BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN HỒ SƠ DÂN SỰ SỐ 13: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh. Theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì quan hệ pháp luật tranh chấp trong hồ sơ này là tranh chấp về kinh doanh thương mại. Nhận xét về các thủ tục tố tụng và những vấn đề cần làm rõ trong hồ sơ LS.DS 13 KDTM. Luận cứ bảo vệ nguyên đơn là Công ty TNHH Kim Lân.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn: Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải quyết các vụ việc dân sự
Mã hồ sơ: LS.DS 13/ B5.TH2-DA3/KDTM
Diễn án lần:
Ngày diễn:
Giảng viên hướng dẫn:
Họ và tên học viên:
Lớp:
Số báo danh:
Vai diễn:
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
Trang 2BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
HỒ SƠ DÂN SỰ SỐ 13: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
1 Các vấn đề pháp lý cơ bản
a Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp
Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh đều là tổ chức có đăng ký kinh doanh và hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận Theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (sau đây gọi tắt là “BLTTDS 2015”) thì quan hệ pháp luật tranh chấp trong hồ sơ này là tranh chấp về kinh doanh thương mại
b Thời hiệu khởi kiện
Theo Điều 319 Luật Thương mại 2005 thì: “Thời hiệu khởi kiện áp dụng
đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích
hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 của Luật này” Có thể thấy biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/05/2016 là văn
bản sau cùng để xác nhận công nợ giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh, sau đó phía Bị đơn không thanh toán cho Công ty Kim Lân Do đó, thời hiệu khởi kiện được tính kể từ ngày 08/05/2016 đến hết ngày 07/05/2018 Như vậy, ngày 10/07/2016 Công ty Kim Lân khởi kiện Công ty Nhật Linh là vẫn nằm trong thời hiệu khởi kiện
c Thẩm quyền của Tòa án
Căn cứ khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015 thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Theo điểm b khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015 thì trường hợp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp Huyện
Điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 quy định trường hợp bị đơn là tổ chức thì Tòa án nơi bị đơn có trụ sở có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty Nhật Linh số 2300336011, đăng ký lần đầu ngày 12/6/2008, và đăng ký thay đổi lần thứ 7 ngày 15/5/2013 thì Công ty Nhật Linh –
là Bị đơn trong vụ án - có địa chỉ trụ sở tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Như vậy, Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này theo quy định của pháp luật
d Xác định tư cách đương sự
Nguyên đơn: Công ty TNHH Kim Lân
Địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh; do ông Hàn Anh Tuấn giữ chức danh Giám đốc làm người đại diện theo pháp luật
Trang 3Bị đơn: Công ty TNHH Nhật Linh
Thường trú: Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh do ông Nguyễn Chí Linh giữ chức danh Tổng Giám đốc làm người đại diện theo pháp luật
Căn cứ pháp lý: Điều 68 BLTTDS 2015
e Tiền tố tụng
Việc hòa giải cơ sở là không bắt buộc đối với quan hệ pháp luật tranh chấp này bởi vì Luật Thương mại 2005 và Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 không quy định về việc hòa giải cơ sở trước khi nộp đơn khởi kiện ra Tòa án đối với vụ án kinh doanh thương mại
f Văn bản pháp luật áp dụng
Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 của Quốc hội ngày 24/11/2015;
Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội ngày 14/06/2005 ;
Luật Thương mại số 36/2005/QH11 của Quốc hội ngày 14/06/2005 ;
Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 của Quốc hội ngày 29/11/2005 ; Pháp luật điều chỉnh về tố tụng: Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 của Quốc hội ngày 25/11/2015
g Nhận xét về các thủ tục tố tụng và những vấn đề cần làm rõ
Hồ sơ không thể hiện việc làm rõ thẩm quyền thụ lý thuộc tòa án hay trọng tài theo thỏa thuận tại Điều 5 của Hợp đồng Nguyên tắc;
Chưa làm rõ Công ty Nhật Linh, Bắc Ninh với Nguyên đơn là 1 công ty hay không;
Việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời (sau đây gọi tắt là “BPKCTT”)
có sự vội vàng, sai sót:
- Phía Công ty Nhật Linh có Đơn 15/11/2016 đề nghị Tòa áp dụng BPKCTT bằng hình thức kê biên và niêm phong toàn bộ tài sản của Nhật Linh đầu tư trên đất Công ty Kim Lân nhưng Quyết định ngày 22/11/2016 Tòa lại Áp dụng BPKCTT bằng hình thức phong tỏa tài sản tại Công ty Kim Lân
- Không xem xét khách quan đến các chứng cứ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của các tài sản đó
- Các tài sản theo bảng kê nói trên hầu hết đều thuộc quyền sở hữu của công ty TNHH Kim Lân
Ông Nguyễn Tiến Công không có tư cách tham gia phiên tố tụng, chủ thể
ủy quyền và nội dung ủy quyền chưa đúng và chưa đầy đủ (Bút lục 43)
Trang 4Yêu cầu phản tố của Bị đơn đã hết thời hạn, vì vậy việc Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố của Bị đơn là không có cơ sở pháp lý theo quy định của BLTTDS 2015
2 Tóm tắt nội dung vụ việc
Ngày 02/01/2015, Công ty TNHH Kim Lân (sau đây gọi tắt là “Kim Lân”)
và Công ty TNHH Nhật Linh (sau đây gọi tắt là “Nhật Linh”) cùng ký Hợp đồng
nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng”), theo đó Kim
Lân sẽ bán hàng theo yêu cầu của Nhật Linh Tại Điều 2.2 trong hợp đồng quy
định: “Bên mua sẽ thanh toán cho bên bán sau khi bên bán hoàn tất việc giao
hàng cho bên mua tại đúng địa điểm giao hàng như đã thỏa thuận Bên mua sẽ thanh toán cho bên bán trong vòng 6 tháng kể từ khi bên bán cung cấp đầy đủ các giấy tờ, phiếu nhập kho, hóa đơn VAT và giấy đề nghị thanh toán, báo giá chi tiết” Phía Kim Lân đã giao nhiều đợt hàng theo yêu cầu của Nhật Linh từ
năm 2015 đến khoảng tháng 05 năm 2016 Kim Lân và Nhật Linh đã xác nhận
và ký các biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016 với số tiền là
3.250.319.430 đồng ngày 08/05/2016 với số tiền là 3.117.970.970 đồng.
Ngày 09/05/2016, Kim Lân gửi công văn số 0506/ĐN/CN đến Công ty Nhật
Linh để yêu cầu thanh toán tiền nợ Theo đó, Công ty Kim Lân yêu cầu Công ty
Nhật Linh phải thanh toán số tiền là 3.270.212.570 đồng Ngoài ra, Kim Lân còn
ra yêu cầu Nhật Linh phải di dời toàn bộ nhà xưởng, trang thiết bị của mình ra khỏi phần đất Kim Lân đã cho thuê và trả lại toàn bộ mặt bằng này
Ngày 17/05/2016, Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh đã có buổi làm
việc với nhau để giải quyết việc thanh toán tiền hàng cho Công ty Kim Lân Nhật Linh xác nhận số tiền còn nợ của Kim Lân và sẽ có lộ trình và phương thức thanh toán cho Kim Lân và sẽ gửi bằng văn bản trong thời gian sớm nhất Tuy nhiên, sau đó Nhật Linh vẫn không thanh toán số nợ trên như đã cam kết
Ngày 10/07/2016, Công ty Kim Lân đã nộp đơn khởi kiện Công ty Nhật
Linh ra Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh yêu cầu Công ty
Nhật Linh trả nợ số tiền 3.270.212.570 đồng và lãi suất theo quy định của pháp
luật
Về phía Công ty Nhật Linh, bị đơn cho rằng Kim Lân đã đầu tư toàn bộ đất diện tích 11.753,4 m2 và tài sản gắn liền với đất vào Dự án LiOA, hai bên có ký Hợp đồng góp vốn số 288/HĐ/2008 ngày 03/10/2008 đã được phòng công chứng số 8 tỉnh Bắc Ninh chứng nhận và UBND tỉnh Bắc Ninh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư số 21121/000 088 ngày 17/10/2008
Trang 5Sau đó Kim Lân cho rằng phần đất trên là mình đã cho Công ty Nhật Linh thuê từ năm 2009 và mới trả tiền thuê đất 1 lần vào năm 2013, số tiền 60.000 USD, chưa thanh toán tiền thuê của năm 2014 đến 2016 Nên nay Công ty Kim Lân yêu cầu Công ty Nhật Linh phải trả lại đất
Về việc thay đổi yêu cầu: Công ty Kim Lân thay đổi là chỉ yêu cầu Công ty
Nhật Linh trả số tiền nợ là 3.250.319.430 đồng và lãi suất theo quy định của
Ngân hàng Nhà nước tạm tính khoảng 250.000.000 đồng
Về việc phản tố: Ngày 23/10/2016, phía Nhật Linh đã có đơn phản tố gửi
Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh yêu cầu Công ty Kim Lân
ký và hoàn trả toàn bộ tài sản của Công ty Nhật Linh trên đất của Công ty Kim Lân Công ty Nhật Linh có yêu cầu trên vì để định giá trị tài sản trên đất, đối trừ việc nợ tiền hàng của Công ty Kim Lân
Ngày 26/12/2016, Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành - tỉnh Bắc Ninh đã
ra quyết định số 12/2016/QĐXXST-KDTM về việc đưa vụ án ra xét xử
YÊU CẦU KHỞI KIỆN VÀ CÁC Ý KIẾN CỦA NGUYÊN ĐƠN
Thứ nhất, về yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu Công ty Nhật Linh thanh toán khoản nợ gốc và lãi chậm trả: Công ty Kim Lân yêu cầu Công ty Nhật Linh trả
toàn bộ số tiền theo bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016: 3.250.319.430 đồng với lãi suất tạm tính là 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng Tổng cộng cả gốc và lãi mà phía công ty Nhật Linh phải trả cho công ty Kim Lân là 3.500.319.430 đồng (Ba tỷ năm trăm triệu ba trăm mười chín nghìn bốn trăm ba mươi đồng)
Thứ hai: Nguyên đơn bác bỏ các yêu cầu phản tố của Bị đơn:
Yêu cầu phản tố của Bị đơn không nộp đúng quy định theo quy Điều 200 của BLTTDS 2015 và nội dung yêu cầu phản tố không liên quan đến vụ tranh chấp
Thứ ba: Nguyên đơn yêu cầu HĐXX xem xét bác bỏ việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản của Nguyên đơn là Công ty Kim Lân:
Tòa án cần xem xét tính khách quan của bảng kê tài sản kèm theo đơn đề nghị
áp dụng biện pháp khẩn cấp thạm thời ngày 15/11/2016, mặc dù phía Nhật Linh liệt kê rất nhiều tài sản có trên đất Kim Lân hiện nay, nhưng bảng liệt kê ấy không chính xác Bên cạnh đó, cũng cần phải xét tư cách người được ủy quyền tham gia tố tụng trong vụ án của ông Nguyễn Tiến Công là không đúng với quy định của pháp luật Do đó, yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với công ty Kim Lân là tùy tiện, gây ra thiệt hại đối với công ty Kim Lân
TÀI LIỆU CHỨNG CỨ CẦN CUNG CẤP
Trang 6Bản sao Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL
Bản sao GCNĐKKD Công ty TNHH Kim Lân
Bản sao Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016 đến 31/12/2015; Bản sao Biên bản đối chiếu công nợ 08/5/2016 đến hết ngày 30/ 4/ 2016; Bản sao Công văn số 0506 ĐN/CN ngày 09/5/2016;
Công văn số 77; Hóa đơn GTGT; Các phiếu nhập kho; …
II KẾ HOẠCH XÉT HỎI
1 Hỏi Nguyên đơn – Công ty TNHH Kim Lân:
- Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giao hàng cho bị đơn hay chưa?
- Theo hợp đồng nguyên tắc, thời hạn thanh toán là trong vòng 6 tháng kể
từ ngày bên bán cung cấp các chứng từ trong đó có hóa đơn GTGT Vậy nguyên đơn đã cung cấp các chứng từ hay chưa?
- Bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016 có được các bên thống nhất hay không? Số tiền hàng còn nợ đó có phải phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng ký ngày 02/01/2015 hay không?
- Đến nay phía Nhật Linh có tiếp tục thanh toán số tiền nợ còn lại sau khi Kim Lân nhiều lần gửi công văn yêu cầu Nhật Linh thanh toán nợ không?
- Ông cho biết có hay không việc Công ty TNHH Kim Lân vào tháng 10/2008 đã góp vốn vào Công ty TNHH Nhật Linh? Có giấy tờ gì để chứng minh hay không?
- Công ty Nhật Linh cho rằng Kim Lân đã từng góp quyền sử dụng đất vào Nhật Linh - Bắc Ninh và sau đó chuyển nhượng lại phần vốn góp này cho công
ty Nhật Linh - Hà Nội với giá trị 60.000 USD, ông Tuấn cho biết việc này có đúng hay không?
2 Hỏi Bị đơn – Công ty TNHH Nhật Linh:
- Bị đơn cho biết, Công ty Nhật Linh - Bắc Ninh thành lập vào ngày nào? Ông Nguyễn Chí Linh giữ vai trò gì trong công ty Nhật Linh - Bắc Ninh?
- Căn cứ theo hợp đồng nguyên tắc, bị đơn có biết mình đã vi phạm nghĩa
vụ thanh toán không?
- Biên bản ĐCCN ngày 25/2/2016, có phải đã được bên Nhật Linh ký tên
và đóng dấu rồi phải không? Nếu xác nhận rồi thì tại sao lại thoái thác công nợ,
từ chối việc thanh toán?
Trang 7- Theo Hợp đồng đã ký thì có điều kiện là bên Kim lân phải ký vào B kiểm
kê tài sản thì bên Nhật Linh mới trả nợ không? Nếu không sao lại lấy lý do này
để không trả nợ?
- Tại sao trong biên bản làm việc giữa hai công ty ngày 17/05/2016, phía Nhật Linh có cam kết sẽ thanh toán nợ tiền hàng cho Kim Lân đến ngày 30/07/2016, thanh toán mỗi tuần 300 triệu nhưng lại không thực hiện?
- Nhật Linh có chứng cứ gì về việc đưa tài sản vào đất Kim Lân không?
- Nhật Linh có chứng cứ gì tài sản trên đất Kim Lân thuộc quyền sở hữu của Nhật Linh không? Nhật Linh có Hóa đơn mua máy móc, hợp đồng lắp đặt thiết bị, hợp đồng thi công nhà xưởng đứng tên Nhật Linh ko? Nếu không có thì sao khẳng định đó là tài sản của Nhật Linh được?
- Bị đơn có cung cấp được Biên bản mà Kim Lân ký xác nhận những tài sản nào là của Nhật Linh không? Nếu không thì cơ sở nào nói là tài sản của Nhật Linh?
- Hợp đồng góp vốn và GCNĐKKD là các chứng cứ quan trọng chứng minh cho yêu cầu phản tố của bị đơn, vậy tại sao bị đơn không cung cấp được các chứng cứ này cho HĐXX trong hồ sơ vụ án?
- Nếu Công ty Kim Lân đã rút vốn khỏi Công ty Nhật Linh, vậy các giấy tờ chứng minh việc rút vốn đó đâu?
- Bị đơn yêu cầu phản tố đòi cấn trừ, vậy đã định giá tài sản là bao nhiêu chưa để mà cấn trừ nợ?
- Bị đơn cho biết đơn phản tố được phía Nhật Linh gửi đến Tòa ngày nào?
Bị đơn nhận thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phản tố ngày nào?
III BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN
Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa và các Luật sư đồng nghiệp,
Tôi là Luật sư – đến từ Công ty Luật thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh Hôm nay, tôi tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là Công ty TNHH Kim Lân trong vụ
án “Tranh chấp kiện đòi nợ tiền hàng” theo hồ sơ thụ lý số thông báo số 05/2016/TB-TLVA ngày 21/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, đơn khởi kiện, nghiên cứu các chứng cứ, hồ
sơ vụ kiện và qua phần trả lời các câu hỏi của các đương sự trong phiên tòa hôm
Trang 8nay, tôi xin trình bày một số quan điểm của mình đối với vụ án để chứng minh cho các yêu cầu của thân chủ tôi là có căn cứ Bởi các lý lẽ sau đây:
1 Về yêu cầu của Nguyên Đơn: Yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Kim
Lân đối với Công ty TNHH Nhật Linh là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật (Phía Công ty Kim Lân yêu cầu Công ty Nhật Linh phải thanh toán cho Công ty Kim Lân toàn bộ số tiền theo Bản đối chiếu công
nợ ngày 25/02/2016 là 3.250.319.430 đồng cùng với lãi suất tạm tính theo quy định pháp luật là 250.000.000 đồng)
1.1 Xét yêu cầu thanh toán khoản nợ gốc:
Phía Kim Lân đã hoàn tất nghĩa vụ của mình trong Hợp đồng nguyên tắc
ký kết với Nhật Linh:
Phía Kim Lân đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong việc cung cấp hàng hóa và các chứng từ theo yêu cầu của Nhật Linh trong quá trình thực hiện hợp đồng Đồng thời qua các lần giao hàng, Nhật Linh cũng không có bất kỳ khiếu nại gì về hàng hóa mà phía Kim Lân đã giao Bên cạnh đó, lời khai của ông
Nguyễn Tiến Công (Bút lục 81) đã trình bày như sau: “Quá trình làm ăn với
nhau đều có sổ sách chứng từ theo dõi của kế toán Phía Nhật Linh đang có công nợ tiền gia công của công ty TNHH Kim Lân” Có thể thấy nguyên đơn đã
hoàn thành tất cả các nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 34, Điều 42, Luật thương mại 2005 cũng như những ràng buộc trách nhiệm trong Hợp đồng nguyên tắc
Bên cạnh đó, Công ty Kim Lân đã rất thiện chí khi chấp nhận để công ty Nhật Linh thanh toán theo cách chấp nhận giao hàng và xuất chứng từ trước, phía Công ty Nhật Linh thanh toán tiền hàng từng đợt sau Tuy nhiên, trên thực
tế phía Bị đơn lại không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình như đã cam kết
Phía Nhật Linh đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng thời hạn:
Căn cứ vào Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL ngày 02/01/2015,
Điều 2 quy định: “Bên mua sẽ thanh toán cho bên bán sau khi bên bán hoàn tất
nghĩa vụ giao hàng cho bên mua tại đúng địa điểm giao hàng như đã thỏa thuận” Theo Khoản 2 và Khoản 4 Điều 4 của Hợp đồng thì bên mua có trách
nhiệm thanh toán cho bên bán theo đúng Điều 2 của Hợp đồng này Trong trường hợp bên mua thanh toán cho bên bán trễ theo Khoản 4 Điều 4 của Hợp đồng, nếu không thỏa thuận hoặc không thông báo trước với bên bán thì bên mua phải chịu lãi suất là 10%/ tháng trên toàn bộ giá trị phần chưa thanh toán Như vậy, nghĩa vụ thanh toán của bị đơn được xuất phát từ Hợp đồng (theo Điều
280 BLDS năm 2015) Tại biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016, có sự
Trang 9chứng kiến của hai bên công ty, các bên đã thống nhất xác nhận công nợ tính đến ngày 31/12/2015 là 3.250.319.430 đồng, các bên ký tên đóng dấu mà không
có sự ép buộc hay gian lận nào, điều này cũng đã được xác nhận bởi đại diện của Công ty Nhật Linh Bên cạnh đó tại Bút lục số 81, ông Nguyễn Tiến Công đã khai rằng giữa Kim Lân và Nhật Linh tồn tại một khoản nợ, điều này trực tiếp thừa nhận nghĩa vụ thanh toán của Nhật Linh đã phát sinh và phía bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ này
Phía Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trong Hợp đồng sau khi Nguyên đơn thực hiện đầy đủ trách nhiệm giao hàng và xuất giấy tờ của mình Theo Điều 2 Hợp đồng nguyên tắc mà hai bên đã ký thì phía Công ty Kim Lân đã hoàn thành các nghĩa vụ giao hàng của mình đúng và đầy đủ, chưa một lần có sự vi phạm nghĩa
vụ giao hàng Thời hạn thanh toán đến nay cho các đơn hàng năm 2015 đã vượt quá 6 tháng Việc không thanh toán của Bị đơn là hành vi vi phạm hợp đồng theo quy định khoản 12 Điều 3 và Điều 50 Luật thương mại 2005
1.2 Xét yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn khoản tiền lãi do việc chậm
thanh toán:
Căn cứ theo Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, lãi suất theo thỏa thuận của các bên đã tuân theo quy định pháp luật Điều 2 và mục 4.2 Điều 4 của Hợp đồng
nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL quy định: “Trong trường hợp bên mua thanh
toán cho bên bán trễ hạn theo Điều 2 của Hợp đồng (nếu không thỏa thuận, hoặc không thông báo trước với bên bán) thì bên mua phải chịu lãi suất 10% tháng trên toàn bộ giá trị của phần chưa thanh toán” Do vậy bị đơn có nghĩa
vụ phải thanh toán tiền lãi chậm trả phát sinh trên khoản nợ đã nêu cho nguyên đơn với số tiền lãi tạm tính là 250.000.000 đồng và được tính theo công thức cụ thể như trong Bảng tính lãi đính kèm với Đơn khởi kiện này (Công ty Kim Lân
vì thiện chí sẽ không đòi phần lãi 10% theo mục 4.2 Điều 4 của Hợp đồng nguyên tắc mà chỉ yêu cầu bị đơn trả phần lãi suất cơ bản chậm trả theo quy định của Ngân hàng Nhà nước)
Từ những phân tích trên, tôi khẳng định yêu cầu thanh toán khoản nợ gốc và tiền lãi chậm thanh toán của nguyên đơn đối với bị đơn là hoàn toàn có cơ sở
2 Về yêu cầu phản tố của bị đơn:
Phía Nguyên đơn bác yêu cầu phản tố của Bị đơn Việc Bị đơn yêu cầu Nguyên đơn ký xác nhận và hoàn trả lại toàn bộ tài sản của bị đơn trên đất của Nguyên đơn cho Bị đơn là không hợp lý
Pháp luật quy định Bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với yêu cầu của Nguyên đơn, yêu cầu phản tố này phải được đưa ra trước thời điểm mở phiên
Trang 10họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (Điều 200 BLTTDS 2015) Theo nghiên cứu hồ sơ, ngày 23/08/2016 diễn ra Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng, còn Đơn phản tố của bị đơn lại được nộp vào ngày 17/11/2016 Mặt khác, một câu hỏi được đặt ra là vì sao đơn phản tố được nộp 17/11 mà trước đó khoảng nửa tháng, cụ thể là ngày 29/10 đã có thông báo yêu cầu bị đơn nộp tiền tạm ứng án phí cho yêu cầu phản tố? Vậy có thể thấy bị đơn đã hết thời hạn được nộp đơn yêu cầu phản tố, đồng thời việc tòa án thụ lý đơn là không đúng luật Hơn nữa, xét về nội dung thì yêu cầu phản tố trong đơn ngày 17/11/2016 có nội dung không liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn trong vụ án tranh chấp Nguyên đơn khởi kiện với yêu cầu
là buộc Bị đơn phải thanh toán số tiền hàng còn nợ, nhưng Đơn phản tố của Công ty Nhật Linh lại là yêu cầu Công ty Kim Lân ký xác nhận và hoàn trả toàn
bộ tài sản trên đất Tức là yêu cầu phản tố này không thuộc trường hợp pháp luật quy định tại Khoản 2 Điều 200 BLTTDS 2015
Công ty Kim Lân khởi kiện yêu cầu Công ty Nhật Linh thanh toán khoản nợ tiền hàng là dựa trên nghĩa vụ đối với Hợp đồng nguyên tắc số
01/2015/NLBN-KL ngày 02/01/2015 Tuy nhiên, theo quy định tại Hợp đồng nguyên tắc thì không quy định nghĩa vụ thanh toán của bị đơn được cấn trừ vào bất kỳ nghĩa vụ tài sản nào của nguyên đơn Trong đơn đề nghị ngày 23/10/2016 kèm theo cùng với đơn phản tố, phía Bị đơn cho rằng hiện nay Nhật Linh đang để lại một số tài sản trên đất của Nguyên đơn nên yêu cầu phía Nguyên đơn phải xem xét dựa vào đây để đối trừ việc nợ tiền hàng Tuy nhiên Bị đơn yêu cầu phản tố đòi cấn trừ, vậy đã định giá tài sản là bao nhiêu chưa để mà cấn trừ nợ? Các tài liệu xác nhận tài sản của Bị đơn đầu tư xây dựng trên đất của Nguyên đơn chỉ là giấy tờ photo, không có dấu giáp lai hay chữ ký của Công ty Kim Lân Bị đơn khẳng định giá trị số tài sản ấy gấp nhiều lần so với công nợ nhưng lại không đưa ra cụ thể giá trị tài sản ấy là bao nhiêu để đối trừ
Ngoài ra, phía Công ty Nhật Linh không có chứng cứ chứng minh về việc đầu tư góp vốn giữa các bên, hoặc chứng cứ của việc nguyên đơn có góp vốn bằng quyền sử dụng đất Mảnh đất này là do phía Công ty Kim Lân cho Công ty Nhật Linh thuê Trong thời gian đó, phía Công ty Nhật Linh tự ý xây dựng thêm căn nhà kho 3 tầng, chuyển máy phát điện và ô tô ISUZU BKS 54V- 9063 vào
để phục vụ hoạt động của Công ty Nhật Linh, điều này chúng tôi đã trình bày trong đơn khiếu nại ngày 26/11/2016
Từ những căn cứ trên, có thể thấy yêu cầu phản tố của bị đơn là hoàn toàn không có căn cứ theo quy định tại Điều 200 BLTTDS năm 2015 Đề nghị HĐXX bác yêu cầu phản tố của Bị đơn