1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bình luận về nguyên tắc bảo vệ quyền con người và nguyên tắc nhân đạo trong chế định tử hình trong luật hình sự việt nam

12 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 379,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có quan điểm cho rằng trong hệ thống hình phạt thì tử hình đã và đang đi ngược lại với quyền con người và nguyên tắc nhân đạo trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam bởi vì nó trực tiếp tước đi q

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

KHOA LUẬT 

 BÀI TIỂU LUẬN

Đề tài: Bình luận về nguyên tắc bảo vệ quyền con người và nguyên tắc nhân đạo trong chế định tử hình trong luật hình sự Việt Nam

(Số từ: 3816 không tính cước chú, mục lục, tài liệu tham khảo)

Giảng viên: Lê Nguyễn Nhật Minh

Lớp học phần : Luật hình sự 1

Sinh viên thực hiện:

- Nguyễn Thanh Ngọc Thảo K205030812

- Bùi Đức Thịnh K205030813

- Thái Huỳnh Yến Nhi K205032150

- Lê Thị Quỳnh Như K205042236

- Trịnh Thị Thùy Giang K205042219

Trang 2

MỤC LỤC

I) DẪN NHẬP 2 II) NỘI DUNG 3

1 Cơ sở lý thuyết 3 1.1 Khái niệm hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam: 3 1.2 Nguồn gốc, khái niệm về quyền con người (nhân quyền) 3 1.3 Nguồn gốc, khái niệm về nguyên tắc nhân đạo trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam 3

2 Những lí do để thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thu hep phạm vi áp dụng hình phạt tử hình trên hệ thống quốc gia, lãnh thổ của mình 4

3 Quan điểm của Việt Nam về chính sách thu hẹp phạm vi áp dụng tử hình 5

4 Quá trình thu hẹp phạm vi áp dụng tử hình trong Bộ Luật Hình

sự và thực tế áp dụng Bộ Luật này 6

III) KẾT LUẬN 9 TÀI LIỆU THAM KHẢO 9

Trang 3

I) DẪN NHẬP

Chúng ta đang sinh sống tại một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,

do dân và vì dân Một nhà nước luôn tôn trọng, bảo vệ và đề cao quyền con người, được ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và được bảo vệ trong thực tế Trong đó nhân quyền

là quyền vốn có của mỗi con người khi được sinh ra và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào Nó hiện hữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống đặc biệt là việc

áp dụng nguyên tắc nhân đạo vào trong hệ thống hình phạt của Bộ Luật Hình sự nước ta

Có quan điểm cho rằng trong hệ thống hình phạt thì tử hình đã và đang đi ngược lại với quyền con người và nguyên tắc nhân đạo trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam bởi vì nó trực tiếp tước đi quyền sống - quyền quan trọng nhất của con người, vĩnh viễn loại trừ một cá nhân ra khỏi xã hội Trên thế giới, ngày càng có nhiều lãnh thổ, quốc gia, dân tộc thu hẹp tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình, do đó dù sớm hay muộn, dù muốn hay không thì chúng

ta cũng không thể đi ngược với xu thế tất yếu của thời đại Trong phạm vi của mình, nhóm chúng em nghiên cứu tập trung vào làm rõ hai vấn đề “Vì sao ngày càng nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam hạn chế phạm vi áp dụng tử hình trên lãnh thổ của họ?”

và “Việt Nam đã thu hẹp hình phạt tử hình như thế nào trong Bộ Luật Hình sự để bảo vệ quyền con người và đảm bảo nguyên tắc nhân đạo?”

II) NỘI DUNG

1 Cơ sở lý thuyết

1.1 Khái niệm hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam:

Theo khoản 1 Điều 40 Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.”

1.2 Nguồn gốc, khái niệm về quyền con người (nhân quyền):

Hiện nay tại bất kỳ một quốc gia nào thì nhân quyền luôn được quốc gia đó chú trọng bảo vệ và có các quy định được quy định rõ trong các bộ luật, hiến pháp,… Thế tại sao các quốc gia lại chú trọng và quan tâm đến quyền con người như vậy? Xu hướng chung của thế giới hiện nay chính là nâng cao tinh thần áp dụng nguyên tắc nhân đạo vì vậy mà quyền con người ngày càng được quy định rõ ở mỗi quốc gia Quyền con người được hình thành từ hai nguồn gốc: Nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Xét về mặt lịch sử, quyền con người được nhận thức và được thúc đẩy do thực tiễn bị áp bức, bóc lột

và bị tước đoạt về quyền trong các xã hội có giai cấp Quyền con người đã xuất hiện từ

Trang 4

thời tiền sử nhưng có lẽ khi ấy con người chưa có những nhận thức rõ ràng nên không có những ghi chép để chứng minh, nhưng ta có thể hiểu là quyền con người (nhân quyền) đã

tồn tại và phát triển cùng nền văn minh của nhân loại [1]

Và từ đó đã hình thành nên nhân quyền, quyền con người “là những quyền tự

nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào.” Vậy nói

một cách dễ hiểu quyền con người (nhân quyền) là những đặc quyền tự nhiên vốn có, không một chế độ nào có thể xóa bỏ hay chuyển nhượng quyền này Mỗi con người chúng ta khi ta được sinh ra đã được hưởng và được pháp luật quốc gia bảo vệ quyền lợi này nhằm để đảm bảo và nâng cao giá trị và nhân phẩm trong mỗi con người ta

1.3 Nguồn gốc, khái niệm về nguyên tắc nhân đạo trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam.

Để xây dựng nên một hệ thống bảo vệ những quyền cơ bản của con người thì các quốc gia nói riêng và thế giới nói chung đều dựa trên nguyên tắc nhân đạo để xây dựng Nguyên tắc nhân đạo là một trong những nguyên tắc cơ bản trong bộ luật hình sự, nhằm tạo điều kiện để người phạm tội có cơ hội để cải tạo, giáo dục, sửa đổi, đảm bảo những lợi ích tối thiểu về nhân quyền và tạo cơ hội để người phạm tội có khả năng tái hòa nhập với cộng đồng Mặc dù không nằm ở 1 điều luật cụ thể nào nhưng chúng ta có thể thấy sự hiện hữu của nguyên tắc nhân đạo trong hầu hết các chương của bộ Luật Hình sự [2] Điển hình như tại Chương IV của Bộ Luật Hình sự 2015 đã liệt kê những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, qua đó đã thể hiện cho ta thấy được nguyên tắc nhân đạo đã được lồng ghép vào bên trong bộ luật nhằm tạo điều kiện và cơ hội để những người “vô ý” phạm tội có cơ hội để hòa nhập với cộng đồng Không chỉ riêng chương IV mà tính nhân đạo được thể hiện xuyên suốt bộ luật, ví dụ như tại khoản 2 Điều 40 quy định về Tử

hình “không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ

có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ bảy mươi lăm tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử” Điều này đã cho ta thấy được pháp luật đã tránh và hạn

chế các hành vi đày đọa, hành hạ về thân thể, các hành vi xâm phạm nhân phẩm, danh dự đối với những người chấp hành án phạt

2 Những lí do để thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thu hep phạm vi áp dụng hình phạt tử hình trên hệ thống quốc gia, lãnh thổ của mình.

Xu hướng chung của thế giới hiện nay là dựa trên tinh thần nhân đạo nên đã có nhiều quốc gia đã thu hẹp phạm vi của khung hình phạt tử hình Bởi vì thi hành án hình

sự nhằm giáo dục, cải tạo, giúp đỡ người chấp hành hình phạt, trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện cho họ hòa nhập cộng đồng, phòng ngừa phạm tội mới Và trong

hệ thống hình phạt thì hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống

Trang 5

hình phạt, bởi vì nó tước đoạt đi mạng sống của chủ thể đã phạm tội đặc biệt nghiêm trọng trong một số trường hợp cụ thể do Bộ Luật Hình sự quy định Cũng như tại điều 40 của Bộ Luật Hình sự 2015 đã quy định rõ về những trường hợp sẽ áp dụng hình phạt tử hình Ví dụ điển hình như các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Chương XIII), các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, quyền tự do của con người, quyền tự do dân chủ của công dân ( Chương XIV-XV),… sẽ bị tuyên án tử hình

Cũng như ta đã biết đến “công lý bồi hoàn” trong công lý này đề cập đến việc xử phạt người phạm tội tương ứng với hành vi sai trái mà họ gây ra như: “một mạng đền một mạng” [3] Vậy trong thời đại hiện nay liệu ta áp dụng công lý này vào hệ thống hình phạt có còn hợp lý nữa hay không? Trong khi đó công trình nghiên cứu nổi tiếng nhất chứng minh hình phạt tử hình không có tác dụng vượt trội trong ngăn chặn tội phạm là của nhà tội phạm học Thorsten Sellin, công bố vào năm 1959 Trong công trình này, Thorsten Sellin khẳng định, hình phạt tử hình không có tác dụng ngăn chặn tội phạm hơn

so với hình phạt tù chung thân Ông cho rằng những kẻ phạm tội rất ít khi suy tính về hậu quả có thể phải gánh chịu trước khi thực hiện hành vi phạm tội, thậm chí còn tin rằng họ

sẽ không bị bắt (AI, Death Penalty: Question and Answers) Đồng thời trên thế giới đã có nhiều cuộc khảo sát do Liên Hợp quốc thực hiện (năm 1988, 1996 và 2002) về mối quan

hệ giữa hình phạt tử hình và tỷ lệ phạm tội ở nhiều quốc gia trên thế giới đã kết luận rằng:

"Không tìm thấy những chứng cứ khoa học cho thấy việc thi hành án tử hình có tác dụng ngăn chặn tội phạm tốt hơn so với việc áp dụng hình phạt tù chung thân v.v " [4] Do tử hình là hình phạt tước đi quyền sống - quyền quan trọng nhất của con người, tước bỏ đi

cơ hội để tái hòa nhập vào cộng đồng của người bị kết án tuy là loại trừ khả năng lặp lại hành vi sai lầm có thể xảy ra trong xã hội nhưng dựa trên xu hướng chung của thế giới hiện nay ta nói chung cũng như là các quy định trong bộ luật nói riêng, thay vì tử hình ta nên dựa vào tính nhân đạo mà từng bước giảm dần, thu hẹp hình phạt tử hình trong hệ thống hình phạt Đồng thời hành động này còn đang là xu hướng của thế giới hiện nay nhân đạo hoá các biện pháp trừng trị để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, đạo lý của dân tộc và bảo đảm các quyền con người

3 Quan điểm của Việt Nam về chính sách thu hẹp phạm vi áp dụng tử hình.

Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế về quyền con người, trong đó liên quan trực tiếp đến quyền sống phải kể đến Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm

1966 và Công ước về Quyền trẻ em năm 1989 Theo các điều ước này, quyền con người nói chung và quyền sống nói riêng phải được các quốc gia tôn trọng và bảo vệ bao gồm

cả các quyền cần được đảm bảo bởi pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Đặc biệt, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 đã đưa ra những nguyên tắc cụ thể

Trang 6

định hướng cho việc áp dụng cũng như thi hành hình phạt tử hình ở những quốc gia mà hình phạt tử hình chưa được xóa bỏ Việt Nam thuộc các nước theo quan điểm cho rằng quyền con người chỉ có tính tương đối, nó có thể bị hạn chế, tước bỏ bởi lý do an ninh quốc gia, an toàn công cộng… thì quyền con người (trong đó có quyền sống) bị tước bỏ

và hạn chế theo luật Điều 14 Hiến Pháp 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công

dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” Các nhà lập pháp hình sự Việt Nam đã có sự lựa chọn là không bỏ nhưng cũng

không giữ nguyên mà thu hẹp phạm vi các tội phải chịu hình phạt tử hình Rất nhiều tội phạm trong luật hình sự 1985 đã không xuất hiện hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình

sự hiện hành Xu hướng nhân đạo và văn minh đã rõ hình hài bằng động thái lập pháp này [5]

Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ

trung tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã quán triệt: “Các bộ, ngành có liên quan

cần xem xét hai vấn đề lớn là hình thức thi hành án tử hình và hạn chế số lượng hình phạt tử hình trong cơ cấu hình phạt của Bộ Luật Hình sự” Tiếp theo đó, Nghị quyết số

49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020 cũng tiếp tục nhấn mạnh quan điểm trên về hình phạt tử hình: “Hạn chế áp dụng

hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.Chủ trương này của Đảng phù hợp với tinh thần Công ước về quyền chính trị và

dân sự mà nước ta là thành viên, đồng thời phù hợp với xu hướng chung của thế giới Vì thế, Nhà nước ta đã có những động thái hết sức rõ rệt thông qua những lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự [6]

Đặc biệt nghiên cứu về hình phạt tử hình ở Việt Nam cần dựa trên những luận điểm thuyết phục bởi những điều tra, nghiên cứu dưới giác độ đa ngành, liên ngành chứ không đơn thuần là tiếp cận từ góc độ luật hình sự Đó là những thống kê nghiêm túc, chính xác về xã hội học, nhân học… để từ đó thấy được lý do tồn tại hay không tồn tại của hình phạt tử hình trong đời sống xã hội Việt Nam trong thời gian tới, để đi đến khẳng định hiệu quả của hình phạt tử hình (mục đích) trong phòng ngừa tội phạm trong bối cảnh

tử hình vẫn tồn tại nhưng tội phạm không giảm, thậm chí gia tăng Việc sửa đổi Bộ Luật Hình Sự theo hướng tiếp tục hạn chế hình phạt tử hình là rất cần thiết, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và xu hướng chung của các nền tư pháp tiến bộ trên thế giới Tuy nhiên, đây là công việc quan trọng, phức tạp, cần được tiếp tục nghiên cứu, rà soát

kỹ lưỡng, thận trọng, dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn cũng như những tiêu chí nhằm hạn chế hình phạt tử hình [7]

Trang 7

4 Quá trình thu hẹp phạm vi áp dụng tử hình trong Bộ Luật Hình sự và thực tế áp dụng Bộ Luật này.

Lộ trình giảm dần việc quy định hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự một mặt phản ánh mức độ nhân đạo hóa hệ thống hình phạt ngày càng cao, mặt khác phù hợp với

xu hướng chung của các nước trên thế giới, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của Nhà nước ta Bộ Luật Hình sự Việt Nam qua những lần bổ sung, sửa đổi (từ năm 1985 đến nay) đã có những thay đổi phù hợp với những yếu tố đó

Thứ nhất, lộ trình giảm dần việc quy định hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam thể hiện qua thay đổi số lượng các tội danh áp dụng án tử hình

Biểu bảng: Mô tả diễn biến số lượng các tội danh có quy định hình phạt tử hình qua các BLHS (Trong mối tương quan với tổng số các tội danh được quy định trong

BLHS) (nguồn [8])

Trang 8

Biểu đồ: Mô tả diễn biến số lượng các tội danh có quy định hình phạt tử hình qua các BLHS (dưới dạng tỷ lệ % và so với tổng số các tội danh được quy định trong BLHS)

(nguồn [9]) Qua các số liệu nêu trên có thể nhận thấy, số lượng các tội danh trong Bộ Luật Hình sự có quy định hình phạt tử hình qua các năm lúc tăng, lúc giảm Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, số lượng các tội danh này có xu hướng giảm dần qua các lần sửa đổi,

bổ sung Bộ Luật Hình sự Thể hiện rõ qua tỷ lệ % các tội danh có quy định hình phạt tử hình so với tổng số các tội danh được quy định trong Bộ Luật Hình sự hiện hành [10]

Thứ hai, lộ trình giảm dần việc quy định hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam cũng thể hiện rõ qua các đối tượng phạm tội không bị áp dụng án tử hình Cả

ba Bộ Luật Hình sự (1985, 1999 và 2015) đều quy định rõ các đối tượng phạm tội không

bị áp dụng hình phạt tử hình Phạm vị các đối tượng không bị áp dụng án tử hình ngày càng được mở rộng qua Bộ luật các năm Cụ thể: Theo Điều 27 của Bộ Luật Hình sự năm

1985 thì tử hình không áp dụng đối với: (1) người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi)

phạm tội; (2) phụ nữ có thai; (3) phụ nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi Theo điều 35

của Bộ Luật Hình sự năm 1999 kế thừa 03 đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình đã được Bộ Luật Hình sự năm 1985 quy định Tuy nhiên, có những sửa đổi, bổ sung mới,

theo đó, tử hình không áp dụng đối với: (1) người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi)

phạm tội; (2) phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử; (3) phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử Theo điều 40 của Bộ Luật Hình sự

năm 2015 tiếp tục kế thừa 03 đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình đã được Bộ

Trang 9

Luật Hình sự năm 1999 quy định, đồng thời, bổ sung thêm một đối tượng là: “Người đủ

75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử”, không áp dụng hình phạt tử hình đối với

người từ đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử và không thi hành án tử hình đối với họ Ngoài việc bổ sung quy định không áp dụng hình phạt tử hình và không thi hành

án tử hình đối với người từ đủ 75 tuổi trở lên phạm tội, Bộ Luật Hình sự năm 2015 cũng

bổ sung mới quy định: “không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về tội

tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần

tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn” (điểm c khoản 3 Điều 40)

Bộ Luật Hình sự Việt Nam vừa thể hiện tính nghiêm minh, răn đe khi vẫn quy định hình phạt tử hình nhưng vẫn đảm bảo được quyền con người và tính nhân đạo sâu sắc, tính nhân văn và hướng thiện đối với những người yếu thế, những đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt Thực tế áp dụng bộ luật, khác với nhiều quốc gia, trong mấy thập

kỷ gần đây, Việt Nam không công khai số lượng người bị thi hành án tử hình Tuy nhiên, theo một số nguồn tin, số lượng án tử hình được tuyên và thi hành ở Việt Nam đã giảm từ

67 vụ trong giai đoạn 1996 - 2000 xuống còn 21 vụ trong giai đoạn 2009 – 2013 Theo Báo cáo thi hành án hình sự trong 5 năm (2011-2016) Công an công bố công khai vào tháng 2 năm 2017, Việt Nam có 1.134 tử tù, và trong ba năm (2013-2016), có 429 phạm nhân bị tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc, còn một nửa trong số đó chưa thi hành án

[11].Điều đó cho thấy thực tế trong xét xử Việt Nam đã giảm việc áp dụng hình phạt tử hình phù hợp với xu hướng quốc tế và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội đất nước trong giai đoạn hiện nay

III) KẾT LUẬN

Trong hệ thống pháp luật hình sự nước ta hiện nay tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất bởi vì nó tước bỏ quyền sống của con người loại trừ vĩnh viễn người phạm tội

ra khỏi xã hội Cũng chính vì tính nghiêm khắc đặc biệt đó mà hình phạt tử hình được áp dụng trong những trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và việc áp dụng thi hành loại hình phạt này phải tuân theo một thủ tục nghiêm ngặt Vì vậy việc áp dụng nó làm sao để bảo đảm quyền con người không bị xâm phạm và phù hợp với nguyên tắc nhân đạo trong hệ thống pháp luật luôn là vấn đề được đặt trên hết Ở nước ta, việc giữ lại hình phạt tử hình trong giai đoạn hiện nay là cần thiết do yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm đang diễn ra quyết liệt trên mọi lĩnh vực tuy nhiên Việt Nam cũng không thể nằm ngoài xu thế chung của thế giới là phải thu hẹp hạn chế và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình trong quy định của pháp luật hình sự Điển hình là số lượng tội danh có thể

bị kết án tử hình trong Bộ luật Hình sự của Việt Nam đã giảm liên tục kể từ 1999 đến

Trang 10

nay Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, dân trí ngày càng cao và xã hội ngày càng cởi mở hơn, Việt Nam trong tương lai vẫn sẽ theo xu hướng giảm hình phạt tử hình trong pháp luật và giảm việc áp dụng hình phạt này trong thực tế Mặc dù vậy, đây

sẽ là một quá trình tịnh tiến, không phải là một sự thay đổi nhanh chóng trong thời gian ngắn, do vẫn còn nhiều động lực về duy trì hình phạt này [12]

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I Văn bản pháp luật

1 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)

2 Bộ Luật Hình sự năm 1985

3 Bộ Luật Hình sự năm 1999

4 Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị

5 Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị

II Sách, báo, tài liệu Internet

[1] Nhanquyenvn (2020), Nguồn gốc và các đặc trưng cơ bản về quyền con người?,

https://nhanquyenvn.org/nguon-goc-va-cac-dac-trung-co-ban-ve-quyen-con-nguoi.html>, ngày truy cập 15/07/2021

[2] Nguyễn Thị Yến (2018), Nguyên tắc nhân đạo của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong

Bộ luật Hình sự, <

[3] Giảng viên Lê Nguyễn Nhật Minh, Giáo trình Luật Hình Sự phần chung LAW1011,

TP Hồ Chí Minh

[4] Phương Thảo (2013), Có nên xóa bỏ hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự?,

https://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201308/co-nen-xoa-bo-hinh-phat-tu-hinh-trong-bo-luat-hinh-su-291923/>, ngày truy cập 15/07/2021

[5] TS Đinh Thế Hưng (2018), VỀ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG BLHS VIỆT NAM,

<https://tapchitoaan.vn/bai-viet/thoi-su/ve-hinh-phat-tu-hinh-trong-blhs-viet-nam>, truy cập ngày 15/07/2021

[6], [7] TS Phạm Văn Beo (2015), Xóa bỏ hay duy trì hình phạt tử hình đối với một số tội

phạm cụ thể?, <http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=208505 >, truy cập ngày 15/07/2021

Ngày đăng: 25/10/2021, 17:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w