gần miền đông Nam Bộ, nên ựịa chất ở Tiền Giang có tắnh ựặc trưng của cả khu vực đất Tiền Giang có thể phân loại thành 4 nhóm ựất:
+ Nhóm ựất phù sa mới: phân bổ dọc theo sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây, chiếp phần nhiều diện tắch của các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo,
Mỹ Tho và một phần của huyện Gò Công Tây, chiếm khoảng 53% diện tắch tự nhiên toàn tỉnh đây là nhóm ựất có diện tắch lớn nhất trong 4 nhóm ựất, tạo nhiều thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, có khả năng nâng cao hiệu quả ựầu tư của một nền nông nghiệp hàng hóa
+ Nhóm ựất phèn: ựược hình thành trên các lớp trầm tắch ựầm lầy, phân bố chủ yếu ở khu vực phắa bắc của hai huyện Cái Lậy và Châu Thành và tây bắc của huyện Tân Phước thuộc vùng đồng Tháp Mười; chiếm khoảng 19,36% diện tắch ựất tự nhiên và là nhóm ựất có diện tắch lớn thứ hai sau nhóm ựất phù sa
+ Nhóm ựất mặn: chiếm phần lớn diện tắch các huyện Gò Công đông, Gò Công Tây, Tân Phú đông và một phần huyện Chợ Gạo, chiếm khoảng 14,6% diện tắch ựất tự nhiên và là nhóm ựất có diện tắch lớn thứ ba sau hai nhóm ựất phù sa và ựất phèn đất cát giồng có ựịa hình cao lại giữ ựược nước vào mùa khô cho nên trở thành những tụ ựiểm quần cư ựông ựúc
+ Nhóm ựất cát: chủ yếu là ựất cát giồng, phân bố rải rác ở các huyện Cai Lậy, Châu Thành, Gò Công Tây và tập trung nhiều nhất ở Gò Công đông thành từng dải hình vòng cung song song với bờ biển và nhô cao hơn so với vùng ựất phù
sa xung quanh Hiện nay, phần lớn các giồng cát ở Gò Công đông, Gò Công Tây
bị lấp hoàn toàn dưới lớp phù sa
Về mặt sinh thái, Tiền giang có 3 vùng: vùng sông Tiền, vùng ven đồng Tháp Mười và vùng duyên hải Gò Công Tiền Giang là nơi có nhiều ựiều kiện thuận lợi cho sự duy trì và phát triển của thảm thực vật, các hệ ựộng vật Mặt khác, với những yếu tố tự nhiên ấy, Tiền Giang trở thành vùng có hệ sinh thái ựa dạng, phong phú và
Trang 28mang tắnh ựặc trưng của một ựồng bằng mà phần lớn bề mặt là phù sa mới do sông Cửu Long lắng tụ và bồi ựắp
Là một tỉnh ựược khai phá từ lâu, Tiền Giang là một tỉnh có vị trắ ựịa lý thuận lợi cho giao thông ựường thủy lẫn ựường bộ Mặt khác, hệ thống sông ngòi, kinh rạch chằng chịt với các sông Tiền, sông Tra, sông Vàm Cỏ Tây, sông Kỳ Hôn, sông Gò Công, kinh Chợ Gạo, kinh Bảo định, kinh Nguyễn Văn Tiếp, kinh Nguyễn Tấn Thành, kinh Trương Văn Sanh, kinh Xáng, Kinh 28, rạch Ba Rài, rạch Cái Bè, rạch Gầm, rạch Trà Lọt, v.v nối liền các tỉnh ựồng bằng sông Cửu Long với thành phố Hồ Chắ Minh
và là cửa ngõ ra biển đông của các tỉnh ven sông Tiền và Campuchia Với vị trắ ựịa lý như thế, từ trong quá khứ, Tiền Giang ựã trở thành trung tâm chắnh trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội giữa miền đông và miền Tây Nam Bộ từ cuối thế kỷ 17 ỘChợ Lớn thưở xưa có hai ựường thuỷ thông thương với Mỹ Tho và miền Hậu Giang, có thể nói là hai ựường sanh mạng giúp sự chuyên chở thổ sản và mễ cốc miền Tây ựược mau chóng
và rẻ tiềnỢ [Vương Hồng Sển 1997:135] Do hệ thống sông ngòi, kinh rạch ở Tiền Giang lớn nhỏ ựan xen nhau như mạng lưới, muốn di chuyển từ nơi này sang nơi khác chỉ có thể thay ựổi từ tàu thuyền lớn sang xuồng, ghe nhỏ ựễ dễ dàng luồn lách trên sông rạch và ựây ựược coi là phương tiện giao thông chắnh của ựường thủy ở vùng ựất này Trên ựường bộ, bờ cộ và cộ trâu là phương tiện chủ yếu trong giao thông và vận tải ở nông thôn trong thời gian dài từ buổi ựầu khai hoang cho giữa thế
kỷ 20 đi thăm ựồng cũng cỡi trâu, vô xóm thăm bạn bè, người thân cũng phải cỡi trâu Thế mới có câu: ỘLạc ựường nắm ựuôi chó, lạc ngõ nắm ựuôi trâuỢ
Về sau, do nhận thức ựược tầm quan trọng về kinh tế, quân sự của mảnh ựất phắa Nam, chắnh quyền thuộc Pháp cho làm ựường, mở lộ ựể vận chuyển nông sản, hàng hóa từ miền Tây Nam Bộ về thủ phủ tại Sài Gòn Ộnông sản hàng hoá xuất khẩu quan trọng ựược ựem bán ở Sài Gòn, Phnôm Pênh (Nam Vang) và ựôi khi ựược bán sang cả Mã Lai thông qua các thương nhân người Trung HoaỢ [Huỳnh Lứa 1987:81] Nhiều con ựường, lộ lớn ựã hình thành ở vùng ựất Tiền Giang trong giai ựoạn này, tuy nhiên, do nhiên liệu lúc bấy giờ còn khan hiếm, phương tiện cơ giới còn hạn chế cho nên ựường thủy vẫn là huyết mạch giao thông quan trọng
Trang 29chiếm 60% trong tổng khối lượng vận chuyển ở ựồng bằng sông Cửu Long ỘCách nay hơn một trăm năm xe cộ rất ắt, ựường sá không nhiều như bây giờẦ đường gần, gọn nhứt và rẻ tiền là ựi thuyền, ghe lồng, ghe giàn, tam bản bốn chèo hoặc hai chèo, bình dân hơn nữa là chiếc xuồng ba láỢ [Vương Hồng Sển 1997:96]
Thời thuộc Pháp thì chắnh quyền ựã có quan tâm ựến việc thiết lập ựường sắt chạy từ Sài Gòn về Mỹ Tho (1789), đây là tuyến ựường sắt ựầu tiên ựược thiết lập ở đông Dương nhằm rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa nông sản từ các tỉnh miền Tây Nam Bộ về Sài Gòn
Mặc dù thiên nhiên ở Tiền Giang ựược xem là thuận lợi hơn đàng Ngoài, như sông rạch chằng chịt, nguồn nước ựầy ựủ, khắ hậu ựiều hòa, ắt bão lụt, ắt hạn hán, ựất ựai bằng phẳng, phì nhiêu Ầ nhưng cũng không phải là không có khó khăn Vùng ven biển Gò Công có lúc bị bão hoành hành3 và khan hiếm nước ngọt Tại những nơi giáp đồng Tháp Mười ựất bị nhiễm phèn và nước lũ dâng lên hàng năm, khiến cho sản xuất và cuộc sống nhiều gian nan, vất vả
1.2.2 Chủ thể văn hoá
Từ khoảng thế kỷ XVI trở ựi, ỘNam Bộ trở thành nơi thu hút các nhóm dân
cư thuộc nhiều dân tộc và quốc gia khác nhau tới sinh sống và lập nghiệp, tạo ra một ựời sống văn hoá mang màu sắc ựa dân tộc tại vùng nàyỢ [Cao Tự Thanh 2010:47] Tiền Giang là một phần của Nam Bộ cũng trở thành ựiểm dừng chân của các lớp lưu dân thuộc các tộc người khác nhau
Vùng ựất Tiền Giang cho ựến cuối thế kỷ 16, về cơ bản vẫn còn là một vùng ựất hoang dã đầu thế kỷ 17, vùng ựất Tiền Giang xuất hiện lớp cư dân mới, chủ yếu là người Việt từ miền ngoài di cư vào Với thành phần xã hội ựa dạng: từ người nghèo không miếng ựất cặm dùi, cho ựến những quan lại muốn khai thác sức lao ựộng của tù nhân ựể khai hoang mảnh ựất màu mỡ chưa có chủ, cả những người sợ
3
Cơn bão Giáp Thìn năm 1904 ựã cướp ựi sinh mạng hàng ngàn người, thiệt hại tài sản không sao kể xiết
Trang 30chiến tranh của phong kiến đàng Ngoài làm ảnh hưởng lâu dài ựến cuộc sống của người dân nên chỉ có cách bỏ ựi xứ khác làm ăn là an toàn nhất Huỳnh Lứa có ghi:
ỘNgoài số nông dân nghèo thất sở, xiêu tán, trong lớp người Việt ựến ựây còn phải
kể ựến những người trốn tránh binh dịch, những tù nhân bị lưu ựày, những binh lắnh ựào ngũ hoặc giải ngũ, những thầy lang, thầy ựồ nghèo, Ầ kể cả những người vốn
ựã giàu có nhưng vẫn muốn tìm nơi ựất mới ựể mở rộng công việc làm ănỢ [Huỳnh Lứa 1987:42]
Ban ựầu, người Việt ựến Tiền Giang theo dạng di dân tự phát ựa số họ nông dân nghèo khổ ỘChắnh lực lượng này ựóng vai trò quyết ựịnh trong công cuộc khẩn hoang ở Tiền Giang trong các thế kỷ XVII, XVIII và cả nửa ựầu thế kỷ XIXỢ [địa chắ Tiền Giang 2005:375, Tập 1] Khi ựã xác ựịnh vùng ựất phắa Nam có chốn dung thân và có thể khai phá ựất ựai ựể sinh sống, họ trở về quê hương bản quán và mang theo người thân trong gia ựình, họ hàng vào ựây bằng nhiều con ựường khác nhau:
ựi bộ vượt rừng hoặc ựi bằng ghe bầu ựi dọc theo bờ biển vào cửa Tiểu, cửa đại, cửa Soài Rạp rồi tiến vào ựất liền trú chân Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quắ đôn chép: ỘNếu cho thuyền ựi xuống miền dưới thì người ta ựi vào các cửa Tiểu, cửa đạiỢ Sau ựó, người ta ựến Gò Công, Vàm Giồng, Chợ Gạo, Mỹ Tho, Cai Lậy, Cái
Bè v.vẦ đi tới ựâu, lưu dân người Việt khai phát4 rừng hoang ựến ựó Nhờ thế, các giồng ựất từ trong ựất liền ra ựến tận ven biển, kể cả các cù lao trên sông Tiền, ựều ựược lưu dân khai khẩn, ựịnh cư và tiến hành sản xuất nông nghiệpỢ
Dưới chắnh sách khuyến khắch dân di cư vào Nam khai hoang của chúa Nguyễn, một số dân vùng Ngũ Quảng ựã tìm ựến vùng Trấn Biên và Phiên Trấn tụ họp ựến sinh sống ỘDân cư thưa thớt, làm nông theo lối ựao canh hỏa thực, và ựốn của ựốt than, trọn năm cần laoỢ [Trịnh Hoài đức 1972:64, tập Thượng] Số lưu dân khẩn hoang ựược tự do làm ăn, khai khẩn vùng nào tùy ý, khai khẩn ựược bấy nhiêu
là tùy sức và muốn ở ựâu cũng ựược Người Việt với số lượng ựông nhất sống tập trung về tại những trung tâm hành chánh, dọc theo bờ của các con sông, kinh rạch,
4
Khai phát: Khai hoang và phát cây rừng tìm ựất trống canh tác.NV
Trang 31giồng cát, những nơi thuận tiện lấy nước phục vụ cho công việc trồng trọt, sinh hoạt Chủ yếu họ sống bằng nghề nông và nghề làm vườn, chăn nuôi đến năm Giáp Tý (1744), hai làng ựầu tiên ở vùng Tiền Giang ựược thành lập là làng Bình Phục Nhất
và làng Bình Trị, mở ra thời kỳ lập làng của cư dân khẩn hoang trên vùng ựất mới Bên cạnh người Việt là lực lượng khai hoang chủ yếu, ựến tháng Giêng năm
Kỷ Mùi (1679), viên tướng nhà Minh là Dương Ngạn địch cùng hơn 1.000 thuộc hạ vượt biển xin ựịnh cư Chúa Nguyễn ựồng ý cho họ vào cửa Tiểu ựến Mỹ Tho cùng với lưu dân người Việt khẩn hoang, vỡ ựất làm ruộng, trồng trọt, chia lập trang trại, thôn ấp Người Hoa ựến Nam Bộ ựể xin tỵ nạn và ựịnh cư Ộbao gồm nhiều thành phần như: thương gia, binh sĩ, các lãnh chúa, thợ thủ công, những cựu thần của các triều ựại phong kiến phương Bắc thất thế, những tội phạm bị kết án, những võ quan
bị tội ựồỢ [Nguyễn Thị Hoa Xinh 2008:392]
Người Hoa ựã nhận thức ựược tiềm năng kinh tế ở vùng ựất Nam Bộ, cho nên
ựã tiên phong khai phá lãnh vực thương mại mà vốn dĩ họ là dân tộc có sở trường về vấn ựề này từ lúc còn ở chắnh quốc, Ộcùng với người Việt và người Khmer, những người Hoa ựã vỡ ựất hoang, lập phố xá, buôn bán với các thương nhân Trung Quốc, châu Âu, Nhật Bản, đông Nam ÁỢ [Cao Tự Thanh 2010:47] Tại Phiên Trấn, nhóm người Hoa lập thành xã Minh Hương; ngoài khai khẩn ựất hoang mở rộng canh nông, họ sống chủ yếu bằng nghề buôn bán ỘDo sản xuất hàng hoá phát triển và việc buôn bán sớm trở thành một hoạt ựộng kinh tế sôi nổi, Ầ một số nhanh chóng trở thành những trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế nổi tiếngỢ [Huỳnh Lứa 1987:86]; trong ựó có cả Mỹ Tho đại Phố
Ngoài ra, trên vùng ựất Tiền Giang còn có sự hiện diện của người Khmer Họ trú ngụ trên các giồng ựất cát cao ráo, sống bằng nghề làm rẫy, làm ruộng là chắnh Người Chăm với số lượng ắt ỏi, sống co cụm Ộchuyên nghề nông tangẦ Bờ phắa tây
hạ lưu Tiền giang có chợ quán trù mật, dân cư chuyên nghiệp cày ruộng dệt cửiỢ [Trịnh Hoài đức 1972:61, tập Thượng] Và những tộc người khác cùng cộng cư nhưng số lượng ắt điều này cho thấy, ngay từ những thế kỷ trước, trên vùng ựất
Trang 32Tiền Giang ñã có hiện tượng cộng cư và giao lưu văn hóa giữa các tộc người Việt, Hoa, Khmer, Chăm, v.v…
Theo số liệu thống kê: “Năm 1999, toàn tỉnh ngoài người Việt chiếm ña phần thì có 9.298 người Hoa, 458 người Khơ me và 68 người Chăm cùng một số dân tộc
ít người và người nước ngoài ñịnh cư ở Tiền Giang” [Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Tiền Giang]
Nhờ sự cộng cư, giao thoa văn hóa và có mối quan hệ hôn nhân với người Việt nên người Hoa dần dần trở thành người Việt, theo văn hóa Việt, theo phong tục tập quán Việt và xem Việt Nam là tổ quốc của họ Ở họ, chỉ còn danh xưng
“Minh hương” (tức con dân nhà Minh) ñể nhắc lại nguồn gốc cũ Những người Minh hương này cùng với người Việt - vốn ñã ñến Tiền Giang từ trước và chiếm ña
số - chung lưng ñấu cật, ra sức phát triển sản xuất, tạo dựng quê hương mới Họ khai khẩn ñất hoang theo cách thức "móc lõm", nơi nào ñất tốt, dễ khai phá, có ñiều kiện tưới nước, thuận lợi trong việc bảo vệ thì tiến hành khai phá, nơi nào khó khăn, sức người chưa giải quyết nổi thì chừa lại
Tiền Giang trước kia là vùng ñất hoang vu, nhưng kể từ khi có người Việt từ miền ngoài vào tiến hành khai hoang và tiến hành sản xuất nông nghiệp thì sản xuất nông nghiệp trở thành ngành nghề chính của cư dân ở vùng này và ngày càng phát triển vượt bậc “Theo thống kê năm 2003, trong số 920.880 người có hoạt ñộng kinh
tế thường xuyên, có tới 800.884 người làm nông nghiệp (chiếm tỉ trọng 88,5%), ñiều ñó nói lên rằng kinh tế của Tiền Giang hiện nay chủ yếu vẫn là kinh tế nông nghiệp” [Nguồn: Cục thống kê tỉnh Tiền Giang]
Tiền Giang có hai loại ruộng là sơn ñiền (loại ruộng gò) và thảo ñiền (loại ruộng thấp) Người dân Tiền Giang thưở ấy ñã canh tác theo cách thức “ñao canh thủy nậu” tức là phát cỏ, dọn ñất chờ cho mưa xuống mới trục bừa ñể cấy ñối với loại ruộng thảo ñiền; và “ñao canh hỏa thực” tức là ñốn chặt cây cối cho sạch, ñợi khô rồi ñốt cây sau ñó mới tiến hành lấy dao chọc lỗ trồng lúa dành cho loại ruộng
Trang 33sơn ựiền Từ ựó, nông dân nghĩ ra cách làm nọc cấy ựể ựi cấy ở những ruộng thuộc loại sơn ựiền
Cũng như các nơi khác trên vùng ựất Nam Bộ, Tiền Giang thời khẩn hoang người ắt, ựất nhiều cho nên khi khai khẩn ựược bao nhiêu thì họ ựược hưởng bấy nhiêu nên từng hộ gia ựình có ựất canh tác rất phổ biến đó là ựiều kiện ựể phát sinh hình thức làm kinh tế kiểu mới phát triển theo như nhận ựịnh của một nhà nghiên cứu cho rằng: ỘỞ Nam Bộ số nông dân có ruộng tư ựủ làm khá ựông ựảo đó là một
cơ sở ựể kinh tế Ộmiệt vườnỢ nảy nở tại ựâyỢ [Huỳnh Quốc Thắng 2003:35] Tiền Giang là một thắ dụ ựiển hình của nghề làm vườn vì vùng này cónhững nơi ựất cao, thấm nước ngọt quanh năm, thuận lợi cho việc trồng những vườn cây ăn trái Nơi ựây, cách sinh hoạt ựược tổ chức có phần khác hơn so với những nơi người dân sống bằng nghề làm ruộng thuần trồng lúa nước
Ngoài trồng lúa, trồng hoa màu, trồng cây ăn trái người Việt ở Tiền Giang còn kết hợp chăn nuôi ựể tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào, phong phú nhất là các loại thủy sản nước ngọtẦ và phế phẩm của các loại cây ăn trái như chuối, dừa, các loại rau như rau muống, rau lang, bèo, v.vẦ Với tập quán suy nghĩ: ỘNuôi heo
ựể dưỡng già, nuôi gà ựể tiết kiệmỢ; từ trong quá khứ, chăn nuôi gia súc, gia cầm chủ yếu là heo, vịt, gà ựược chú trọng và phát triển ở Tiền Giang do ựiều kiện thiên nhiên ựặc biệt thuận lợi vì ựồng ruộng bao la, hệ thống mương rạch chằng chịt đặc biệt, do người Việt ở Tiền Giang có sở thắch khoái thịt vịt hơn thịt gà cho nên hầu như nhà nào ở nông thôn cũng nuôi vịt và nghề nuôi vịt chạy ựồng là nghề phổ biến, ựặc thù của nông dân Tiền Giang
Sản xuất nông nghiệp phát triển tạo ựiều kiện cho sự phân công lao ựộng mới Các chợ, thị tứ, phủ lỵ, huyện lỵ hình thành trên các trục giao thông thủy và bộ Phần lớn các chợ ựược lập trên phần ựất (là bến sông) thuận tiện trong việc ựi lại bằng ựường thủy, Ộquán phố liên lạc, ghe thuyền tới lui, thành một ựô hộiỢ [Trịnh Hoài đức 1972:61, tập Thượng]
Trang 34Cùng với việc khai hoang vỡ ñất, chăn nuôi, trồng trọt; cộng ñồng người ở Tiền Giang còn làm nghề thương mãi Người Hoa vốn có truyền thống trong việc mua bán cho nên người Việt cũng học hỏi mà bắt chước “ñua theo người Hoa, nhiều nhà nông vừa làm ruộng vừa tiếp cận thị trường, vừa sản xuất kinh doanh Thật ra chỉ ở Nam Bộ, nông dân mới có nhiều cơ hội ñể quyết chí làm giàu theo kiểu như thế” [Huỳnh Quốc Thắng 2003:36] Thực ra, trong tính cách của người Việt vốn ñã tiềm tàng tinh thần năng ñộng do sống và sinh hoạt trong môi trường mới, mở và thoáng “Sự phát triển của thương nghiệp là hệ quả thứ ba của tính năng ñộng Người Việt Nam Bộ không coi buôn bán là nghề xấu mà chấp nhận buôn bán và cho
ñó là một nguồn vui: ðạo nào vui bằng ñạo ñi buôn/ Xuống biển lên nguồn, gạo chợ nước sông Nhờ vậy mà tạo nên ñược một nền kinh tế hàng hoá khác hẳn Bắc Bộ” [Trần Ngọc Thêm 2006:312]
Cư dân Tiền Giang còn có các nghề khác ñể phát triển kinh tế gia ñình như nghề ñóng tủ thờ, nghề làm hủ tiếu, nghề ñóng ghe, nghề ñan lác, nghề ñi biển, nghề chài lưới, v.v… ðặc biệt, có một số nghề ñã tạo những thương hiệu nổi tiếng như hủ tiếu Mỹ Tho, hoặc trong dân gian có câu: Nhứt tủ thờ Gò Công, nhì sa-lon Sông Bé ñể ca tụng nghề ñóng tủ thờ ở Tiền Giang
Tất cả những ñiều trên cho thấy, Tiền Giang là vùng ñất mới, có sự hình thành
ñô thị sớm, sản vật dồi dào, ñời sống một bộ phận dân cư rất sung túc cùng với ñó là cộng ñồng dân cư ña số sống bằng nghề nông, cuộc sống gắn liền với ñất do ñó tín ngưỡng thờ Mẫu cũng sớm ñịnh hình và phát triển ở vùng ñất này
1.2.3 Thời gian văn hoá
Trước Công nguyên, trên vùng ñất Tiền Giang, khảo cổ học chưa phát hiện ñược các vết tích văn hóa do con người ñể lại
Sau Công nguyên, vùng ñất Tiền Giang “thuộc vương quốc Phù Nam ðịnh chế chính trị ban ñầu của Phù Nam còn mang nhiều tính chất thị tộc Triều ñại thứ nhất theo truyền thuyết là sự kết hợp giữa hai thị tộc: Mặt trăng của Liễu Diệp và Mặt trời của Hỗn ðiền Dần dần xã hội có sự phân cực giữa các tầng lớp nông dân, thợ thủ
Trang 35công và thương nhân Tầng lớp tăng lữ là chỗ dựa của triều ñình Phù Nam” [Võ Sĩ Khải 1977:348] Qua các phát hiện khảo cổ học, có nhiều trung tâm tôn giáo, nhiều khu cư trú và mộ táng của cư dân Phù Nam ðặc biệt, tại Gò Thành thuộc xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo và một số vết tích văn hóa khác trên ñịa bàn huyện Cai Lậy; các nhà khoa học ñã phát hiện mảnh minh văn bằng ñá do tầng lớp tăng lữ biên soạn, nhiều tượng ñá, ñồ trang sức, nhiều hiện vật bằng vàng có khắc hình thú, nhiều ñồ gốm ñược chế tác tinh xảo, xương của ñộng vật v.v… ðặc biệt, với những vật liệu quý hiếm ñược phát hiện tại di chỉ Gò Thành, ñã phản ánh nhiều mặt về ñời sống tinh thần và vật chất trong xã hội Phù Nam tại vùng ñất Tiền Giang ngày nay, minh chứng một thời hưng thịnh của vương quốc Phù Nam trên mảnh ñất này Nền thương nghiệp phát triển và sự bành trướng nhannh chóng về lãnh thổ của Phù Nam ñã dẫn ñến các tiểu cương ở xa dựa vào các thương nhân giàu có ñể củng
cố thế lực tạo ra nạn cát cứ, khiến cho Phù Nam bước vào thời kỳ suy thoái từ giữa thế kỷ thứ 6, hoàn tòan sụp ñổ vào khoảng thế kỷ thứ 7 Vùng châu thổ sông Cửu Long trong ñó có Tiền Giang trở nên hoang vu
Theo nhiều sử sách cũ ghi chép, lúc này ñã xuất hiện người Chân Lạp (Khmer) trên vùng ñất Tiền Giang nhưng rất thưa thớt và phân bố tản mạn không tập trung,
vì vậy mảnh ñất này gần như vắng bóng người Tiềm lực kinh tế non kém, lực lượng khai hoang mỏng manh, ít ỏi nên người Chân Lạp chưa tạo dựng hay ñể lại dấu ấn văn hóa vật chất và phi vật chất trên vùng ñất “ñỉa lội lềnh như bánh canh” Trong một công trình nghiên cứu về vùng ñất Nam Bộ, Huỳnh Lứa ñã ñưa ra nhận ñịnh: “Nam Bộ cho ñến thế kỷ XV, XVI, về cơ bản vẫn còn là vùng ñất hoang vu chưa ñược khai phá mấy, mặc dù ñã có nhiều lớp cư dân ñến sinh sống ở ñây” [Huỳnh Lứa 1987:38]
Từ cuối thế kỷ thứ 16, người Việt ñã có mặt trên vùng ñất phía Nam nhưng vẫn còn ít do di dân tự phát ðến thế kỷ 17 trở ñi, chính sách di dân của chúa Nguyễn ñã tạo ñiều kiện cho mọi thành phần xã hội có thể ñi vào vùng ñất phía Nam - vùng ñất quá ñỗi xa lạ và ñầy hiểm trở, heo hút ñể khai hoang “Cuộc di dân
Trang 36khẩn hoang ñầu tiên ñã diễn ra vào cuối thế kỷ XVII” [Huỳnh Lứa 1987:43] ðiều này ñồng nghĩa với việc người Việt ngày càng chiếm ưu thế về số lượng do lực lượng di dân vào Nam theo từng ñợt ngày càng nhiều và họ cũng ñóng vai trò chủ yếu trong mọi hoạt ñộng tại vùng ñất mới này Trong công trình Lịch sử khai hoang vùng ñất Nam Bộ, Huỳnh Lứa có ghi: “thế kỷ XVII thì tình hình ñã ñổi khác… Trên vùng ñất này ñã xuất hiện một lớp cư dân mới Trong lớp cư dân mới xuất hiện này, trước hết phải kể ñến người Việt vì họ là thành phần chiếm ña số” [Huỳnh Lứa 1987:38] (hình 2)
Cũng trong thế kỷ thứ 17, vào
năm Kỷ Mùi (1679), tướng Dương
Ngạn ðịch cùng nhiều thân tộc của
mình từ Trung Hoa vượt biển sang
Thuận Hóa, ñược chúa Nguyễn cho
phép nhập cư và sinh sống tại Mỹ
Tho Như vậy, “ñến cuối thế kỷ
XVIII, bên cạnh lưu dân người Việt
với số lượng ñông ñảo, sống tập trung
nhất ở tả ngạn sông Tiền với nghề
trồng lúa nước cổ truyền, còn có
người Khơ – me sinh sống chủ yếu
trên các giồng ñất cao với nghề
ruộng, rẫy là chính trong khu vực Trà
Vinh, Ba Thắc; người Hoa sinh sống
bằng nghề thương mãi là chủ yếu –
một số cũng sinh sống bằng nghề
nông, sống tập trung trong các trung
tâm giao dịch buôn bán như ðại Phố, Bến Nghé, Mỹ Tho, Hà Tiên.” [Huỳnh Lứa 1987:55]
Hình 2 Tiến trình Nam tiến của người Việt vào Nam Bộ Ảnh: Di Linh vẽ lại từ nguồn Internet
Trang 37ðồng thời, ñể bảo vệ vùng ñất ñã ñược khai thác và khẳng ñịnh chủ quyền của mình, nhà Nguyễn ñã cho xây dựng các thành, lũy, phủ ñịnh, huyện trị, bảo, cửa quan, nhà trạm v.v… tạo ra những công trình mang tính chất quân sự và văn hóa ñầu tiên ở Tiền Giang
Trong hoàn cảnh khẩn hoang, người Việt ñã cố kết thành cộng ñồng bền chặt
Họ sống thành làng Tất cả các làng ñều ñược nhân dân lập ñình thờ Thần, Thành hoàng, thờ những người có công với làng xóm; lập miếu (miễu) thờ nữ thần với các tên gọi Bà Chúa Xứ, Bà Hỏa, bà Thủy, v.v… rồi họ cùng với nhau ñào kinh, lập chợ dọc theo các sông, kinh rạch, cửa sông - “nơi gặp nhau giữa nước thuỷ triều chảy ngược và nước sông chảy xuôi gọi là “giáp nước” – là nơi thuyền ghe xuôi ngược buôn bán thường nghỉ lại ñây chờ con nước Làng mạc mọc lên ở những nơi này, bởi thế: ở ñâu là nơi giáp nước, ở ñó trên bờ là thị trấn, thị tứ, chợ búa, tiệm ăn,…” [Nguyễn Phương Thảo 1997:9] thu hút ngày càng nhiều lưu dân ñến dừng chân kiếm bề sinh sống
Dưới thời Minh Mạng và Tự ðức, phần lớn các ñình làng ở Nam Bộ trong ñó
có Tiền Giang ñều ñược phong sắc thần, ngay cả miễu thờ Bà theo tín ngưỡng thờ Mẫu trong dân gian cũng ñược phong sắc và ñược trùng tu, tôn tạo; nhờ ñó, ñến nay một số thiết chế văn hóa thuộc tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Tiền Giang vẫn còn tồn tại ðiều này cũng là bằng chứng cho chúng ta thấy tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Bà trải qua bao nhiêu biến ñổi, thăng trầm của lịch sử vẫn tồn tại trong ñời sống tâm linh của người Việt ở Nam Bộ nói chung, Tiền Giang nói riêng; mặc dù theo thời gian nó ñã khoác lên cho mình một diện mạo mới nhưng vẫn bảo ñảm tính dân gian vốn có của mình
Sau ngày giải phóng, Tiền Giang cũng như các ñịa phương khác bước vào thời
kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh Trong giai ñoạn này, do nhận ñịnh về văn hóa còn hạn chế cho nên nhiều vết tích văn hóa vật thể của các thời kỳ trước bị sử dụng không ñúng chức năng dẫn ñến tình trạng nhiều vết tích văn hóa bị xâm hại, xuống cấp trầm trọng Tất cả các văn hóa phi vật thể phản ánh ñời sống tâm linh của con
Trang 38người bị ngăn cấm, nhiều lễ hội văn hóa dân gian không ựược phép tổ chức trong một thời gian khá dài, tắn ngưỡng thờ mẫu của người Việt cũng không ngoại lệ
Từ năm 1988 trở về sau, ựất nước bước vào thời kỳ ựổi mới: thời kỳ hội nhập
và phát triển Lúc này, nhận thức ựược vai trò, tầm quan trọng của văn hóa trong việc kiến thiết phát triển ựất nước, nhà nước ựã có những chắnh sách, nghị ựịnh, luật ựịnh, Luật di sản văn hóa kèm với những văn bản hướng dẫn cụ thể về việc phục hồi, chấn hưng văn hóa Trên cơ sở ựó, nhiều thiết chế tôn giáo tắn ngưỡng của cộng ựồng ựược tôn tạo, xây dựng và các lễ hội văn hóa dân gian cổ truyền ựược phục hồi tạo nên diện mạo văn hóa mới trên cả nước nói chung, Tiền Giang nói riêng
Giang
Con người không thể sống mà không có niềm tin Người Việt ở Tiền Giang trong quá khứ ựã nỗ lực không ngừng ựể khai phá vùng ựất hoang sơ trở thành vùng ựất trù phú như ngày hôm nay Trải qua chặng ựường ựầy gian nan ựó, ngoài việc vận dụng sức lao ựộng của ựôi bàn tay, óc sáng tạo ra những công cụ lao ựộng ựể thắch ứng trong hoàn cảnh mới, trong mớ hành trang tinh thần của họ còn có lòng tin vào tương lai, niềm tin vào những ựấng siêu nhiên chở che cho họ vượt qua mọi trở ngại trong cuộc sống Chắnh những niềm tin thiêng liêng ấy ựã giúp họ vũng bước tiến về phắa trước, và càng ngày, theo thời gian, niềm tin ấy trở thành niềm tin chung của cộng ựồng, hình thành nhiều tắn ngưỡng dân gian Trong số các tắn ngưỡng dân gian ựó có tắn ngưỡng thờ Mẫu hay còn gọi là tục thờ Bà Tắn ngưỡng thờ Mẫu ựã theo họ vào ựây và tồn tại suốt nhiều thế kỷ qua trở thành nét văn hóa trong ựời sống tâm linh của người Việt ở Tiền Giang
đời sống tâm linh là gì? Trong một công trình nghiên cứu của mình, đỗ Trinh Huệ có viết: Ộđời sống tâm linh ấy Ầ là một tổng thể những lễ nghi, những ựộng tác, những thực hành, những thể hiện thầm kắn, những cảm thức tâm hồn bao trùm lấy cuộc sống thường nhật đám dân ựen, nông dân, nhất là ngư phủ, tiều phu, những người phụ nữ chạy chợ sớm chiều ựể bán chút rau ựậu hoặc những mặt hàng
Trang 39bé nhỏ, thảy ñều tâm trí không ngừng thôi thúc quay về với thế giới siêu nhiên Họ sống với sự có mặt can thiệp của thần thánh như thể thần thánh luôn luôn hữu tại” [ðỗ Trinh Huệ 2006:113] Một học giả nước ngoài khi nghiên cứu về tín ngưỡng của người Việt ñã ñi ñến kết luận: “Phải thừa nhận rằng người Việt nói cho ñúng sống trong thế giới siêu nhiên… cho dù giai cấp nào, ngoại trừ một vài sản phẩm từ nền giáo dục hiện ñại của ta, ñều cảm thấy mình trực tiếp thường xuyên với các thần thánh trong thiên nhiên” [Dẫn theo ðỗ Trinh Huệ 2006:86]
Vùng Tiền Giang ngày xưa là rừng cây rậm rạp, thưa vắng bóng người, muỗi mòng, rắn rết ñầu dẫy, khiến cho lưu dân mới ñến mang ñầy tâm trạng sợ hãi: “ðến ñây xứ sở lạ lùng/Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh” Người Việt ở Tiền Giang chủ yếu sống bằng nghề nông và họ ñến ñây thành từng ñợt di dân theo chính sách khuyến khích khẩn hoang của chúa Nguyễn Về sau, tiếp tục nhiều lớp người Việt vào Nam và chọn vùng ñất này là ñiểm dừng chân Khi cuộc sống ñã có phần
ổn ñịnh, họ nghĩ ñến việc lập ñình, chùa, miễu thờ cúng Phật Trời, các vị thần linh
ñã phò hộ cho họ; thờ các vị tiền hiền, hậu hiền ñã có công lớn trong việc khai hoang, lập làng lập ấp ñể họ có ñược cuộc sống như ngày hôm nay Với xu hướng
ñó, nhiều miễu thờ Bà cũng ra ñời ñặc biệt là trong giai ñoạn Pháp thuộc “Có một tục thờ mẫu hiện diện trong tâm linh những người dân Nam Bộ Nói cách khác là tín ngưỡng thờ mẫu vẫn phát triển mạnh mẽ với người dân vùng ñất mới” [Nguyễn Phương Thảo1997:186]
Các miễu thờ Bà dần dần ñược dân gian hóa dưới nhiều hình thức khác nhau,
ñể ngày nay, dù ñã bước sang thế kỷ 21 cả chục năm, tín ngưỡng dân gian này vẫn tồn tại trong ñời sống tâm linh của người Việt ở vùng ñất Tiền Giang và có phần phát triển vượt bậc Kiểm kê bước ñầu của Bảo tàng Tiền Giang năm 1996 cho biết
có 126 cơ sở tín ngưỡng thờ Mẫu, nhưng theo số liệu thống kê năm 2006 của Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Tiền Giang (nay là Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch tỉnh Tiền Giang) thì số lượng miễu thờ Bà của người Việt ở Tiền Giang ñã lên ñến 182 miễu [Nguồn: Bảo tàng Tiền Giang] ðây chính là ñối tượng và mục tiêu trọng tâm
mà ñề tài tập trung khảo sát, phân tích ở các chương phần tiếp theo
Trang 401.4 TiIu kJt Ch0ng 1
Tiền Giang là vùng ựất mới do sự hội tụ, bồi ựắp phù sa của sông Mê Ờ Kông
Ộđó là ựịa bàn thời xưa gọi là Ba Giồng gồm một phần Long An ngày nay, ăn trọn vùng Mỹ Tho, bờ sông Tiền: Không úng vào mùa lũ lụt, không kiệt mùa hạn, ruộng phì nhiêu, nước ngọt quanh năm, thêm vườn cây ăn trái, khắ hậu tốt, thủy lợi gần như hoàn chỉnh trong buổi ựầu nhờ sông rạch thiên nhiênỢ [Sơn Nam 1994:41]
Từ thế kỷ thứ 1 ựến thế kỷ thứ 7, vùng ựất này thuộc quyền của vương quốc Phù Nam Từ thế kỷ thứ 8 ựến thế kỷ thứ 16, vùng ựất này lại thuộc quyền của Thủy Chân Lạp, nhưng lúc bấy giờ dân cư thưa thớt nên các vết tắch văn hóa rất mờ nhạt đến ựầu thế kỷ thứ 17, người Việt di dân tự phát từ miền Ngũ Quảng vào ựây khai hoang lập nghiệp nhưng số lượng lưu dân lúc này còn lẻ tẻ, rất ắt Giữa thế kỷ 17, ựược sự ựồng ý của Chúa Nguyễn, cộng ựồng người Hoa gốc Minh Hương theo chủ nghĩa
Ộbài Thanh, phục MinhỢ do tướng Dương Ngạn địch dẫn ựầu vượt biển vào ựây sinh sống Tiếp sau ựó, Chúa Nguyễn khuyến khắch lưu dân Việt vào khai khẩn ựất hoang
ỏ phắa Nam tổ quốc, và vùng ựất Tiền Giang lúc bấy giờ trở thành một trong những nơi dừng chân sớm nhất của lực lượng di dân
Bước ựầu, cộng ựồng người Việt Ờ Hoa này ựã phải ựối ựầu với nhiều khó khăn, thiên tai, dịch họa v.vẦ nhưng với tinh thần cần cù, sáng tạo trong khai hoang vỡ ựất, khắc phục những trở ngại của thiên nhiên, họ ựã vượt qua những gian khó ựể lập làng, lập chợ, thôn ấp trù phú, sản vật dồi dào, phong phú, con người hào phóng, hiếu khách, cần cù lao ựộng, v.vẦ
Hệ thống kinh rạch chằng chịt ở Nam Bộ ựã góp phần vào việc sớm hình thành nền kinh tế hàng hoá ở nơi ựây, cùng với Ộchất xúc tác của một ựô thị buôn bán lớn nhất nước: Sài Gòn Ờ Chợ Lớn, người Nam Bộ, từ thành thị ựến nông thôn, không hề nuôi lòng kỳ thị ựối với buôn bánỢ [Nguyễn Phương Thảo 1997:23] Mỹ Tho đại phố ựã xuất hiện vào 1679 do cộng ựồng Việt Ờ Hoa thành lập và trở thành một trong
ba trung tâm thương mại lớn nhất ở Nam Bộ lúc bấy giờ