1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thảo luận buổi 2, 3 Luật lao động

30 350 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 135,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Anh Hoàng Văn K có trách nhiệm hoàn trảcho Công ty L chi phí đào tạo khi không hoàn thành khóa đào tạo vì bất kỳ lý do nàohoặc đơn phương chấm dứt Hợp đồng Lao động trong thời gian đào t

Trang 1

ĐÁP ÁN THẢO LUẬN LUẬT LAO ĐỘNG

BUỔI THẢO LUẬN SỐ 2 VÀ SỐ 3 (CHƯƠNG III VÀ IV)

CHƯƠNG III: VIỆC LÀM VÀ HỌC NGHỀ, ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NÂNG CAOTRÌNH ĐỘ KỸ NĂNG NGHỀ

CHƯƠNG 4:HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

BUỔI THẢO LUẬN SỐ 2

CHƯƠNG III VIỆC LÀM VÀ HỌC NGHỀ, ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NÂNG CAO

TRÌNH ĐỘ KỸ NĂNG NGHỀ

1 Phân tích định nghĩa việc làm và thất nghiệp theo quy định pháp luật Việt Nam.Hãy cho biết ý nghĩa pháp lý của những định nghĩa này

2 So sánh trung tâm dịch vụ việc làm với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm

3 Phân tích trách nhiệm giải quyết việc làm của Nhà nước

4 Anh/chị hãy cho biết ý nghĩa của Quỹ giải quyết việc làm, Quỹ bảo hiểm thấtnghiệp đối với vấn đề giải quyết việc làm

5 Theo anh/chị nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong vấn đề học nghề, đào tạo,bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề đối với người lao động được pháp luật laođộng Việt Nam quy định như thế nào?

II BÀI TẬP TÌNH HUỐNG (phần đề dài quá nên mình sẽ bỏ đi một số phần k

ty B đến ngày 08-02-2018 anh làm đơn xin nghỉ việc và ngày 08-3-2018 Công ty B

ký Quyết định nghỉ việc Khi anh làm việc tại Công ty B hai bên không ký hợp đồng

1 Bản án số 04/2017/TLST-LĐ ngày 12-7-2017 về tranh chấp “Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2017/QĐXXST-LĐ ngày 23-8-2017.

Trang 2

lao động (Sau đây viết tắt là HĐLĐ) nhưng có thoả thuận về công việc; thời gian làmviệc 8 tiếng một ngày, một tuần làm việc 6 ngày từ thứ 2 đến thứ 7 và nghỉ ngày chủnhật; có thoả thuận đóng bảo hiểm xã hội (Sau đây viết tắt là BHXH), bảo hiểm thấtnghiệp (Sau đây viết tắt là BHTN), bảo hiểm y tế (Sau đây viết tắt là BHYT) từ tháng8-2013 đóng nối theo số sổ là 7909345249; mức lương từ tháng 3-2013 đến tháng 7-

2016 là 3.400.000 VNĐ/tháng cộng với 200.000 VNĐ/tháng tiền phụ cấp tổng là3.600.000 VNĐ, từ tháng 8-2016 đến khi nghỉ việc ngày 08-3-2018 mức lương vẫn là3.400.000 VNĐ/tháng cộng 700.000 VNĐ/tháng tiền phụ cấp tổng là 4.100.000VNĐ Lương bình quân anh thực lĩnh là 3.400.000 VNĐ/tháng Từ tháng 8-2013 đếnkhi nghỉ việc, hàng tháng Công ty B đều khấu trừ tiền đóng BHXH vào tiền lương,sau đó mới chuyển tiền lương vào tài khoản của anh do Công ty B mở tài khoản vàcung cấp cho anh phiếu lương hàng tháng Sau khi nhận Quyết định nghỉ việc Công

ty B đã thanh toán đầy đủ lương và phụ cấp, anh không có khiếu nại gì Theo thỏathuận thì Công ty B bắt đầu đóng BHXH, BHTN cho anh từ tháng 8-2013 nhưngCông ty B mới đóng đến tháng 10-2013 Từ tháng 11-2013 đến khi anh nghỉ việcCông ty B không đóng bảo hiểm Nay anh yêu cầu Công ty B phải đóng tiếp BHXH,BHTN từ tháng 11-2013 đến khi anh nghỉ việc, chốt sổ bảo hiểm từ tháng 8-2013 đếnkhi anh nghỉ việc và trả sổ bảo hiểm cho anh

Đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Bảohiểm xã hội thành phố trình bày: Từ tháng 8-2013 đến tháng 3-2018 anh L làm côngnhân kho Công ty B Công ty B bắt đầu đóng BHXH, BHTN cho anh L theo số sổbảo hiểm xã hội là 7909345249 từ tháng 8-2013 và mới đóng đến tháng 10-2013.Tính tiếp đến thời gian anh L nghỉ việc là ngày 08-3-2017 thì Công ty B chưa đóngBHXH, BHTN cho anh L từ tháng 11-2013 đến tháng 02-2017 là ba năm bốn tháng.Tại thời điểm tháng 3-2018, Công ty B đang nợ tiền đóng BHXH, BHTN,BHYT cho người lao động tại đơn vị là X.XXX.742.664 VNĐ Quan điểm của Bảohiểm xã hội thành phố yêu cầu Công ty B phải thanh toán nợ tiền đóng BHXH,BHYT, BHTN đối với người lao động trong đó có anh Nguyễn Huy L tại đơn vị làX.XXX.742.664 VNĐ VNĐ (Đã tính cả lãi suất chậm thanh toán)

Anh Nguyễn Huy L bổ sung: Lương anh thực lĩnh bình quân là 3.400.000VNĐ/tháng Thời điểm anh và Công ty B thỏa thuận đóng BHXH cho anh bắt đầu từtháng 8-2013 nhưng Công ty B mới chỉ đóng đến tháng 10-2013 Hàng tháng anh đềunhận phiếu lương của Công ty B cung cấp, sau khi đối chiếu tổng các khoản khấu trừanh xác nhận Công ty B đóng BHXH cho anh ở mức 3.100.000 VNĐ/tháng Nay anhyêu cầu Công ty B phải đóng tiếp BHXH từ tháng 11-2013 đến khi anh nghỉ việc

Trang 3

theo mức 3.100.000 VNĐ/tháng, chốt sổ bảo hiểm từ tháng 8-2013 đến khi anh nghỉviệc và trả sổ bảo hiểm cho anh

Hỏi:

1 Xác định các quan hệ pháp luật lao động trong vụ án trên?

2 Theo quy định pháp luật hiện hành, hành vi vi phạm trách nhiệm đóng bảohiểm thất nghiệp của Công ty B sẽ xử lý như thế nào?

3 Theo quy định pháp luật bảo hiểm thất nghiệp, trong thời gian từ tháng

11-2013 đến khi anh L nghỉ việc, Công ty B và anh L phải đóng bảo hiểm thất nghiệpbao nhiêu đồng mỗi tháng?

4 Tại thời điểm xem xét – 4/2018, anh L có đủ điều kiện để được hưởng trợ cấpthất nghiệp hay không? Vì sao?

5 Nếu đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp, thì mức hưởng của anh L là baonhiêu tháng? Mỗi tháng bao nhiêu đồng?

2 Tình huống số 2 2

Ngày 28 tháng 9 năm … tại trụ sở ……….xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ

lý số xxxxxx ngày 21 tháng 6 năm 20… về tranh chấp học nghề theo Quyết định đưa vụ

án ra xét xử số ………… ngày 22 tháng 8 năm 20… giữa các đương sự:

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện, Đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện và lời trình bày của người đạidiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty L thì: Ngày 08 tháng 02 năm

2017, Công ty L đã ký với anh Hoàng Văn K Hợp đồng Lao động số: VH000315/2017

xác định thời hạn 01 năm (kể từ ngày 08 tháng 02 năm 2017 đến ngày 07 tháng 02 năm2018), với vị trí anh K làm kỹ thuật viên sản xuất Cell tại L Display

Để anh K nắm bắt được chuyên môn và gắn bó với lâu dài với L Display; ngày 25tháng 2 năm 2017, Công ty L đã ký với anh Hoàng Văn K Hợp đồng Đào tạo sốVH000315/2017-ĐT, với nội dung: Công ty L tổ chức để anh Hoàng Văn K sang thànhphố Gumi Hàn Quốc học khóa đào tạo kỹ thuật trong thời hạn 47 ngày Công ty L lo thủtục và chịu trách nhiệm chi trả mọi chi phí cho anh K tham gia khóa học (bao gồm: Chiphí tổ chức khóa học; vé máy bay; phụ cấp lưu trú, công tác phí; chi phí đi lại; lệ phí vi

2 Bản án số 01/2017/TLST-LĐ ngày 21 tháng 6 năm 2017 về tranh chấp học nghề theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử số 698/2017/QĐXXST-LĐ ngày 22 tháng 8 năm 2017.

Trang 4

sa, hộ chiếu ; tiền thuê khách sạn, nhà nghỉ; tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảohiểm y tế trong thời gian đào tạo) Anh K có nghĩa vụ phải tham gia đầy đủ và thực hiệnnghiêm chỉnh các quy định của khóa đào tạo; tự thanh toán mọi chi tiêu cá nhân ngoàicác khoản mà Công ty L đã hỗ trợ như trên Anh Hoàng Văn K có trách nhiệm hoàn trảcho Công ty L chi phí đào tạo khi không hoàn thành khóa đào tạo vì bất kỳ lý do nàohoặc đơn phương chấm dứt Hợp đồng Lao động trong thời gian đào tạo, không đảm bảothời gian làm việc cho Công ty L như cam kết…

Để đảm bảo cho các Hợp đồng Lao động và Hợp đồng Đào tạo nêu trên; ngày 01tháng 3 năm 2017, ông Hoàng Văn A, sinh năm 1969; trú tại thôn 8, xã Việt Tiến, huyệnVĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng là bố đẻ của anh Hoàng Văn K, đại diện đã ký với Công

ty L cam kết bảo lãnh của gia đình cho anh Hoàng Văn K

Trong đó, ông A cam kết:

Anh K sẽ thực hiện đầy đủ nội dung của Hợp đồng Đào tạo và chính sách của Công

ty L liên quan đến đào tạo; cam kết hoàn trả chi phí đào tạo và chi phí bồi thường choCông ty L thay cho anh Hoàng Văn K trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được thôngbáo của Công ty L về việc anh Hoàng Văn K không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ hoàn trảchi phí đào tạo và chi phí bồi thường liên quan theo hợp đồng đào tạo

Trả một khoản tiền phạt tương đương 195.144.999đ cho Công ty L, trong trườnghợp anh Hoàng Văn K trốn ở lại nước ngoài trong và sau thời gian đào tạo; số tiền phạtnêu trên sẽ trả cho Công ty L trong thời hạn 10 ngày, kể từ khi nhận được thông báo vềviệc anh Hoàng Văn K trốn ở lại nước ngoài

Thực hiện Hợp đồng Đào tạo số VH000315/2017-ĐT ngày 25 tháng 02 năm 2017,Công ty L đã lo mọi thủ tục để anh Hoàng Văn K được cấp thị thực nhập cảnh vào HànQuốc trong thời hạn 02 tháng Ngày 13 tháng 3 năm 2017 Công ty L đã tổ chức đưa đoànngười lao động Việt nam sang Hàn Quốc để theo học khóa đào tạo Anh hoàng Văn K đãnhập cảnh vào Hàn Quốc qua cửa khẩu sân bay quốc tế Incheon Vào hồi 19h30, ngày 13tháng 3 năm 2017; khi tới sân bay Incheon, anh Hoàng văn K đã tách khỏi đoàn và khôngtrở lại Hiện tại anh Hoàng Văn K đang cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc Mặc dù đãđược nhiều đồng nghiệp công tác tại Công ty L khuyên nhủ nhưng anh K đã trao đổi vànhắn tin cho họ cũng như gia đình là không trở lại theo học khóa đào tạo do Công ty L tổchức

Dự trù chi phí cho anh Hoàng Văn K theo khóa học bao gồm: Chi phí làm hộ chiếu200.000đ, chi phí cấp thị thực là 450.000đ, vé máy bay là 12.375.000đ, tiền ký túc xá là16.638.783đ, chi phí đi lại bằng xe bus là 1.691.924đ, chi phí ăn uống là 11.253.868đ, chiphí giảng viên là 105.486.852đ, phòng đà tạo là 489.694đ, tiền tài liệu là 772.400đ, tiền

Trang 5

công tác phí là 35.392.500đ, tiền lương là 8.519.645đ, tiền đóng bảo hiểm là 1.874 324đ;tổng cộng là 195.144.999đ.

Thực tế Công ty L đã chi để anh K theo học khóa học nghiệp vụ tại Hàn Quốc gồmcác khoản: Chi phí tại Việt Nam gồm: Chi phí cấp visa là 450.000đ, tiền vé máy bay là14.440.932đ, tiền tạm ứng công tác phí mà anh K đã nhận là 17.707.500đ; tổng cộng là32.598.432đ

Chi tại Hàn Quốc cho 21 người theo khóa học là 2.787.829.113đ; bình quân chi phícho mỗi người là 132.753.767đ (trong đó chi phí cho 21 người tiền ký túc xá là349.414.450đ, tiền thuê xe bus để đi lại là 35.530.400đ, chi phí giảng viên là2.378.026.500đ, tiền phòng đào tạo là 8.637.363đ, tiền tài liệu là 16.220.400đ)

Tổng cộng các khoản mà Công ty L đã chi để anh Hoàng Văn K theo học khoác họcchuyên môn tại Hàn Quốc là 165.352.199đ

Công ty L yêu cầu anh Hoàng Văn K phải trả 100% chi phí đào tạo là165.352.199đ; trong trường hợp anh K không trả được thì ông Hoàng Văn A và bà PhạmThị H phải trả thay số tiền trên Ông Hoàng Văn A và bà Phạm Thị H phải trả khoản tiềnphạt là 195.144.999đ Kể từ ngày 28/4/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm, anh Hoàng Văn Kphải trả lãi của số tiền chi phí đào tạo theo mức lãi suất 20%/năm

Ông Hoàng Văn A và bà Phạm Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ

lý vụ án, nhiều lần tống đạt giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộpchứng cứ, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; nhưng ông A và bà H đều không giaonộp chứng cứ và đều không có mặt theo triệu tập của Tòa án

Trang 6

TRẢ LỜI

I LÝ THUYẾT

1 Phân tích định nghĩa việc làm và thất nghiệp theo quy định pháp luật Việt Nam Hãy cho biết ý nghĩa pháp lý của những định nghĩa này.

Ở Việt Nam, trong nền kinh tế tập trung, người lao động được coi là có việc làm, và được

xã hội thừa nhận là người làm việc trong các đơn vị kinh tế và tập thể nhưng khi chuyểnsang nền kinh tế thị trường, quan niệm về việc làm và các vấn đề liên quan như thấtnghiệp, chính sách việc làm đã có những thay đổi căn bản

Theo khoản 1 Điều 9 BLLĐ định nghĩa về việc làm: “Việc làm là hoạt động lao động tạo

ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”

Nếu như trước đây, trong các văn bản pháp luật vấn đề việc làm chủ yếu được đề cập ởgóc độ cơ chế , chính sách đảm bảo việc làm cho người lao động thì đây là lần đầu tiênkhái niệm việc làm được ghi nhận trong văn bản quy phạm pháp luật quan trọng của nhànước.Theo đó, một hoạt động được coi là việc làm phải đáp ứng hai điều kiện:

i Việc làm phải là hoạt động lao động của con người để tạo ra nguồn thu nhập

ii Hoạt động đó không bị pháp luật cấm

Đối với thất nghiệp, tuy chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể về thất nghiệp và cácvấn đề liên quan đến thất nghiệp, nhưng có nhiều công trình nghiên cứu nhất định.Và tạo

ra định nghĩa thất nghiệp được quy định tại Việt Nam: “ Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm” Như vậy người thất nghiệp phải đáp ứng ba điều kiện sau:

i Người đó phải trong độ tuổi lao động

ii Người đó phải có khả năng lao động và có nhu cầu việc làm

iii Người đó đang không có việc làm

Ý nghĩa pháp lí:

Việc làm là phạm trù thuộc quyền cơ bản của con người Quyền này đã được thừa nhậntrong hiến pháp, luật và các công ước quốc tế Vấn đề việc làm còn gắn liền với chế độpháp lí lao động, là cơ sở hình thành, duy trì và là nội dung của quan hệ lao động

2 So sánh trung tâm dịch vụ việc làm vơi doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm

Giống nhau:

Chức năng của cả hai là tổ chức dịch vụ việc làm là tư vấn, giới thiệu việc làm chongười lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu càu của người sử dụng lao động;

thuthập, cung câp thông tin về thị trường lao động; đào tạo kỹ năng, dạy nghề và thực

hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật (Điều 14 BLLĐ 2012)

Được thu phí, miễn, giảm thuế, tự chủ về tài chính

Hoạt động trong lĩnh vực, dịch vụ việc làm, đều là tổ chức dịch vụ việc làm

Trang 7

- Điều 39 Luật Việc làm

- Luật Doanh nghiệp 2014

- Nghị định 52/2014

Bản chất Đơn vị sự nghiệp việc làm

(Bản chất xã hội) Doanh nghiệp (Bản chất kinh tế)

Mục đích - Hỗ trợ người lao động tìm kiếm

việc làm; cung cấp thông tin, giớithiệu việc làm

- Thực hiện các vấn đề về bảo hiểmthất nghiệp

Là loại hình doanh nghiệp giớithiệu việc làm nhằm kinh doanh,thu lợi nhuận

Sự thành

lập Thành lập và hoạt động theo quyđịnh của Chính phủ, phù hợp với qu

hoạch do Thủ tướng Chính phủ phêduyệt

Có giấy phép hoạt động dịch vụviệc làm do UBND tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương hoặc Sở Laođộng – Thương binh và Xã hộiđược ủy quyền cấp

nhiệm - Xây dựng và thực hiện kế hoạchhoạt động hằng năm đã được cấp

co thẩm quyền phê duyệt

- Cung cấp thông tin về thị trườnglao động cho các cơ quan tổ chức,phân tích dự báo thị trường laođộng phục vụ xây dựng kế hoạchphát triển kinh tế xã hội

Báo cáo tình hình hoạt động củadoanh nghiệp 6 tháng, hằng năm(Điều 4 NĐ 52/2014/NĐ-CP)

3 Phân tích trách nhiệm giải quyết việc làm của Nhà nước.

Trong cơ chế thị trường, nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quyền tự do lựa chọnviệc làm của người lao động (NLĐ) và quyền tự do tuyển dụng lao động của người sửdụng lao động (NSDLĐ) Nhà nước không và không thể trực tiếp sắp xếp việc làm chotừng người lao động như trong thời kỳ bao cấp mà bằng các chính sách vĩ mô, nhà nướcchỉ tạo ra những cơ hội, những đảm bảo về mặt pháp lý và thực tiễn để NLĐ tìm đượcviệc làm BLLĐ cũng chỉ sử dụng thuật ngữ “chính sách của Nhà nước hỗ trợ phát triểnviệc làm” để xác định trách nhiệm giải quyết việc làm của nhà nước được quy định nhưsau:

 Thứ nhất, Nhà nước định ra chỉ tiêu việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội năm năm và hàng năm Chỉ tiêu việc làm mới có thể hiểu là số lao

Trang 8

động mới cần tuyển thêm vào làm việc thường xuyên tại doanh nghiệp, tổ chức,đơn vị, cá nhân sử dụng lao động theo hợp đồng lao động thuộc mọi thành phầnkinh tế do nhu cầu mới thành lập hoặc mở rộng thêm về quy mô và các mặt hoạtđộng, sắp xếp lại lao động Có thể nói, định ra chỉ tiêu việc làm mới là bước đầutiên trong chính sách giải quyết việc làm cho NLĐ Dựa vào chỉ tiêu việc làmmới, nhà nước có thể đánh giá được cung – cầu của thị trường lao động Từ đó,nhà nước có các kế hoạch phát triển kinh tế để tạo ra việc làm mới, đồng thờiquy hoạch mạng lưới đào tạo nghề để đảm bảo cầu đủ cho cung và cung đáp ứngđược cầu

 Thứ hai, Nhà nước có chính sách hỗ trợ tạo ra việc làm cho NLĐ Để thực hiệnchính sách này, Nhà nước đề ra hai giải pháp sau:

- Một là, hỗ trợ NLĐ để họ tự tạo việc làm, hỗ trợ NLĐ tìm kiếm việc làm trongnước hoặc nước ngoài và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho NLĐ

- Hai là, tạo điều kiện thuận lợi cho NSDLĐ phát triển, mở rộng hoạt động sảnxuất, kinh doanh để tạo ra việc làm cho NLĐ bằng các biện pháp cụ thể

 Thứ ba, Nhà nước lập chương trình việc làm và quỹ Quốc gia về việc làm để hỗtrợ tạo ra việc làm cho NLĐ Chương trình việc làm có ý nghĩa quan trọng trongviệc hoạch định các chính sách giải quyết việc làm cho NLĐ Theo quy định củapháp luật, chương trình việc làm chỉ được thực hiện ở địa phương (cấp tỉnh).Quỹ quốc gia về việc làm được thành lập để hỗ trợ cho vay ưu đãi tạo việc làm

và thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật

 Thứ tư, Nhà nước cho phép thành lập và phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việclàm Tổ chức dịch vụ việc làm có vai trò quan trọng trong việc làm cầu nối giữaNLĐ và NSDLĐ, để vận hành thị trường hàng hóa sức lao động Việc nhà nướccho phép thành lập và phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm là một trongnhững giải pháp “cung” gặp đúng “cầu”, góp phần giải quyết việc làm cho NLĐ

4 Anh/chị hãy cho biết ý nghĩa của Quỹ giải quyết việc làm, Quỹ bào hiểm thất nghiệp đối với vấn đề giải quyết việc làm.

 Ý nghĩa của Quỹ giải quyết việc làm:

- Đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết việc làm

- Hỗ trợ vay cho các đối tượng thuộc Điều 12 Luật Việc làm 2013 có đủ cácđiều kiện theo Điều 13 Luật Việc làm 2013

- Có mục đích trực tiếp hỗ trợ, duy trì và tạo việc làm cho người lao động vàngười sử dụng lao động

- Giúp đỡ cho các dự án tạo ra việc làm hoặc thu hút thêm nguồn lao động

 Ý nghĩa của Quỹ bào hiểm thất nghiệp:

Trang 9

- Hỗ trợ kinh tề cho người lao động đã đóng Bảo hiểm thất nghiệp nhưng đangthất nghiệp trong thời gian chưa tìm được việc làm, đảm bảo cho kinh tế củangười lao động trong quá trình tìm kiếm nghề nghiệp mới.

- Hỗ trợ cho các vấn đề tư vấn, giới thiệu việc làm và học nghề

5 Theo anh/chị nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong vấn đề học nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề đối với người lao động được pháp luật Việt Nam quy định như thế nào?

 Đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ học nghề là trách nhiệm của người sửdụng lao động đối với người lao động trong quá trình sử dụng lao động điều nàyvừa đáp ứng nhu cầu phát triển của nguồn nhân lực của người sử dụng lao động,vừa đảm bảo việc làm cho người lao động

 Theo Điều 60 của BLLĐ, người sử dụng lao động có hai nghĩa vụ là:

- Xây dựng kế hoạch hằng năm và dành kinh phí cho việc đào tạo và tổ chứcđào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kĩ năng nghề cho người lao động đanglàm việc cho mình

- Đào tạo cho người lao động trướ khi chuyển làm nghề khác cho mình

 Đó là những nhiệm vụ pháp định, không cần có sự thỏa thuận như một sự ưu đãicủa người sử dụng đối với người lao động

 Việc dành kinh phí, lập kế hoạch, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độchuyên môn, kỹ năng nghề cho người lao động đang có quan hệ lao động có thểlàm tăng thêm chi phí sản xuất của doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức tuy nhiên, việcnâng cao trình độ, tay nghề sẽ giúp người lao động thực hiện các công việc thànhthạo hơn, hiệu suất lao động cao hơn, từ đó góp phần nâng cao năng suất, chấtlượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh

 Một trong những nhiệm vụ bắt buộc của người sử dụng lao động là phải đào tạonghề cho người lao động trước khi chuyển họ sang nghề mới vì khi chuyển họsang nghề mới chính là thời điểm người sử dụng lao động chủ động chuyển ngườilao động làm việc khác so với hợp đồng lao động hoặc có nhu cầu thay đổi nhiệm

vụ của người lao động

 Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm trang bị kiến thức, kỹ năng nghề mới

để người lao động thực hiện hiệu quả, tránh sai sót có thể dẫn đến việc bị xử lý cáctrách nhiệm bởi chính người sử dụng lao động, năng lực đào tạo, bồi dưỡng nghềnghiệp của các cơ sở dạy nghề để kịp thời có những chính sách phù hợp phục vụcho việc phát triển nghề nghiệp và thị trường lao động

II BÀI TẬP TÌNH HUỐNG

Tình huống số 14

Trang 10

1 Xác định các quan hệ pháp luật lao động trong vụ án trên?

- Quan hệ pháp luật lao động cá nhân: Quan hệ lao động giữa ông Nguyễn Huy L (người lao động) với công ty B (người sử dụng lao động) Ông L đã làm công

nhân cho Công ty B từ ngày 1/3/2013 đến ngày 8/3/2018 và hai bên đã có các thỏathuận về công việc, thời gian làm việc, BHXH, BHYT, lương Mặc dù hai bênkhông kí hợp đồng lao động nhưng ông L đã làm việc hơn 3 tháng tại công ty Bnên việc Công ty không kí hợp đồng lao động với ông L là vi phạm pháp luật (Căn

cứ vào khoản 1,2 Điều 16 BLLĐ) Vì vậy, quan hệ của hai bên vẫn là quan hệpháp luật lao động

- Quan hệ pháp luật lao động khác: Quan hệ giữa ông L, công ty B với Bảo hiểm xã

hội thành phố N, trong đó ông L và công ty B có nghĩa vụ đóng BHXH, BHTNtheo quy định của pháp luật Trong tình huống trên các bên xảy ra tranh chấp liênquan đến các vấn đề về lao động Đây là quan hệ giải quyết tranh chấp lao động

2 Theo quy định pháp luật hiện hành, hành vi vi phạm trách nhiệm đóng bảo hiểm thất nghiệp của Công ty B sẽ xử lý như thế nào?

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hành vi vi phạm trách nhiệm đóng bảo hiểmthất nghiệp của công ty B được xử lý theo khoản 2 và khoản 4 Điều 26 Nghị định95/2013/NĐ-CP Cụ thể như sau:

- Công ty B sẽ bị phạt tiền với mức từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng bảohiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạmhành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 theo khoản 2 Điều này

“2 Phạt tiền với mức từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp;

b) Đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp không đúng mức quy định;

c) Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp không đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.”.

- Công ty B phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo khoản 4 Điều này:

 Buộc truy nộp số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưađóng, chậm đóng

 Buộc đóng số tiền lãi của số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thấtnghiệp chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ Quỹbảo hiểm xã hội trong năm

Trang 11

3 Theo quy định của pháp luật bảo hiểm thất nghiệp, trong thời gian từ tháng 11-2013 đến khi anh L nghỉ việc, Công ty B và anh L phải đóng bảo hiểm thất nghiệp bao nhiêu đồng mỗi tháng?

Theo quy định tại Điều 58 Luật việc làm 2013, tiền lương tháng đóng BHTN là tiềnlương tháng đóng BHXH Và theo khoản 1 Điều 57 Luật Việc làm 2013, mức đóngbảo hiểm thất nghiệp của công ty B là 1% và anh L là 1%

- Từ tháng 11/2013 – trước 01/01/2016: Theo khoản 2 Điều 94 Luật Bảo hiểm xã

hội 2006 quy định: “Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động.” Như vậy, công ty B và anh L phải đóng BHTN theo “mức tiền lương”

 Mức tiền lương anh L nhận được là 3.400.000 đồng/tháng

 Số tiền mỗi bên (công ty B và anh L) phải đóng là: 3.400.000 x 1% = 34.000đồng/tháng

- Từ 01/01/2016 – 31/12/2017: Theo khoản 2 Điều 89 Luật BHXH 2014 quy định:

“Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương

và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động.” Và theo khoản 1 Điều 30 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH quy định, “Từ ngày 01 tháng 01 năm

2016 đến ngày 31 tháng 12 năm 2017, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương và phụ cấp lương…” Như vậy, công ty B và anh L phải đóng BHTN theo “mức lương và phụ cấp lương”.

 Từ 01/01/2016 – 8/2016: Mức lương và phụ cấp anh L nhận được là 3.600.000đồng/tháng Số tiền mỗi bên (công ty B và anh L) phải đóng là: 3.600.000 x1% = 36.000 đồng/tháng

 Từ 8/2016 – 31/12/2017: Mức lương và phụ cấp anh L nhận được là 4tr1 đồng/tháng Số tiền mỗi bên phải đóng là 4tr1 x 1% = 41.000 đ/tháng

- Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 đến khi anh L nghỉ việc: Theo khoản 2 Điều 30Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, từ ngày 01/01/2018, tiền lương tháng đóngBHXH gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác Như vậy, công

ty B và anh L phải đóng theo “mức lương, phụ cấp và khoản bổ sung”.

- Tổng các khoản anh L nhận được là 4tr1 Số tiền mỗi bên (công ty B và anh L)phải đóng là: 4tr1 x 1% = 41.000 đồng/tháng

4 Tại thời điểm xét – 4/2018, anh L có đủ điều kiện để được hưởng trợ cấp thất nghiệp hay không? Vì sao?

Trang 12

- Trường hợp của anh L không đáp ứng đủ 4 điều kiện để được hưởng trợ cấp thất

nghiệp được quy định tại Điều 49 Luật Việc làm 2013

- Theo tóm tắt bản án, anh L không nghỉ hưu hay đơn phương chấm dứt hợp đồng

thuộc trường hợp loại trừ việc hưởng TCTN quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều

49 Anh L đã chấm dứt hợp đồng với Công ty B kể từ ngày Công ty B ký Quyếtđịnh nghỉ việc cho anh L là ngày 08/3/2018 nên tại thời điểm tháng 4/2018 anh L

đã bị mất việc làm, Công ty cũng đã khấu trừ tiền đóng BHXH vào tiền lươnghàng tháng của anh L từ tháng 8/2013 đến khi anh nghỉ việc Tuy nhiên, Công ty Bchỉ mới đóng BHXH cho anh L đến tháng 10/2013 nên không thỏa quy định ởkhoản 2 Điều 49 Hơn nữa, anh L chưa nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tạitrung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này Vìvậy, anh L không đủ điều kiện để được hưởng TCTN

5 Nếu đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp, thì mức hưởng của anh L là bao nhiêu mỗi tháng? Mỗi tháng bao nhiêu đồng?

- Theo khoản 2 Điều 50 Luật Việc làm quy định về thời gian hưởng TCTN:

“2 Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.”

- Theo khoản 1 Điều 50 Luật Việc làm quy định về mức hưởng TCTN:

“1 Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.”

- Anh L bắt đầu làm việc tại công ty B từ 01/3/2013 và đến 3/2018 thì nghỉ việc

+ Trường hợp 1: Từ 01/3/2013 – 8/2013, công ty B không đóng BHTN cho anh L

vì không đủ điều kiện đóng Theo thỏa thuận thì Công ty B bắt đầu đóng BHTNcho anh từ tháng 8-2013 Đến khi anh L nghỉ việc là ngày 08-3-2018, Công ty B

đã đóng BHTN cho anh được 4 năm 7 tháng (8/2013 – 08/3/2018) Như vậy, theokhoản 2 Điều 50 Luật Việc làm thì anh L sẽ được hưởng 4 tháng trợ cấp và bảolưu những tháng lẻ Mức tiền lương bình quân anh L nhận được là 3.400.000VNĐ/tháng Do đó, mỗi tháng anh L nhận được là (3.400.000 x 6 : 6) x 60% =

Trang 13

2.040.000 VNĐ (không được lấy mức tiền lương 3tr1 mà cty đóng để tính vì thỏa thuận giữa cty và anh L là thỏa thuận trái pháp luật)

+ Trường hợp 2: Anh L được đóng BHTN từ 01/3/2013 – 3/2018 Như vậy, theo

khoản 2 Điều 50 Luật Việc làm thì anh L sẽ được hưởng 5 tháng trợ cấp Mức tiềnlương bình quân anh L nhận được là 3.400.000 VNĐ/tháng Do đó, mỗi tháng anh

L nhận được là (3.400.000 x 6 : 6) x 60% = 2.040.000 VNĐ

+ Trường hợp 3:

Từ 01/01/2013 – 8/2013: chưa đủ thời gian hưởng trợ cấp

Từ 8/2013 – 10/2013: chưa đủ thời gian hưởng trợ cấp

Từ 11/2013 – 3/2018: Thời gian đóng BHTN là 4 năm 4 tháng Như vậy, theokhoản 2 Điều 50 Luật Việc làm thì anh L sẽ được hưởng 4 tháng trợ cấp và bảolưu những tháng lẻ Mức tiền lương bình quân anh L nhận được là 3.400.000VNĐ/tháng Do đó, mỗi tháng anh L nhận được là (3.400.000 x 6 : 6) x 60% =2.040.000 VNĐ

Để đảm bảo cho các hợp đồng Lao động và Hợp đồng Đào tạo đã ký giữa anh K

và công ty L thì ông A đã ký với công ty L cam kết bảo lãnh cho anh K Trongtình huống này, thỏa thuận bảo lãnh là đúng pháp luật Căn cứ vào khoản 1 Điều

335 BLDS 2015 quy định về Bảo lãnh: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh)

sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.” Và căn cứ vào khoản 1 Điều 339 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ.”

Ta nhận thấy những thỏa thuận cam kết của ông A với công ty L là hoàn toàn hợp

lí và đúng với pháp luật Công ty L yêu cầu ông A và bà H trả thay tiền phạt choanh K trong trường hợp anh K không trả được là phù hợp với quy định của phápluật, cụ thể là quy định tại khoản 1 Điều 339 BLDS 2015 Công ty L còn yêu cầuông A và bà H phải trả thêm tiền lãi của số tiền chi phí đào tạo, trường hợp này

Trang 14

vẫn đúng với pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 336 BLDS 2015 quy định

về phạm vi bảo lãnh: “Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

 Về phạt vi phạm:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 43 BLLĐ 2012 quy định về nghĩa vụ của người lao động

khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật: “Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.” và khoản 3 Điều 62 BLLĐ 2012 quy định về chi phí đào tạo: “Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài.”

Trên thực tế thì Công ty L đã chi tổng cộng là 165.352.199đ để cho anh K theohọc khóa học chuyên môn tại Hàn Quốc Trong Hợp đồng Đào tạo sốVH000315/2017-ĐT thì hai bên có thỏa thuận: anh K có trách nhiệm hoàn trả choCông ty L chi phí đào tạo khi không hoàn thành khóa đào tạo vì bất kỳ lí do nàohoặc đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong thời gian đào tạo, không đảm bảo thờigian làm việc cho Công ty L như cam kết Như vậy, khi anh K tự tách đoàn và bỏ

ra ngoài là đã vi phạm hợp đồng, do đó anh K phải hoàn trả toàn bộ chi phí đào tạocho Công ty L như đã cam kết

Về số tiền 195.144.999 đồng mà công ty L yêu cầu phạt vi phạm, yêu cầu ông Aphải bồi thường là không hợp lý, do hợp đồng mà ông A bảo lãnh cho anh Kkhông đề cập đến vấn đề về phạt vi phạm Vì vậy, trong thỏa thuận mà ông A đãcam kết sẽ chịu phạt vi phạm là không phù hợp với hợp đồng trước đó anh K đã kýkết với công ty L Do đó, theo ý kiến của nhóm thì việc phạt vi phạm là không phùhợp

2 Xác định các trường hợp người học nghề, người lao động phải chịu trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo?

Các trường hợp người học nghề, người lao động phải chịu trách nhiệm hoàn trảchi phí đào tạo:

- Trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái phápluật: Căn cứ vào khoản 3 Điều 43 thì người lao động phải hoàn trả chi phí đào tạocho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62

Trang 15

- Trường hợp hợp đồng lao động có thỏa thuận về hoàn trả chi phí đào tạo: ngườilao động phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động như đã thỏathuận (điểm đ khoản 2 Điều 62)

Giả sử anh K hoàn thành khóa đào tạo và sau khi đã làm việc được 35% tổng thời gian cam kết làm việc theo hợp đồng đào tạo thì anh K chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật Vậy, anh K phải chịu trách nhiệm hoàn trả chi phí như thế nào?

Trả lời:

Anh K chịu trách nhiệm hoàn trả toàn bộ chi phí đào tạo Vì theo thỏa thuận giữaanh K và công ty L trong hợp đồng đào tạo “anh K có trách nhiệm hoàn trả chocông ty L chi phí đào tạo khi không hoàn thành khóa đào tạo vì bất kì lý do nàohoặc đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong thời gian đào tạo, không đảm bảo thờigian làm việc cho công ty L như cam kết” Hợp đồng giữa anh K và công ty L đã

có hiệu lực, vì vậy buộc hai bên phải tuân theo hợp đồng

Ngày đăng: 16/10/2021, 22:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Là loại hình doanh nghiệp giới thiệu   việc   làm   nhằm   kinh   doanh, thu lợi nhuận - Thảo luận buổi 2, 3 Luật lao động
lo ại hình doanh nghiệp giới thiệu việc làm nhằm kinh doanh, thu lợi nhuận (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w