Do vậy, công tác thông tin đối ngoại hiện nay đặc biệt là thông tin văn hóa tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không những đáp ứng nhu cầu về văn hóa, tinh thần trong mối liên hệ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Nguyễn Thị Trường Giang
HÀ NỘI - 2018
Trang 2Hà Nội, ngày tháng năm 2018
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS Đinh Thị Thu Hằng
Trang 3được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang Các số liệu và kết luận trong luận văn chưa từng công bố trong bất kì một công trình nào trước đây Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả
Trần Thị Liên
Trang 4MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ QUẢNG BÁ VĂN HÓA DÂN TỘC CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI TRÊN TRUYỀN HÌNH 13
1 1 Khái niệm 13
1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về vấn đề quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài 21
1.3 Tầm quan trọng của truyền hình trong việc quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài 25
1.4 Nội dung quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trên truyền hình 29
1.5 Đặc điểm của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài 33
Chương 2: THỰC TRẠNG VTC10 (NETVIET) QUẢNG BÁ VĂN HÓA DÂN TỘC CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI 38
2.1 Giới thiệu kênh VTC10 (NETVIET) và các chương trình thuộc diện khảo sát 38
2.2 Khảo sát 3 chương trình Văn hóa dân tộc, Di sản văn hóa, Văn hóa ẩm thực Việt trên VTC10 (NETVIET) quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài 44
2.3 Thành công, hạn chế của VTC10 (NETVIET) trong việc quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và nguyên nhân 79
CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA VTC10 (NETVIET) TRONG VIỆC QUẢNG BÁ VĂN HÓA DÂN TỘC CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI TRONG THỜI GIAN TỚI 99
3.1 Những vấn đề đặt ra 99
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng chương trình quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trên kênh VTC10 (NETVIET)101 3.3 Các đề xuất, kiến nghị 109
KẾT LUẬN 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC 1
Trang 5Biểu đồ 2.1: Thời lượng phát sóng các chương trình quảng bá văn hóa trên kênh
VTC10 (NETVIET) 40
Biểu đồ 2.2: Số lượng các chương trình văn hóa trên kênh VTC10 (NETVIET) 45 Biểu đồ 2.3: Ý kiến khán giả về tần suất phát sóng các chương trình quảng bá văn
hóa trên VTC10 (NETVIET) 50
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ các thể loại trên kênh VTC10 (NETVIET) 70 Biểu đồ 2.5: Ý kiến khán giả về khung giờ phát sóng các chương trình quảng bá
văn hóa trên VTC10 (NETVIET) 74
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo ước tính, hiện nay có khoảng hơn 4,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở hơn 103 quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới Đó là một con số không nhỏ Cũng như mọi cộng đồng dân cư khác, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có nhu cầu được tiếp nhận thông tin hàng ngày về tình hình đất nước, quê hương Dù ra đi dưới nhiều hoàn cảnh, thời điểm khác nhau nhưng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vẫn luôn hướng về cội nguồn, gìn giữ và phát huy bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc Nguyện vọng chung của đại đa số người Việt Nam ở nước ngoài
là ổn định cuộc sống, hòa nhập và thành đạt trong xã hội, đồng thời tiếp tục củng cố và phát triển cộng đồng, giữ gìn bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc và đẩy mạnh các hoạt động hướng về cội nguồn, cùng nhân dân trong nước tham gia tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, tại một số nơi, tính liên kết cộng đồng gắn bó tương trợ giúp đỡ nhau của người Việt còn chưa cao, thế hệ trẻ người Việt Nam được sinh ra và lớn lên ở nước ngoài có xu hướng xa dần nguồn gốc dân tộc và những giá trị văn hóa truyền thống, nhiều người không nói được tiếng Việt, một số khác thậm chí có hành động đi ngược lại với lợi ích của quốc gia Do vậy, công tác thông tin đối ngoại hiện nay đặc biệt là thông tin văn hóa tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không những đáp ứng nhu cầu về văn hóa, tinh thần trong mối liên hệ với đất nước, mà còn thông qua họ quảng bá một cách sinh động về hình ảnh văn hóa Việt Nam tới bạn bè thế giới
Nhận biết được nhu cầu đó, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; thường xuyên đề ra chủ trương, chính sách tích cực nhằm củng cố khối đại đoàn kết dân tộc Nghị quyết 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt
Trang 7Nam ở nước ngoài khẳng định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước” Đồng thời nhấn mạnh: “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân, các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương ở trong, ngoài nước và toàn dân ta” Tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới cũng là vấn đề được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm Chỉ thị số 26 – CT/Tw ngày 10/09/2008 của Ban bí thư về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới cũng đã nhấn mạnh: “Các phương tiện truyền thông đại chúng cần phải tăng cường giới thiệu quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam đến nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước có đông người Việt Nam định cư” Gần đây nhất, ngày 19/5/2015, Ban Chấp hành Trung ương đã ra chỉ thị số 45-CT/TW của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa
IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới, trong đó nêu rõ: “Phải đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động hỗ trợ người Việt Nam ở nước ngoài giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc;
hỗ trợ dạy và học tiếng Việt hiệu quả; đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu văn hóa, tinh thần của bà con theo truyền thống dân tộc và phù hợp với đặc thù pháp luật của nước sở tại; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại bằng nhiều hình thức phù hợp (các kênh phát thanh, truyền hình phục vụ người Việt Nam ở nước ngoài, phát thanh, truyền hình đối ngoại, truyền hình qua mạng IPTV hoặc hệ thống truyền hình của nước sở tại); tranh thủ phát huy các phương tiện truyền thông của cộng đồng nhằm cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho người Việt Nam ở nước ngoài về tình hình đất nước và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta Thông qua người
Trang 8Việt Nam ở nước ngoài, đẩy mạnh thông tin tuyên truyền và vận động bạn bè quốc tế”
Nhận biết được những nhu cầu trên, nhiều chương trình phát thanh, truyền hình, trang mạng điện tử hay những tạp chí về văn hóa đối ngoại đã ra đời và được kiều bào đón nhận như Kênh truyền hình đối ngoại VTC10 (NETVIET), kênh VTV4 của Đài Truyền hình Việt Nam, Hệ phát thanh đối ngoại VOV5, Tạp chí Quê hương, Vietnamnews…
Là một trong những kênh thông tin riêng dành cho người Việt Nam ở nước ngoài, các chương trình phát sóng trên kênh VTC10 (NETVIET) đã đáp ứng kịp thời việc đưa thông tin một cách chính thống, nhanh nhạy, trung thực
về mọi mặt đời sống xã hội của Việt Nam đến với thế giới Đồng thời, với sứ mệnh là kênh văn hóa đối ngoại, VTC10 (NETVIET) đã góp phần tôn vinh, quảng bá nền văn hóa, lịch sử, đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè quốc tế, mà đặc biệt là cộng đồng người Việt ở nước ngoài
Hiện nay, VTC10 – NETVIET được Chính phủ phê duyệt là một trong bảy kênh truyền hình thiết yếu quốc gia Kênh được phát sóng liên tục 24/7 tại gần 20 quốc gia và vùng lãnh thổ có đông người Việt sinh sống với nội dung chủ yếu là thông tin về hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam, được sản xuất bằng tiếng Việt với phụ đề tiếng Anh, gồm 3 phiên bản phù hợp với 3 múi giờ của châu Á, châu Âu và châu Mỹ Bên cạnh đó, Kênh hiện đang được phủ sóng toàn bộ Việt Nam thông qua các hạ tầng truyền hình
đa phương tiện như truyền hình số mặt đất VTC; vệ tinh Vinasat1 và NSS6;
có mặt trong các hệ thống cáp của SCTV, HiTV và VTVcab; trên hệ thống IPTV của VNPT (MyTV), của Viettel (NetTV), FPT (OneTV), và Truyền hình Internet Việt Nam (Tvonline)…
Ba chương trình Di sản văn hóa, Văn hóa dân tộc và Văn hóa ẩm thực Việt đều là những chương trình giới thiệu, quảng bá giá trị văn hóa truyền thống, những phong tục tập quán tốt đẹp và những lễ hội giàu bản sắc, từ đó
Trang 9góp phần tăng cường tinh thần đoàn kết dân tộc, truyền thống lịch sử , niềm tự hào dân tộc và nâng cao nhận thức giữ gìn, tôn vinh văn hóa Việt
Tuy nhiên, một số chương trình vẫn còn hạn chế về nội dung và cách thể hiện Điều đó đã làm giảm sự quan tâm của khán giả đối với chương trình nói riêng và kênh VTC10 nói chung
Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả của VTC10 (NETVIET) trong việc quảng bá văn hóa dân tộc tới với cộng đồng người Việt Nam ở
nước ngoài, tác giả đã mạnh dạn chọn và nghiên cứu đề tài “VTC10
(NETVIET) quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài” nhằm làm sáng tỏ hơn nữa vai trò và tầm quan trọng của việc
quảng bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài, cũng như tổng kết lại những ưu điểm và các mặt còn hạn chế trong các chương trình về văn hóa trên VTC10 (NETVIET)
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong những năm qua đã có khá nhiều đề tài và công trình nghiên cứu
có liên quan đến chủ đề về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, về vấn
đề quảng bá văn hóa Việt ra thế giới hay vấn đề ngoại giao văn hóa, có thể kể đến những nhóm đề tài, công trình nghiên cứu, bài viết sau:
Những công trình nghiên cứu về công tác đối ngoại, chính sách đối ngoại như: “Người Việt Nam ở nước ngoài” của tác giả Trần Trọng Đăng Đàn
(NXB Chính trị quốc gia, 1997); Cuốn sách “Báo chí và ngoại giao” do TS Dương Văn Quảng biên soạn (NXB Thế giới, 2002); “Người Việt Nam ở
nước ngoài không chỉ có Việt kiều” của tác giả Trần Trọng Đăng Đàn (NXB
Chính trị quốc gia, 2005); Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Ủy ban Nhà nước về
người Việt Nam ở nước ngoài về “Công tác đối với người Việt Nam ở nước
ngoài trong tình hình mới giai đoạn từ nay đến năm 2020 vì sự nghiệp phát triển đất nước” (2007); cuốn sách “Về người Việt Nam định cư ở nước ngoài”
của tác giả Nguyễn Ngọc Hà (NXB TPHCM, 1990); Truyền thông đại chúng
Trang 10trong công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Phạm
Minh Sơn và TS Nguyễn Thị Quế (NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội,
năm 2009); “50 năm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài
(1959 – 2009)” của Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài
(UBNN về người Việt Nam ở nước ngoài), Bộ Ngoại giao xuất bản (NXB Chính trị Quốc gia, 2009); Bài viết của Nguyên Thứ trưởng Ngoại giao, chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn
về “Kết quả 6 năm triển khai Nghị quyết 36/NQ-TW của Bộ Chính trị về công
tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” Những công trình này tập trung
nghiên cứu một cách công phu với hệ thống tư liệu phong phú, sinh động, đề cập nhiều đến tình hình, đặc điểm của bà con Việt kiểu ở các nước, đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng của họ, những chính sách của Đảng, Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới, thực trạng và giải pháp…
Những công trình nghiên cứu về ngoại giao văn hóa, quảng bá hình ảnh quốc gia như: Khóa luận tốt nghiệp “Ngoại giao văn hóa trong việc
quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới” của Tạ Thanh Thủy (Học viện Báo
chí và Tuyên truyền, 2009); Công trình nghiên cứu “Ngoại giao văn hóa và
Truyền thông văn hóa đối ngoại trong bối cảnh hội nhập quốc tế” của TS
Đặng Thị Thu Hương (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 2009); “Quảng
bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới qua các tác phẩm văn học” của Bùi Thị Vân
Anh (Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2011)
Những công trình nghiên cứu về truyền thông đối với người Việt
Nam ở nước ngoài: “Báo chí và ngoại giao” do TS Dương Văn Quảng biên
soạn (NXB Thế Giới, 2002); Đề tài cấp Bộ “Đổi mới, nâng cao chất lượng,
hiệu quả công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới” của Ban Tư tưởng
– Văn hóa Trung ương nay là Ban Tuyên giáo Trung ương (2007); “Truyền
thông đại chúng trong công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam hiện nay”
Trang 11của TS Phạm Minh Sơn và TS Nguyễn Thị Quế (NXB Chính trị - Hành chính, 2009) … Những công trình này tập trung nghiên cứu về công tác thông tin đối ngoại nói chung trên các phương tiện truyền thông đại chúng Trong nghiên cứu của TS Dương Văn Quảng đã khẳng định vai trò quan trọng của thông tin đối ngoại đối với công tác quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam ra thế giới Tác giả cũng đã chỉ ra những mặt thành công, hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác thông tin đối ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài trên các phương tiện truyền thông đại chúng
Nhóm nghiên cứu về truyền hình dành cho người Việt Nam ở nước
ngoài: Đã có một số công trình nghiên cứu về vai trò của những kênh truyền
hình đối ngoại trong công tác chuyển tải thông tin tới cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài như: Khóa luận “Công tác biên tập các chuyên mục dành
cho người Việt Nam ở nước ngoài trên kênh VTV4 – Đài Truyền hình Việt Nam” của tác giả Hoàng Hồng Hạnh, (Học viện Báo chí và Tuyên truyền,
2008) Thông qua khảo sát hai chuyên mục “Gặp gỡ khán giả VTV4” và “Kết nối cộng đồng”, tác giả tập trung nghiên cứu về công tác biên tập các chuyên mục dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của các phóng viên, biên tập viên và đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng biên tập nội dung các chuyên mục trên VTV4
Luận văn thạc sỹ “Thông tin đối ngoại trên truyền hình Việt Nam hiện
nay” của tác giả Nguyễn Thị Hoa Mai (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn, 2012) đã phân tích và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về thông tin đối ngoại và báo chí truyền thông, đưa ra những đánh giá, nhận định bước đầu về thực trạng thông tin đối ngoại ở một số đài truyền hình chủ lực, làm nhiệm vụ thông tin đối ngoại tiêu biểu ở nước ta hiện nay như: VTC10 (NETVIET), VTV4, chỉ rõ các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của nó, và trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm làm truyền hình ở các nước, luận văn đã rút
ra một số bài học kinh nghiệm đối vơi truyền hình nước ta, từ đó, đề xuất một
Trang 12số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại trên truyền hình, góp phần thúc đẩy hiệu quả thông tin đối ngoại của báo chí nói chung, truyền hình nói riêng trong bối cảnh tình hình mới
Đề tài “Nâng cao hiệu quả chương trình thời sự đối ngoại của Đài
Truyền hình Việt Nam” trong luận văn thạc sĩ báo chí, tác giả Đào Huy Hoàng
đã đi sâu vào nghiên cứu các bản tin thời sự bằng tiếng nước ngoài phát trên kênh VTV1, VTV2 và VTV4 của Đài Truyền hình Việt Nam Tác giả đã chỉ
ra nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng là người Việt Nam ở nước ngoài Từ đó nhấn mạnh vai trò của các bản tin, đặc biệt là các bản tin thời sự trên VTV4 Được phát sóng bằng nhiều thứ tiếng khác nhau như: Tiếng Anh, Pháp, Trung… các bản tin thời sự của VTV4 là chiếc cầu nối hơn 4,5 triệu khán giả kiều bào đang sinh sống, học tập và làm việc tại nước ngoài với các
sự kiện thời sự, chính trị, văn hóa ở trong nước
Về đề tài quảng bá văn hóa cho đối tượng là người Việt Nam ở
nước ngoài, cho đến bây giờ chưa có nhiều đề tài đi sâu về vấn đề này Có
thể kể đến một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như:
Luận văn “Công tác thông tin văn hóa phục vụ cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp” của tác
giả Hồ Thị Bích Ngọc, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Trong luận văn này, tác giả đã khảo sát thực trạng công tác thông tin văn hóa trên cả 3 loại hình báo chí: Báo phát thanh, báo điện tử và báotruyền hình (Hệ phát thanh đối ngoại VOV5, Tạp chí quê hương và kênh VTV4 Trong tiết 2.2.3 của luận văn “Thực trạng thông tin về bản sắc văn hóa Việt Nam”, tác giả đã có khảo sát và có sự so sánh về nội dung văn hóa Việt Nam đăng tải trên ba phương tiện truyền thông Tuy nhiên, luận văn chưa phân tích chuyên sâu nội dung chương trình về văn hóa cũng như nghiên cứu về hiệu quả trên kênh VTV4 đối với người Việt Nam ở nước ngoài
Trang 13Đề tài luận văn thạc sĩ báo chí “Quảng bá văn hóa Việt Nam cho
người Việt Nam ở nước ngoài qua kênh truyền hình VTV4” của tác giả Lê
Thanh Thủy (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 2012) đã làm sáng tỏ vai trò và tầm quan trọng của việc quảng bá văn hóa Việt Nam cho người Việt Nam ở nước ngoài trên kênh VTV4, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả của VTV4 trong việc quảng bá hình ảnh văn hóa Việt Nam tới với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Mới đây nhất là luận văn “Truyền thông về hình ảnh, đất nước, con
người, văn hóa Việt cho người người Việt Nam ở nước ngoài trên kênh truyền hình đối ngoại VTC10 - NETVIET” của tác giả Đặng Thúy Lan (Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, 2016) Tác giả luận văn đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc truyền thông về hình ảnh, đất nước, con người và văn hóa Việt đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm truyền thông tốt hơn nữa hình ảnh Việt Nam đất nước, con người và văn hóa dân tộc đến kiều bào ở khắp 5 châu
Đây là những tài liệu hết sức quý giá cho công trình nghiên cứu về quảng bá văn hóa và hình ảnh đất nước Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay chưa thật sự có một đề tài nào đi sâu vào nghiên cứu thực trạng hoạt động quảng bá văn hóa dân tộc Việt Nam trên kênh VTC10 (NETVIET) Vì vậy, đề tài mong muốn làm rõ hơn kết quả của các nghiên cứu trước đó và phát hiện một số vấn đề mới phục vụ cho công tác quảng bá hình ảnh văn hóa Việt Nam tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài, luận văn khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng VTC10 (NETVIET) với việc quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
Trang 14việc quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trên kênh VTC10 (NETVIET) trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, tác giả luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu chính sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu: khái niệm văn hóa, quảng bá văn hóa, cộng đồng người Việt Nam
ở nước ngoài; Tầm quan trọng của truyền hình trong việc quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về vấn đề quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; Nội dung quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; Đặc điểm của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
- Khảo sát, đánh giá thực trạng VTC10 (NETVIET) với việc quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài thông qua 3 chương trình: Văn hóa dân tộc, Di sản văn hóa và Văn hóa ẩm thực Việt trong
7 tháng cuối năm 2017; Đưa ra những nhận xét về thành công và hạn chế trong quá trình truyền thông, thông tin về vấn đề nói trên
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của VTC10 (NETVIET) với việc quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là VTC10 (NETVIET) quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn khảo sát 3 chương trình trên kênh VTC10 (NETVIET) là:
Văn hóa dân tộc, Di sản văn hóa và Văn hóa ẩm thực Việt phát sóng từ tháng
6 năm 2017 đến tháng 12 năm 2017
Trang 15Sở dĩ, tác giả lựa chọn 3 chương trình này vì nó là những chương trình đặc trưng về văn hóa hiện đang phát sóng trên kênh VTC10 (NETVIET) và 7 tháng cuối năm 2017 là thời gian học viên bảo vệ luận văn nên thông tin sẽ cập nhật hơn
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về báo chí cách mạng Việt Nam; những vấn đề cơ sở lý luận về báo chí, về báo truyền hình và đặc biệt là truyền hình đối ngoại
Luận văn cũng kế thừa kết quả của những công trình của các tổ chức,
cá nhân nghiên cứu về vấn đề này
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thông qua việc tìm kiếm, tập hợp
tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau trên sách, báo, Internet, các công trình nghiên cứu khoa học, các tài liệu phục vụ hội thảo về vai trò của báo chí trong thời kỳ mới tác giả đã xác lập cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu này
- Phương pháp phân tích nội dung: Phương pháp này dùng để phân tích
các thông điệp, các chương trình truyền hình trên kênh VTC10 (NETVIET) trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2017 Kết quả phân tích này sẽ giúp tác giả có được cái nhìn bao quát, chi tiết về thực trạng kênh VTC10 (NETVIET) quảng bá văn hóa cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và dùng để làm căn cứ đưa ra những giải pháp trong luận văn
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn Trung tâm sản xuất chương
trình kênh VTC10 (NETVIET), phụ trách nhóm và các phóng viên trực tiếp
tham gia tổ chức sản xuất 3 chương trình Văn hóa dân tộc, Di sản văn hóa,
Văn hóa ẩm thực Việt để thu thập các thông tin phục vụ cho quá trình nghiên
cứu luận văn này
Trang 16- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Phương pháp này
dùng để điều tra ý kiến của công chúng VTC10 (NETVIET) trong việc quảng
bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Cụ thể, tác giả đã tiến hành phát 50 phiếu cho các đối tượng công chúng của VTC10 (NETVIET) bao gồm: Người Việt Nam ở trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam
- Các phương pháp khác (thống kê, phân tích, tổng hợp, quy nạp):
trên cơ sở các nguồn tư liệu đã có, đánh giá về thực trạng quảng bá văn hóa dân tộc đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trên kênh VTC10 (NETVIET), từ đó tìm ra các ưu điểm, đưa ra các hạn chế tồn tại để đạt đến cuối cùng là chỉ ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc quảng bá văn hóa dân tộc cho phù hợp với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Làm sáng rõ được những vấn đề lý luận chung về văn hóa, quảng bá văn hóa dân tộc, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, các tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả của các chương trình quảng bá văn hóa trên kênh VTC10 (NETVIET)
Thông qua việc khảo sát 3 chương trình truyền hình cụ thể, luận văn khẳng định vai trò của quảng bá văn hóa dân tộc đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói riêng và thế giới nói chung nhằm đưa hình ảnh Việt Nam đến với bạn bè thế giới, giúp bạn bè trên khắp năm châu biết đến Việt Nam, giúp những người con xa quê hiểu rõ về tình hình đất nước trong thời kỳ mới, nhớ về cội nguồn và có những hành động thiết thực góp phần xây dựng, bảo vệ quê hương
Trang 176.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xác lập cơ sở khoa học để nâng cao chất lượng, hiệu quả quảng bá văn hóa dân tộc đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài của kênh VTC10 (NETVIET), đáp ứng nhu cầu của công chúng là kiều bào ở khắp nơi trên thế giới Từ đó nâng cao thương hiệu của Truyền hình VTC nói chung, kênh VTC10 (NETVIET) nói riêng, đưa hình ảnh của Việt Nam đến với bạn bè quốc tế
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng cho công tác nghiên cứu, đào tạo về báo chí đối ngoại, truyền hình đối ngoại và công tác ngoại giao văn hóa của Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề quảng bá văn hóa
dân tộc cho cộng đồng Người Việt Nam ở nước ngoài trên truyền hình
Chương 2: Thực trạng VTC10 (NETIVET) quảng bá văn hóa dân tộc
cho cộng đồng Người Việt Nam ở nước ngoài
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng của
VTC10 (NETVIET) quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới
Trang 18Văn hóa là từ Hán Việt mà trong đó “văn” có nghĩa là hình thức đẹp đẽ trong lễ, nhạc, trong ngôn ngữ, trong cách cai trị; “hóa” là dạy dỗ, sửa đổi phong tục (giáo hóa) [9, tr.6] Nó được biểu hiện thành một hệ thống quy tắc ứng xử được xem là đẹp đẽ
Người đầu tiên sử dụng khái niệm “văn hóa” với tư cách là thuật ngữ chuyên môn là E.B Tylor, ông tổ ngành nhân loại học của nước Anh Trong cuốn “Văn hóa nguyên thủy”, năm 1891, Tylor đưa ra khái niệm về văn hóa như sau: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán và một
số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [38, tr.13]
Năm 1952, hai nhà nhân học văn hóa người Mỹ là A.Kroeber và C Kluckhohn đã thống kê khoảng 150 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong cuốn “Culture – A critical Revew of Concepts and Denfinitions (Văn hóa – tổng thuật có phê phán các khái niệm và định nghĩa) Theo các ông: “Văn hóa bao gồm những chuẩn mực, nằm ở bên trong lẫn biểu lộ ra bên ngoài, xác định hành vi ứng xử được tập nhiễm nhờ các biểu tượng; văn hóa xuất hiện
Trang 19nhờ hoạt động của con người trong khi đưa ra biểu hiện của nó vào các phương tiện (vật chất) Hạt nhân cơ sở của văn hóa gồm các tư tưởng truyền thống (được hình thành trong lịch sử), đầu tiên là những tư tưởng có giá trị đặc biệt Hệ thống văn hóa có thể được xem xét, một mặt như là kết quả hoạt động của con người, mặt khác như là những sự điều chỉnh những hoạt động đó” [3, tr.14]
Năm 1982, Tổ chức Văn hóa Khoa học và Giáo dục thế giới (UNESCO) đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [39]
Tại Việt Nam, ngay từ những thập niên khởi đầu xây dựng Văn học Quốc Ngữ của Việt Nam, nhà sử học Đào Duy Anh đã hiện ra như một học giả với tác phẩm giáo khoa uy tín từ năm 1938: “Việt Nam Văn Hoá sử cương” Ngay trang đầu, theo lối tác phẩm tư tưởng Âu Mỹ, ông xác định từ ngữ “Văn hóa là gì”, và theo ông Văn hóa tức là sinh hoạt “Văn hoá chính là toàn bộ sinh hoạt của con người đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội để tạo ra các giá trị vật chất và giá trị tinh thần” [1, tr.11] Định nghĩa này
đã nêu bật 4 đặc trưng quan trọng của văn hoá: Tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh
Trang 20Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – nhà văn hóa lỗi lạc của nhân loại cũng
đã nhận thức về văn hóa theo nghĩa rộng nhất như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của
sự sinh tồn” [23, tr.431] Trong định nghĩa của Hồ Chí Minh, đặc trưng quan trọng nhất của văn hóa chính là sáng tạo và phát minh, cụm từ đã được nhấn mạnh tới 2 lần Như vậy sản phẩm sáng tạo của con người có mặt trong toàn
bộ đời sống xã hội, nhưng quan trọng nhất là những giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra
Một định nghĩa khác về văn hóa cũng được tác giả Trần Ngọc Thêm khẳng định trong tác phẩm “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” như sau:
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [33, tr.45] Với cách định nghĩa trên, chúng ta có thể nhận thấy nội hàm của khái niệm văn hóa bao gồm: Thứ nhất, đó là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người và vì con người Thứ hai, những giá trị mà con người sáng tạo ra và được gọi là văn hóa phải mang tính nhân tính, nghĩa là nó phải mang tính người
Dẫu khải niệm văn hóa ngày càng được tiếp cận và diễn giải phong phú, đa dạng nhưng trong luận văn này, chúng tôi đi theo hai định nghĩa – hai luận điểm được coi là cốt lõi đó là định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh và định nghĩa văn hóa của UNESCO Hai định nghĩa này tuy diễn giải khác nhau nhưng mục đích và chức năng của con người, cộng đồng con người trong nhân loại thì đều giống nhau
Trang 21Dân tộc
Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc
Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất
Nghĩa hẹp: dân tộc chỉ một cộng đồngngười có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc Với nghĩa này, dân tộc là bộ phận của quốc gia – một quốc gia có nhiều dân tộc
Nghĩa rộng: dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và
có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Với nghĩa này, dân tộc
là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó - quốc gia dân tộc [52]
Luận văn tiếp cận khái niệm dân tộc theo nghĩa rộng của nó, từ đó, đưa
ra khái niệm văn hóa dân tộc như sau: “Văn hóa dân tộc là toàn bộ sự hiểu biết của con người tích lũy được trong quá trình hoạt động thực tiễn, lịch sử được đúc kết thành các giá trị và chuẩn mực xã hội, gọi chung là hệ giá trị xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ thống ứng xử văn hóa của dân tộc đó Văn hóa dân tộc là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người ở dân tộc đó sáng tạo ra trong quá khứ chảy dài cho đến hiện tại Các giá trị đặc trưng ấy ở “tầng nền” mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn Qua thời gian, những hoạt động sáng tạo ấy sẽ tạo nên một hệ thống các giá trị, mang đặc tính riêng của mỗi dân tộc Văn hóa sẽ luôn là chìa khóa của sự phát triển của từng dân tộc”
Trang 221.1.2 Quảng bá văn hóa dân tộc
- Quảng bá
Quảng bá là một từ Hán Việt được ghép từ chữ “quảng”, có nghĩa là rộng lớn và từ “bá” có nghĩa là làm lan rộng Vì vậy, ta có thể hiểu quảng bá nghĩa là tuyên truyền rộng rãi
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: quảng bá là “phổ biến rộng rãi bằng các phương tiện thông tin” [37, tr.802]
Quảng bá cũng được hiểu là “Những hoạt động nhằm tạo ra hoặc thúc đẩy lợi ích, lợi nhuận cho một cá nhân, một sản phẩm, một tổ chức (8, tr.34)
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát, quảng bá là hoạt động nhằm truyền bá rộng rãi hình ảnh của một cá nhân, một tổ chức, một quốc gia tới một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng hiểu rõ hơn về cá nhân, tổ chức, quốc gia
đó nhằm đạt được một mục đích cụ thể mà chủ thể quảng bá mong muốn
- Quảng bá văn hóa dân tộc
Như vậy, trong luận văn này, “quảng bá văn hóa dân tộc là hoạt động
truyền thông để giới thiệu, tôn vinh, khuếch tán, nhân rộng các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc tới các nước trên thế giới, góp phần tạo dựng hình ảnh quốc gia, đồng thời nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, tạo tiền đề cho sự hợp tác và phát triển”
Chúng ta đều biết, quảng bá văn hóa đã trở thành một khái niệm được
sử dụng khá phổ biến trong thời gian gần đây khi chúng ta đề cập tới các chiến lược, chính sách phát triển văn hóa trong xu thế mở cửa và hội nhập Quảng bá văn hóa được hiểu là hoạt động tổ chức, tuyên truyền các lĩnh vực văn hóa của một quốc gia, một tộc người hoặc một vùng miền với mục đích làm cho đông người biết được, hiểu được những nét đặc sắc của nền văn hóa
đó Phạm vi quảng bá có thể trong khuôn khổ nhỏ hẹp một địa phương hoặc
mở rộng ra ngoài quốc gia, phổ biến trên toàn thế giới Hiệu quả của công tác quảng bá tùy thuộc vào phương tiện được sử dụng, phục vụ và hỗ trợ cho việc quảng bá
Trang 23Khi đất nước gia nhập WTO, các nhà văn hóa không khỏi băn khoăn,
lo lắng cho một nền văn hiến có lịch sử hàng ngàn năm bị mai một Sau hội nhập về kinh tế, chính trị, ngoại giao, nhiều lo ngại được đặt ra rằng liệu văn hóa dân tộc có đủ sức chống chọi với sự du nhập các luồng văn hóa của các nước tư bản, liệu có đủ sức lan tỏa trong thời đại công nghệ thông tin và toàn cầu hóa Vấn đề giao lưu quảng bá văn hóa Việt Nam được quan tâm ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ văn hóa vật thể đến văn hóa phi vật thể Việc lựa chọn những gì thuộc về văn hóa dân tộc để quảng bá càng được quan tâm sâu sắc hơn
Vài năm gần đây việc đưa hình ảnh Việt Nam tới bạn bè quốc tế nhằm giới thiệu một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc đã được các cấp Bộ, ngành hết sức quan tâm và coi trọng Những hình ảnh về con người Việt Nam, nét văn hóa truyền thống hay những tinh hoa ẩm thực Việt được giới thiệu khá trọn vẹn và đầy đủ qua những cuộc triển lãm, tuần văn hóa hay festival tại nước bạn đã trở thành tín hiệu đáng mừng để chúng ta có thể tự quảng bá hình ảnh đất nước mình trên trường quốc tế
Ngoài ra, một trong những phương tiện quảng bá văn hóa Việt nam, phát huy nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc chính là qua các phương tiện truyền thông đại chúng Có thể thấy trong những năm qua, hoạt động quảng bá văn hóa trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt
là qua Báo in, Phát thanh – Truyền hình, báo Điện tử ngày càng đi vào chiều sâu, nhiều kênh thông tin dành riêng cho kiều bào ở nước ngoài được xây dựng và đi vào hoạt động khá hiệu quả
1.1.3 Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Trang 24trong sinh hoạt xã hội Ví dụ như: cộng đồng người Việt ở nước ngoài; trung tâm y tế cộng đồng; với từ loại là tính từ, “cộng đồng” được hiểu là những người cùng chung một tổ chức Ví dụ như tinh thần cộng đồng, ý thức cộng đồng [50]
Theo tratu.soha.vn, “cộng đồng” là toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội, như cộng đồng làng xã, hòa nhập với cộng đồng [51]
Theo một số tài liệu của các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ (NGOs) tại Việt Nam, cộng đồng là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, như sau:
- Cộng đồng có thể được định nghĩa theo địa lý: cụm tuyến dân cư, một làng nhỏ hay vùng lân cận trong một thị trấn
- Cộng đồng có thể được định nghĩa qua sự chia sẻ kinh nghiệm, ví dụ nhóm có sở thích đặc biệt, nhóm dân tộc thiểu số, nhóm chuyên gia, ngôn ngữ, đặc biệt là các nhóm đối mặt với hiểm hoạ thiên tai vv…
- Cộng đồng có thể được định nghĩa theo lĩnh vực, ví dụ như nông dân, ngư dân, kinh doanh vv…
- Cộng đồng cũng có thể được sử dụng để đề cập đến các nhóm bị ảnh hưởng và các nhóm này có thể hỗ trợ giảm nhẹ hiểm hoạ và tình trạng dễ bị tổn thương
Cộng đồng cũng có thể được hiểu là một hệ thống xã hội, một nhóm người cùng có những đặc điểm chung như cùng đặc quyền, đặc lợi, sống cùng nhau, cùng chia sẻ những tài nguyên và lợi ích chung hoặc một nhóm người cùng sống với nhau trong một khu vực nhất định, có chung đặc điểm về tâm lý, tác động qua lại và sử dụng các tài nguyên vốn có để đạt được mục đích chung Những thành tố cơ bản của cộng đồng:
- Con người: Dân cư hay một nhóm người có mối quan hệ qua lại riêng biệt
do họ có những mối quan tâm chung nhằm đáp ứng nhu cầu chung của họ
Trang 25- Lãnh thổ: Khu vực, xét về đặc điểm tâm lý và không gian mà con người sinh sống có thể là làng, xã, huyện, tỉnh trong một khu vực địa lý nhất định
- Tương tác xã hội: là mối quan hệ mà trong đó hành động của người này
có ý nghĩa và chi phối đến người khác
- Ràng buộc chung: Con người tập trung lại với nhau là do họ có cùng mối quan tâm đáp ứng nhu cầu chung cho tất cả mọi người, như là: Dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các phương tiện công cộng…
Trong luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm cộng đồng theo nghĩa là một khối người cùng gắn bó thành một tổ chức trong sinh hoạt xã hội
1.1.3.2 Người Việt Nam ở nước ngoài
Khái niệm người Việt Nam ở nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo pháp luật Việt Nam được hiểu tương đối thống nhất Theo điều 3, khoản 3, Nghị định số 138/2006/NĐ-CP quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” là “người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài"
Khái niệm này được khẳng định lại tại điều 3, khoản 3, Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 như sau: "Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài"
Như vậy, theo khái niệm trên, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm 2 thành phần là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài
- Công dân Việt Nam là những người có quốc tịch Việt Nam (Điều 49 Hiến pháp năm 1992)
- Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam và các thế hệ tiếp theo (con, cháu…) của họ đang
cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài (Điều 3 khoản 4 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008)
Trang 26Từ những khái niệm riêng lẻ trên, tác giả có thể tổng hợp thành khái niệm hoàn chỉnh về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài như sau
“cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một nhóm người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”
1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về vấn đề quảng
bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Việc quảng bá văn hóa cho người Việt Nam ở nước ngoài đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của công tác thông tin đối ngoại nhằm vào những đối tượng có đặc điểm riêng biệt Mặc dù là một cộng đồng nhưng lại khác nhau về hoàn cảnh, về nơi định cư, về ý thức chính trị, mức độ thành đạt Tuy nhiên, họ có cùng chung đặc điểm là tình yêu quê hương, đất nước, ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc, giữ gìn tiếng Việt… Là người xa
xứ, họ có nhu cầu thông tin về tình hình mọi mặt của đất nước nói chung và văn hóa nói riêng bởi từ trong cội nguồn, họ vẫn là người Việt Không những thế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài còn là kênh quan trọng và hữu hiệu để quảng bá hình ảnh Việt Nam, văn hóa Việt Nam ra thế giới
Nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc quảng bá văn hóa cho người Việt Nam ở nước ngoài, Nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin – Truyền thông
Đỗ Quý Doãn đã nhận định: “Một vấn đề đặt ra rất lớn đối với bà con Việt Nam sống xa Tổ quốc là làm sao để giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Bởi hiện nay, trong hơn 4 triệu người Việt Nam sống xa Tổ quốc, ngoài thế hệ thứ nhất, thế hệ thứ hai đã xuất hiện thế hệ thứ ba, thứ tư… Cho nên làm sao để bản sắc Việt Nam, văn hóa Việt Nam không mất đi trong cộng đồng kiều bào là một vấn
đề rất lớn và đó cũng chính là một nhiệm vụ của vấn đề thông tin ra nước ngoài để góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc”
Trang 27Ngoài ra trong các chỉ thị, nghị quyết cụ thể, Đảng và Nhà nước ta cũng
đã nhấn mạnh và nêu cao vai trò của việc quảng bá văn hóa Việt Nam đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Chỉ thị đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại, số 11 –CT/TƯ ngày 13/6/1992 của Ban Bí thư khóa VII Một trong những nội dung chủ yếu của công tác thông tin đối ngoại mà Chỉ thị đã chỉ ra có liên quan trực tiếp đến lĩnhvực văn hóa đó là : “thông tin về đất nước, con người, lịch
sử và nền văn hóa lâu đời hết sức phong phú của các dân tộc anh em trong cộng đồng dân tộc ViệtNam Tùy từng địa bàn, đối tượng và yêu cầu từng lúc mà xác định nội dung và hình thức thông tin cho thích hợp, có trọng tâm, trọng điểm”
Trong Văn kiện trình Đại hội XII (năm 2016) của Đảng cũng đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của việc quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới như sau: “phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và quảng bá giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam ra thế giới bằng luật pháp, bằng chính sách, bằng các phong trào văn hóa và sự hỗ trợ của các nguồn lực quốc tế, Trong các giá trị văn hóa truyền thống, bên cạnh những cảnh quan văn hóa nghệ thuật, các không gian (thể loại) văn hóa dân gian, các biểu tượng văn hóa (sách Hán Nôm, bia, tượng ) và các giá trị tinh thần văn hóa khác, cần đặc biệt chú ý đến không gian văn hóa vùng, tiểu vùng và làng Bởi lẽ, không gian văn hóa vùng, tiểu vùng, làng là nền tảng của văn hóa truyền thống, và là môi trường
vi mô có khả năng sàng lọc, tổng hợp việc chấn hưng và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam”
Mỗi một dân tộc trên thế giới đều có một nền văn hóa riêng, nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trong quá trình phát triển của mình, nền văn hóa dân tộc ta luôn kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của nhân loại để
tự hoàn thiện và phát triển Đặc biệt, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Trang 28có vai trò tích cực trong việc làm phong phú thêm nền văn hóa ấy Đánh giá vai trò của Việt kiều và các Hội Người Việt Nam ở nước ngoài trong việc truyền bá, phát huy văn hóa Việt trong những năm qua, Ông Trần Trọng Toàn, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước Việt Nam về người Việt Nam ở nước ngoài cho biết: “Bộ Ngoại giao luôn xác định người Việt Nam ở nước ngoài là đối tượng thụ hưởng sản phẩm văn hóa ngoại giao và đồngthời cũng là chủ thể đóng vai trò quảng bá văn hóa của đất nước ta ra thế giới; góp phần gắn kết cộng đồng người Việt, bồi đắp những hiểu biết về văn hóa quê hương, đất nước; là nhân tố xây dựng và phát triển Tổ quốc Việt Nam tốt đẹp cũng như ở nước sở tại”
Cũng trên quan điểm nhận thức rằng: Người Việt Nam ở nước ngoài chính là kênh quan trọng và hữu hiệu để quảng bá hình ảnh Việt Nam, vănhóa Việt Nam ra thế giới, nghị quyết 36 –NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã chỉ đạo việc thông tin cho cộng đồng phải tôn vinh được lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tình cảm quê hương cội nguồn của người Việt Nam ở xa tổ quốc, phát huy tinh thần đoàn kết đùm bọc lẫn nhau phản ánh đầy đủ tâm tư, tình cảm của bà con, trong đó nêu rõ: “Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm
lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương…”
Ngôn ngữ (gồm tiếng nói, chữ viết) chính là một trong những thành tựu của mỗi quốc gia, dân tộc, là biểu hiện đậm nét nhất của mỗi nền văn hóa Với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, họ chỉ có thể cảm nhận được đầy đủ, sâu sắc tinh hoa giá trị, bản sắc riêng biệt, độc đáo của nền văn hóa Việt Nam thông qua tiếng Việt Chính tiếng việt và nền văn hóa Việt Nam là
Trang 29sợi dây liên kết bền chặt giữa cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc Tuy nhiên,có một thực tế không thể phủ nhận là cùng với nỗ lực hòa nhập cộng đồng sở tại, từ những khó khăn của cuộc sống hàng ngày mà người Việt Nam ở nước ngoài không còn thời gian cho sự quan tâm đầy đủ đến việc giữ truyền thống văn hóa dân tộc, đến việc duy trì tiếng Việt cho các thế hệ tiếp theo Chính vì vậy, việc duy trì tiếng mẹ đẻ và giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống đang là thách thức lớn đối với những thế hệ tiếp sau của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì tiếng Việt và nền văn hóa dân tộc trong cộng đồng thế hệ kiều bào trẻ, ông Nguyễn Thanh Sơn – Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài đã chỉ đạo: “Trọng tâm của công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là cần củng cố và phát triển toàn diện cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung và thế hệ trẻ kiều bào nói riêng trong cả nhận thức và hiểu biết về văn hóa, lịch sử đất nước, truyền thống của dân tộc và đặc biệt là bảo tồn, phát triển và thúc đẩy việc học tiếng Việt tại khắp các quốc gia trên thế giới, nơi bà con kiều bào ta sinh sống” Xác định được vai trò quan trọng của tiếng Việt trong việc giúp cộng đồng gìn giữ và phát huy bản sắc bản sắc văn hóa dân tộc, ngày 22/3/2004 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 281/QĐ- TTG về việc phê duyệt Đề
án “Hỗ trợ việc dạy và học tiếng Việt cho người Việt ở nước ngoài” Đài truyền hình Việt Nam là một thành viên của Ban điều hành dự án có nhiệm vụ tham gia xây dựng các kế hoạch tổng thể và kế hoạch hàng năm để triển khai thực hiện đề án theo lĩnh vực được giao Đề án “Hỗ trợ dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài” được Nhà nước ta triển khai đã góp phần giúp kiều bào ở nhiều nước như Lào, Campuchia, Thái Lan, Ba Lan, Cộng hòa Séc, Ucraina… củng cố, giữ gìn ngôn ngữ tiếng Việt một cách hiệu quả
Trong hoạt động thông tin đối ngoại, vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng là vô cùng quan trọng, là cầu nối giữa cộng đồng Người Việt
Trang 30Nam ở nước ngoài với quê hương, xứ sở Nhận thấy được vai trò này, Nghị quyết số 16-NQ/TƯ ngày 1/8/2007 của Hội nghị TƯ 5 khóa X đã nêu rõ:
“Tiếp tục tăng thời lượng phát thanh, truyền hình, báo điện tử ra các nước, các khu vực, đưa được nhiều thông tin và sản phẩm văn hóa có nội dung tốt đến với đồng bào nước ngoài và bạn bè quốc tế; tăng cường giới thiệu, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến nhiều nước trên thế giới”
Chỉ thị số 26 –CT/TƯ ngày 10/9/2008 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới cũng đã nhấn mạnh: “các phương tiện truyền thông đại chúng cần phải tăng cường giới thiệu quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam đến nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước có đông người Việt Nam định cư” Với tinh thần “người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách thiết thực cùng với nhiều hoạt động hỗ trợ và tạo điều kiện cho cộng đồng Người Việt Nam ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, truyền thống dân tộc, đáp ứng ngày càng tốt hơn nguyện vọng hướng về quê hương đất nước của kiều bào
Như vậy, Đảng, Nhà nước rất quan tâm đến công tác thông tin, truyền thông cho đồng bào người Việt Nam ở nước ngoài Nhìn chung, các chủ trương, chính sách đều tập trung vào nội dung truyền thông là phải giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời nhấn mạnh đến vai trò của kiều bào và công tác quảng
bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
1.3 Tầm quan trọng của truyền hình trong việc quảng bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Trước sự phát triển và bùng nổ của công nghệ thông tin, của nền kinh
tế thị trường và đặc biệt là quá trình toàn cầu hóa hiện nay, nền văn hóa Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đang đứng trước những nguy cơ mai một
Trang 31và dần bị quên lãng Trong đó đáng chú ý phải kể đến là các phong tục truyền thống, các di sản thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc… đang ngày càng bị tác động và chịu nhiều ảnh hưởng bởi hậu quả của chiến tranh, thiên tai, biến đổi khí hậu và đặc biệt là sự tàn phá của con người… Trước thực trạng đó, việc bảo vệ, giữ gìn những nét đẹp văn hóa của dân tộc càng giữ vị trí quan trọng và đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết
Mặc dù sống xa nơi chôn nhau cắt rốn của mình nhưng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài luôn tìm mọi cách tiếp cận hàng ngày với các tin tức từ trong nước qua các phương tiện thông tin đại chúng Đối với họ, hình ảnh quê hương và những đổi mới của đất nước luôn là mối quan tâm và
là động lực to lớn thúc đẩy bà con hướng về cội nguồn Tuy nhiên, mất một thời gian dài việc chuyển tải thông tin chưa được đầy đủ đã làm cho sự hiểu biết của kiều bào về đất nước Việt Nam trong thời đại mới, về văn hóa, con người, kinh tế Việt Nam bị hạn chế, dẫn tới những hiểu lầm, hoang mang trong lòng rất nhiều bà con sống xa quê hương Vì vậy, nhiệm vụ thông tin đối ngoại cho kiều bào cần được đẩy mạnh và tập trung theo đúng tinh thần của những chính sách mà Đảng và Nhà Nước đã đề ra Báo chí trong đó có truyền hình, là một kênh chuyển tải thông tin vô cùng quan trọng và hữu ích tới kiều bào, do đó, nhiệm vụ đặt ra với báo chí truyền hình lúc này là phải thực hiện tốt vai trò của mình, cung cấp thường xuyên những thông tin về tình hình đất nước, giúp bà con hiểu biết và gần gũi hơn với cuộc sống quê hương
Trong cuốn Lý luận truyền hình, PGS.TS Dương Xuân Sơn nhận xét:
“Truyền hình mặc dù là một loại hình báo chí nhưng bên cạnh những đặc điểm chung của báo chí nó còn có những đặc điểm riêng biệt mang đặc trưng của truyền hình” [30, tr.15] Những đặc trưng này cũng chính là thế mạnh của truyền hình so với các loại hình báo chí khác, đó là sự kết hợp giữa hình ảnh động và âm thanh trong ngôn ngữ thể hiện, giúp người xem như được mắt thấy tai nghe mọi sự vật, sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong đời sống xã
Trang 32hội Có thể nói với đặc điểm chuyển tải thông tin bằng hình ảnh, âm thanh sống động, truyền hình thực sự có thế mạnh trong việc đưa hình ảnh đất nước con người, nền văn hóa Việt Nam tới bạn bè quốc tế và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài một cách đặc sắc
Trong những năm gần đây, thông qua phương tiện truyền hình, chúng
ta đã thực hiện tốt vai trò chuyển tải đầy đủ, kịp thời những thông tin về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa ở trong nước tới kiều bào, qua đó phổ biến đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới, đặc biệt
là chính sách đại đoàn kết dân tộc cũng như chính sách đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Từ những thông tin được chuyển tải này, chúng ta có thể khơi dậy niềm tự tôn dân tộc và tình yêu quê hương, đất nước của mỗi người con xa xứ Không những thế, việc làm này còn giúp đẩy lùi những thông tin văn hóa phản động trong đời sống của cộng đồng, tăng cường tinh thần đoàn kết tương trợ, giúp đỡ nhau của kiều bào trong việc ổn định cuộc sống, gìn giữ bản sắc văn hóa Việt Nam, đặc biệt là duy trì bảo tồn tiếng Việt, hướng về Tổ quốc và phát huy hết khả năng của mình trong việc xây dựng đất nước trên nhiều lĩnh vực khác nhau, bằng những việc làm, hình thức phù hợp với khả năng và lợi thế của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng
Không chỉ phản ánh thông tin một cách đơn thuần, với thế mạnh và đặc trưng của mình, truyền hình có khả năng quảng bá hình ảnh đất nước, con người và nền văn hóa Việt Nam tới bạn bè quốc tế và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài một cách đặc sắc và hiệu quả Qua truyền hình, công chúng – những người con xa xứ được nhìn thấy, nghe thấy hình ảnh quê hương bình dị, gần gũi gắn bó từ trong máu thịt của mình, và nhìn thấy được những đổi thay lớn lao và ấm áp trên quê hương, xứ sở Hình ảnh những miền quê Việt bình dị, ấm áp trong mỗi chương trình trên truyền hình đã lay thức trong mỗi người con xa quê nỗi nhớ thương, gắn bó với cội nguồn
Trang 33Đối với Việt Nam, hình ảnh văn hóa Việt thể hiện qua những giá trị văn hoá của ngàn năm văn hiến; là tiếng nói mẹ đẻ thân thương; là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vẻ vang, bất khuất của dân tộc, là phong cảnh thiên nhiên kỳ vĩ, thơ mộng; là lòng nhân hậu và mến khách của người dân Việt Nam; là sự tinh xảo của các sản phẩm thủ công mỹ nghệ; các di sản được thế giới công nhận, những cô gái duyên dáng trong tà áo dài dân tộc…Tác giả G.V Cu-do-nhet-xốp trong cuốn “Báo chí truyền hình – Tập 1”
cũng đã khẳng định: “Ở mức độ khác nhau, mọi chương trình truyền hình đều
truyền hình, công chúng là người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ có thông tin, giúp họ giữ gìn được văn hóa, ngôn ngữ của bản thân trước sự mai một do sinh sống lâu năm ở xứ người, mà còn hiểu hơn về những tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Từ đó, giúp cho việc duy trì và giáo dục các thế hệ tương lai trong gia đình hiểu và trân trọng giá trị văn hóa của mình
Qua tất cả những phân tích trên đây có thể thấy rằng việc quảng bá văn hóa Việt Nam, đặc biệt là quảng bá văn hóa tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có một vai trò đặc biệt quan trọng trong thời đại mới Nó không những đáp ứng nhu cầu về văn hóa, tinh thần của bà con trong mối liên hệ với đất nước, mà còn thông qua họ quảng bá một cách sinh động về hình ảnh văn hóa Việt Nam tới bạn bè thế giới Và trong việc quảng bá văn hóa dân tộc tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài thì truyền hình giữ một vai trò vô cùng quan trọng Chính vì thế mà trong những năm qua, hoạt động này ngày càng được chú trọng, đi vào chiều sâu, ngoài các kênh truyền thông khác dành cho kiều bào như: Tạp chí quê hương điện tử của Ủy ban về người Việt Nam
ở nước ngoài, Hệ phát thanh VOV5 của Đài tiếng nói Việt Nam thì Đảng và Nhà nước ta cũng tập trung đẩy mạnh phát triển nội dung các thông tin quảng
bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam trên hai kênh truyền hình đối ngoại là VTC10 (NETVIET) - Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC và
Trang 34VTV4 – Đài Truyền hình Việt Nam…một cách toàn diện, sâu sắc và thiết thực nhất, phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của đông đảo bà con kiều bào xa
đã đóng góp rất lớn cho sự phát triển phồn thịnh và đậm đà bản sắc trong kho tàng văn hóa Việt Nam Trong bối cảnh xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh
tế, nền văn hóa Việt Nam không chỉ tiếp thu mà còn phải đẩy mạnh quảng bá, giới thiệu văn hóa Việt Nam ra nước ngoài bằng nhiều nội dung, hình thức đa dạng, khác nhau Tính đến nay, Việt Nam đã có khoảng 20 di sản gồm cả di sản vật thể và phi vật thể, là một trong những quốc gia có số lượng di sản được công nhận nhiều trong khu vực Có thể thấy các hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ cộng đồng được tổ chức thường xuyên với sự phối hợp hỗ trợ của các tổ chức trong nước, các cơ quan đại diện của Việt nam, các hội đoàn, doanh nghiệp và kiều bào, đặc biệt là hoạt động giới thiệu các giá trị văn hóa của dân tộc trên sóng truyền hình…đã góp phần quảng bá nền văn hóa Việt Nam ra khắp thế giới Đây là các hoạt động mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc góp phần củng cố hỗ trợ cộng đồng người Việt ở nước ngoài tiếp tục truyền bá văn hóa Việt Nam và bản sắc Việt Nam ra thế giới, tăng cường
“hàm tố Việt Nam” trong dòng máu của người Việt, đặc biệt là thanh niên Việt ở nước ngoài hiện nay Dù được thực hiện dưới hình thức này hay hình thức khác thì việc quảng bá văn hóa dân tộc đều mang hai nội dung chính là: quảng bá các giá trị văn hóa vật thể và quảng bá các giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc
Trang 351.4.1 Quảng bá các giá trị văn hóa vật thể của dân tộc
Văn hóa của một dân tộc bao giờ cũng được hình thành từ hai giá trị: giá trị văn hóa vật chất và giá trị văn hóa tinh thần Văn hóa vật thể thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất, là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và thẩm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định 98/2010/NĐ-CP hướng dẫn Luật di sản văn hóa và Luật di sản văn hóa sửa đổi, di sản văn hóa vật thể bao gồm những loại sau: Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Theo đó, có thể hiểu, văn hóa vật thể là các giá trị văn hóa tồn tại một cách hữu linh, con người có thể nhận biết một cách cảm tính, trực tiếp qua các giác quan (cung điện, chùa tháp, hiện vật trưng bày trong bảo tàng, thắng cảnh thiên nhiên…) có giá trị văn hóa, lịch sử, khoa học được cộng đồng dân tộc, nhân loại thừa nhận
Nói cách khác, văn hóa vật thể là một bộ phận của văn hóa nhân loại, thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất, là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và thẩm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người Văn hóa vật thể quan tâm nhiều đến chất lượng và đặc điểm của đối tượng thiên nhiên, đến hình dáng vật chất, làm cho những vật thể và chất liệu
tự nhiên thông qua sáng tạo của con người biến thành những sản phẩm vật chất phục vụ cho cuộc sống con người Trong văn hóa vật thể, người ta sử dụng nhiều kiểu phương tiện: tài nguyên năng lượng, dụng cụ lao động, công nghệ sản xuất, cơ sở hạ tầng sinh sống của con người, phương tiện giao thông, nhà cửa, công trình xây dựng phục vụ nhu cầu ăn ở, làm việc và giải trí, các phương tiện tiêu khiển, tiêu dùng, mối quan hệ kinh tế….Tóm lại, mọi loại giá trị vật chất đều là kết quả lao động của con người
Trang 36Trong xu thế hội nhập hiện nay, quảng bá văn hóa đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong phát triển mối quan hệ gần gũi, hiểu biết hơn giữa các nước trên thế giới Quảng bá văn hóa hỗ trợ hội nhập quốc tế, là linh hồn
và tạo cơ sở vững bền cho hội nhập quốc tế Thông qua công tác quảng bá văn hóa, uy tín của một đất nước có thể được khẳng định và nâng cao
Việt Nam có một hệ thống các giá trị văn hóa vật chất vô cùng phong phú, đa dạng, bao gồm các đình, chùa, đền, đài, lăng tẩm, các làng nghề dân gian…được hình thành từ rất lâu đời, gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Hệ thống di sản văn hóa vật thể này được phân bố trải dài khắp 3 miền đất nước Trong những năm qua, ngoài việc cập nhật thông tin thời sự về các lĩnh vực kinh tế, xã hội… với ưu thế bằng hình ảnh có màu sắc kết hợp cùng âm thanh với cung bậc, âm điệu đa dạng, truyền hình có khả năng mang lại những cảm giác chân thực, đầy đủ cho công chúng khi tiếp cận các giá trị văn hóa vật thể của dân tộc Ngoài ra, truyền hình còn làm nhiệm
vụ của một trường học và của một nhà hát nhân dân, giúp công chúng là Người Việt Nam ở nước ngoài hiểu biết sâu sắc hơn về các giá trị văn hóa vật thể của Việt Nam, giúp người xem có thêm những kiến thức sâu sắc về những giá trị này, đồng thời thêm gắn bó, tự hào về nền văn hóa đậm đà bản sắc của dân tộc
Cụ thể, trong những năm qua chúng ta đã thực hiện tương đối thành công việc quảng bá các giá trị văn hóa vật thể của dân tộc đến với bạn bè thế giới Nhiều buổi trình diễn thời trang, ẩm thực, triển lãm sản phẩm thủ công
mỹ nghệ đặc thù Việt Nam cũng đã được tổ chức ở trong và ngoài nước, thu hút được sự quan tâm của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới thông qua hoạt động thông tin, tuyên truyền, quảng bá của các phương tiện truyền thông đại chúng trong đó có truyền hình
Trang 37Báo chí truyền hình cũng đã thực hiện không ít các chương trình chuyên sâu quảng bá các giá trị văn hóa vật thể của dân tộc nhằm giới thiệu, quảng bá giá trị của di sản đến với bạn bè quốc tế
1.4.2 Quảng bá các giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc
Theo Luật di sản văn hóa, văn hóa phi vật thể là các sản phẩm tinh thần
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, khoa học, ngữ văn, truyền miệng diễn xướng, dân gian lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công, tri thức về y, dược học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
Văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác
và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng và các nhóm và trong một số trường hợp là cá nhân công nhận là một phần di sản văn hóa của
họ, được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác Di sản văn hóa phi vật thể được cộng đồng, các nhóm không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người
Với những người con xa xứ, hình ảnh quê hương đọng lại trong ký ức không chỉ là một ngôi chùa, mái đình, cây đa, bến nước, con đò… mà còn là những lễ hội truyền thống, những phong tục tập quán có từ ngàn đời ở các vùng miền – những thứ vốn đã trở thành hồn cốt của quê hương Và công tác truyền thông về hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài chính là việc chuyển tải đến kiều bào những hình ảnh đó, đặc biệt hơn khi kiều bào cũng có vai trò tích cực, là nhân tố làm phong phú thêm những hình ảnh về đất nước, con người, văn hóa Việt Bởi mặc dù sống
Trang 38ở nước ngoài, đồng bào ta vẫn mang trong mình bản sắc văn hóa Việt Nam, là đại diện cho văn hóa Việt Nam, đồng thời là nhân tố quảng bá văn hóa Việt Nam một cách trực tiếp và thường xuyên đến nhân dân các nước
Với bất kỳ quốc gia nào, việc truyền bá, giáo dục những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình bao giờ cũng được ưu tiên hàng đầu Đây cũng là một nhiệm vụ đặt ra với Đảng, Nhà nước và các phương tiện truyền thông đại chúng của Việt Nam Việt Nam có một hệ giá trị văn hóa tinh thần phong phú được hun đúc, giữ gìn và phát triển qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Ðó là “lòng yêu nước nồng nàn, ý chí
tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống ” [14, tr.56] Trong quá trình quảng bá văn hóa dân tộc tới thế giới, chúng ta rất trân trọng và tích cực quảng bá những giá trị văn hóa tốt đẹp này, giúp cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí mà còn góp phần tích cực vào việc giáo dục, xây dựng lối sống tốt đẹp trong cộng đồng, tăng cường tính gắn kết giữa người Việt ở nước ngoài với người Việt ở trong nước, gia tăng tình yêu quê hương, đất nước, hướng về cội nguồn dân tộc trong lòng những người con xa xứ
1.5 Đặc điểm của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, có khoảng hơn 4,5 triệu cộng đồng người Việt ở nước ngoài hiện đang sinh sống, lao động, học tập tại 103 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có hơn 80% là ở các nước công nghiệp phát triển Số người ra đi khỏi đất nước diễn ra trong những giai đoạn và hoàn cảnh lịch sử rất khác nhau, do đó suy nghĩ, tình cảm, thái độ của họ với đất nước cũng rất khác nhau
Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu, chúng tôi tạm chia cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài thành những nhóm sau:
Trang 39- Nhóm đối tƣợng thứ nhất: Những người Việt Nam sống xa Tổ
quốc trước 1954
Cách đây hàng trăm năm đã có người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống Lịch sử còn ghi lại vào thế kỷ thứ 12 con cháu họ Lý đã sang Hàn Quốc lập nghiệp Thế kỷ 17 đã có nhiều người Việt Nam sang làm ăn tại Campuchia Vào những năm 30 - 40 của thế kỷ 20, có thêm một số người ra
đi tự phát sang các nước láng giềng như Lào, Thái Lan, Campuchia để kiểm sống, lánh nạn, một phần khác do Thực dân Pháp bắt đi làm lính Đông Dương sang Châu Phi tham gia vào chiến tranh thuộc địa Pháp Ngoài ra, còn cò một
số người Việt đi du học, làm công chức trong chính quyền thực dân, và các nhân sĩ trí thức yêu nước đi tìm đường cứu nước…Số người này sống chủ yếu
ở các nước: Thái Lan, Lào, Campuchia, Pháp…
- Nhóm đối tƣợng thứ 2: Những người Việt Nam ra nước ngoài
trước và sau những biến động lịch sử năm 1975 ở miền Nam
Từ sau năm 1975, đã có sự thay đổi sâu sắc về số lượng, thành phần, tính chất cũng như địa bàn sinh sống của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Số người ra đi trong giai đoạn này đã lên tới khoảng 2 triệu người, chủ yếu tới Mỹ, Ôt-xtrây-lia, Canada, Nhật Bản, các nước Tây và Tây Bắc Âu
Số người này chủ yếu là những người đi du học, đi làm ăn, kinh doanh, tránh chiến tranh hoặc vợ con người Việt của những người tham gia phục vụ chiến tranh ở miền Nam Việt Nam hết hạn về nước Thêm nữa, trong những năm
1978 – 1980 có khoảng 230.000 người Việt gốc Hoa vượt biên bằng đường biển do những căng thẳng trong chiến tranh biên giới Việt – Trung Một số khác đi theo chương trình ra đi có trật tự và các chương trình nhân đạo từ năm
1980 đến năm 1996 Ngoài ra, những khó khăn chồng chất của đất nước sau chiến tranh kéo dài hơn 30 năm, cộng với việc xúi giục của các phần tử phản động cũng khiến nhiều người hoang mang, rời bỏ đất nước
Trang 40- Nhóm đối tƣợng thứ ba: là hàng chục vạn đi lao động, học tập ở
Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu
Tại Liên Xô và các nước Đông Âu, từ đầu những năm 1980, sau khi các Hiệp Định về đào tạo công nhân kỹ thuật, hợp tác giáo dục và lao động được ký kết đã có hàng chục vạn công dân Việt Nam được đưa sang lao động, học tập, thực tập Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đa số đã trở về nước nhưng cũng có một bộ phận tiếp tục ở lại làm ăn, sinh sống
Không những thế, cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị dẫn tới sự sụp
đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã khiến một số lượng lớn người Việt Nam ở đây không có khả năng trở về Những người định cư sau này còn làm cầu nối đưa bà con họ hàng, bạn bè từ Việt Nam sang làm ăn, hình thành nên cộng đồng người Việt khá đông và đặc trưng ở Nga và các nước SNG Mặc khác, trong giai đoạn biến động ở Đông Âu, một số người Việt ở đây đã di cư sang các nước Tây Âu sinh sống
Từ 1990 đến nay, tình hình đất nước ngày càng ổn định và phát triển, chính sách xuất nhập cảnh cũng trở nên thông thoáng hơn Người Việt Nam ra nước ngoài chủ yếu theo các hình thức du học, được thân nhân bão lãnh, kết hôn với người nước ngoài, lao động xuất khẩu Cùng với thời gian, người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng ổn định cuộc sống và hòa nhập vào xã hội nơi
cư trú, có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế, chính trị - xã hội ở nước sở tại, có tác động ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các nước đó với Việt Nam Người Việt Nam ở nước ngoài luôn gắn bó với quê hương, đất nước, tính trung bình hàng năm có khoảng 500.000 lượt kiều bào về nước, trong đó khoảng 300 chuyên gia, trí thức về làm việc và hàng nghìn người về tìm hiểu cơ hội đầu tư, kinh doanh
So với các cộng đồng khác, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cộng đồng trẻ, năng động, nhanh chóng hoà nhập với đời sống của nước sở tại Với những người Việt cư trú tại Mỹ, Austraylia, Canada các nước Tây