1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề tài bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự

15 20 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 227,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU THEO PHÁPLUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM Quyền sở hữu là quyền cơ bản của con người trong đời sống tự nhiên, là tiền đề của các quan hệ pháp luật dân

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI

SẢN VÀ THỪA KẾ

TÊN ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN

Người thực hiện: Dương Vinh Quang

MSSV: 2053801013136

Lớp: 117 HS45.2

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

Contents

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2

1 Bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự là như thế nào 3

1.2 Mục đích bảo vệ quyền dân sự theo pháp luật dân sự 3

1.3 Chủ thể bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự 4

1.4 Chủ thể đối kháng trong bảo vệ quyền sở hữu trong pháp luật dân sự 5

1.5 Thời điểm thực hiện việc bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự 5

1.6 Nguyên tắc thực hiện bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự Việt Nam 5

CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU THEO BIỆN PHÁP DÂN SỰ 5

2.1 Các biện pháp bảo vệ quyền dân sự theo pháp luật Việt Nam 5

2.1.1 Biện pháp tự bảo vệ quyền sở hữu 6

2.1.2 Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu thông qua khởi kiện tại Tòa án 6

2.1.2.1 Biện pháp kiện đòi trả lại tài sản (Kiện vật quyền) 7

2.1.2.2 Biện pháp kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật 8

2.1.2.3 Biện pháp kiện đòi bồi thường thiệt hại (kiện trái quyền) 8

2.1.2.4 Biện pháp kiện yêu cầu hoàn trả tài sản do được lợi không có căn cứ pháp luật 10

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA CÁC PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ 10

1 Ưu, nhược điểm của phương pháp tự bảo vệ quyền sở hữu 10

2 Ưu, nhược điểm của phương pháp khởi kiện thông qua Tòa án, các cơ quan quyền lực có thẩm quyền 11

3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của các biện pháp bảo vệ quyền dân sự 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 3

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Về mặt thực tiễn: Nhu cầu về bảo vệ quyền sở hữu là vấn đề không quả mới mẻ trong đời sống xã hội nhưng luôn nhận được sự quan tâm của tất cả mọi người, từ các tổ chức doanh nghiệp cho đến cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh, sản xuất cũng như trao đổi và mua bán hàng ngày Bỏi lẽ bảo

vệ quyền sỡ hữu là vấn đề diễn ra hàng ngày, liên tục tồn tại dưới nhiều hình thức đa dạng, phúc tạp khác nhau, ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia Do tính chất phức tạp trong quan hệ tranh chấp quyền sở hữu nên sự hiểu biết của mọi người về các biện pháp để bảo vệ quyền lợi

sở hữu chưa được đầy đủ và chính xác

Về mặt lý luận: Trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia, quyền sở hữu và bảo vệ quyền sỡ hửu là quyền cơ bản của con người, là cơ sở để thúc đẩy các quan hệ kinh tế, chi phối nền kinh tế trong xã hội Hiện nay, chế định tài sản và quyền sở hữu theo pháp luật dân sự Việt Nam vẫn còn nhiều mặt hạn chế, những từ ngữ, khái niệm còn quá mang tính hàn lâm, khoa học gây ra những cách hiểu khác nhau, không có sự thống nhất chung Đông thời, sự đa dạng, phức tạp trong các mối quan hệ liện quan đến quyền sở hữu, các vụ kiện tụng, tranh chấp đang không ngừng tăng lên dẫn đến những vấn đề bất cập trong các điều khoản luật cũng ngày càng nhiêu

Trước những lý do nêu trên, việc nghiên cứu đề tài bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự sẽ giải quyết những mâu thuẫn trong các vấn đề lý luận xoay quanh đề tài, bên cạnh đó mang đến cho người đọc cái nhìn tổng quan, dễ hiểu hơn về quyền sở hữu và tư đó làm cơ sở để các chủ thể lựa chọn

phương thức bảo vệ quyền sở hữu hợp lý

2 Tình hình nghiên cứu trong nước.

Như đã nêu trên, Bảo vệ quyền sở hữu là hành vi diễn ra thường xuyên và liên tục diễn ra trên thực tế

và là sàn phẩm của quá trình lập pháp nên nhận được sự đông đảo quan tâm, nghiên cứu của mọi người

Đã có rất nhiều những bài nghiên cứu, tranh luận xoay quanh vấn đề này nhưng vẫn chưa mang tính tổng quan, khái quát đặc biệt là các giải pháp đề ra vẫn còn mang tính bất khả thi

3 Mục tiêu nghiên cứu.

Mục tiêu mà đề tài hướng đến là làm rõ các đặc điểm của bảo vệ quyền sỡ hữu, làm rõ các quy định về biện pháp bảo về quyền sở hữu dựa trên Bộ luật dân sự hiện hành từ đó đưa ra những đánh giá về ưu, nhược điểm và đề ra những giái pháp hiểu quả trên thực tế

4.Nhiệm vụ nghiên cứu.

Thứ nhất: Làm rõ cơ sở lý luận về bảo vệ quyền sở hữu bằng pháp luật dân sự

Thứ hai: Phân tích thực trạng áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trên thực tế

Trang 4

Thứ ba: Đề xuất các giải pháp hiểu quả nâng cao nhằm giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra

5 Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của để tài là pháp luật dân sự và thực tiễn về các biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu của tất cả các chủ thể trong xã hội

6 Phạm vi nghiên cứu.

Về mặt nội dung: Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu các biện pháp được pháp luật dân sự Việt Nam thừa nhận và quy định trong Bộ luật dân sự và các văn bản khác có liên quan

Về mặt không gian: bài tiểu luận tập trung nghiên cứu các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật Việt Nam, chủ yếu là về mặt lý luận không đi sâu vào thực tiễn

Về mặt thời gian: Từ thời điểm Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực là chủ yếu

7 Phương pháp nghiên cứu.

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp suy luận logic, suy luận ngược, phương pháp phân tích- tổng hợp và đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước

Trang 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU THEO PHÁP

LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

Quyền sở hữu là quyền cơ bản của con người trong đời sống tự nhiên, là tiền đề của các quan hệ pháp luật dân sự về tài sản được pháp luật quốc gia nhiều nước ghi nhận và xem là chế định quan trọng, cần tập trung phân tích làm rõ và đảm bảo cho quyền lợi của chủ sở hữu được thực thi trên thực tế bằng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu Theo Điều 158 BLDS 2015: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật” thì bảo vệ quyền

sở hữu chính là quyền của chủ sở hữu được Nhà nước trao cho cá nhận, tổ chức bằng chính sức mình hay thông qua các tổ chức quyền lực nhà nước nhằm chống lại các hành vi có nguy cơ xâm hai hoặc đã xâm hại đến quyền nặng của mình, đảm bảo cho quyền sở hữu thật sự tồn tại và được bảo vệ trên thực

tế Tùy vào tính chất của hành vi xâm phạm quyền sở hữu và mức độ can thiệp của nhà nước, Quyền

sở hữu có thể được bảo vệ bằng các chế tài hình sự hay chế tài hành chính, tuy nhiên do tính chất đặc thù và phức tạp trong các mối quan hệ sỡ hữu tài sản nên các biện pháp dân sự được sử dụng phổ biến

và mang tính khả thi hơn Bảo vệ quyển sở hữu theo quy định của pháp luật dân sự sẽ được xem xét trên các phương diện sau:

1 Bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự là như thế nào

Khác với các phương thức bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp hình sự hay hành chính, bảo vệ quyền

sở hữu theo pháp luật dân sử xuất phát từ tính tự do, bình đẳng giữa các chủ thể lấy thỏa thuận, đàm phán làm nguyên tắc trung tâm từ đó giúp cho các bên tham gia quan hệ dân sự có quyền chủ động nhiều hơn, từ đó dẫn đến kết quả được khắc phục nhanh chóng, mang đến hiệu quả mong muốn cho các bên Bảo vệ quyền sở hữu bằng pháp luật dân sự là việc chủ sỡ hữu có thể tự mình thực hiện các biện pháp bảo vệ phù hợp, ngăn cản bất kì người có các hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình đang diễn ra

, truy tìm hoặc đòi lại tài sản; hoặc thông qua tòa án, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác kiện đòi lại tài sản của mình đang bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật nếu người đó không tự nguyện trả lại tài sản Điểm khác biệt dễ thấy giữa biện pháp dân sự và biện pháp hình sự, hành chính đối với việc bảo vệ quyền sở hữu này là Tòa án, các cơ quan có thẩm quyền chi tham gia, can thiệp và quan hệ sở hữu khi có yêu cầu bên phía người có quyền và chỉ đóng vai trò trung gian, không phải là chủ thể thật sự trong quan hệ sở hữu tài sản này Trên cơ sở tôn trọng quyền thỏa thuận, tự định đoạt, ý chí của các bên trong quan hệ bảo vệ quyền sở hữu mà từ đó Tòa án hay các

cơ quan có thẩm quyền này sẽ đưa ra quyết định giải quyết vụ việc Ngoài ra, Bảo vệ quyền sở hữu còn

có thể được thực hiện bằng việc loại trừ mọi hành vi cản trở chủ sở hữu trong việc thực hiện các quyền năng khác đối với tài sản dù rằng những hành vi đó không ảnh hưởng đến việc chiếm hữu hay sở hữu

1.2 Mục đích bảo vệ quyền dân sự theo pháp luật dân sự

Trang 6

Căn cứ theo Điều 163 BLDS 2015 quy định: “Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền

sở hữu, quyền khác đối với tài san” có thể thấy rằng mục đích mà pháp luật dân sự hướng đến về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu chính là ngăn chặn những hành vi hạn chế, tước đoạt trái luật quyền sở hữu tài sản, có nguy cơ gây thiệt hại hoặc đã gây thiệt hại tài sản, cản trở quá trình chiếm hữu, quản lý, sử dụng, định đoạt … đối với tài sản thậm chí bao gồm cả việc khôi phục lài tình trạng ban đầu của tài sản, đền bù thiệt hại cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp Nói một cách dễ hiểu, mục đích cuối cùng của bảo vệ quyền sở hữu theo biện pháp dân sự chính là việc bảo đảm quyền lợi cho chủ thể có quyền đối với tài sản Đây chính là yếu tố giúp các nhà làm luật xác định ý chí của các bên tham gia quan hệ dân sự từ đó xây dựng nên các biện pháp bảo vệ cũng như xác định trách nhiệm, nghĩa vụ phù hợp của các bên trong quan hệ bảo vệ quyền sở hữu

1.3 Chủ thể bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự

Chủ thể quan trong nhất trong quan hệ bảo vệ quyền sở hữu tài sản được pháp luật quy định chính là

chủ sở hữu Chủ sở hữu là người có đầy đủ và nhiều quyền năng nhất đối với tài sản của mình bao gồm

quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và các quyền khác Theo pháp luật dân sự Việt Nam,

để xác lập tư cách là chủ sở hửu đối với tài sản thỏa mãn các trờng hợp theo quy định tại Điều 221 BLDS 2015

Có thể nói, tất cả các biện pháp dân sự để bảo vệ quyền sở hữu đều có thể được chủ sở hữu lựa chọn và

sử dụng phù hợp mà không bị hạn chế, đồng thời trong quan hệ sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản thì tất cả mọi người đều là bên có nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu đó của chủ sở hữu Biện pháp bảo

vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu chỉ bị giới hạn khi có mâu thuẫn với lợi ích của nhà nước, công cộng, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định tài khoản 2 Điều 163 BLDS 2015

Chủ thể tiếp theo trong việc thực hiện biện pháp bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự chính là

người chiếm hữu hợp pháp Ngoài chủ sở hữu đương nhiên có quyền chiếm hữu đối với tài sản ra,

thông qua việc chủ sở hữu ủy quyền quan lý tài sản (Điều 187 BLDS 2015), chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật (Điều 188 BLDS 2015), phát hiện

và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu (Điều 228 BLDS 2015), tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của pháp luật (Điều 229 BLDS 2015); phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của pháp luật (Điều 231,232,233 BLDS 2015) Đó đều là những trường hợp để chủ thể xác lập tư cách người chiếm hữu có căn cứ pháp luật Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự hiện hành còn quy định về khái niệm chiếm hữu ngay tình, tức là việc chiếm hữu đó tuy không có căn cư pháp luật nhưng người chiếm hữu thực tế đó có căn cứ tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu và người này cũng được xem là chiếm hữu hợp pháp Nói tóm lại người chiếm hữu hợp pháp là việc người chiếm hữu phù hợp với các quy định trong pháp luật

Trang 7

Chủ thể thứ ba trong việc thực hiện biện pháp bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự là người chiếm hữu tài sản trên cơ sở quyền sử dụng đất, quyền đối với bất động sản liền kề Hình thức sở hữu toàn dân là một trong sáu hình thức sở hữu được quy định trong Bộ luật dân sự hiện hành Điểm đặc biệt của loại hình sở hữu này là dù không phải chủ sở hữu của bất động sản liền kề nhưng họ lại có quyển sử dụng hạn chế bất động sản liền kề trên cơ sở thỏa thuận, quy định của pháp luật, theo di chúc hoặc do địa thế tự nhiên khiến nhà đất của họ bị vây bọc bởi bất động sản thuốc sở hữu của người khác.Sở đĩ có điều khoản quy định này là do trên thực tế người sử dụng bất động sản liền kề phải nhờ đến bất động sản thuộc sở hữu của người khác để có một lối đi hoặc để thỏa mãn một nhu cầu cấp thiết nào khác

Trong tất cả các loại chủ thể chủ yếu nếu trên, thì quyền năng của chủ sở hữu là nhiều và đầy đủ nhất so với hai loại chủ thể còn lại, quyền của hai chủ thể không phải chủ sở hữu sẽ bị hạn chế theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận với chủ sở hữu cụ thể là về quyền định đoạt

Ngoài những chủ thể được nêu trên, còn có một loại chủ thể đặc biệt khác giữ vai trò trung gian có vai trò bảo đảm quyền lợi cho bên có quyền trong quan hệ bảo vệ quyền sở hữu khi có yêu cầu, đó là Tòa

án và các cơ quan, tổ chức có thầm quyền nhà nước Chủ thể này góp phần quan trong giúp cho những quan hệ phát sinh trên thực tế được diễn ra theo đúng tinh thần của pháp luật

1.4 Chủ thể đối kháng trong bảo vệ quyền sở hữu trong pháp luật dân sự

Là tất cả những chủ thể còn lại có nghĩa vụ đối với bên có quyền về quan hệ sở hữu tài sản, là tất cả những người có hành vi trái pháp luật xâm hại đến quyền sở hữu, ngăn cản chủ sở hữu, người sở hữu hợp pháp, ngời chiếm hữu trên cơ sơ quyền sử dụng đất và bất đồng sản liền kề sử dụng hay hưởng lợi

từ tài sản Chủ thể loại này vô cùng đa dạng, có thể là cá nhân, tổ chức doanh nghiệp chiếm hữu không

có căn cứ pháp luật hay thâm chí là cả cơ quan quyền lực nhà nước đã xét xử thiếu công bằng xâm hại đến lợi ích của chủ sở hữu tài sản

1.5 Thời điểm thực hiện việc bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự

Lại một điểm khác biệt so với biện pháp bảo vệ hành chính hay hình sự phải trải qua các thủ tục rườm

rà phức tạc hay thời gian điều tra lâu dài, thời điểm chủ thể thực hiện quyền bảo vệ quyền sở hữu là ngay khi quyền sở hữu của mình bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại, khi tài sản còn nguyên gia trị ban đầu hay là đã bị hư hại hoặc thâm chí biến mất Điều đó đã cho thấy, biện pháp bảo vệ bằng pháp luật dân sự sẽ giúp cho chủ thể bảo vệ quyền sở hữu của mình cực tốt và có thể đảm bảo quyền lợi không bị hạn chế

1.6 Nguyên tắc thực hiện bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự Việt Nam

Hai nguyên tắc cơ bản xuyên suốt trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam nói chung và quan hệ bảo

vệ quyền sở hữu nói riêng là nguyên tắc tự định doạt và nguyên tắc thỏa thuận được thực hiện triệt để

và xuyên suốt trong suốt quá trình các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ với nhau

Trang 8

CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU THEO BIỆN PHÁP

DÂN SỰ

2.1 Các biện pháp bảo vệ quyền dân sự theo pháp luật Việt Nam

2.1.1 Biện pháp tự bảo vệ quyền sở hữu

Với tinh thần tôn trong sự thỏa thuận, đàm phán giải quyết của các bên Pháp luật dân sự Việt Nam luôn khuyến khích các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự có thể tự mình giải quyết, khắc phục vấn đế để tránh phát sinh các vấn đề phức tạp, ngoài ý muốn từ sự can thiệp của chủ thể khác Vì lẽ đó,

Bộ luật dân sự Việt Nam đã trao quyền tự bảo vệ quyền sở hữu cho các chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp nhằm tự mình thực hiện các hành vì, cách thức để bảo vệ quyền sở hữu đối với các hành vi xâm hại đến quá trình thực hiện quyền sở hữu của mình Được ghi nhận trong Khoản 1 Điều 164 BLDS 2015:

“1 Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào

có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.”

Hành vi tự bảo vệ được nêu ở điều luật trên thường được các chủ thể có quyền sở hữu sử dụng thường xuyên trong đời sống hàng ngày bởi vì tính nhanh chóng, sự đa dạng trong các biện pháp bảo vệ, khắc phục được hâu quả ngay lập tức mà không phát sinh tranh chấp Biện pháp này chính là sự thể hiện rõ nét nhất của nguyên tắc tự định doạt và nguyên tắc thỏa thuận của chú sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp trong các quan hệ sở hữu, điển hình như việc theo dõi, truy tìm tài sản bị thất lạc, đánh cắp hay yêu cầu người xâm phạp chấm dứt hành vi xậm phạm, bồi thường thiệt hại… Tất cả các biện pháp đó đều được pháp luật dân sự khuyến khích và ủng hộ sử dụng, Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của biện pháp này cũng chính là ưu điểm của nó: thiếu đi tính quyền lực nhà nước, có thể nảy sinh ra những thiệt hại không mong muốn trong quá trịnh tự bảo vệ, áp đặt ý chí tùy tiện giữa các chủ thể Vỉ nguyên nhân đó, bên canh5r nguyên tắc nêu trên, BLDS còn ghi nhận thêm nguyên tắc tôn trọng lợi ích của người khác, không được xâm hại đến lợi ích công cộng, lợi ích chung của Nhà nước Điều nay vô tình trở thành một giới hạn, một hạn chế khó có thể khắc phục của chủ sở hữu trong quá trình tự bảo vệ quyền sở hữu của mình Tức là dù có được quyền tự bảo vệ quyền sở hữu của mình nhưng quyền này không phải là tuyệt đối, những hành vi này phải được đặt trong một giới hạn nhất định, không được trái với pháp luật Điều này trên thực tế dường như là rất khó, vì trong quá trình tự bảo vệ quyền sở hữu của mình, chủ sở hữu

có thể vô tình, không cố ý mà lỡ có hành vi đi ngược lại với pháp luật nếu không thì sẽ không thể bảo

vệ được quyền sở hữu của mình Nhìn chung thì đây là một biện pháp rất linh hoạt, tôn trọng quyền chủ động bảo vệ của người sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đồng thời đề cao tinh thần trách nhiệm, tự ý thức bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình nhưng vần còn một vài hạn chế về độ rủi ro hay tính hiệu quả trong quá trình bảo vệ quyền sở hữu

Trang 9

2.1.2 Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu thông qua khởi kiện tại Tòa án

Nhằm khắc phục những hạn chế của quyền tự bảo vệ quyền sở hữu nêu trên, Bộ luật dân sự mang đến một biện pháp bảo vệ khác mang tính hiệu quả cao, có tính ràng buộc trách nhiệm chặt chẻ và buộc phải làm theo đó là yêu cầu Tòa án bằng quyền lực nhà nước của mình xét xử và ra quyết định chấm dứt triệt để hành vi xâm hại của chủ thể đối kháng, trả lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại Lúc này các chủ thể trong quan hệ dân sự phải bước vào quá trình tố tụng theo quy trình của Bộ luật tố tụng dân sự và tuẩn thủ theo các quy định đó, chờ Tòa án thụ lý để giải quyết vụ án Về cơ bản có bốn phương thức bảo vệ quyền sở hữu bằng pháp luật dân sử có thể áp dụng tùy vào tính chất của vụ án Cụ thể như dưới đây:

2.1.2.1 Biện pháp kiện đòi trả lại tài sản (Kiện vật quyền)

Được ghi nhận tài Điều 166 BLDS 2015, Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu ngời đang thực tế chiếm hữu bất hợp pháp tài sản phải trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp Tức là để biện pháp này được thực hiện thì phải chứng mình rằng tài sản đó ở thời điểm khởi kiện vẫn còn tồn tại và đang được một người nào đó nắm giữ, quản lý nhưng không có căn cứ pháp luật Như vậy để thực hiện kiện đòi lại tài sản, người khởi kiện cần thỏa mãn các trường hợp sau về mặt nội dụng:

Thứ nhất, chủ thể có quyền yêu cầu (nguyên đơn): Là chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản đó như người thuê tài sản, người nhận giữ tài sản, người cầm cố…

Thứ hai, phải là người chiếm hữu bất hợp pháp đối với tài sản Điều kiện này rất quan trọng vì nhiều

khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phát hiện ra người chiếm hữu tài sản của mình lúc trước nhưng lúc này người chiếm hữu đó lại trở thành người chủ sở hữu của tài sản do được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu (Điều 236 BLDS 2015) hoặc do đã hết quyền hưởng thời hiệu dân sự trong trường hợp nhận được tài sản đánh rơi, phát hiện gia súc, gia cầm thất lạc… (Điều 228,229,

230,231,232,233,234 BLDS 2015)

Thứ ba, tài sản phải còn trong sự chiếm hữu của chủ thể chiếm hữu bất hợp pháp Nếu tài sản không còn tồn tại do đã bị thất lạc hoặc bị tiêu hủy thì lúc này không thể áp dụng phương thức kiện đòi lại tài sản mà chỉ có thể áp dụng được phương thức kiện đòi bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, vật hiện còn có thể được hiểu là còn nguyên ở trạng thái ban đầu hoặc về cơ bản vẫn còn nhưng đã giảm sút giá trị hoặc

đã được làm tăng giá trị Gỉả sử tài sản vẫn còn tồn tại nhưng đã bị hỏng đi một số chức năng cũng có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn một phương thức bảo vệ quyền sỡ hữu thay vì biện pháp kiện đòi tài sản Tất nhiên yếu tố công dụng không phải bắt buộc nhưng đó là điều mà nguyên đơn vô cung quan tâm vì có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích mong muốn đạt được của mình

Thứ tư, không rơi vào các trường hợp pháp luật quy định không phải trả lại tài sản được quy định tại

Điều 167, 168 BLDS 2015 Điều 167 BLDS 2015 quy định về việc đòi lại động sản không có đăng ký

Trang 10

quyền sở hữu từ những người chiếm hữu ngay tình: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải

đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.’’ Như

vậy, nếu người ngay tình có được tài sản thông qua giao dịch có đền bù và tài sản đó không phải bị mất cắp, bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu thì nguyên đơn không thể khởi kiện đòi lại tài sản Đối với động sản thì phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản, thì theo quy định tại Điều 168 BLDS

2015: “Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người

chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật này” mà theo quy định

tại khoản 2 Điều 133 chính là những trường hợp tài sản có được thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người thứ ba ngày tình mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản Do những nguời chiếm hữu ngay tình thuộc trường hợp trong khoản 2 Điều 133 hoàn toàn không có lỗi, nên chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp không thể kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình mà chỉ có thể áp dụng phương thức khác để bảo vệ quyền sở hữu của mình như kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Như vậy, sự ghi nhận của pháp luật đối với phương thức kiện đòi tài sản thể hiện thái độ tôn trọng, bảo

vệ tuyệt đối của Nhà nước đối với quyền sở hữu hợp pháp của chủ thể trong xã hội và bất kỳ chủ thề nào cũng mong muốn áp dụng phương thức bảo vệ này nhưng phương thức này không phải lúc nào cũng thực hiện được, còn tùy vào khả năng của người thực hiện nghĩa vụ hay yếu tố lỗi của người chiếm hữu

2.1.2.2 Biện pháp kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật

Ta đều biết chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình, có quyền khai thác lợi ích vật chất của tài sản để thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật Trong quá trình thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở pháp luật phải chấm dứt hành vi đó hoặc có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm (Điều

169 BLDS 2015) Tương tự với phương pháp tự bảo vệ quyền sở hữu, chú sở hữu, ngời chiếm hữu hợp pháp cũng có quyền yêu cầu đối tượng có hành vi xảm hại, cản trở quá trình thực hiện quyền sở hữu của mình dừng hành vi đó lại, chỉ là việc yêu cầu này sẽ được thông qua Tòa án, cơ quan có thẩm quyền nên tính hiệu quả sẽ cao hơn, buộc người có hành vi xâm phạm phải lập tức chấm dứt Điều kiện cần lưu ý khi sử dụng biện pháp này đó là phải có hành vi vi phạm, bất kể ở dạng hành động hay không hành động, hành vi đó phải được diển ra trên thực tế thì Tòa án mới có thể lấy đó làm cơ sở để xét xử Ngoài ra người vi phạm phải có yếu tố lỗi, lỗi là yếu tố chủ quan nói lên thái độ tâm lý của con người đối với hành vi của mình và hậu quả của hành vi

Ngày đăng: 11/11/2021, 06:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN