Nếu tài sản là vật hữu hình thì con người có thể nắm giữ hoặc chiếm giữ được thông qua các giác quan tiếp xúc; nếu tài sản là vật vô hình thì con người phải có cách thức để quản lý và ki
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI & DU LỊCH
TIỂU LUẬN
Đề tài: CHẾ ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT
DÂN SỰ 2015
Nhóm thực hiện : Nhóm 5
Lớp HP : 422000317250
Khoa : Thương mại & Du lịch Giảng viên hướng dẫn : Lương Thị Thùy Dương
TP.HCM, ngày 3 tháng 12 năm 2021
MỤC LỤC
Trang 2MỞ ĐẦU ……… 3
NỘI DUNG Khái quát chung về Luật Dân sự ……… 4
1 Khái niệm về Luật Dân sự ……… 4
2 Đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự ……… 4
3 Phương pháp điều chỉnh của Luật Dân sự ……… 5
Chế định về quyền sở hữu ……… 6
1 Chủ thể ……… 6
2 Khách thể ……… 6
3 Nội dung ……… 8
Quyền chiếm hữu ……… 8
Quyền sử dụng ……… 12
Quyền định đoạt ……… 14
Những bất cập về chế định quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự ……… 17
KẾT LUẬN ……… 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 19
Trang 3MỞ ĐẦU
Tài sản và quyền sở hữu tài sản là một trong những cơ sở vật chất quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm cuộc sống, an cư lạc nghiệp của các cá nhân, cộng đồng chế định về quyền sở hữu giữ vai trò trọng tâm trong các chế định dân
sự Trong mọi xã hội, phương thức chiếm hữu cơ sở vật chất và chế độ sở hữu là điểm đặc trưng có ý nghĩa quyết định Qua thực tiễn những năm thực hiện đường lối đổi mới về phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhận thức của chúng ta về chế độ sở hữu, vai trò của các chế độ và hình thức sở hữu tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không còn giản đơn như trước đây Ngoài việc tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo, nền tảng của sở hữu toàn dân, Nhà nước ta còn khuyến khích, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội theo chủ trương đường lối của Đảng
Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, việc áp dụng các chế định pháp luật về quyền sở hữu vẫn đang gặp khó khăn, các tranh chấp về quyền sở hữu diễn ra rất phức tạp Việc giải quyết liên quan đến rất nhiều các chế định pháp lý khác, đặc biệt là các chế định về thừa kế Đây là vấn đề bức xúc mà việc giải quyết cũng gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc Do đó, việc tìm hiểu “chế định về quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự” có ý nghĩa quan trọng, cần thiết nhằm đưa ra các giải pháp cụ thể cho các cơ quan có chức năng giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu, gớp phần quan trọng vào việc đưa pháp luật vào đời sống, phát triển nền kinh tế - xã hội Trong phạm vi bài luận này, chúng em sẽ đi sâu phân tích về chế định quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự năm 2015
Trang 4NỘI DUNG
Khái quát chung về Luật Dân sự
I Khái niệm
Luật Dân sự là ngành luật độc lập trong hệ thống Pháp luật Việt Nam gồm tổng thể các quy phạm Pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ tài sản hoặc quan hệ nhân thân phát sinh giữa các cá nhân hoặc giữa cá nhân và tổ chức trong quá trình sinh hoạt, phân phối lưu thông, tiêu dùng
II Đối tượng điều chỉnh
1 Quan Hệ Tài Sản
Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản Quan hệ tài sản bao giờ cũng gắn với một tài sản nhất định được thể hiện dưới dạng này hay dạng khác
Quan hệ tài sản không chỉ bó hẹp ở những vật vô tri mà còn hàm chứa nội dung xã hội là những quan hệ xã hội liên quan đến một tài sản,
Quan hệ tài sản mà Bộ luật Dân sự điều chỉnh là quan hệ kinh tế, xã hội cụ thể thông qua việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt một tài sản nhất định theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tuân thủ theo luật giá trị
2 Quan Hệ Nhân Thân
Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về một giá trị thân nhân của cá nhân, tổ chức được pháp luật thừa nhận Quan hệ nhân thân luôn gắn liền với một chủ thể nhất định và về nguyên tắc thì không thể dịch chuyển cho chủ thể khác Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ nhân thân bằng cách quy định những giá trị nhân thân nào được coi là quyền nhân thân, trình tự thực hiện, giới hạn của các quyền nhân thân đó, đồng thời quy định các biện pháp thực hiện, bảo vệ các quyền nhân thân (Điều 11 – 14 Bộ luật Dân sự năm 2015)
III Phương pháp điều chỉnh
Trang 5 Các chủ thể khi tham gia các quan hệ Pháp luật dân sự được bảo đảm sự bình đẳng về mặt pháp lý
Các bên đều bình đẳng trong việc hưởng quyền và gánh chịu các nghĩa vụ
Bình đẳng giữa các bên về trách nhiệm trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ các nghĩa vụ
Các chủ thể khi tham gia các quan hệ Pháp luật dân sự đều có quyền tự định đoạt
Các bên tự thỏa thuận về trách nhiệm trong các quan hệ Pháp luật
Trang 6
Chế định về quyền sở hữu
A CHỦ THỂ CỦA QUYỀN SỞ HỮU
Chủ thể của quyền sở hữu là những người tham gia quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu Chủ sở hữu trong BLDS là cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác (hộ gia đình, tổ hợp tác) theo như quy định tại Điều 158 BLDS có đủ ba quyền năng
là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản
Đôi nét về pháp nhân:
Được thành lập hợp pháp
Cơ cấu tổ chức chặt chẽ
Có tài sản độc lập, tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình
Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập
B KHÁCH THỂ CỦA QUYỀN SỞ HỮU
Trong quan hệ sở hữu, thì tài sản là khách thể chủ yếu và thường gặp nhất
1 Khái niệm về tài sản
Tài sản - với tư cách là khách thể của quan hệ sở hữu - đã được Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 xác định như sau:
"Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.
Vật chính là đối tượng của thế giới vật chất theo nghĩa rộng bao gồm cả động vật, thực vật và mọi vật khác vói ý nghĩa vật lí ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí)
Với ý nghĩa là một phạm trù pháp lí, vật là bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng được một nhu cầu nào đó (vật chất) của con người Tuy nhiên, không phải bất
cứ bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật Vì vậy, có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác lại không được coi là vật
Ví dụ: Không khí trong tự nhiên, nước suối, nước sông, nước biển không được
coi là vật Nhưng nếu các vật này được đóng vào bình nước hay được làm nóng, làm lạnh lại được coi là vật
Trang 7Như vậy, ngoài yếu tố đáp ứng được nhu cầu của con người, vật với tư cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của các giao dịch dân sự
Vật là tài sản không chỉ là những vật tồn tại hiện hữu mà còn bao gồm cả những vật (hay tài sản) chắc chắn sẽ có Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS 2015)
đã xác định loại tài sản này là hoa lợi và lợi tức - đây chính là sự gia tăng của tài sản ữong những điều kiện nhất định Tương tự, tiền và những loại giấy tờ có giá cũng được xác định là những loại tài sản có tính chất đặc biệt
Để nhận diện về tài sản thì nhất thiết phải chỉ ra được các đặc điểm pháp lý của chúng Trên cơ sở tìm hiểu các quy định của pháp luật dân sự truyền thống và hiện đại, chúng tôi cho rằng, tài sản có những đặc điểm pháp lý cơ bản sau:
Thứ nhất, tài sản là những đối tượng mà con người có thể sở hữu được Nếu tài
sản là vật hữu hình thì con người có thể nắm giữ hoặc chiếm giữ được thông qua các giác quan tiếp xúc; nếu tài sản là vật vô hình thì con người phải có cách thức
để quản lý và kiểm soát sự tồn tại của chúng, ví dụ: các tài sản trí tuệ phải được thể hiện trên những "vật mang" nhất định để con người có thể nhận biết được và chủ thể sáng tạo có thể đăng ký xác lập quyền của mình tại các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền
Thứ hai, tài sản phải mang lại những lợi ích nhất định cho con người, có giá trị và
trị giá được thành tiền Ở đây, cần có sự phân biệt giữa yếu tố giá trị và trị giá được thành tiền của tài sản Tài sản có giá trị được hiểu là tài sản đó có ý nghĩa về mặt tinh thần hay có giá trị sử dụng cụ thể nào đó với mỗi chủ thể khác nhau
Ví dụ: một bức ảnh đã cũ từ thời thơ ấu vô cùng có giá trị đối với một người
nhưng để định giá được bức ảnh đó có giá trị bao nhiêu tiền thì phải có căn cứ như thông qua bán đấu giá hay căn cứ vào sự thoả thuận của các bên để xác định nó trị giá bao nhiêu tiền hoặc có thể chẳng ai trả giá cho bức ảnh đó
Như vậy, không phải mọi tài sản có giá trị thì đều có thể trị giá được thành tiền Tuy nhiên, nếu như có chủ thể xâm phạm đến bức ảnh đó, như đốt hay xé bỏ nó thì chủ sở hữu của bức ảnh vẫn có quyền kiện đòi bồi thường khi tài sản bị xâm phạm và Tòa án phải thụ lý để bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu Và để xác định
Trang 8được mức bồi thường thì cần định giá cho bức ảnh đó - đây là câu chuyện không đơn giản cho Tòa án khi đó không phải là hàng hóa có giá trên thị trường
Ngoài ra, tài sản còn phải thỏa mãn một đặc điểm là có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự hay phải là đối tượng của các giao dịch dân sự Cụ thể: Điều 115 BLDS
2015 có định nghĩa:
"Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác."
C NỘI DUNG CỦA QUYỀN SỞ HỮU
I Quyền chiếm hữu
1 Khái niệm
Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản Vậy quyền chiếm hữu là quyền của chủ thể được nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, được pháp luật công nhận và bảo vệ Quyền chiếm hữu trực tiếp là việc chủ sở hữu trực tiếp thực hiện việc nắm giữ, chi phối tài sản của mình Quyền chiếm hữu gián tiếp là quyền
mà chủ sở hữu giao cho người khác thực hiện quản lý tài sản của mình Được quy định tại Điều 179 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó quyền chiếm hữu được hiểu theo một cách đơn giản thông thường nhất thì đây được xem là sự nắm giữ, quản lý cũng như chi phối đối với một hay nhiều tài sản của một hoặc nhiều chủ thể
Ví dụ: cá nhân nào đó thực hiện việc cất giữ đối với số tiền của họ trong tủ hay
trong két sắt của nhà mình
2 Phân loại quyền chiếm hữu:
Dựa vào ba tiêu chí khác nhau thì quyền chiếm hữu sẽ có cách phân loại khác nhau, cụ thể:
Tính ngay tình của việc chiếm hữu
Tính liên tục
Tính công khai
Dựa vào tính ngay tình của việc chiếm hữu, quyền chiếm hữu được chia ra làm hai loại:
(1) Chiếm hữu không ngay tình thì được xác định đó là trường hợp người chiếm hữu đã biết hoặc pháp luật buộc họ phải biết là mình đang chiếm hữu tài sản của chủ thể khác nhưng không dựa trên cơ sở pháp luật
Trang 9(2) Chiếm hữu ngay tình là áp dụng đối với các trường hợp mà người chiến hữu không biết và họ không thể bằng cách nào đó mà biết mình chiếm hữu không dựa trên cơ sở pháp luật
+Cụ thể đối với những trường hợp đòi hỏi người chiếm hữu biết hoặc phải biết về việc chiếm hữu của mình đang thực hiện đó là hành vi không ngay tình thì thường liên quan đến các loại tài sản có đăng ký quyền sở hữu như bất động sản, động sản
mà pháp luật yêu cầu phải đăng ký quyền sở hữu
Ví dụ: như một người mua một chiếc xe máy từ một chủ thể khác mà không có
giấy đăng ký xe, trong khi đòi hỏi người mua phải yêu cầu chứng minh quyền được bán hợp pháp của người bán chiếc xe đó thông qua các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu theo quy định của pháp luật
+ Đối với loại tài sản thuộc sở hữu chung và các đồng chủ sở hữu thì phải thể hiện
ý chí chuyển giao quyền cho người đang chiếm hữu tài sản của tất cả những người đồng sở hữu; liên quan đến việc chuyển giao quyền chiếm hữu của chủ thể không
có quyền chuyển giao quyền chiếm hữu (người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự) thì phải có sự đồng
ý của người đại diện theo pháp luật
Ví dụ: một người vì ham rẻ nên đã đồng ý mua một dàn loa giá trị 300 triệu nhưng
chỉ với giá 50 triệu từ một em bé 12 tuổi mà không có sự đồng ý của cha mẹ em bé)
Dựa vào tính liên tục của việc chiếm hữu, cũng được chia ra làm chiếm hữu liên tục và chiếm hữu không liên tục:
(1) Chiếm hữu liên tục: được quy định tại Điều 182 Bộ luật Dân sự năm 2015 được hiểu là việc chiếm hữu về mặt thực tế và mặt pháp lý của một chủ sở hữu đối với tài sản Chiếm hữu về mặt thực tế là việc chủ sở hữu, hoặc người có quyền chiếm hữu tự mình giữ tài sản Khi chủ sở hữu trao quyền chiếm hữu tài sản cho một chủ thể khác thì chủ sở hữu chỉ có quyền chiếm hữu về mặt pháp lý đối với tài sản, còn chủ thể được chủ sở hữu trao quyền chiếm hữu chỉ có quyền chiếm hữu thực tế đối với tài sản Đây là trường hợp sở hữu trao quyền chiếm hữu thực tế một cách tự nguyện
Ví dụ: Ông A vào bệnh viện khám bệnh, gửi xe của mình cho người trông xe tên B
ở bãi giữ xe của bệnh viên, thì trường hợp này, ông A là người chiếm hữu về mặt pháp lý đối với tài sản là chiếc xe máy, còn ông B là người chiếm hữu về mặt thực
tế đối với tài sản là chiếc xe máy đó
Đồng thời, tính liên tục của chiếm hữu được ghi nhận bao gồm hai điều kiện: việc chiếm hữu diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định; không có tranh chấp về
Trang 10quyền đối với tài sản hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác
(2) Chiếm hữu không liên tục là việc một chủ thể chiếm hữu một tài sản không đảm bảo hai điều kiện của chiếm hữu liên tục như đã nêu ở trên
Dựa vào tính công khai của việc chiếm hữu:
Cách phân loại này được quy định tại Điều 183 Bộ luật Dân sự năm 2015, bao gồm hai loại như sau:
(1) Chiếm hữu công khai tức là việc tài sản đang chiếm hữu được sử dụng đúng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu hiện thời bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình và việc chiếm hữu được thực hiện một cách công khai, minh bạch
(2) Chiếm hữu không công khai là việc mà chủ thể chiếm hữu tài sản nhưng không được thực hiện một cách minh bạch, mang yếu tố che giấu
3 Chủ thể thực hiện quyền chiếm hữu
Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu, điều 186 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Điều 186 Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu: Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”
Trong thực tế, chủ sở hữu thường tự mình bằng các hành vi, ý chí của mình trực tiếp thực hiện việc nắm giữ, chi phối tài sản hay còn gọi là chiếm hữu thực tế Pháp luật đề cao quyền của chủ thể nhưng vẫn luôn đặt lợi ích chung của xã hội lên trên hết, vì vậy việc thực hiện quyền chiếm hữu phải đảm bảo không được vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội gây ảnh hưởng đến chủ thể khác, ảnh hưởng đến cộng đồng, xã hội, quốc gia Tuy nhiên chủ sở hữu cũng có thể bằng hành vi, ý chí chí của mình chuyển giao quyền chiếm hữu cho người khác thông qua hình thức ủy quyền hoặc thông qua thực hiện một hợp đồng giao dịch dân sự Cụ thể:
Trang 11Trường hợp 1: Quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu ủy quyền quản
lý tài sản
Điều 187: “Quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài
sản”
1 Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác định
2 Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này"
Chủ sở hữu vì một lý do nào đó mà không thể trực tiếp thực hiện quyền chiếm hữu tài sản, vì vậy đã ủy quyền cho một chủ thể khác thực hiện quản lý tài sản thay mình Mặc dù quyền quản lý tài sản thực tế thuộc về người được ủy quyền, song chủ sở hữu mới là người có quyền đối với tài sản đó Người ủy quyền chỉ đơn giản thực hiện công việc quản lý tài sản theo thỏa thuận với chủ sở hữu mà thôi Ủy quyền
được thành lập văn bản tron đó quy định rõ phạm vi thực hiện quyền chiếm hữu của người được ủy quyền, cách thức thực hiện và thời hạn được ủy quyền Người được ủy quyền chủ được thực hiện quyền chiếm hữu trong phạm vi, cách thức đã thỏa thuận, khi hết thời hạn ủy quyền, người được ủy quyền chấm dứt quyền chiếm hữu đối với tài sản
Người được ủy quyền không thể trở thành đối với tài sản được chủ sở hữu giao quản lý Bởi vì việc chiếm hữu tài sản của người được ủy quyền là có căn cứ pháp luật
Trường hợp 2: Quyền chiếm hữu của người được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự.
“Điều 188 Quyền chiếm hữu của người được giao tài sản thông qua giao dịch dân
sự”
1 Khi chủ sở hữu giao tài sản cho người khác thông qua giao dịch dân sự mà nội dung không bao gồm việc chuyển quyền sở hữu thì người được giao tài sản phải thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó phù hợp với mục đích, nội dung của giao dịch
2 Người được giao tài sản có quyền sử dụng tài sản được giao, được chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đó cho người khác nếu được chủ sở hữu đồng ý
3 Người được giao tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này
11