1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện Tượng Chệch Chuẩn Từ Vựng - Ngữ Nghĩa Trong Ngôn Ngữ Thơ Việt Nam Hiện Đại .Pdf

149 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện Tượng Chệch Chuẩn Từ Vựng - Ngữ Nghĩa Trong Ngôn Ngữ Thơ Việt Nam Hiện Đại
Tác giả Lê Kim Ngân
Người hướng dẫn TS. Hồ Văn Hải
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (6)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (7)
  • 3. Mục đích nghiên cứu (10)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (10)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu (10)
  • 6. Ý nghĩa và những đóng góp của luận văn (12)
  • 7. Cấu trúc của luận văn (12)
  • CHƯƠNG 1: Một số vấn đề lý thuyết (14)
    • 1.1. Từ vựng tiếng Việt và hiện tượng chệch chuẩn (14)
      • 1.1.1. Từ và từ vựng tiếng Việt (14)
      • 1.1.2. Hiện tượng chệch chuẩn (21)
    • 1.2. Hiện tượng chệch chuẩn từ vựng - ngữ nghĩa và ngôn ngữ thơ (35)
      • 1.2.1. Hiện tượng chệch chuẩn từ vựng - ngữ nghĩa trong sự phát triển của ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại (35)
      • 1.2.2. Hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa trong mối quan hệ với người tiếp nhận (37)
  • CHƯƠNG 2: Phương thức thể hiện chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa trong ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại (39)
    • 2.1. Chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa do chệch chuẩn hình thức (39)
      • 2.1.1. Thông qua phương thức láy lại (39)
      • 2.1.2. Thông qua phương thức rút gọn (42)
      • 2.1.4. Thông qua việc đảo trật tự các yếu tố trong từ (0)
      • 2.1.5. Thông qua ngữ âm (53)
    • 2.2. Chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa do chệch chuẩn ngữ nghĩa từ vựng .… (56)
      • 2.2.1. Kết quả khảo sát (56)
      • 2.2.2. Nhận xét (56)
  • CHƯƠNG 3: Đặc điểm và giá trị biểu đạt của hiện tượng chệch chuẩn từ vựng - ngữ nghĩa (62)
    • 3.1. Hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa mang tính lâm thời và dấu ấn cá nhân (62)
    • 3.2. Giá trị của hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa (0)
      • 3.2.1. Giá trị tạo ấn tượng (69)
      • 3.2.2. Giá trị tạo hình và biểu cảm (73)
      • 3.2.3. Giá trị nhận thức (78)
  • KẾT LUẬN (84)

Nội dung

i BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÊ KIM NGÂN HIỆN TƯỢNG CHỆCH CHUẨN TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA TRONG NGÔN NGỮ THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI LUẬN VĂN THẠC SĨ CHU[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LÊ KIM NGÂN

HIỆN TƯỢNG CHỆCH CHUẨN TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA TRONG NGÔN NGỮ THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 8229020

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS HỒ VĂN HẢI

TP HỒ CHÍ MINH – 2021

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là của chính tôi, có sự hỗ trợ từ người hướng dẫn TS.Hồ Văn Hải Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn là trung thực

Tp.HCM, ngày … tháng … năm 2021

Người cam đoan

Lê Kim Ngân

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ này, ngoài sự cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý thầy cô, cũng như sự ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu

Trước tiên, tôi chân thành cảm ơn đến TS Hồ Văn Hải đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này Trân trọng cảm ơn quý thầy cô, Khoa Ngôn ngữ học, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Đại học quốc gia Tp.HCM đã tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành chương trình học và luận văn Chân thành cảm ơn phòng tư liệu ngôn ngữ học, thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn đã tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã cổ vũ và hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình học tập, nghiên cứu

Tp.HCM, ngày … tháng … năm 2021

Trang 4

MỞ ĐẦU….……… ……… 1

1 Lý do chọn đề tài……….…… ……… … 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề…….……….2

3 Mục đích nghiên cứu……….… 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… ………….5

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu……….… 6

6 Ý nghĩa và những đóng góp của luận văn……… ………7

7 Cấu trúc của luận văn……… 8

CHƯƠNG 1: Một số vấn đề lý thuyết………….……… ………….… 9

1.1 Từ vựng tiếng Việt và hiện tượng chệch chuẩn ……… …9

1.1.1 Từ và từ vựng tiếng Việt……….… 9

1.1.2 Hiện tượng chệch chuẩn……… ………16

1.2 Hiện tượng chệch chuẩn từ vựng - ngữ nghĩa và ngôn ngữ thơ ……… … 31

1.2.1 Hiện tượng chệch chuẩn từ vựng - ngữ nghĩa trong sự phát triển của ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại……….… 31

1.2.2 Hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa trong mối quan hệ với người tiếp nhận……… ……….……… … 33

Tiểu kết……….…………34

CHƯƠNG 2: Phương thức thể hiện chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa trong ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại………… ……….……….……34

2.1 Chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa do chệch chuẩn hình thức ……….……….34

2.1.1 Thông qua phương thức láy lại……….……… ……… …….34

2.1.2 Thông qua phương thức rút gọn……… ………37

Trang 5

2.1.3 Thông qua việc gián cách các yếu tố trong từ……….……… 40

2.1.4 Thông qua việc đảo trật tự các yếu tố trong từ……….… … 44

2.1.5 Thông qua ngữ âm ……… … …48

2.2 Chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa do chệch chuẩn ngữ nghĩa từ vựng … …51

2.2.1 Kết quả khảo sát……… 51

2.2.2 Nhận xét……… ………56

Tiểu kết……….57

CHƯƠNG 3: Đặc điểm và giá trị biểu đạt của hiện tượng chệch chuẩn từ vựng - ngữ nghĩa………… ……… ……….… … 57

3.1 Hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa mang tính lâm thời và dấu ấn cá nhân ……….……… ……… … 64

3.2 Giá trị của hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa ………67

3.2.1 Giá trị tạo ấn tượng……….………68

3.2.2 Giá trị tạo hình và biểu cảm……….… 73

3.2.3 Giá trị nhận thức……….78

Tiểu kết … ……….……… ………….……… 78

KẾT LUẬN……… …….………79

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……….… ……… 81 PHỤ LỤC

Trang 6

Thế kỉ XX đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của văn học Việt Nam, khép lại thời văn học trung đại, mở ra thời kì của văn học hiện đại, đồng hành với các tìm tòi nghệ thuật của thế giới hiện đại là những cách tân đổi mới trong sự phát triển của thơ

ca Đóng góp chủ yếu cho tiến trình hiện đại hóa thơ ca tiếng Việt là phong trào Thơ mới 1932- 1942 Năm 1932, lần đầu tiên trong lịch sử văn học, “một thời đại mới trong

thi ca” đã xuất hiện, cái tôi cá nhân được đề cao như một sự đối lập với mĩ học phong

kiến phương đông Từ ngữ được đổi mới đậm chất biểu cảm; cùng với sự tự do lựa chọn và cách tân thể thơ, câu thơ, cái tôi thi nhân của phong trào đã tạo ra những bước

đi liên tục của ngôn ngữ thơ, đưa ngôn ngữ thơ từ “điệu ngâm sang điệu nói” (Trần Đình Sử), từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện

Những nét đặc thù trên đã góp phần tăng thêm giá trị về mặt thể loại cho tác phẩm Văn học Việt Nam hiện đại là tiền đề, là mầm mống cho những sáng tạo ngôn từ Có

lẽ trừ khẩu ngữ, nơi mà người nói có thể tự do sáng tạo một cách muôn hình vạn trạng lời nói của mình, thì văn bản văn chương là nơi phát huy tập trung sự sáng tạo ấy một cách đầy đủ nhất

1.2 Kết quả nghiên cứu về hiện tượng chệch chuẩn trong ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại còn rất hạn chế

Cho đến thời điểm chúng tôi bắt đầu thực hiện luận văn này, ở Việt Nam mới chỉ

có hai tác giả là Hồ Xuân Mai, Nguyễn Thị Đào có công trình nghiên cứu khoa học mang tính chuyên luận có liên quan trực tiếp đến hiện tượng chệch chuẩn trong mối liên hệ với ngôn ngữ thơ

Trang 7

Tác giả Hồ Xuân Mai (2000) có luận văn thạc sĩ Hiện tượng chệch chuẩn về mặt

từ vựng – ngữ nghĩa và ngữ nghĩa – cú pháp của câu trong văn bản văn học nghệ thuật Tác giả Nguyễn Thị Đào (2018) có bài viết Từ ngữ “chệch chuẩn” và những kết hợp tạo từ mới lạ trong hồi ký của Tô Hoài Tuy nhiên, nghiên cứu trên vẫn còn nhiều điều

để ngõ Tác giả Hồ Xuân Mai không giới thiệu về lý thuyết chuẩn mực ngôn ngữ và hiện tượng chệch chuẩn Tác giả Nguyễn Thị Đào thì không nêu ra được từng trường hợp chệch chuẩn cụ thể

Từ hai lý do trên, chúng tôi thấy cần phải tiếp tục nghiên cứu đề tài hiện tượng chệch chuẩn này, đặc biệt là ứng dụng vào phân tích ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại

để thấy rõ hơn đặc điểm của hiện tượng chệch chuẩn và giá trị mà nó mang lại

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ lâu, các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước đã đề cập đến mối tương quan giữa ngôn ngữ văn chương và chệch chuẩn ngôn ngữ Dưới đây, chúng tôi sẽ điểm qua lịch sử nghiên cứu vấn đề mang tính nổi bật ở trong và ngoài nước

2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài

Hiện tượng chệch chuẩn trong ngôn ngữ thơ được nhắc đến một cách nghiêm

túc và đầy đủ nhất trong tác phẩm “A Linguistics Guide to English Poetry” (1969),

Geoffrey N.Leech đã phân biệt ba loại chệch chuẩn là: chệch chuẩn hình thức (form), ngữ nghĩa (semantic deviation), nhận thức (realization) Ông cũng vẽ ra các mô hình

để làm cơ sở cho việc phân tích

Viktor Shklovsky không trực tiếp nói đến hiện tượng chệch chuẩn, nhưng ông

cho rằng các nhà thơ có những suy nghĩ rất đặc biệt: “Các nhà thơ có một lối suy nghĩ đặc biệt khó hiểu và họ có khả năng sản sinh ra những thế giới thần bí và những khái niệm mới Khi xem xét các diễn ngôn thơ ở cấu trúc ngữ âm, từ vựng và cách chuyển tải của ngôn từ, chúng tôi thấy rằng các nhà thơ sử dụng cấu trúc tăng cường từ từ, nhãn hiệu nghệ thuật được tìm thấy ở khắp mọi nơi trong các tác phẩm của họ Nhà thơ tạo ra tầm nhìn là kết quả của nhận thức không được tự động hóa” [18, tr.37]

Các nhà nghiên cứu khác như Richard Bradford, Paul Simpson, Katie Wales đều nhắc đến chệch chuẩn, nhìn chung khái niệm không hoàn toàn giống nhau nhưng không

Trang 8

có sự mâu thuẫn qua lại Chúng tôi sẽ phân tích chi tiết quan điểm của các nhà nghiên cứu này tại mục 1.1.2 Đa số các học sinh, sinh viên ứng dụng lý thuyết của Leech vào phân tích chệch chuẩn trong các tác phẩm văn chương, có thể kể đến các tác phẩm nghiên cứu ở nước ngoài thời gian gần đây như sau:

Trong Linguistic deviation and the rhetoric figures in Shakespeare’s selected plays (2019), nhóm tác giả Fathur Rahman – Sukardi Weda hướng đến việc phát hiện

ra những chệch chuẩn ngôn ngữ trong các vở kịch của Shakespeare

Trong Semantic Deviation in Al-Sayyab’s, The Detective and Eliot's

Ash-Wednesday Poems (2020), nhóm tác giả là Atyaf Hasan Ibrahima, Sarab kadir

Mugairb, Amthal Mohammed Abbas áp dụng các mô hình của tác giả Leech để nghiên cứu các chệch chuẩn trong hai bài thơ ở hai ngôn ngữ khác nhau (một bài thơ tiếng Anh, một bài thơ tiếng Tây Ban Nha)

Nhóm tác giả Herianah, Jusmianti Garing, Jerniati I, Nuraidar Agus, and

Musayyedah trong tác phẩm Linguistic Deviation of Remy Sylado’s Poetry Lebih Baik Mati Muda and Its Contribution to Literature Learning at Junior High School (2020)

đã phân tích các khía cạnh chệch chuẩn về ngôn ngữ trong thơ của Lebih Baik Mati Muda, với mục đích nhấn mạnh giá trị của các chệch chuẩn trong việc học và năng lực hiểu của các em học sinh trung học

Hoặc tác phẩm Linguistic Deviation in Literary Style Science (2020), nhóm tác

giả Mohammad S Mansoor and Yusra M Salman đã cố gắng làm sáng tỏ các chệch chuẩn ngôn ngữ trong phong cách văn học với ba thể loại chính là thơ, kịch và văn xuôi

2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam

Trong tác phẩm Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (1983), tác giả Cù

Đình Tú lần đầu nhắc đến chuẩn mực và chệch chuẩn ngôn ngữ Ông cho rằng chệch chuẩn ngôn ngữ có thể là một dấu hiệu để xác định phong cách ngôn ngữ sáng tác của

một tác giả: “Trong sự đối chiếu với chuẩn mực thì sáng tạo ngôn ngữ có nghĩa là tạo

ra những cái đi chệch chuẩn mực ngôn ngữ Chệch chuẩn mực – chứ không phải chống

Trang 9

lại chuẩn mực – cũng là một cái “lỗi”, nhưng là cái “lỗi muốn có” cái “lỗi nên có” ở các nhà văn để tạo nên phong cách tác giả” [50, tr.123]

Tiếp theo đó là tác giả Nguyễn Phan Cảnh trong công trình Ngôn ngữ thơ (1987)

đề cập đến phương thức trật tự từ và phương thức kết hợp Ông cũng nhấn mạnh rằng trong thơ thường có các kết hợp chệch chuẩn và chính nhờ những kết hợp chệch chuẩn

đó mà “ngôn ngữ thơ luôn đi chệch hẳn khỏi sự đoán trước thông thường” vì thế thơ mang đến sự bất ngờ cho người đọc

Trong công trình “Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật” (1998), tác giả

Đào Thản đề cập đến chệch chuẩn do thay đổi trật tự từ Ông nhấn mạnh thay đổi trật

tự từ thường xuất hiện ở từ ghép đẳng lập, hạn chế ở các từ láy Tác dụng chủ yếu của

nó là tạo ra sự hài hòa về mặt ngữ âm, âm điệu cho văn bản

Cùng quan điểm trên, tác giả Hữu Đạt trong công trình “Ngôn ngữ thơ Việt Nam”

cũng đã đề cập đến trật tự từ tạo ra các chệch chuẩn Ông nhấn mạnh sắc thái biểu cảm của từ khi chuyển đổi vị trí của các yếu tố Ông cũng cho rằng trong tiếng Việt không phải bất cứ từ nào cũng có thể thay đổi vị trí, quá trình thay đổi phụ thuộc nhiều vào ngữ cảnh và từng trường hợp cụ thể Về phương thức kết hợp, trong văn bản thơ thường

có những kết hợp chệch chuẩn, bất thường, nhờ đó tạo ra điều bất ngờ mới mẻ về nghĩa

Ngoài ra, Nguyễn Lai (1996), Nguyễn Nguyên Trứ (1988-1989), Đái Xuân Ninh (1985), các tác giả này cũng nhắc đến chệch chuẩn nhưng chỉ mới dừng lại ở mức độ phác họa diện mạo của hiện tượng chệch chuẩn, chưa đi sâu phân tích đặc điểm

Một vài chuyên khảo liên quan trực tiếp đến hiện tượng chệch chuẩn trong ngôn ngữ văn chương có thể kể đến như:

Luận văn thạc sĩ Hiện tượng chệch chuẩn về mặt từ vựng – ngữ nghĩa và ngữ nghĩa – cú pháp của câu trong văn bản văn học nghệ thuật (2000), trong đó, tác giả Hồ

Xuân Mai có giới thiệu những kết quả nghiên cứu bước đầu của ông về hiện tượng chệch chuẩn ở hai phương diện là từ vựng – ngữ nghĩa và ngữ nghĩa cú pháp Về cách thức, ông đưa ra từng trường hợp chệch chuẩn ứng với kết quả khảo sát, sau đó tiến hành phân tích để rút ra các giá trị mà chệch chuẩn mang lại Tuy nhiên, nội dung trong

Trang 10

luận văn của tác giả Hồ Xuân Mai chưa đưa ra cái nhìn khái quát về lý thuyết của hiện tượng chệch chuẩn, chỉ dừng lại ở việc mô tả những trường hợp chệch chuẩn

Báo cáo khoa học Từ ngữ “chệch chuẩn” và những kết hợp tạo từ mới lạ trong hồi ký của Tô Hoài (Tạp chí khoa học, trường Đại học Vinh tập 47, 2018), Tác giả

Nguyễn Thị Đào có giới thiệu về “chệch chuẩn” dựa trên những khái niệm, bàn luận

về “chuẩn mực ngôn ngữ” Bài viết cũng đề cập đến những giá trị của hiện tượng chệch chuẩn trong nghiên cứu văn học Tuy nhiên bài viết tập trung vào phân tích văn chương thay vì làm rõ từng trường hợp chệch chuẩn

Nghiên cứu hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa trên ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại còn khá khiêm tốn Dù vậy, các kết quả nghiên cứu trên vẫn là kiến thức

cơ bản mà chúng tôi sẽ vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn hướng đến 2 mục đích nghiên cứu cơ bản sau đây:

- Hệ thống được những vấn đề lý luận chung về hiện tượng chệch chuẩn

- Xác định các đặc điểm của hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa trên

3 phương diện: đặc điểm cấu trúc, đặc điểm ngữ nghĩa, đặc điểm biểu đạt

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là: hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa trong ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống đặc điểm của hiện tượng chệch chuẩn

từ vựng – ngữ nghĩa nằm trong thời kì thơ Việt Nam hiện đại Cụ thể là hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa xuất hiện trong các tác phẩm của 9 nhà thơ sau: Thế

Lữ, Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Trần Dần, Huy Cận, Nguyễn Duy, Lê Đạt

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng phương pháp miêu tả là phương

pháp nghiên cứu chủ yếu

Chúng tôi sử dụng phương pháp miêu tả để làm rõ diện mạo và đặc điểm của hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa Trong quá trình miêu tả, chúng tôi vận dụng kết hợp các thủ pháp nghiên cứu khác như sau: phân tích, phân loại và hệ thống hóa, thống kê

Trên cơ sở ngữ liệu đã thu thập được, chúng tôi tiến hành phân tích ngữ liệu theo hai bình diện ngôn ngữ (hình thức cấu trúc, ngữ nghĩa) Kết quả phân tích là sự xác lập các kiểu loại chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa cùng các mô hình, sơ đồ (nếu có) có tính chất khái quát

Để đánh giá độ đa dạng, phong phú của hiện tượng chệch chuẩn, chúng tôi thực hiện hai loại thống kê sau đây:

- Thống kê tần số xuất hiện của các kiểu loại chệch chuẩn từ vựng ngữ nghĩa trên tổng số lượng chệch chuẩn đã thu thập được

- Thống kê độ phân bố của chệch chuẩn theo từng tác giả

5.2 Nguồn ngữ liệu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi dựa vào hai nguồn ngữ liệu sau:

Nguồn ngữ liệu trực tiếp thu thập được qua khảo sát văn bản và kinh nghiệm thực

tế của người viết Đây cũng là nguồn ngữ liệu chủ yếu để thực hiện luận văn, chiếm hơn 90% tổng số ngữ liệu

Nguồn ngữ liệu thu thập được qua các tài liệu nghiên cứu và một số sách tham khảo khác Nguồn ngữ liệu này chiếm gần 10% tổng số ngữ liệu

Nguyên tắc thu thập ngữ liệu: xuất phát điểm từ đặc trưng của đối tượng nghiên cứu cũng như đặc trưng của ngôn ngữ thơ, để thu thập ngữ liệu, chúng tôi quán triệt theo phương châm thu thập ngữ liệu có chọn lọc

Tiêu chí xác định ngữ liệu: để lựa chọn ngữ liệu, chúng tôi xác định rõ khái niệm chệch chuẩn (xem chương 1, mục 1.1.2) sau đó đề ra tiêu chuẩn để làm cơ sở sàng lọc ngữ liệu, loại bỏ ngữ liệu không đúng yêu cầu Một hiện tượng chệch chuẩn từ vựng - ngữ nghĩa khi nó đáp ứng các yêu cầu sau:

Trang 12

(1) Đó là một từ hoặc một cụm từ Tức nó có hình thức ngôn ngữ

(2) Từ hoặc cụm từ đó hoặc có hình thức ngôn ngữ chệch đi với hình thức ngôn ngữ

đã được biết đến trước đó hoặc có ngữ nghĩa chệch đi với ngữ nghĩa được biết đến trước đó

(3) Sự chệch đi này phải phản ánh một điều gì đó khác thường của nhận thức hoặc của thực tiễn

(4) Sự chệch chuẩn này phải mang đến cho người tiếp nhận một điều gì đó có tính chất mới mẻ, thú vị hoặc sắc sảo Hoặc ít nhất, nó cũng phải có tác dụng liên kết nội dung trong văn bản

6 Ý nghĩa và những đóng góp của luận văn

6.1 Đóng góp về mặt lý thuyết

Nếu đề tài này được thực hiện thành công thì nó sẽ đóng góp thêm về:

Một góc nhìn về hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa từ nhiều phương diện khác nhau như khái niệm, cấu trúc, phân loại, đặc điểm ngữ nghĩa, giá trị biểu đạt,…

Xác định đúng đắn vị trí của hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa trong ngôn ngữ thơ ca

Việc phân tích tác phẩm văn học, sáng tác văn chương và việc sử dụng ngôn ngữ trong các hoạt động đòi hỏi tính chất trí tuệ - thẩm mỹ ở trình độ cao

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn có dung lượng 150 trang Phần chính văn của luận văn có 91 trang

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần chính văn gồm có 3 chương:

Trang 13

Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết

Chương 2: Phương tiện thể hiện chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa trong ngôn

ngữ thơ Việt Nam hiện đại

Chương 3: Đặc điểm và giá trị biểu đạt của hiện tượng chệch chuẩn từ vựng ngữ

nghĩa

Sau cùng là phần Tài liệu tham khảo và Phụ lục

Trang 14

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT 1.1 Từ vựng tiếng Việt và hiện tượng chệch chuẩn

1.1.1 Từ và từ vựng tiếng Việt

Khác với hệ thống ngữ âm – âm vị, vốn là một hệ thống khép kín, hệ thống từ vựng là một hệ thống tương đối mở rộng, bao gồm rất nhiều đơn vị Từ vựng là tập hợp các từ và ngữ cố định của ngôn ngữ Vì có nhiều tiêu chí khác nhau cho nên có những kiểu từ vựng khác nhau Ở đây, khái niệm từ vựng được dùng với nghĩa rộng nhất: tập hợp tất cả các từ của một ngôn ngữ, không phân biệt tiêu chuẩn tập hợp

Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng, đồng thời cũng là khái niệm căn cơ của ngôn ngữ học Hiện có rất nhiều định nghĩa về từ với khoảng vài trăm định nghĩa khác nhau Dưới đây là một số quan điểm liên quan đến khái niệm “từ”

1.1.1.1 Khái niệm

a Quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngoài:

Ferdinand de Saussure, một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng có nói trong bài giảng

của ông về tầm quan trọng và giá trị của từ: “… từ mặc dù khó định nghĩa, vẫn là một đơn vị mà trí tuệ buộc phải chấp nhận, một cái gì có địa vị trung tâm trong cơ thể của ngôn ngữ” [41, tr.214] Phát biểu của F.de.Saussure cho thấy: từ là đơn vị tồn tại hiển

nhiên đối với người bản ngữ; là đơn vị trung tâm của một hệ thống ngôn ngữ; việc nhận diện từ hết sức khó khăn

Trong công trình nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết, tác giả J.Lyons nhận định:

“Từ là một sự kết hợp của một nghĩa nhất định với một phức thể âm thanh nhất định,

có thể giữ một vai trò nhất định” [34, tr.321]

Trong công trình “Ngôn ngữ học lịch sử và ngôn ngữ học đại cương” A.Meillet định nghĩa về từ như sau: “Từ là kết quả của sự kết nạp một ý nghĩa nhất định với một

tổ hợp các âm tố nhất định, có thể có một công dụng ngữ pháp nhất định” [Dẫn theo

Nguyễn Công Đức, 17, tr.6] Phát biểu của ông cho thấy bản thân từ có ít nhất ba bình diện cơ bản khác nhau cấu thành

Trang 15

Bên cạnh định nghĩa của A.Meillet còn có những định nghĩa của các nhà ngôn ngữ học khác như L.V.Sherba, A.Martinet, L.Bloomfield Theo L.Bloomfield, từ là hình thái tự do nhỏ nhất mà hình thái tự do là bất kỳ hình thái nào có thể xuất hiện với tính cách một phát ngôn khác với hình thái ràng buộc vốn không thể nói riêng một mình [62]

Tuy nhiên mỗi ngôn ngữ thuộc vào những loại hình hay những tiểu loại hình khác nhau Điều đó làm cho việc nhận diện từ, định nghĩa từ có tính phổ quát là rất khó thực hiện Đó cũng chính là lời giải thích cho việc có đến hàng trăm định nghĩa về từ trong ngôn ngữ học Mỗi một định nghĩa lại phản ánh một hoặc một vài bình diện nào đó của

từ Viện sĩ L.V.Sherba đã có một nhận xét xác đáng rằng: “Thực ra, “từ” là gì? Tôi nghĩ rằng nó sẽ khác nhau trong các ngôn ngữ khác nhau Từ đó rút ra khái niệm “từ nói chung” không tồn tại” (dẫn theo Nguyễn Văn Tu)

b Quan điểm của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam

Trong quyển Từ và từ tiếng Việt hiện đại, tác giả Nguyễn Văn Tu cho rằng: “từ

là đơn vị cơ bản chủ yếu có khả năng vận dụng độc lập mang ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp Chúng ta gọi từ là đơn vị trung tâm bởi vì từ có đầy đủ tiêu chuẩn ngôn ngữ

cơ bản và đơn vị quan trọng nhất trong Tiếng Việt” [49, tr.33] Như định nghĩa này,

Nguyễn Văn Tu đã không đề cập đến mặt ngữ âm của từ tiếng Việt

Một số định nghĩa khác như của Mai Ngọc Chừ: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa,

có kết cấu vỏ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” [6, tr.137]; của Nguyễn Thiện Giáp: “Từ của Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói, có hình thức của một âm tiết và là một khối viết liền”

Định nghĩa về từ mang tính tương đối hoàn chỉnh là của tác giả Đỗ Hữu Châu,

khi ông đề cập đến cả 3 bình diện của từ là ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp: “ từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định

Từ là đơn vị lớn nhất trong các đơn vị ngôn ngữ và nhỏ nhất để tạo câu” [3, tr.139]

c Quan điểm của người viết

Trang 16

Nhìn chung, có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể chia thành 2 nhóm quan điểm chính Quan điểm thứ nhất xem mỗi từ là một tiếng: tức là ranh giới từ trùng với tiếng Các tác giả theo quan điểm này có thể kể đến là Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Tài Cẩn Quan điểm thứ hai xem từ có thể là tiếng và có thể là tổ hợp tiếng Tùy thuộc vào việc tiếng và các tổ hợp tiếng có đảm bảo các yếu tố như hoàn chỉnh về ngữ âm, ngữ nghĩa và độc lập về cú pháp hay không mà được xếp là từ Các tác giả tiêu biểu theo quan điểm này là Nguyễn Kim Thản, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Tuệ, Diệp Quang Ban Trong luận văn này chúng tôi dựa theo quan điểm thứ hai làm cơ sở lí luận Theo

đó: “Từ Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu

ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong các đơn vị ngôn ngữ và nhỏ nhất để tạo câu”

1.1.1.2 Các bình diện của từ tiếng Việt

Từ là một loại tín hiệu có nhiều bình diện Ở đây, chúng tôi xét hai bình diện cơ bản của từ là bình diện hình thức và bình diện nội dung Nói đến hình thức của từ, trước hết không chỉ nói đến từ - ngữ âm mà còn phải nói đến từ - cấu tạo và từ - ngữ pháp

Ba thành phần này là một thể thống nhất quy định lẫn nhau và góp phần quyết định một

từ - ngữ âm nào đó là một hay hai từ Tuy nhiên, ở đây, khi nó i về bình diê ̣n hình thức, chúng tôi chỉ bàn về cấ u trú c hình thức của từ, còn nói về bình diê ̣n nô ̣i dung là nói về ý nghĩa của từ

a Bình diện hình thức

Căn cứ vào các tiêu chí được nêu trong định nghĩa về “từ”, cùng với những phương thức cấu tạo từ, chúng tôi phân xuất từ tiếng Việt thành hai loại là từ đơn và từ phức

Từ đơn là từ chỉ có một từ tố Từ tố khác từ ở chỗ: có từ tố có thể đứng riêng một mình, và cũng có từ tố bị lệ thuộc Trong khi đó một từ, theo định nghĩa, luôn có khả

năng đứng độc lập một mình Ví dụ: khóc, cười, cây, đẹp, bánh, kẹo, mứt, cơm, canh, bún, xe, nhà,…

Từ phức là từ có ít nhất hai từ tố tạo nên, tùy thuộc vào mối quan hệ giữa hai từ

tố mà chúng ta có những từ loại nhỏ hơn khác, bao gồm từ ghép và từ láy

Trang 17

Từ ghép là từ có ít nhất hai từ tố cơ sở cấu tạo nên Tùy vào quan hệ giữa hai từ

tố cơ sở này mà từ ghép được chia thành từ ghép hợp nghĩa và từ ghép phân nghĩa Từ ghép hợp nghĩa là từ ghép mà trong đó các từ tố trực tiếp kết hợp với nhau theo quan

hệ bình đẳng, cả hai từ tố ghép vào nhau để biểu hiện một nghĩa mới dựa trên việc tổng hợp ý nghĩa của hai từ tố Từ ghép hợp nghĩa hay còn gọi là từ ghép đẳng lập biểu thị

ý nghĩa khái quát, tổng hợp và trừu tượng Ví dụ: ăn uống, đi lại, đất nước, nhà cửa, cơm canh, bánh mứt Từ ghép phân nghĩa là cũng là từ ghép, gồm hai từ tố trực tiếp

kết hợp với nhau theo quan hệ chính phụ Nghĩa là trong từ ghép đó có một từ tố chính

và một từ tố phụ bổ sung nghĩa cho từ tố chính đó Từ ghép phân nghĩa còn được gọi

là từ ghép chính phụ biểu thị ý nghĩa cụ thể, phân tách ý nghĩa trừu tượng thành ý nghĩa

riêng lẻ Ví dụ: hoa sen, hoa lan, xe tải, xe đạp, cá chép, cá trạch, mùa đông,…

Từ láy là những từ có hai hay nhiều từ tố có quan hệ với nhau về ngữ âm Thường được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức láy lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh - quy tắc thanh điệu) của một từ tố hoặc đơn vị có nghĩa Căn cứ vào số lần tác động của phương thức láy, có thể chia từ láy thành các dạng sau: láy đôi, láy ba âm tiết, láy bốn

âm tiết Trong đó láy đôi còn được phân chia thành láy toàn bộ và láy bộ phận Láy bộ

phận có thể là láy phụ âm hoặc láy vần Ví dụ láy đôi bộ phận là láy phụ âm: nhộn nhịp, vui vẻ, hân hoan,… Ví dụ láy đôi bộ phận là láy vần: êm đềm, âm thầm, bát ngát, chênh vênh,… Ví dụ láy đôi toàn bộ: xanh xanh, đỏ đỏ, phơi phới, thoang thoảng,… Ví dụ láy ba: sạch sành sanh, sát sàn sạt,… Ví dụ láy tư: ríu ra ríu rít, thánh tha thánh thót, róc

ra róc rách,…

Như vậy, xét về bình diện hình thức của từ, căn cứ vào phương thức cấu tạo từ thì

từ tiếng Việt có thể chia thành từ đơn, từ phức (từ ghép (ghép đẳng lặp, ghép chính phụ); từ láy (láy tiếng, láy âm)) Việc xác định hình thức cũng như từ loại của từ sẽ làm

cơ sở để chúng tôi nhận diện chệch chuẩn từ vựng khi triển khai đề tài

b Bình diện nội dung ý nghĩa

Bình diện ngữ nghĩa của từ, có thể gọi chung là ý nghĩa của từ Theo các nghiên cứu trước đây, có nhiều cách hiểu về ý nghĩa của từ Nhìn chung sẽ có hai phạm trù ý

Trang 18

nghĩa của từ: ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp Trong mỗi phạm trù ý nghĩa sẽ bao gồm một số thành phần ý nghĩa nhỏ hơn Xét phạm trù ý nghĩa từ vựng, nó bao gồm 3 thành phần ý nghĩa sau:

Ý nghĩa biểu vật: là thành phần ý nghĩa liên quan đến các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan Tuy nhiên, đây chỉ là những hình ảnh chung chung (khái quát) về

sự vật hay hiện tượng chứ không phải là bản thân một sự vật hay hiện tượng cụ thể trong thực tế khách quan Về cơ bản, ý nghĩa biểu vật chỉ gợi ra các sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất,… chứ không phải là các sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất,…

Ví dụ: từ (con) “gà” trong tiếng Việt, ý nghĩa biểu vật là hình ảnh về con gà chung

chung, không bao gồm những đặc điểm cụ thể như màu lông, giới tính, cân nặng, độ tuổi,…

Ý nghĩa biểu niệm là thành phần ý nghĩa liên quan đến những hiểu biết trong tư duy về ý nghĩa biểu vật của từ Nếu như nghĩa biểu vật là sự ngôn ngữ hóa sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan thì nghĩa biểu niệm là sự ngôn ngữ hóa khái niệm về

sự vật, hiện tượng Nghĩa biểu niệm của từ bao gồm nhiều nét nghĩa nên có thể phân định, chia tách được thành phần nhỏ Mỗi phần nhỏ ấy là một nét nghĩa, tập hợp các nét nghĩa ấy lại tạo thành một cấu trúc biểu niệm của từ

Ví dụ: cấu trúc biểu niệm của từ “ăn” là một hoạt động; chỉ hành động đưa thức

ăn từ bên ngoài vào cơ thể; dưới tác động của răng; nghiền nát trong khoang miệng và nuốt

Nghĩa biểu thái là thành phần ý nghĩa liên quan đến quan hệ của người sử dụng đối với từ; nói cụ thể hơn, phản ánh tình cảm, xúc cảm, thái độ của người sử dụng ngôn ngữ

Ví dụ: các từ chết, hy sinh, bỏ mạng, từ trần,… giống nhau về nghĩa biểu niệm

(biểu thị trạng thái không còn sống) nhưng khác nhau về nghĩa biểu thái (thái độ kính trọng khi dùng từ hy sinh với người bỏ mình vì đất nước, thái độ kinh thường, ghét bỏ khi dùng từ bỏ mạng,…) [4, tr.279]

Trang 19

Mỗi thành phần ý nghĩa đều có đặc điểm riêng và bị chi phối bởi những yếu tố nhất định Liên quan đến các yếu tố chi phối quá trình hình thành ý nghĩa của từ phải

kể đến tam giác ngữ nghĩa Kế thừa quan điểm của F.de Saussure về sự gắn kết giữa mặt khái niệm và mặt âm thanh, cùng với các lý thuyết về tam giác ngữ nghĩa của các nhà ngôn ngữ học đi trước như Ogden, Gustag, J Lyon,… tác giả Đỗ Hữu Châu (1999)

đã đưa ra những nhận định mà theo quan điểm của chúng tôi là tương đối đầy đủ để nhìn nhận và xem xét các yếu tố chi phối đến quá trình hình thành ý nghĩa của từ Quá trình hình thành ý nghĩa của từ do 3 yếu tố cơ bản chi phối là: (1) sự vật hiện tượng mà từ gọi tên; (2) người sử dụng ngôn ngữ; (3) mối quan hệ giữa nó với các từ khác trong hệ thống

Ý nghĩa biểu vật bị chi phối bởi sự vật hiện tượng mà từ gọi tên Theo

A.A.Reformatxki thì: “Nghĩa, đó là quan hệ của từ với sự vật, hiện tượng mà nó biểu thị, đó là quan hệ của sự kiện ngôn ngữ với sự kiện ngoài ngôn ngữ” [42]

L.S.Barkhudarov cũng có ý kiến tương tự, khi ông cho rằng: “quan hệ của tín hiệu đối với cái gì đó nằm ngoài bản thân tín hiệu chính là nghĩa của tín hiệu” (Dẫn

theo Nguyễn Công Đức)

P.A.Budagov cho rằng: “Có thể gọi nghĩa của từ là mối liên hệ được hình thành

về mặt lịch sử giữa âm thanh của từ và sự phản ánh của sự vật hoặc hiện tượng Sự phản ánh đó nảy sinh trong nhận thức của chúng ta (P.A.Budagov Dẫn luận vào khoa

học về ngôn ngữ, M.1965)

Nghĩa biểu thái được tạo ra do mối quan hệ giữa từ và người sử dụng Ví dụ: cho, tặng, biếu, bố thí, đút lót,… tất cả những từ này có nghĩa chung là: giao quyền sở hữu

một cái gì đó cho người khác mà không lấy tiền Thế nhưng, sắc thái biểu cảm của các

từ này thì khác nhau: “cho” mang sắc thái nghĩa trung hòa, “tặng”, “biếu” mang sắc thái trang trọng, “bố thí” mang sắc thái âm tính, có ý coi thường

Nghĩa của các từ là mối liên hệ giữa các từ với nhau YU.D.Apresjan nhận định

rằng: “Nội dung ngữ nghĩa của từ không phải là cái gì tự thân Nó hoàn toàn bị quy định bởi những mối liên hệ được hình thành trong hệ thống những sự đối lập của từ

Trang 20

này với từ khác cũng thuộc trường ấy” (Yu.D.Apresjan, phân tích có tích chất miêu tả

các nghĩa và các trường nghĩa, “Tuyển tập từ điển học”, tập 5, 1952 trang 53)

Sau cùng, xuất phát từ mối quan hệ giữa từ và sự vật hình thành ý nghĩa biểu vật;

từ mối quan hệ của từ với khái niệm sẽ hình thành các ý nghĩa biểu niệm; từ mối quan

hệ với nhân tố người dùng hình thành các ý nghĩa phong cách và liên hội; từ mối quan

hệ với cấu trúc ngôn ngữ (với các từ khác) sẽ hình thành ý nghĩa cấu trúc; từ quan hệ giữa ý nghĩa với các thành phần hình thức mà hình thành các ý nghĩa cấu tạo từ, các ý nghĩa ngữ pháp

c Mối quan hệ giữa hai bình diện hình thức và nội dung

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu Từ là đơn vị cơ bản nhất trong ngôn ngữ, nó

là một tín hiệu trong hệ thống tín hiệu đó Theo nguyên lí chung, một tín hiệu bao giờ cũng phải có hai mặt: Đó là mặt biểu hiện (hình thức tín hiệu) và mặt được biểu hiện (nội dung tín hiệu) Mặt hình thức của tín hiệu là những dạng âm thanh khác nhau mà trong quá trình nói năng con người đã thiết lập lên mã cụ thể, đó chính là đặc trưng âm thanh cụ thể của từng ngôn ngữ Còn mặt nội dung (cái được biểu hiện) là những thông tin, những thông điệp về những mảnh khác nhau của thế giới hiện tại mà con người đang sống, hoặc những dấu hiệu hình thức để phân cắt tư duy, phân cắt thực tại… Như vậy, để trở thành một tín hiệu, bất kì một hiện tượng ngôn ngữ nào đã xuất hiện trong giao tiếp cũng phải bao gồm 2 mặt khác nhau là mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện Mặt biểu hiện làm nhiệm vụ vận chuyển trung gian những ý nghĩ, tình cảm, xúc cảm, nhu cầu khác nhau của người nói tới được cơ quan thụ cảm của người nghe Nếu không có cái biểu hiện thì quá trình giao tiếp giữa người nói và người nghe sẽ hoàn toàn bị cắt đứt Lúc đó, ngôn ngữ sẽ không thực hiện được chức năng của nó

Mối liên hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện là mối liên hệ đặc trưng của ngôn ngữ Saussure đã từng miêu tả mối liên hệ giữa chúng như hai mặt của một tờ giấy Không thể cắt mặt này mà không đồng thời cắt mặt còn lại Mỗi một cái biểu hiện luôn chỉ có một cái được biểu hiện tương ứng, đặc trưng này được thể hiện ở chỗ khi mối liên hệ 1–1 này bị cắt đứt thì các quá trình giao tiếp sẽ bị ảnh hưởng hoặc không thể thực hiện được Do tính chất và số lượng của các từ trong một ngôn ngữ là vô cùng

Trang 21

lớn nên ngôn ngữ học cấu trúc luận cho rằng mối liên hệ 1–1 này phải được coi là võ đoán với nhau và phải được quy ước

Cấu trúc của từng lớp từ bao gồm từ đơn, từ ghép, từ láy đều liên quan đến cơ chế tạo nghĩa Ngôn ngữ có những lí do và cách thức khác nhau để lựa chọn các hình thức cấu tạo của từ nhằm biểu đạt những sự vật, hiện tượng, đặc trưng hay tính chất trong thực thế khách quan Sự lựa chọn này có liên quan đến bản thân hình thức ngôn ngữ và các mối quan hệ đối lập giữa chúng với nhau

1.1.2 Hiện tượng chệch chuẩn

1.1.2.1 Khái niệm

Hành vi chệch chuẩn (deviation) xét theo nghĩa rộng là một hiện tượng xã hội xảy ra trong nhiều lĩnh vực đời sống Đó là những hành vi sai lệch so với những chuẩn mực xã hội thông thường và không được xã hội chấp nhận Có thể dễ dàng nhận thấy hành vi lệch chuẩn xung quanh ta hàng ngày như các tệ nạn xã hội, các hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm thuần phong mỹ tục,… Tùy thuộc vào mức độ chệch chuẩn mà hiện tượng chệch chuẩn được chia thành 2 cấp độ: (1) xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì nó được điều chỉnh và trừng phạt bởi luật pháp, (2) hành vi chỉ không phù hợp với mong đợi của cộng đồng, của xã hội thì nó sẽ bị lên án

Chệch chuẩn xét theo nghĩa hẹp – trong một lĩnh vực cụ thể sẽ có những biểu hiện gắn với đặc thù riêng Chệch chuẩn ngôn ngữ là một trường hợp như vậy Như đã biết, cho đến nay xung quanh khái niệm chuẩn ngôn ngữ và chệch chuẩn còn khá nhiều

ý kiến chưa thống nhất Để có cái nhìn tổng thể về chệch chuẩn ngôn ngữ, chúng tôi sẽ

điểm qua một số quan điểm phổ biến như sau:

a Quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngoài

Geoffrey N.Leech đã miêu tả về hiện tượng chệch chuẩn như sau: “Deviation is the violating of standards that are obeyed by all Poetry as a genre is a deviation from the everyday language, but poetry has its own laws and norms that distinguish it from the everyday language, despite the literary deviation, and thus generates its own pattern A deviation is treated as a poetic license or writer's license in a literary context and it must be noted that deviation could appear at different linguistic levels” [63,

Trang 22

tr.50] Ông cũng nhận định thêm rằng, chệch chuẩn là một dạng của lạ hóa, nó được xây dựng trên nền tảng ngôn ngữ thông thường: “Such deviations from linguistic or other socially accepted norms have been given the special name of foregrounding… the foregrounded figure is the linguistic deviation, and the background is the language”

[63, tr.57]

Wales, Short và Simpson cũng đồng quan điểm trên, khi xem chệch chuẩn là

một dạng lạ hóa (foregrounding) Tuy nhiên cách hiểu lạ hóa của các tác giả lại có phần

khác nhau Wales định nghĩa về lạ hóa như là việc giảm bớt các ký hiệu ngôn ngữ so

với các chuẩn mực của ngôn ngữ thông thường (the throwing into relief of the linguistic sign against the background of the norms of ordinary language) [61, tr.157]; trong khi

Leech và Short cho rằng lạ hóa là làm cho cái gì đó nổi bật so với các từ ngữ hoặc hình

ảnh xung quanh (it as making something stand out from the surrounding images or words) [64, tr.57]

Đối với Guy Cook, ông cho rằng: “the linguistic deviation is “a case of conformity to the norms and regularities of discourse structure” [56, tr.74] Chúng tôi

non-tạm dịch là: chệch chuẩn ngôn ngữ là một trường hợp không phù hợp với các chuẩn mực và các quy luật của cấu trúc diễn ngôn”

Đồng quan điểm này, Bradford tin rằng chệch chuẩn là cách viết và cách phát

âm của một từ nhất định hoặc toàn bộ cấu trúc của một câu không tương thích với các

chuẩn mực và quy ước thông thường của ngôn ngữ thông thường (is the spelling and the pronunciation of a certain word or a whole structure of a sentence that is not compatible with the ordinary norms and conventions of ordinary language [55, tr.54])

Nhìn chung, có 2 luồng quan điểm như trên Cả hai quan điểm đều cho rằng chệch chuẩn là vượt ra khỏi những chuẩn mực ngôn ngữ thông thường, nhưng Leech, Wales, Short và Simpson cho rằng chệch chuẩn là một dạng lạ hóa; trong khi Cook, Bradford thì không nhắc đến lạ hóa Trong quá trình tìm hiểu thì chúng tôi nhận thấy rằng quan điểm của Leech được đại đa số mọi người vận dụng trong nghiên cứu Thứ nhất, ông đã liệt kê ra được những trường hợp chệch chuẩn (semantic deviation, lexical deviation, phonological deviation, grammatical deviation, graphological deviation,

Trang 23

dialectal deviation, register deviation, deviation of a period of history) Thứ hai, ông xây dựng được mô hình của các kiểu loại Ở đây, chúng tôi chỉ quan tâm đến chệch chuẩn từ vựng và ngữ nghĩa

Theo Leech, chệch chuẩn từ vựng (lexical deviation) là khi một từ không chính thống (nonce-formations), được xem như một hình thức ngôn ngữ được phát minh ra một cách có ý thức hoặc do một người nói cụ thể vô tình sử dụng trong một dịp nào đó

Quá trình này còn được gọi là phát minh hay đổi mới từ vựng: “is seen as a linguistic form which is consciously invented or accidentally used by a particular speaker on one occasion This process is also called lexical invention or innovation” [63, tr.42]

Chệch chuẩn ngữ nghĩa (semantic deviation) được hiểu rằng: “Semantic deviation “in poetry, TRANSFERENCE OF MEANING, or METAPHOR in its widest sense, is the process whereby literal absurdity leads the mind to comprehension on a figurative plane" Semantic deviation as some kind of "nonsense" or "absurdity" where the meaning is not in evidence at first sight and we have to search for it Semantic deviation is concerned with the notion of meaning Meanings are formulated with words and sentences in particular contexts So, this notion is controlled by rules of the language” [63, tr.48]

Hiểu một cách ngắn gọn, sai lệch ngữ nghĩa dùng để chỉ “các quan hệ nghĩa không nhất quán về mặt logic hoặc nghịch lý theo một cách nào đó Một từ bình thường

có thể có một ý nghĩa khác thường, hoặc không có nghĩa hoặc vô lý khi chúng ta xem xét nghĩa đen (biểu thị), nhưng nó mang nghĩa không theo nghĩa đen (bao hàm) Vì vậy, có những câu tưởng chừng như vô nghĩa và vô lý lại có ý nghĩa cụ thể trong một ngữ cảnh nhất định tùy thuộc vào cuộc đời của tác giả và nền tảng văn hóa Nhưng “sự

kỳ quặc về mặt giá trị cho nó sức mạnh ý nghĩa bất thường

Theo quan điểm của Leech, chệch chuẩn ngữ nghĩa bao gồm: sự kỳ quặc về ngữ nghĩa (semantic oddity), sự chuyển nghĩa (transfer of meaning), sự cường điệu

hoặc lừa dối trung thực (honest deception)

d Quan điểm của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam:

Trang 24

Như đã đề cập trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề, ở Việt Nam hiện nay chưa

có nhiều quan điểm chính thống về hiện tượng chệch chuẩn Chỉ có tác giả Cù Đình Tú

là trực tiếp đề cập đến khái niệm chệch chuẩn

Quan điểm của Cù Đình Tú: “chệch chuẩn trong sử dụng ngôn ngữ là hiện tượng

“đi chệch chuẩn mực ngôn ngữ” [50, tr.123] Theo đó ông cho rằng “chuẩn mực ngôn

ngữ” nên được hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng Nghĩa hẹp là những quy tắc về phát âm, viết chữ, dùng từ, đặt câu do cộng đồng xã hội hiện đang nói, viết như thế nào, chứ không phải do thiên kiến chủ quan nào đó định ra và ép buộc mọi người phải theo Nghĩa rộng là chuẩn mực mang tính khách quan xã hội Đó là toàn bộ cách phát âm, viết chữ, dùng từ, đặt câu được mọi người trong xã hội chấp nhận và sử dụng ở một giai đoạn nhất định Ngoài ra, Cù Đình Tú cũng nhấn mạnh, chệch chuẩn xuất hiện nhiều trong ngôn ngữ văn chương, tuy nhiên theo ông thì bên cạnh những chệch chuẩn thành công cũng có không ít những chệch chuẩn không đạt

Tác giả Hữu Đạt không trực tiếp đề cập đến khái niệm chệch chuẩn, nhưng ông

có liệt kê một vài xu hướng thể hiện chệch chuẩn: do dùng từ, thuật ngữ không chính xác; do dùng thừa từ

Gần đây nhất, tác giả Nguyễn Đức Chính có đề cập đến tính lệch chuẩn trong

luận án tiến sĩ Phong cách ngôn ngữ thơ Bùi Giáng (2018) Cụ thể trong luận án,

Nguyễn Đức Chính cùng quan điểm với Cù Đình Tú Ông cũng phân loại các dạng chệch chuẩn bao gồm: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp

e Quan điểm của người viết

Ở đây, chúng tôi hiểu khái niệm chệch chuẩn theo một phần quan điểm của Leech Vì các ngôn ngữ thuộc những hoại hình ngôn ngữ khác nhau, nên các khái niệm

sẽ được hiểu và vận dụng sao cho phù hợp nhất với loại hình ngôn ngữ đó Những kết quả nghiên cứu bao gồm khái niệm và phân loại chệch chuẩn của Leech, chúng tôi vẫn tiếp thu một cách chọn lọc Cụ thể, trong luận văn này, khái niệm chệch chuẩn được hiểu như sau:

- Là sự “chệch ra khỏi” hoặc “vi phạm” các tiêu chuẩn ngôn ngữ được tất cả mọi người tuân theo

Trang 25

- sự vi phạm hoặc vượt ra khỏi các tiêu chuẩn ngôn ngữ này phải mang đến một giá trị nào đó

Chúng tôi cho rằng không thể xếp bất cứ hiện tượng vượt ra khỏi tiêu chuẩn ngôn ngữ nào cũng là chệch chuẩn, sau đó mới đánh giá chệch chuẩn đó có hiệu quả, hoặc tạo được giá trị gì hay không Theo chúng tôi, nếu không mang đến giá trị thì hiện tượng vi phạm tiêu chuẩn ngôn ngữ chính là lỗi dùng từ sai

Như vậy, dựa trên quan điểm trên, khái niệm chệch chuẩn ngôn ngữ có hai vấn đề tiếp theo cần làm sáng tỏ là chuẩn mực ngôn ngữ và giá trị chệch chuẩn mang lại Phần lớn ý kiến được hệ thống hóa trong các tài liệu ngôn ngữ học Việt Nam đều cho rằng chuẩn ngôn ngữ là mẫu ngôn ngữ đã được xã hội đánh giá, lựa chọn và sử dụng Cố nhiên sự đánh giá và lựa chọn đó sẽ không thể đạt đến sự nhất trí hoàn toàn, vì vậy tính chất bắt buộc cũng như tính chất ổn định của chuẩn chỉ là tương đối

Chuẩn mực của ngôn ngữ (từ đây gọi tắt là chuẩn ngôn ngữ) phải mang tính chất quy ước xã hội, phải phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ

Chuẩn phải mang tính chất quy ước xã hội tức là phải được xã hội chấp nhận và

sử dụng Hiểu đơn giản thì chuẩn phải là cái đúng Cái đúng đó được thể hiện qua việc mọi thành viên trong cùng một cộng đồng (trong những điều kiện tương đối thống nhất) hiểu và dùng đúng như nhau Và chỉ dừng lại ở việc quy ước, chỉ dẫn mà không trở thành quy định hay luật lệ Như vậy cái đúng là điều kiện đầu tiên để thừa nhận tính chuẩn mực của ngôn ngữ Nói như Lép Tôn xTôi: “Trong quá trình giao tiếp, trước hết cần phải quan tâm sao cho công cụ truyền đạt các khái niệm – tức là ngôn ngữ phải đúng”

Ví dụ: đang đi trên đường mà thấy nước từ trên trời rơi xuống => lúc này từ

“mưa” là từ đúng để truyền đạt nội dung sự việc

Tuy nhiên, cái đúng chỉ mới là một mặt của chuẩn ngôn ngữ Chuẩn mực còn phải phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ Bởi ngôn ngữ là một hệ thống

mở, có thể những chệch chuẩn trước kia đã trở thành chuẩn mực của hôm nay Cần phải dựa trên những cứ liệu thực tế của ngôn ngữ, mà ở đây là tiếng Việt để nắm bắt quy luật biến đổi và phát triển trên tất cả các cấp độ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp

Trang 26

Xét về mặt quy luật biến đổi nội tại của ngôn ngữ nước ta có những văn bản, những cuộc vận động chuẩn hóa trên cơ sở nghiên cứu gốc rễ của từ nguyên, những biến đổi, sai khác, dị biệt trong hệ thống ngôn ngữ

Bên cạnh việc phát triển nội tại của ngôn ngữ thì những biến đổi lớn lao ngoài

xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển tiếng Việt Đó có thể là do cách mạng thành công, sơ tán dân cư hay xây dựng vùng kinh tế mới, mở cửa đất nước,… Dù muốn dù không, những yếu tố xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thích hợp của tiếng Việt ở từng giai đoạn lịch sử

Ví dụ: ở Việt Nam, “vua” đã từng là từ dùng để chỉ người có chức vụ quyền hạn lớn nhất trong một đất nước, tương đương với chủ tịch nước ở thời điểm hiện tại Và

ngày nay, “chủ tịch nước” là từ vừa đúng vừa thích hợp vừa được đông đảo mọi người

biết đến để sử dụng khi chỉ người đứng đầu một đất nước

Điều kiện thứ hai là chệch chuẩn phải mang đến một giá trị nào đó Tùy từng trường hợp chệch chuẩn mà giá trị nó mang lại sẽ không giống nhau Nhưng về cơ bản chệch chuẩn mang đến 3 giá trị chính: tạo ấn tượng, biểu cảm, nhận thức Cụ thể từng nội dung giá trị của chệch chuẩn sẽ được phân tích chi tiết ở chương 3 của luận văn

Sau cùng, chệch chuẩn ngôn ngữ chính là hiện tượng ngôn ngữ vượt ra khỏi chuẩn mực ngôn ngữ nhưng vẫn có giá trị tương đối về mặt nhận thức, biểu cảm hoặc tạo được giá trị ấn tượng Vượt ra khỏi chuẩn mực ngôn ngữ thể hiện qua việc không

đảm bảo tính chất quy ước xã hội, hoặc là không phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ, hoặc không đảm bảo cùng lúc cả hai yếu tố

1.1.2.2 Phân loại hiện tượng chệch chuẩn

Dựa vào các tiêu chí khác nhau, có thể phân chia hiện tượng chệch chuẩn thành chệch chuẩn từ vựng, chệch chuẩn ngữ nghĩa, chệch chuẩn ngữ pháp Trong đó, chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa có thể được phân chia thành 2 dạng sau đây:

a Chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa do chệch chuẩn hình thức

Những người tài năng trong việc sử dụng ngôn từ có thể sáng tạo ra những từ rất hiếm gặp, gắn liền với tên tuổi cá nhân Dựa vào nhiều phương thức khác nhau mà sẽ

Trang 27

có cách tạo ra chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa Dưới đây là một số phương thức tạo

từ mới thường gặp

Phương thức đảo trật tự các âm tiết trong từ:

(1) Song sa vò võ phương trời,

Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng

(Nguyễn Du, Truyện Kiều (1268,1269))

(2) Nhưng rồi, đùng một cái Vân yêu Tuấn Kiên cảm thấy choáng váng, hẫng hụt, lòng buồn vô hạn, nhưng đành giữ kín trong lòng nỗi buồn vô hạn đó

(Nguyễn Trân, Một mùa khô nữa qua đi)

Phương thức gián cách các âm tiết trong từ, ngữ:

(3) Một thời để nhớ để thương

Một thời để vấn để vương trong lòng

(Phạm Như Vân, Hương xưa) (4) Con đi chuyến này cố chí làm ăn, bao giờ có bạc trăm con mới về, không có

tiền, sống khổ sống sở ở cái làng này, nhục lắm! (Nam Cao, Lão hạc)

Phương thức rút gọn các âm tiết trong từ, ngữ:

(5) Khom lưng nhưng không thấp đầu, không gập gối, khách khiêm kính cúi

chào hoa và thư hoạ rồi về nơi an toạ (báo Tiền Phong, tr6, số 38, 2003)

(6) Chủ bước vào, tiến tới phía khách cúi đầu chào một cách khiêm cung, khách

cũng đứng lên cúi chào đáp lễ (báo Tiền Phong, tr6, số 38, 2003)

Phương thức láy lại các âm tiết trong từ, ngữ:

(7) Nuốt hết chai rượu, thằng nào cũng lừ đà lừ đừ về nhà và mấy hôm sau, vợ

con chúng đem lễ đến tạ ơn (Mai Ngữ, Bãi biển đêm trăng)

(8) Xưa sao nói nói thề thề

Bây giờ mở khóa trao chìa cho ai (Ca dao)

b Chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa do chệch chuẩn ngữ nghĩa từ vựng

Chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa do chệch ngữ nghĩa từ vựng là việc kết hợp các

từ không phù hợp về ngữ nghĩa hoặc tạo ra ‘sự vô lý” Sự vô lý này có thể kích động

Trang 28

tâm trí người đọc đến ngôn ngữ và ý tưởng tượng hình toàn diện hơn Tùy thuộc vào mức độ kết hợp chệch chuẩn mà ta có các cấp độ chệch ngữ nghĩa từ thấp đến cao bao gồm khác thường, nghịch thường và phi logic:

Ví dụ chệch chuẩn ngữ nghĩa ở mức độ thấp (khác thường)

(9) Tuy hai người là bạn đồng nghiệp cùng ngành và cùng cơ quan, nhưng họ vẫn thân nhau và giúp đỡ nhau như thường (Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt –

Văn Việt – Người Việt)

Ví dụ chệch chuẩn ngữ nghĩa ở mức độ trung bình (nghịch thường)

(10) Vì mới chết lần này là lần đầu nên anh Xích chưa có lịch duyệt về cái

khoản ấy (Nguyễn Công Hoan, Thịt người chết)

Ví dụ chệch chuẩn ngữ nghĩa ở mức độ cao (phi logic)

(11) Con rắn vuông (Nhan đề một truyện cười nhân gian Việt Nam)

1.1.2.3 Tiêu chí nhận diện và cơ chế giải mã hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa

a Tiêu chí nhận diện

Như ở mục 5.2 với nội dung phương pháp xác định ngữ liệu trong phần mở đầu

mà chúng tôi trình bày, cùng với định nghĩa về chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa, chúng tôi xây dựng các tiêu chí nhận diện như sau:

- Có hình thức ngôn ngữ: là một từ (hoặc cụm từ)

- Hình thức cấu tạo có sự chệch đi, hoặc không đúng với hình thức cấu tạo đã được biết đến trước đó Căn cứ vào từ điển chính âm – cụ thể trong luận văn này, chúng tôi dùng từ điển tiếng Việt [39] làm cơ sở để đối chiếu hình thức của

Trang 29

b Cơ chế giải mã

Chệch chuẩn được xây dựng dựa trên các hiện tượng chuẩn Thực tế chúng là

sự cố tình vi phạm cái chuẩn Qua kinh nghiệm vận dụng các quy tắc để giải mã chệch chuẩn, chúng tôi thấy có thể tiến hành một trong các cách sau (hoặc phối hợp chúng với nhau) để giải mã chệch chuẩn:

- Xác lập ngữ nghĩa mới dựa trên hệ quy chiếu

- Liên hệ với lẽ thường, xác lập lý lẽ mới dựa trên thực tiễn

- Thay thế “chệch chuẩn” bằng “chuẩn mực” để nhận thấy sự khác biệt và giá trị

mà nó mang lại

Xác lập thông tin mới dựa trên hệ quy chiếu: để giải mã chệch chuẩn, trong một

số trường hợp cần phải xác định điểm quy chiếu của người nói (viết) đặt ở đâu, trên đối tượng nào, lĩnh vực nào Trong một câu nói có chệch chuẩn, sẽ có hai điểm nhìn, hai điểm quy chiếu

Điểm nhìn (hay điểm quy chiếu) thứ nhất xuất phát từ cách nhìn nhận bình thường, tạo nên phần thông tin cũ Nếu đứng từ điểm nhìn này sẽ không phát hiện được những điều thú vị của chệch chuẩn, thậm chí nhận thấy chệch chuẩn có biểu hiện của

sự không phù hợp, hoặc sai

Điềm nhìn (hay điểm quy chiếu) thứ hai là xuất phát từ cách nhìn nhận không theo tiêu chuẩn của một cá nhân, một tập thể hoặc một lĩnh vực hoạt động nào đó Điểm nhìn này tạo nên phần thông tin mới, vì thế nó rất quan trọng trong việc giải mã chệch chuẩn Tuy nhiên, chúng tôi cũng lưu ý rằng hai điểm nhìn nên được kết hợp với nhau Trên cơ sở điểm nhìn thứ nhất, sẽ giúp người tiếp nhận hiểu rõ thông tin Trên cơ sở điểm nhìn thứ hai, xác định được điểm quy chiếu đặt ở chủ thể nào, lĩnh vực nào có tính chất mấu chốt để tìm ra, hiểu được thông tin mới của hiện tượng chệch chuẩn Tức

là phải hiểu khác với bình thường, không phải hiểu từng chữ theo nghĩa đen Phải hiểu theo nghĩa bóng – nghĩa ẩn dụ, hoán dụ – không hiểu theo nghĩa cơ bản mà hiểu theo nghĩa phái sinh,…

Liên hệ với lẽ thường, xác lập lý lẽ mới dựa trên thực tiễn: thuật ngữ “lẽ thường”

là cách dịch thuật ngữ Topos (các nguyên lý được dùng làm cơ sở để tạo nên lập luận

Trang 30

đời thường) của Đỗ Hữu Châu [4, tr.191] Quyển từ điển Việt Nam của Lê Văn Đức (chủ biển) và Lê Ngọc Trụ (hiệu đính) định nghĩa từ “lẽ thường” như sau: “cái lẽ thông thường ai cũng công nhận” [20, tr.794] Trong ngôn ngữ hàng ngày, “lẽ thường”

thường được gọi là “lẽ thường tình” hoặc “lẽ phải thông thường” Theo Đỗ Hữu Châu,

“lẽ thường là những chân lý thông thường có tính kinh nghiệm, không có tính tất yếu, bắt buộc như các tiền đề logic” [4, tr 191] Như vậy, lẽ thường là một hệ thống giá trị

mặc nhiên được xã hội thừa nhận

Nếu việc xác định điểm quy chiếu mà chưa giải mã hoặc chưa tìm ra được thông tin mới của chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa thì chúng ta tái lập cái lẽ thường (topos)

mà đáng lẽ nó phải được tạo ra Trước tiên cần hiểu theo lẽ thường nó sẽ như thế nào Sau đó liên hệ với các từ xung quanh để xác lập ngữ nghĩa, lí lẽ mới Có một số trường hợp, chệch chuẩn được tạo ra là do kết hợp với các yếu tố chưa từng được kết hợp với nhau Chính vì vậy để giải mã những dạng chệch chuẩn này vừa phải căn cứ vào bản thân hiện tượng chệch chuẩn, vừa phải căn cứ vào mối quan hệ của nó với những yếu

tố xung quanh

Cho nên khi giải mã chệch chuẩn, chúng ta cần phải liên hệ với vốn trí thức thực tiễn, vốn kinh nghiệm sống

Ví dụ:

(12) Thôi đã hết hờn ghen và giận dỗi!

(Được giận hờn nhau sung sướng bao nhiêu!)

Anh một mình, nghe tất cả buổi chiều Vào chậm chậm ở trong hồn hiu quạnh

(Xuân Diệu, Tương tư chiều)

Theo lẽ thông thường thì giận hờn là buồn rầu, u uất Nhưng nếu liên hệ với những cặp đôi yêu nhau thì chệch chuẩn trong ví dụ trên được hiểu như sau: Khi những đôi vợ chồng, tình nhân còn giận hờn nhau tức là còn yêu thương nhau, còn nghĩ tới nhau, tức là còn niềm hạnh phúc vì có đôi lứa Họ hạnh phúc, sung sướng hơn những

kẻ tình nhân không còn được giận hờn nhau, hoặc những người không được giận hờn

ai cả

Trang 31

Phần lớn các chệch chuẩn dùng cách giải mã này là các chệch chuẩn phản ánh nghịch lý thực tiễn Cách giải mã chúng là sự đối chiếu trực tiếp với vốn hiểu biết thực

tế, thường áp dụng cho các chệch chuẩn ngữ nghĩa

Thay thế “chệch chuẩn” bằng “chuẩn mực” để nhận thấy sự khác biệt và giá trị mà nó mang lại: khi vận dụng các cách vừa nói ở trên mà vẫn chưa giải mã được

chệch chuẩn thì chúng ta phải vận dụng cách thứ ba: “thay thế” chệch chuẩn Tức là chúng ta thay thế chệch chuẩn bằng yếu tố chuẩn mực Cách này được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng và giá trị của yếu tố chệch chuẩn Các bước tiến hành khá đơn giản Trước hết cần xác định yếu tố chệch chuẩn và yếu tố chuẩn mực Tiếp theo thay thế yếu tố chuẩn vào vị trí chệch chuẩn Điểm khác biệt của hai trường hợp chính là kết quả giải mã chệch chuẩn Cách này chỉ phù hợp với những chệch chuẩn ngữ âm hoặc chệch chuẩn từ vựng Vì chúng dễ dàng xác định yếu tố chuẩn

1.1.2.4 Những nhân tố chi phối sự hình thành của hiện tượng chệch chuẩn

Sự hình thành hiện tượng chệch chuẩn từ vựng - ngữ nghĩa chịu sự ảnh hưởng

và chi phối của các nhân tố sau: (a) bối cảnh chính trị – xã hội, (b) trình độ phát triển

về tư duy – nhận thức, (c) trình độ ngôn ngữ và phong cách diễn đạt, (d) đề tài và thể loại văn bản

a Bối cảnh chính trị –xã hội

Bối cảnh chính trị –xã hội của một giai đoạn lịch sử ảnh hưởng rất nhiều tới sự xuất hiện của hiện tượng chệch chuẩn trong một ngôn ngữ Đầu tiên để xuất hiện chệch chuẩn chắc chắn phải là một xã hội tự do về tư tưởng và ngôn luận Một bầu không khí chính trị – tư tưởng – học thuật thiếu dân chủ, thiếu tự do đương nhiên sẽ không cho phép mọi người nói, trình bày quan điểm không theo chuẩn mực Bối cảnh chính trị –

xã hội nhiễu nhương, hỗn loạn cũng là điều kiện tốt cho sự xuất hiện của chệch chuẩn

b Trình độ phát triển về tư duy – nhận thức

Một cộng đồng ngôn ngữ phải đạt tới một trình độ nhất định về tư duy –nhận thức mới sử dụng chệch chuẩn vì chệch chuẩn là cách nói vượt ra chuẩn mực, tri thức thông thường, vượt lên trên lẽ thường Những chệch chuẩn hay và đặc sắc thể hiện một trình

độ tư duy ở đẳng cấp cao

Trang 32

c Trình độ ngôn ngữ và phong cách diễn đạt

Hiện tượng chệch chuẩn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng hơn hết nó phụ thuộc và bị chi phối bởi tài năng và sự rèn luyện ngôn ngữ của người cầm bút Việc sử dụng và tạo ra chệch chuẩn đòi hỏi vừa phải biết tôn trọng chuẩn mực lại vừa phải tạo được những cách tân Nếu người viết không có một sự am tường tiếng Việt, không có vốn sống phong phú, không có kinh nghiệm của người cầm bút và đặc biệt là không chủ động tạo ra chệch chuẩn thì không dễ gì có những cách tân, hay chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa

Ngoài ra, phong cách diễn đạt của một dân tộc, một thời đại, đặc biệt của một tác giả quyết định nhiều đến việc sử dụng chệch chuẩn Cùng một thời đại, nhưng Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân dùng nhiều chệch chuẩn, còn Tô Hoài hay Nguyên Hồng hiếm khi dùng; Chế Lan Viên, Xuân Diệu dùng nhiều chệch chuẩn, trong khi đó Tố Hữu hầu như không bao giờ dùng chệch chuẩn

b Đề tài và thể loại văn bản

Đề tài và thể loại văn bản cũng có ảnh hưởng nhiều đến việc lựa chọn và sử dụng chệch chuẩn Vì tính chất đặc thù của chệch chuẩn là vượt ra khỏi chuẩn mực, sáng tạo cái mới nên những thể loại văn bản đòi hỏi sự chính xác về ngôn từ như văn bản khoa học, văn bản hành chính, văn bản luật, biểu mẫu,… sẽ không cho phép sự hình thành hiện tượng chệch chuẩn Chệch chuẩn thường hình thành và phát triển trong các thể loại văn chương như truyện ngắn, văn xuôi, thơ ca,… Tính chất đặc thù của các thể loại văn học sẽ phù hợp với tính chất của hiện tượng chệch chuẩn Chính vì vậy các thể loại văn học là môi trường có điều kiện tốt nhất để các hiện tượng chệch chuẩn phô diễn Các đề tài có thể thường sử dụng nhiều chệch chuẩn như sau:

- Nghị luận về các vấn đề xã hội, chính trị, triết học, nghệ thuật,…

- Trào phúng, châm biếm các vấn đề xã hội, thời sự, đạo đức,…

- Bàn luận về các đề tài có tính chất vĩnh cửu của con người, đời người, vũ trụ,…

1.1.2.5 Phân biệt chệch chuẩn với các khái niệm khác

Trong nghiên cứu chệch chuẩn, cần phân biệt nó với các khái niệm gần và dễ gây nhầm lẫn là kết hợp bất thường về nghĩa, nghịch ngữ, khoa trương và lỗi sai

Trang 33

a Phân biệt chệch chuẩn với kết hợp bất thường về nghĩa

Chệch chuẩn và hiện tượng kết hợp bất thường về nghĩa đều được xây dựng trên

cơ sở không theo lẽ thường, không theo tiêu chuẩn thông thường Đối với chệch chuẩn, mức độ khái quát các hiện tượng ngôn ngữ cao hơn Đối với kết hợp bất thường về nghĩa, mối quan hệ giữa các từ là về bình diện ngữ nghĩa Vì thế, kết hợp bất thường

về nghĩa thực chất chỉ là một trường hợp của hiện tượng chệch chuẩn

Không phải chệch chuẩn nào cũng ở dạng kết hợp bất thường về nghĩa, nhưng

có thể kết luận rằng tất cả các kết hợp bất thường về nghĩa là một dạng của chệch chuẩn

Cả hai ví dụ dưới đây đều là chệch chuẩn, nhưng ví dụ (14) mới là chệch chuẩn do kết hợp bất thường về nghĩa

(13) Đầy trời ríu rít ríu ra

Tiếng chim với nắng, tiếng ta với mình

(Hoài Vũ, Đầu đông xứ tuyết)

(14) Đây là bà Phán, một phụ nữ đã thủ tiết với hai đời chồng, một bậc mẹ

hiền, có công với làng thể thao! (Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)

b Phân biệt chệch chuẩn với nghịch ngữ

Nghịch ngữ là phép tu từ dùng cách nói bề ngoài có vẻ mâu thuẫn nhưng bên trong chứa đựng một hạt nhân hợp lý về nhận thức–triết lý Ví dụ:

(15) Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống! (Nam Cao, Sống mòn) (16) Phải là người khôn ngoan mới đóng được vai kẻ dại khờ (G N Pôxpêlôp,

Dẫn luận Nghiên cứu văn học)

Chệch chuẩn và nghịch ngữ đều có tính biểu cảm, có tác dụng gây ấn tượng, thu hút

sự chú ý, làm nổi bật nội dung muốn biểu đạt bằng cách tạo ra những từ ngữ khác thường Tuy nhiên, nghịch ngữ có hai vế có ngữ nghĩa mâu thuẫn với nhau Còn chệch chuẩn, tùy từng dạng và cấp độ của nó, chệch chuẩn có thể có hai vế hoặc không có Trong trường hợp chệch chuẩn ở cấp độ ngữ, có hai vế nhưng ngữ nghĩa của hai vế cũng có thể dùng lại ở mức khác thường hoặc cao hơn là mức mâu thuẫn Vì vậy, nghịch ngữ cũng chỉ là một trường hợp đặc biệt của chệch chuẩn

c Phân biệt chệch chuẩn với phép khoa trương

Trang 34

Khoa trương (còn gọi là phóng đại, ngoa dụ) là một phép tu từ dựa trên cơ sở phóng đại, cường điệu kích thước, quy mô, tính chất của đối tượng hay hiện tượng được miêu

tả Ví dụ về các cách nói khoa trương:

(17) Rán sành ra mỡ (Thành ngữ tiếng Việt)

(18) Một ngày dài hơn thế kỷ (Tên một tiểu thuyết của nhà văn Aimatôp)

Hoặc là đẹp kinh khủng, đẹp dã man, xinh tởm, hiền dễ sợ,…

Khoa trương và chệch chuẩn đều có tác dụng gây ấn tượng, thu hút sự chú ý, làm nổi bật tác dụng biểu đạt, có tính chất bất ngờ, gây ngạc nhiên Tuy nhiên, trong phép khoa trương, các yếu tố kết hợp với nhau theo quan hệ bất quy tắc, phi lý mang tính chất của một sự cường điệu Quan hệ giữa hai vế trong khoa trương chỉ hợp lý khi chúng ta xem xét chúng dưới góc độ lôgic biểu đạt (nói quá đi để nhấn mạnh, gây ấn tượng) Vì vậy cho nên khoa trương không phải là một dạng chệch ra khỏi cái tiêu chuẩn thông thường như chệch chuẩn, bản chất vấn đề của khoa trường là nói quá lên

Nó xuất hiện nhiều trong khẩu ngữ

d Phân biệt chệch chuẩn với lỗi sai

Chệch chuẩn là hiện tượng ngôn ngữ chệch ra khỏi những tiêu chuẩn ngôn ngữ thông thường, nó được xây dựng dựa trên phương thức cấu tạo từ và ngữ nghĩa của tiếng Việt Trên những góc nhìn nhất định, nó có cơ sở để lí giải và mang đến những giá trị nhất định

Còn lỗi sai là những kiểu kết hợp hoặc cách dùng từ ngữ chỉ có mâu thuẫn trên

bề mặt mà không hàm ẩn nghĩa khác thường và cũng không có tác dụng tu từ Đó có thể là dùng từ sai văn phong, sai ngữ cảnh, sai ngữ nghĩa Ví dụ:

(19) Trăng thật Hôm nay đầu tháng Từ đầu hôm, tôi đi giữa đêm trăng mà

không biết (Nguyễn Minh Châu, Mảnh trăng cuối rừng)

Giữa câu thứ hai và câu thứ ba hoàn toàn sai logic về mặt ngữ nghĩa Đầu tháng thì

sẽ không có trăng, trăng chỉ sáng hoặc có ánh vào khoảng ngày mười của tháng Đầu tháng, đầu hôm lại càng không thể có trăng Nguyễn Minh Châu lại với đi giữa đêm trăng trong khoảng thời gian không thể có trăng!

Trang 35

(20) Chị cả Lạt chẳng phải tay vừa Chị lấy chồng từ năm mười tám tuổi Năm

mười chín, chị đẻ đứa con giai, sau đó chồng mắc bệnh, ốm liền trong hai năm rồi chết Chị làm quần quật, phụng dưỡng cha mẹ chồng, hầu hạ chồng,

bú mớm cho con Có những ngày ngắn ngủi, con bệnh lui đi, chồng chị yêu thương chị như một người phát cuồng (Nguyễn Kiên, Anh Keng)

Xét về ngữ nghĩa giữa câu thứ ba và câu thứ tư có sự kết hợp sai logic Câu thứ ba nói người chồng đã chết, câu thứ tư nói chị cả Lạt hầu hạ chồng Chồng này là ai? Do không có yếu tố biểu thị sự liên kết về mặt thời gian Ngữ nghĩa giữa các câu đã sai về logic

1.2 Hiện tượng chệch chuẩn từ vựng - ngữ nghĩa và ngôn ngữ thơ

1.2.1 Hiện tượng chệch chuẩn từ vựng - ngữ nghĩa trong sự phát triển của ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại

Theo nhiều học giả, văn học trung đại Việt Nam được xác định kéo dài từ thế kỷ

X đến hết thế kỷ XIX Bắt đầu từ thế kỷ XX, văn học Việt Nam bước vào quá trình hiện đại hóa, bấy giờ Tự lực văn đoàn cùng Thơ mới đã hoàn tất quá trình hiện đại hóa sau ba mươi năm giao thời văn học

Sự thay đổi hệ hình tư duy từ trung đại đến hiện đại trong thơ Việt gắn liền với

sự thay đổi về quan niệm nghệ thuật của thời đại và kiểu giao tiếp trong thơ Nếu thơ trung đại quan tâm đến tính không gian của vũ trụ, giấu kín cái tôi chủ thể thì văn học hiện đại chủ trương đề cao cái tôi cá nhân Nền tảng triết học của nó nằm ngay trong câu nói nổi tiếng của R.Descartes: “Tôi tư duy tức là tôi tồn tại” Công cụ của tư duy chính là ngôn ngữ Thơ Việt Nam hiện đại chủ trương thể hiện bản thân thông qua ngôn ngữ tạo nên điều mới lạ thì tất yếu tạo ra những chệch chuẩn

Với quan niệm nghệ thuật mới, Thơ mới đã làm một cuộc cách mạng về thi pháp, ngôn ngữ, giọng điệu, giũ bỏ toàn bộ tính quy phạm của thơ ca trung đại Chính vì bước vào phạm vi thế giới mới, Thơ mới không bó gọn trong mỹ cảm lãng mạn mà nhanh chóng chịu ảnh hưởng của thơ tượng trưng, siêu thực Tinh thần tượng trưng, siêu thực

ám sâu vào nhiều thi sĩ tài năng của thời đại Thơ mới đã đem đến cho Thơ mới nhiều hương sắc độc đáo

Trang 36

Song song với sự vận động và biến đổi về ngữ âm trong thơ Việt Nam hiện đại là

sự vận động và biến đổi về phương thức, phương tiện tạo nghĩa Nếu sự biến đổi về ngữ âm là tương đối chậm thì sự biến đổi về mặt ngữ nghĩa là tương đối nhanh

Thông thường khi sử dụng khái niệm đổi mới, người ta muốn nói đến những đột phá sâu sắc đem đến sự mới mẻ cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Về thực chất, các nhà thơ đã đề cao vai trò của ngôn ngữ nghệ thuật, chống lại sự mòn cũ trong các diễn ngôn đã có

Không phải các nhà thơ không biết đến sự tồn tại của kiểu thơ thiên về nghĩa Điều mà họ mong muốn là qua các con chữ để có cách “nhìn nghiêng” về thế giới, vượt qua lối vẽ truyền thần trong văn học Họ muốn thơ khai mở huệ nhãn, muốn đào sâu vào vô thức, muốn hình dung thế giới như một văn bản, một tập hợp của các ký hiệu

Ý nghĩa nghệ thuật cũng như lý do tồn tại của ngôn ngữ thơ nằm ngay chính trò chơi ngôn từ tưởng như ngẫu hứng song kỳ thực hàm chứa tư tưởng giải phóng cá tính sáng tạo của nhà thơ

Không phải ngẫu nhiên mà tính ngẫu hứng và hàng loạt kết hợp độc đáo giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ đời thường, giữa cách nói thông dụng và cách nói chệch chuẩn được tạo ra Tất cả những kết hợp đó đều là xu hướng tất yếu không sớm thì muộn cũng xảy ra Không ở nhà thơ này thì ở nhà thơ khác Thời đại lịch sử, bối cảnh chính trị xã hội cộng thêm sự phát triển nhất định của những trí thức Tây học lúc bấy giờ đã đủ “chín” để làm một cuộc cách mạng cho thơ ca, thông qua những sáng tạo, những cách tân trong thể thơ, trong ngôn từ

Cần phải nói rằng, không phải riêng trong nghệ thuật mà trong hầu hết các ngành nghề khoa học, tìm đến cái mới là khát khao của bất cứ ai Nhưng không phải cái mới nào cũng hay Việc tìm ra cái mới vừa là khát vọng, vừa là gánh nặng đặt lên vai của người nghệ sĩ trong hành trình sáng tạo không mệt mỏi của họ Thế mới hiểu rằng, mỗi một thời đại thi ca, số người làm thơ có thể rất đông, nhưng số người trụ lại với thời gian thì rất ít

Trang 37

1.2.2 Hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa trong mối quan hệ với người tiếp nhận

Xét từ góc độ người tiếp nhận, khi gặp một hiện tượng chệch chuẩn, người đọc người nghe sẽ vận dụng vốn tri thức tổng hợp của mình để giải thích chệch chuẩn nhằm tìm ra hạt nhân hợp lý của nó – cái làm cho nó có thể chấp nhận được Tuy nhiên khả năng giải mã của từng người sẽ có những khác biệt do vốn tri thức của từng người khác

nhau Có một số ý kiến cho rằng chệch chuẩn là sự chệch chuẩn trong giới hạn năng lực của người đọc Cho nên, với từng trường hợp chệch chuẩn cụ thể, sẽ có người giải

mã được, có người không giải mã được, hoặc mỗi người sẽ có một cách giải mã khác nhau Giới hạn năng lực hiểu và giải mã của người đọc rất quan trọng, nó là yếu tố quyết định một hiện tượng ngôn ngữ có phải là chệch chuẩn hay không Ngoài ra khả năng giải mã chệch chuẩn của người đọc cũng có liên quan đến độ khó và độ rõ ràng của hiện tượng chệch chuẩn

Một chệch chuẩn mà nhiều người biết và có thể giải mã thì thường không hay

và không mang đến được những giá trị biểu đạt cao, ngược lại những hiện tượng chệch chuẩn riêng biệt hoặc thâm thúy thì độc đáo nhưng lại khó giải mã Đặc biệt là những chệch chuẩn trong ngôn ngữ thơ, vì nó bị chi phối bởi đặc thù thể loại văn chương nên việc hiểu và giải mã có những khó khăn riêng Tuy nhiên, bất cứ ngành nghề hay lĩnh vực nào cũng có những trở ngại nhất định Tin rằng, chỉ cần người đọc cố gắng tìm hiểu, áp dụng những cơ chế giải mã mà chúng tôi đã ghi nhận ở trên sẽ có tác dụng phần nào trong việc giải mã và tìm hiểu về hiện tượng chệch chuẩn Nhất là hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa trong thơ Việt Nam hiện đại

Tiểu kết

Về từ vựng – ngữ nghĩa, xét về bình diện hình thức của từ, căn cứ vào phương thức cấu tạo từ thì từ tiếng Việt có thể chia thành từ đơn, từ phức Việc xác định hình thức của từ sẽ làm cơ sở để nhận diện chệch chuẩn khi triển khai đề tài Xét về bình diện nội dung ý nghĩa, từ có ba ý nghĩa chính là nghĩa biểu vật, biểu niệm và biểu cảm

Ba ý nghĩa này của từ bị chi phối bởi nhiều nhân tố, trong đó nổi bật lên sự chi phối của sự vật hiện tượng mà từ gọi tên; người sử dụng ngôn ngữ; mối quan hệ giữa nó với

Trang 38

các từ khác trong hệ thống Hai bình diện hình thức và ý nghĩa của từ tiếng Việt có mối quan hệ quy định lẫn nhau Cấu trúc của từng lớp từ bao gồm từ đơn, từ ghép, từ láy đều liên quan đến cơ chế tạo nghĩa Ngôn ngữ có những lí do và cách thức khác nhau

để lựa chọn các hình thức cấu tạo của từ nhằm biểu đạt nội dung Sự lựa chọn này có liên quan đến bản thân hình thức ngôn ngữ và các mối quan hệ đối lập giữa chúng với nhau

Về hiện tượng chệch chuẩn, sự hình thành hiện tượng chệch chuẩn từ vựng - ngữ nghĩa chịu sự ảnh hưởng và chi phối của các nhân tố sau: bối cảnh chính trị – xã hội, trình độ phát triển về tư duy – nhận thức, trình độ ngôn ngữ và phong cách diễn đạt, đề tài và thể loại văn bản Để tránh những sai lầm trong lúc khảo sát và phân tích chệch chuẩn, cần có tiêu chí và cơ chế giải mã hiện tượng này Bên cạnh đó cũng cần phân biệt hiện tượng chệch chuẩn với những khái niệm dễ nhầm lẫn (như khoa trương, kết

hợp bất thường, lỗi sai,…) Chệch chuẩn từ vựng - ngữ nghĩa được thể hiện qua ngữ âm; kết hợp; tạo từ mới Từng biểu hiện của chệch chuẩn từ vựng - ngữ nghĩa sẽ được phân tích kỹ lưỡng ở chương 2 Chương 1 là căn cứ khoa học giúp chúng tôi tiếp cận

và lựa chọn tư liệu khảo sát nhằm giải quyết các nhiệm vụ của luận văn đã đặt ra

Trang 39

Chương 2 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CHỆCH CHUẨN TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA

TRONG NGÔN NGỮ THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 2.1 Chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa do chệch chuẩn hình thức

Trong luận văn này, chúng tôi quan niệm rằng những từ mới về hình thức ngữ

âm – cấu tạo chệch chuẩn hình thức của từ Quan điểm này cũng gây ra nhiều vấn đề tranh cãi Có người chấp nhận đó là từ mới bởi vì cá nhân người sáng tạo, chỉ sử dụng trong những điều kiện và văn bản nhất định, nếu tách ra khỏi những điều kiện cụ thể thì từ đó không tồn tại Ngược lại có người xem đây là những cách sử dụng từ ngữ ngớ ngẩn, lập dị do thiếu hoặc không nắm được từ tiếng Việt Trong luận văn này, chúng tôi chỉ khảo sát và đề cập đến những từ được gọi là mới khi chúng có ý nghĩa, giá trị nhất định đối với văn bản Trong một số trường hợp, dù không xác định được nghĩa cụ thể của chúng nhưng vẫn có khả năng cảm nhận được những nét nghĩa nhất định thông qua ngữ cảnh cụ thể

2.1.1 Thông qua phương thức láy lại

Đây là một hiện tượng chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa được tạo ra do phép láy lại từ hoặc âm tiết dẫn đến việc tạo thêm từ mới là từ láy Gọi những từ có dạng chuẩn mực là AB, thì những từ mới do láy lại sẽ có dạng AaB (ABb hoặc AaBb) – trong đó “a” và “A”, hoặc “b” và “B” có sự tương đồng về ngữ âm

Trang 40

2.1.1.2 Nhận xét

Kết quả khảo sát cho thấy, hiện tượng láy lại tạo ra chệch chuẩn từ vựng – ngữ nghĩa trong ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại chủ yếu là dạng láy đôi, không tìm thấy dạng láy ba, láy tư Điều này cũng phù hợp với nhận xét của các nhà ngôn ngữ học là

từ láy ba rất ít, chỉ có vài chục từ Hiện tượng láy lại các âm tiết tạo thành một đơn vị

có giá trị tương đương với từ về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa, do đó, có thể xem đơn vị mới này là một từ

Láy là hiện tượng ngôn ngữ phức tạp và đa dạng Trong lịch sử ngôn ngữ học

đã có nhiều hướng tiếp cận khác nhau đối với hiện tượng này Nhìn chung có 3 quan điểm chính khi bàn về từ láy: (1) xem láy là phụ tố; (2) xem láy là một dạng của ghép; (3) xem láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hóa

Như đã giới thiệu ở mục 1.1.1, trong luận văn này, chúng tôi xem láy là sự hòa phối ngữ âm Cách nhìn này cho thấy cấu tạo từ láy chịu sự chi phối của luật hài thanh, hài âm Điều đó được thể hiện qua các quy tắc điệp và quy tắc đối Điệp là sự lặp lại,

sự đồng nhất về âm, về nghĩa, còn đối thì có sự khác biệt, dị biệt cũng về âm, về nghĩa Điệp là trạng thái đồng nhất quan hệ giữa các tiếng của láy, hệ quả của sự nhân đôi tiếng gốc trong quá trình cấu tạo từ láy để đảm bảo có sự hài hòa về âm, về nghĩa Như vậy, có những từ mới được tạo ra thông qua cơ chế láy lại

Thông thường, những từ láy âm hoàn toàn sẽ biểu thị sự lặp đi lặp lại của hành động, sự kiện, ngoài ra nếu từ láy đó có thành tố sau mang thanh bằng thì sẽ tạo nên cảm giác đặc trưng tính chất mà từ đó biểu thị được giảm nhẹ:

(22) Mưa giong buồn sợi xuống lơi lơi (Huy Cận, Mưa)

(23) Mưa rơi phay phay (Trần Dần, Không đề số 4)

Ngược lại đối với những từ láy hoàn toàn mà từ tố gốc mang thanh trắc thì cường

độ tính chất được tăng lên:

(24) Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

(Huy Cận, Tràng giang)

(25) Mình ta buồn dặc dặc

Ngày đăng: 29/06/2023, 22:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2001), Từ điển Hán – Việt, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán – Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2001
2. Nguyễn Phan Cảnh (2006), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2006
3. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng (Tái bản lần I), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng (Tái bản lần I)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
4. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
5. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học (Tập II), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học (Tập II)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
6. Mai Ngọc Chừ (2005), Tính nhạc trong thơ ca Việt Nam (Từ góc nhìn ngữ âm tiếng Việt), tạp chí Ngôn ngữ, 5(204), 77-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính nhạc trong thơ ca Việt Nam (Từ góc nhìn ngữ âm tiếng Việt)
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2005
7. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo Dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2001
8. Nguyễn Đức Dân (1987), Lô gích – Ngữ nghĩa – Cú pháp, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lô gích – Ngữ nghĩa – Cú pháp
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1987
9. Nguyễn Đức Dân (1996), Lô gích và tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lô gích và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
10. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học (Tập 1), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học (Tập 1)
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
11. Nguyễn Đức Dân (2000), “Hiện tượng đa thanh từ góc nhìn ngôn ngữ học”, Tạp chí văn học, số 3/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng đa thanh từ góc nhìn ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 2000
12. Nguyễn Đức Dân (2003), “Những nghịch lý ngữ nghĩa”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 5/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghịch lý ngữ nghĩa
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2003
13. Nguyễn Thị Đào (2018), Từ ngữ “chệch chuẩn” và những kết hợp tạo từ mới lạ trong hồi ký của Tô Hoài, Đại học Vinh, Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3B (2018), tr. 15-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngữ “chệch chuẩn” và những kết hợp tạo từ mới lạ trong hồi ký của Tô Hoài
Tác giả: Nguyễn Thị Đào
Nhà XB: Đại học Vinh
Năm: 2018
14. Hữu Đạt (1999), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
15. Hữu Đạt (1999), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1999
16. Hữu Đạt (2000), Ngôn ngữ thơ Việt Nam (tái bản có sửa chữa, bổ sung), NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam (tái bản có sửa chữa, bổ sung)
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2000
17. Hữu Đạt (2000), Phong cách học và phong cách chức năng tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và phong cách chức năng tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2000
18. Nguyễn Công Đức – Nguyễn Hữu Chương (2004), Từ vựng tiếng Việt, Tài liệu lưu hành nội bộ, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Công Đức, Nguyễn Hữu Chương
Nhà XB: Tài liệu lưu hành nội bộ
Năm: 2004
19. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam Hiện đại, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam Hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
20. Lê Văn Đức (chủ biên) – Lê Ngọc Trụ (hiệu đính) (1970), Từ Điển Việt Nam, Quyển Thượng A – L.Khai Trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Điển Việt Nam, Quyển Thượng A – L
Tác giả: Lê Văn Đức
Nhà XB: Khai Trí
Năm: 1970

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm