- Bài viết “Vai trò của văn học dân gian trong văn học Việt Nam nói chung, trong Truyện Kiều nói riêng” [93] của Nguyễn Khánh Toàn đăng trên tạp chí Văn học, số 11/1965 đề cập đến vai t
Trang 1Tăng Thị Bích Thương
ẢNH HƯỞNG CỦA CA DAO TRONG TÁC PHẨM CỦA MỘT SỐ NHÀ THƠ
VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
Trang 2Học viên Tăng Thị Bích Thương kính lời tri ơn sâu sắc đến cô
Nguyễn Thị Ngọc Điệp, người đã hết lòng dẫn dắt trong quá trình thực
hiện đề tài Người viết cảm ơn quý thầy cô đã truyền đạt kiến thức cùng
những kinh nghiệm quý báu trong suất thời gian qua Cuối cùng, xin chân
thành cảm ơn gia đình, nhà trường và bạn bè đã ủng hộ và tạo mọi điều
kiện học tập, nghiên cứu
Chân thành cảm ơn và trân trọng kính chào!
Tăng Thị Bích Thương
Trang 3
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CA DAO VỚI THƠ CA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1.1 Giới thuyết chung 13
1.2 Sự ảnh hưởng của ca dao với thơ ca Việt Nam hiện đại là kết quả tất yếu của quy luật kế thừa trong văn học 20
1.3 Cơ sở xã hội, thời đại, tư tưởng quyết định tới sự ảnh hưởng của ca dao với thơ ca hiện đại 28
1.4 Những con đường tiếp xúc và tích lũy vốn ca dao của các nhà thơ 32
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA CA DAO TRONG TÁC PHẨM MỘT SỐ NHÀ THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRÊN PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ, HÌNH ẢNH VÀ BIỂU TƯỢNG 2.1 Phương diện ngôn ngữ 37
2.1.1 Hiện tượng “tập” ca dao trong thơ hiện đại 37
2.1.2 Cách dùng số từ 48
2.1.3 Cách dùng từ phiếm chỉ 54
2.1.4 Cách dùng phụ từ 60
2.1.5 Các phương tiện ngôn ngữ khác 63
2.2 Phương diện hình ảnh và biểu tượng 66
2.2.1 Hình ảnh 66
2.2.1.1 Làng quê Việt Nam trong ca dao 66
2.2.1.2 Hình ảnh làng quê trong thơ hiện đại 67
2.2.2 Biểu tượng 73
Trang 474
CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA CA DAO TRONG TÁC PHẨM MỘT SỐ NHÀ THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRÊN PHƯƠNG DIỆN THỂ THƠ VÀ KẾT CẤU 3.1 Phương diện thể thơ 92
3.1.1.Giới thuyết chung 92
3.1.2 Thể thơ lục bát trong ca dao 93
3.1.3 Thể thơ lục bát trong thơ hiện đại 96
3.1.3.1 Về phương diện cấu trúc 97
3.1.3.2 Về phương diện tổ hợp dòng thơ 104
3.1.3.3 Về phương diện chức năng biểu đạt nội dung 107
3.2 Phương diện kết cấu 109
3.2.1 Kết cấu đối thoại trong ca dao 109
3.2.2 Kết cấu đối thoại trong thơ hiện đại 111
KẾT LUẬN 116
PHỤ LỤC 119
Phụ lục 1: Bảng thống kê các câu thơ “tập” ca dao 119
Phụ lục 2: Bảng thống kê các câu thơ có đại từ phiếm chỉ 127
Phụ lục 3: Bảng thống kê các biểu tượng trong thơ hiện đại 137
Phụ lục 4: Bảng thống kê các câu thơ có kết cấu đối thoại 144
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ca dao Việt Nam là nơi chung đúc những vẻ đẹp của tâm hồn Việt Ngay từ thuở còn nằm nôi, sữa mẹ là nguồn vật chất còn ca dao là nguồn tinh thần nuôi dưỡng chúng ta lớn lên Vì vậy, ca dao đã ngấm vào máu thịt của mỗi người Việt Nam Ca dao cũng là khuôn vàng thước ngọc, là nền tảng cho thơ ca dân tộc phát triển
Theo cách hiểu thông dụng và được nhiều nhà nghiên cứu đồng
tình, “ca dao là phần lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca”[39, tr436 ]
Dân tộc Việt Nam từ khi dựng nước thì việc giữ nước cũng luôn phải đặt lên hàng đầu vì luôn đứng trước nguy cơ bị các nước lớn xâm chiếm Trong lịch sử, nhiều lần nước ta đã bị mất nước và các thế lực chiếm đóng luôn tìm cách đồng hóa dân tộc Việt Nhưng các âm mưu đồng hóa đều bị thất bại Nền văn hóa dân tộc vẫn được bảo tồn Ca dao nói riêng, văn học dân gian nói chung đã góp phần không nhỏ vào công cuộc bảo tồn này Ca dao chính là phát ngôn trực tiếp những tình cảm, tâm tư, ước nguyện của quần chúng nhân dân Ca dao cũng là nơi rèn rũa, tôi luyện của ngôn ngữ văn học và là bước chuẩn bị cho những thành tựu của nền văn học viết
Các sáng tạo của những thiên tài thơ ca dân tộc được khơi gợi từ
mạch nguồn ca dao Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều
của Nguyễn Du, thơ Nôm của Hồ Xuân Hương đều có dấu ấn của ca dao Các tác phẩm này đã trở thành những mẫu mực của văn học trung đại Việt Nam
Bước sang thế kỷ XX, những luồng tư tưởng của phương Tây tràn vào nước ta, nền văn học Việt Nam chuyển mình sang thời kỳ hiện đại Trong lĩnh vực thơ ca, thời kỳ hiện đại được đánh dấu bằng sự ra đời của
Trang 6phong trào Thơ mới vào những năm 30 của thế kỷ XX Phong trào Thơ mới là “một cuộc cách mạng trong thi ca”, đưa thơ ca Việt Nam đạt đến hiện đại cả về nội dung lẫn hình thức Nhưng không phải sang thời hiện đại thì ca dao sẽ không còn vai trò gì đối với thi ca nữa Thực tế đã chứng minh ngược lại Nhiều thi sĩ của nền thơ ca Việt Nam hiện đại vẫn tìm
đến ca dao như là tìm đến cái tinh túy của tâm hồn dân tộc, đến cái “hồn xưa của đất nước” Có điều này bởi “mỗi chúng ta đều có một người nhà quê”[80, tr368] nên chúng ta yêu những câu ca dao, những vườn cau, bụi
chuối, cây đa, bến nước và sự mộc mạc, chân chất trong tâm hồn của
những cô thôn nữ, anh trai làng Vì vậy, những vần thơ nào đánh thức được “con người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng”[80,tr369] của độc giả
sẽ luôn được họ say mê, đón nhận Nắm được thế mạnh này, Nguyễn
Bính, Tố Hữu, Nguyễn Duy và một số nhà thơ hiện đại khác đã kế thừa các hình thức quen thuộc của ca dao để thể hiện thế giới tâm hồn mình
Sự kế thừa các hình thức này không mang tính mô phỏng, sao chép thô kệch mà đã có sự chuyển hóa tinh vi, cao diệu Giống như con ong hút nhụy để làm ra mật chứ không nhả ra hoa, các nhà thơ hiện đại kế thừa những giá trị nghệ thuật của ca dao để sáng tác ra những vần thơ hay cho đời chứ không phải trở thành bản sao của ca dao Các nhà thơ đã chắt lọc trong thi pháp ca dao những đặc điểm, yếu tố thích hợp với thời kỳ hiện đại Đó là việc kế thừa ngôn ngữ, các hình ảnh, biểu tượng truyền thống, thể thơ lục bát và kết cấu đối đáp của ca dao để thể hiện những ý tưởng, tình cảm của cuộc đời mới Đây cũng chính là lí do chúng tôi chọn đề tài
Ảnh hưởng của ca dao trong tác phẩm của một số nhà thơ Việt Nam hiện đại để nghiên cứu
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu:
- Các tập thơ trước cách mạng tháng Tám của Nguyễn Bính: Lỡ bước sang ngang, Tâm hồn tôi, Hương cố nhân, Một nghìn cửa sổ, Người
Trang 7con gái ở lầu hoa, Mười hai bến nước, Mây tần Đây là những tập thơ
tiêu biểu và được yêu thích nhất của ông trước cách mạng tháng Tám
Chúng tôi chọn Tuyển tập Nguyễn Bính của Nhà xuất bản Văn học in
năm 2001 để nghiên cứu
- Các tập thơ Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa của Tố Hữu
Những tập thơ này được sáng tác trải dài từ kháng chiến chống Pháp
(1947) đến kháng chiến chống Mỹ (1977) Chúng tôi chọn tuyển tập Thơ
Tố Hữu của nhà xuất bản Văn hóa – thông tin năm 2002, do chính Tố
Hữu tuyển chọn và biên soạn để nghiên cứu
- Các tập Mẹ và em, Về và các bài thơ hay của Nguyễn Duy đăng trên
trang web thivien.net Đây là các tập thơ được viết trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và thời kỳ đổi mới Chúng tôi chọn nghiên cứu tập thơ
Mẹ và em do nhà xuất bản Thanh Hóa phát hành năm 1986 và tập Về
được đăng trên trang web thivien.net
Sở dĩ chúng tôi chọn các tập thơ của Nguyễn Bính, Tố Hữu, Nguyễn Duy làm đối tượng khảo sát vì chúng là các tập thơ có giá trị cả
về mặt nội dung cũng như nghệ thuật Hơn nữa, đây cũng là các tập thơ tiêu biểu cho thơ Việt Nam hiện đại có sự ảnh hưởng của ca dao đậm nhất qua các thời kỳ lịch sử (từ phong trào Thơ mới cho đến cuối thế kỷ XX)
Bên cạnh các tập thơ của ba nhà thơ trên được chọn làm đối tượng khảo sát chính, chúng tôi còn sử dụng thơ của nhiều nhà thơ hiện đại khác như Huy Cận, Hoàng Cầm, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Xuân Quỳnh, Nguyễn Khoa Điềm … trong các luận chứng của đề tài nhằm bảo đảm cho các luận điểm đưa ra có tính bao quát và thuyết phục
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là ảnh hưởng của ca dao trong thơ Việt Nam hiện đại trên các phương diện hình thức nghệ thuật bao gồm ngôn ngữ, hình ảnh, biểu tượng, thể thơ và kết cấu
Trang 83 Lịch sử vấn đề
Từ lâu, sự ảnh hưởng của ca dao với văn học viết nói chung, với thơ
ca nói riêng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Ngày càng có nhiều hơn những khám phá, phát hiện mới từ vấn đề này Các công trình nghiên cứu, bài viết thường tập trung vào các vấn đề sau:
3.1 Các công trình nghiên cứu mang tính lí luận chung về ảnh hưởng của văn học dân gian với văn học viết
- Bài viết “Vai trò của văn học dân gian trong văn học Việt Nam nói chung, trong Truyện Kiều nói riêng” [93] của Nguyễn Khánh Toàn
đăng trên tạp chí Văn học, số 11/1965 đề cập đến vai trò của văn học dân gian với văn học viết ở các phương diện sử dụng ngôn ngữ dân tộc, vận dụng thể thơ lục bát
- Chu Xuân Diên, một nhà nghiên cứu văn học dân gian uy tín đã đi tìm những nguyên nhân lý giải cho hiện tượng văn học dân gian xâm
nhập vào sáng tác của các nhà văn, nhà thơ trong bài viết “Nhà văn và sáng tác dân gian” [10] đăng trên tạp chí Văn học dân gian số 1/1966
Các nguyên nhân đó là do những kỷ niệm thời thơ ấu, do sự tự ý thức tích lũy vốn văn học dân gian để phục vụ cho những nhiệm vụ tư tưởng và nghệ thuật sáng tác của mình
- Ông hoàng thi ca Xuân Diệu luôn mang trong mình tâm niệm
“gặp ca dao hay ai đánh rơi thì nhặt lấy ngay về mà cất” Trong bài viết
“Các nhà thơ học được những gì ở ca dao”[84 ] in trên tạp chí Văn học
số 1-1967, ông đã đúc kết ra những điều mình học được của ca dao trong việc sáng tác thơ Đó là học ca dao về sáng tạo hình tượng, về sáng tạo tiếng, chữ; học tính giai cấp, học lập trường của người lao động, học tên đất, tên nước, tên sao, tên cá, tên chim muông, tên hoa cỏ…[84, tr91]
- Lê Kinh Khiên trong bài viết Một số vấn đề lý thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian và văn học viết [41] đăng trên tạp chí
Văn học số 1/1980 đã đề cập đến nhiều vấn đề lí luận giữa hai loại hình
Trang 9văn học này Đó là mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết chịu tác động của các yếu tố như nội dung ý thức hệ, trên bình diện sáng tạo nghệ thuật Ông cũng nhấn mạnh rằng tuy là mối quan hệ hai chiều
nhưng trong thực tế, “văn học dân gian cho nhiều hơn là nhận Vì vậy khi nghiên cứu mối quan hệ này, chủ yếu chúng ta tìn hiểu các ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết” [41, tr76]
- Nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị trong bài viết “Mấy ý kiến về nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học với văn học dân gian” đăng trên
tạp chí Văn học, số 1/1989 cho rằng khi nghiên cứu nguồn gốc dân gian của một tác phẩm văn học (hoặc rộng ra là của một tác giả văn học, một trào lưu văn học) không nên chỉ tìm cách đo lường những ảnh hưởng cụ thể của văn học dân gian trên sáng tác của nhà văn Bởi quan hệ này không chỉ thể hiện ở các “tiếp điểm” có thể cảm nhận được một cách trực quan mà văn học dân gian tác động đến văn học viết còn giống như quy
luật chuyển hóa năng lượng Tác giả còn viết: “không nên đồng nhất vai trò chung của văn học dân gian trên đường tu dưỡng nghề nghiệp của nhà văn và việc sử dụng thực tế những chất liệu và phương tiện nghệ thuật của văn học dân gian trong sáng tác của anh ta” [90, tr53]
Điểm nổi bật của các công trình nghiên cứu trên là đã bước đầu nêu
ra được các tiền đề lí luận cho việc nghiên cứu ảnh hưởng của văn học dân gian với văn học viết ở Việt Nam Từ khơi gợi của các công trình này, những hướng nghiên cứu, những bài viết mang tính chuyên sâu đã ra đời
3.2 Các công trình nghiên cứu viết về sự ảnh hưởng của ca dao với thơ hiện đại trên phương diện hình thức nghệ thuật
- Đặng Văn Lung trong bài viết “Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình” (tạp chí Văn học số 10/1968) sau khi khảo sát một số yếu
tố trùng lặp của ca dao như hình ảnh, kết cấu, ngôn ngữ cũng đề cập đến
Trang 10một số bài thơ hiện đại mượn kết cấu của ca dao để thể hiện những nội dung mới
- Bài viết “ Tìm hiểu những hình thức biểu hiện của tục ngữ, ca dao, dân ca trong thơ ca hiện đại Việt Nam”[91] của Võ Quang Trọng
đăng trên Tạp chí văn hóa dân gian, số 3/1987 đã khảo sát một số bài thơ
từ 1945 – 1985 và tìm ra các hình thức biểu hiện của tục ngữ, ca dao, dân
ca trong thơ hiện đại Việt Nam như kết cấu, cách xây dựng nhân vật trữ tình, sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh của tục ngữ, ca dao, dân ca…
- Phan Thị Diễm Phương khi nghiên cứu “Thơ lục bát ở một thế
hệ nhà thơ hiện đại” đăng trên Tạp chí Văn học số 2/1988 đã có nhiều
kiến giải thú vị về thể thơ, cách ngắt nhịp, hiện tượng tiểu đối của thể thơ truyền thống này trong thơ hiện đại
- Nguyễn Đức Hạnh trong bài viết “Một số biểu tượng thơ dân gian trong thơ Việt Nam hiện đại”[ 26] đăng trên Tạp chí văn học, số
3/2001 đã nghiên cứu ảnh hưởng của các biểu tượng núi sông, thuyền bến, lửa đèn trong ca dao với thơ hiện đại mà chủ yếu là các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ
- Ở bài viết “Tại sao lục bát” [24] in trong Thơ- nghiên cứu, lý
luận, phê bình năm 2003, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Xuân đã
tìm cách cắt nghĩa vì sao dân tộc Việt Nam chọn thể loại lục bát làm phương thức biểu đạt tâm hồn mình Tác giả cũng đưa ra một bản tổng kết sơ lược về lịch sử phát triển của thơ lục bát Thơ sáu tám này bắt nguồn từ ca dao, trở nên trang trọng ở Kiều, mang tính bình dân ở Lục Vân Tiên, phát triển thành nhiều phong cách đa dạng ở Thơ mới, mang tính cổ động quần chúng ở giai đoạn 1945 – 1975 và sau 1975 trở nên bụi bặm, lấm láp với lục bát của Nguyễn Duy, Bùi Chí Vinh
- Hai tác giả Diệu Thúy và Thu Trang trong bài viết “Lục bát Lê Đình Cánh- lục bát chân quê”[ 106] đăng trên báo Thanh Hóa ngày
6/12/2008 lại chú ý đến thơ lục bát thấm đẫm chất quê của Lê Đình
Trang 11Cánh Bài báo có đoạn: “ Đến với bất cứ bài lục bát nào của Lê Đình Cánh cũng thấy thấm đẫm chất ca dao Ấy là thứ thơ được chưng cất từ hồn quê đất nước mà mỗi dòng thơ là một dòng nước mát ngọt ngào và sâu lắng”
Có một điểm đáng lưu ý là khi bàn luận về tác phẩm của ba nhà thơ: Nguyễn Bính, Tố Hữu, Nguyễn Duy, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận thấy
ca dao có vai trò rất lớn trong các sáng tác này
Ngay từ đầu thế kỷ XX khi nhận định về thơ Nguyễn Bính, tác giả
của Thi nhân Việt Nam đã thấy sự quê mùa và chất ca dao trong thơ của
ông Hoài Thanh – Hoài Chân đã viết: “Giá Nguyễn Bính sinh ra thời trước, tôi chắc người đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát
quanh năm” [80, tr369] Năm 1986, trong bài “Thơ Nguyễn Bính” viết
cho lời giới thiệu tập thơ Chân quê, Mã Giang Lân đã phát hiện vết tích
của ca dao trong thơ Nguyễn Bính chính là khả năng sử dụng thủ pháp ví
von so sánh ý nhị, thể thơ lục bát uyển chuyển và “cách trao duyên truyền thống trong ca dao”[51, tr12] Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân
trong bài viết “Sự có mặt của Nguyễn Bính” (trích ở “Nguyễn Bính, thi
sĩ của yêu thương”, NXB Hội nhà văn, 1990) quan tâm đến điệu ru và đến lối thơ “thác lời” của Nguyễn Bính: “Ông rất có tài nhập vai người khác và nói rất đúng giọng của họ…Về mặt này, ông như chuẩn bị sẵn cho mình khả năng hòa lẫn trong vô số tác giả xưa sống giữa dân gian
và để lại những bài thơ trữ tình kiệt tác mà nay ta đành xếp chung vào kho tàng ca dao có lẽ chỉ vì không tìm ra tác giả” [51, tr127] Đoàn Thị
Đặng Hương trong bài viết “Nguyễn Bính, nhà thơ chân quê” (trích
“Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca”, NXB Giáo dục, 1993) đánh
giá thơ Nguyễn Bính đạt tới vẻ trong trắng nguyên thủy, viết như dân
gian mà vẫn là thơ của một nhà thơ mới Tác giả còn nhận ra: “Thi pháp chung của thơ Nguyễn Bính là ông đã xây dựng những cấu trúc thơ đa nghĩa dựa trên thi pháp mang tính cụ thể, giản dị của thi pháp văn học
Trang 12dân gian” [51, tr31] Còn Hà Minh Đức trong bài “Nguyễn Bính, thi sĩ của đồng quê” (trích “Nguyễn Bính – thi sĩ của đồng quê”, NXB Giáo
dục, 1995) thì lại chú ý đến điệu than trong thơ Nguyễn Bính Bài viết,
“Thi pháp dân gian trong thơ Nguyễn Bính” (trích “Thơ mới – bình
minh thơ Việt Nam hiện đại”, NXB Văn học, 1995) của Nguyễn Quốc
Túy đi sâu vào tìm hiểu về các yếu tố như tính dị bản, tính truyền miệng, nhân vật trữ tình, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật, trong
thơ Nguyễn Bính [57, tr192] Đoàn Đức Phương trong bài viết “Thơ Nguyễn Bính với nghệ thuật biểu hiện đậm đà sắc thái văn hóa dân gian” đăng trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 3, 1996 đề cập đến các
hình thức dân gian trong thơ Nguyễn Bính như lối tư duy dân dã, giọng thơ kể lể, sử dụng các đại từ phiếm chỉ, không - thời gian nghệ thuật
mang tính ước lệ [57] Bài viết “Thơ mới và thơ Nguyễn Bính” ( in trong
“Thơ Nguyễn Bính và những lời bình”, NXB VHTT, 1999) của nhà
nghiên cứu Việt Hùng cho rằng Nguyễn Bính có lối tư duy hết sức dân dã tạo cho thơ ông có chất giọng của những thể hát nói cổ truyền dân tộc Cũng theo tác giả, giọng điệu ca dao, dân ca trong thơ Nguyễn Bính còn được biểu lộ ở thơ lục bát và ngôn ngữ trong sáng, giàu màu sắc dân gian, dân tộc
Xung quanh vấn đề ảnh hưởng của ca dao với thơ Tố Hữu cũng có nhiều công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu Năm 1955, trong bài viết bàn luận về tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, nhà thơ Nguyễn Đình Thi cũng chỉ ra nhiều dấu ấn của ca dao, dân ca trong tập thơ này Đó là bài
Voi nghe vang dội tiếng hò của người kéo gỗ Bài Cá nước có tiếng đưa
võng kẽo kẹt của bà ru cháu…Lí giải cho điều này, Nguyễn Đình Thi
viết: “nhờ đi vào quần chúng, Tố Hữu đã tìm được tiếng nói Việt Nam
trong sáng của ca dao” [55, tr68] Khi nghiên cứu về “Lối đối đáp trong
ca dao trữ tình” [35] (Tạp chí Văn học số 9, 1966) nhà nghiên cứu Cao
Huy Đỉnh đã nhận ra “Nhiều bài thơ của Tố Hữu: Trên dòng Hương
Trang 13Giang, Phá đường, Trường tôi, Việt Bắc… đã kết cấu theo lối đối đáp
của ca dao, dân ca[35, tr46] Bài “Phong vị ca dao, dân ca trong thơ Tố Hữu” đăng trên tạp chí Văn học số 11, 1968, Nguyễn Phú Trọng đã khảo
sát một số bài thơ của Tố Hữu để “tìm hiểu ảnh hưởng của ca dao, dân
ca trong thơ Tố Hữu xem Tố Hữu đã học tập và kế thừa vốn cũ như thế nào?” [33, tr185] Tác giả đã phát hiện Tố Hữu sử dụng lối đối đáp giao
duyên quen thuộc ta và mình, cách xây dựng nhân vật, kiểu câu so sánh
ví von của ca dao Bài viết “Vài nét về văn học dân gian Việt Nam” của
Vũ Ngọc Phan viết năm 1977 in trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam chú
ý đến việc Tố Hữu “rất hay dùng ngôn ngữ dân gian và hình tượng nghệ thuật dân gian” nên thơ Tố Hữu rất phổ biến trong nhân dân “người ta ngâm thơ Tố Hữu như ca hát những bài ca dao, dân ca vậy”[67, tr47]
Nghiên cứu về Thi pháp thơ Tố Hữu (in trong Trần Đình Sử tuyển tập,
NXB Giáo dục, 2004), nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cũng nhận định:
“tiếng nói trong thơ Tố Hữu chủ yếu là kết hợp giọng nói thân thương, ân tình của ca dao dân dã với tiếng nói trang nghiêm trầm lắng của thơ ca
cổ điển”[18, tr843]
Tiếp bước các bậc đàn anh, thơ của Nguyễn Duy cũng mang dấu ấn của ca dao rõ rệt Điều này đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu
Lê Quang Hưng trong bài viết “Thơ Nguyễn Duy và ánh trăng”
đăng trên tạp chí Văn học, số 3, 1986 cho rằng Nguyễn Duy đã dựng được các bài thơ gọn, chắc và đặc biệt là hồn thơ, giọng thơ Nguyễn Duy
gần gũi với dân gian [38, tr157] Bài “Ca dao vọng về” trong thơ Nguyễn Duy” (đăng trên tạp chí Văn học số 7, 1998) của Phạm Thu Yến
đề cập đến hiện tượng “tập” ca dao, đặc điểm thi pháp ca dao và khuynh
hướng hài hước trào lộng trong thơ Nguyễn Duy [40] Bài viết “Thơ Việt Nam trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc” của Vũ Văn Sỹ
đăng trên tạp chí Văn học số 12 năm 2000 cũng bàn về thơ lục bát của
Trang 14Nguyễn Duy: “Nguyễn Duy đã sử dụng lục bát để thuần hóa chất liệu cập nhật của đời sống Lục bát trong tay Nguyễn Duy vừa êm ái, vừa ngang ngạnh, vừa quen thuộc, vừa biến hóa, cựa quậy Làm thơ lục bát
đến như Nguyễn Duy có thể xếp vào bậc tài tình” [77, tr74] Nguyễn Duy, thi sỹ thảo dân của Chu Văn Sơn đăng trên Www evan.com.vn
ngày 31 -12 – 2004 là một bài viết rất công phu về con đường thơ của
Nguyễn Duy “Đó là hành trình từ Xó bếp ra Thế giới Từ hạt Cát đến hạt Bụi Hành trình của "giọt nước lìa nguồn ra biển", của "giòng nước
trôi đi giọt nước lại rơi về” [109] Tác giả đã có những so sánh thú vị về
chất dân gian trong thơ Nguyễn Duy và Nguyễn Bính: “Bính muốn giữ nguyên quê mùa, Duy thèm quê mùa thay đổi Bính ái ngại đổi thay, Duy thiết tha đổi mới Bính dị ứng thành thị, Duy hòa đồng thành thị Bính chỉ hồn quê, Duy thêm hồn phố Bính hoài cổ, Duy canh tân Bính nâu sồng, Duy bụi bặm Bính bi, Duy lạc” Ngoài ra, Chu Văn Sơn cũng phát hiện
những đổi mới trong ngắt nhịp, trong cách sử dụng ngôn từ ở lục bát của
Nguyễn Duy Còn bài viết “Một bản sắc đã đến lúc định hình” in trong
Cánh bướm và đóa hướng dương, NXB Phụ nữ, 2006 của Vương Trí
Nhàn là bài phác họa chân dung về nhà thơ Nguyễn Duy Nhà nghiên cứu
cho rằng Nguyễn Duy “khá “ăn chịu” với thơ truyền thống, thơ lục
bát”.[63, tr 356 ] Vũ Thị Mai trong luận văn thạc sĩ văn học “Phong cách thơ Nguyễn Duy”[57] hoàn thành năm 2007 tại trường
ĐHKHXH&NV TP.HCM khi tìm hiểu về phong cách thơ Nguyễn Duy
đã nhận ra dấu vết của ca dao in đậm trong thơ ông qua cách dùng từ láy,
từ phiếm chỉ và nhất là ở thể lục bát
Như vậy, đã có rất nhiều công trình, bài viết đề cập đến sự ảnh hưởng của ca dao với thơ hiện đại Mỗi tác giả đã có những hướng nghiên cứu, tìm tòi khác nhau để đưa ra những ý kiến về vấn đề này Nhưng do tập trung đi sâu vào nghiên cứu một yếu tố hình thức hoặc một
Trang 15tác giả nhất định nên bức tranh chung về sự ảnh hưởng của ca dao với thơ hiện đại chưa hiện lên một cách toàn diện và rõ nét
Đề tài Ảnh hưởng của ca dao trong tác phẩm một số nhà thơ Việt Nam hiện đại với mục đích chính là nghiên cứu ảnh hưởng của ca dao
với thơ Việt Nam hiện đại trên bình diện hình thức nghệ thuật một cách
hệ thống, kỹ lưỡng và vai trò, tác dụng của chúng đối với thơ hiện đại Không dừng lại ở đó, chúng tôi cũng nghiên cứu sự đổi mới, sáng tạo các hình thức truyền thống của ca dao trong thơ hiện đại
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp so sánh, đối chiếu: dùng để so sánh ca dao với
thơ hiện đại để thấy được nét tương đồng và sự cách tân của thơ hiện đại với ca dao
Phương pháp thống kê: dùng để thống kê tần số xuất hiện của
các yếu tố, các câu ca dao trong tác phẩm của một số nhà thơ hiện đại
Phương pháp phân tích: phương pháp này dùng để phân tích
các dẫn chứng cụ thể, nhằm làm nổi bật các luận điểm, luận đề cần triển khai và làm sáng tỏ trong luận văn
Phương pháp hệ thống: đặt các bài ca dao, bài thơ trong mối
tương quan với hệ thống để đưa ra nhận định chính xác và toàn diện
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: sử dụng các tri thức
của các ngành khoa học khác như dân tộc học, ngôn ngữ học, văn hóa học để đưa ra những kết luận chính xác và khoa học
5 Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu những ảnh hưởng của ca dao trong thơ Việt Nam hiện đại trên phương diện nghệ thuật một cách hệ thống
Khẳng định vai trò của ca dao, dân ca với thơ Việt Nam hiện
đại
Trang 16 Khẳng định sự tiếp thu đổi mới của thơ Việt Nam hiện đại làm cho ca dao thêm phong phú, “sống cuộc sống mới” trong mạch sống
hiện đại
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu (12 trang) và Kết luận (3 trang), luận văn gồm
có ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về sự ảnh hưởng của ca dao với thơ
ca Việt Nam hiện đại
Ở chương này, chúng tôi sẽ giới thiệu đôi nét về nội dung và nghệ thuật của ca dao Tiếp đến sẽ là phần nói về vị trí của ba nhà thơ Nguyễn Bính, Tố Hữu, Nguyễn Duy trên thi đàn Việt Nam hiện đại và những nhận định sơ lược về ảnh hưởng của ca dao với thơ hiện đại Sau đó, chúng tôi sẽ trình bày các nguyên nhân dẫn đến sự ảnh hưởng này Đó là
do quy luật kế thừa, do cơ sở xã hội, thời đại, tư tưởng và do những con
đường tiếp xúc và tích lũy vốn ca dao của các nhà thơ hiện đại
Chương 2: Ảnh hưởng của ca dao trong tác phẩm một số nhà thơ Việt Nam hiện đại trên phương diện ngôn ngữ và biểu tượng
Ở phần ngôn ngữ, chúng tôi sẽ giới thiệu hiện tượng “tập” ca dao, cách dùng số từ, đại từ phiếm chỉ, phụ từ, các từ địa danh, địa phương Ở phần hình ảnh và biểu tượng, chúng tôi sẽ nói về hình ảnh, biểu tượng trong ca dao và khảo sát một số hình ảnh, biểu tượng truyền thống trong thơ Việt Nam hiện đại
Chương 3: Ảnh hưởng của ca dao trong tác phẩm một số nhà thơ Việt Nam hiện đại trên phương diện thể thơ và kết cấu
Ở phương diện thể thơ, chúng tôi sẽ trình bày về thể lục bát của ca
dao và ảnh hưởng của thể thơ này trong thơ hiện đại Phương diện kết
cấu sẽ gồm kết cấu đối thoại trong ca dao và kết cấu đối thoại trong thơ hiện đại
Trang 17CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CA DAO VỚI THƠ CA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
1.1 Giới thuyết chung
Ca dao là những vần thơ dân gian cất lên từ ruộng đồng sông nước của dân tộc Việt Nam Những câu ca dao mượt mà đằm thắm đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần người Việt Đó cũng là nơi lưu giữ những giá trị tinh túy nhất của văn học dân gian Việt Nam Cũng như các thể loại văn học dân gian khác, ca dao phản ánh trung thực cuộc sống muôn màu muôn vẻ của nhân dân ta Bước vào thế giới của ca dao, người đọc như đang được đến với cuốn bách khoa toàn thư về xã hội, cảnh vật và con người Việt Nam Ca dao là một kho tài liệu phong phú phản ánh lịch sử, phong tục tập quán của nhân dân Ca dao ghi lại những chiến thắng lẫy lừng trong công cuộc chống ngoại xâm
của dân tộc: “Ai về Biện Thượng, Lam Sơn / Nhớ Lê Thái Tổ chặn đường quân Minh” “Sâu nhất là sông Bạch Đằng / Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan” Ca dao cũng dựng lên bức tranh nhiều màu sắc về đất nước Việt Nam với những cảnh vật hùng vĩ, tươi đẹp: “ Quê em có dải sông Hàn /
Có hòn Non Nước, có hang Sơn Trà” “Đất ta bể bạc non vàng / Bể bạc Nam Hải, non vàng Bồng Miêu” Đi theo những câu ca, chúng ta sẽ biết được nhiều đặc sản của các vùng miền: “Ai qua phố Nhổn, phố La / Dừng chân ăn miếng chả dài thơm ngon / Ngọt thay cái quả cam tròn / Vừa thơm vừa mát hãy còn ở Canh” “The La, lĩnh Bưởi, chồi Phùng/ Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ bên / Hội An bán gấm bán điều / Kiêm Bồng bán vải, Trà Nhiêu bán hàng” Những câu ca dao như thế đã làm
cho người Việt thêm yêu mến và tự hào về tổ quốc mình Nhưng quan trọng hơn cả, ca dao là tiếng hát trữ tình của con người Đó là tiếng hát về
các cung bậc của tình yêu từ hờn ghen, oán trách: “Tằm ơi say đắm nơi đâu / Mà tằm bỏ nghĩa cành dâu không nhìn” “Tưởng giếng sâu em nối
Trang 18sợi dây dài / Hay đâu giếng cạn tiếc hoài sợi dây” “Mình về mình bỏ ta đây / Như con tơ rối gỡ ngày nào xong” “Trách người quân tử bạc tình / Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao” Đến nỗi lòng thương nhớ, chờ mong của những người đang yêu: “Dù ai cho bạc cho vàng / Chẳng bằng trông thấy mặt chàng hôm nay / Dù ai cho nhẫn cầm tay / Chẳng bằng trông thấy mặt ngay bây giờ” “Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi / Như đứng đống lửa như ngồi đống rơm” “Mong người chả thấy người sang / Ngày ngày ra đứng cổng làng ta trông / Con đường xa tít bên sông / Bóng chiều đã xế
mà không thấy người” Hay là lời thề thủy chung, son sắt: “Mặc ai một
dạ đôi lòng / Em đây thủ tiết loan phòng chờ anh” “ Lời thề chứng có nước non / Vàng tan ngọc nát vẫn còn thương nhau” “Yêu nhau chẳng quản đường xa / Đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều” Bên cạnh
những câu dao về tình yêu đôi lứa còn có tiếng hát than thân của những lớp người chịu nhiều đau khổ, tủi nhục trong xã hội cũ Đó là lời than của
cô gái bị ép duyên: “Đường đi những lách cùng lau / Cha mẹ tham giàu
ép uổng duyên con / Duyên sao cắc cớ hỡi duyên!/ Cầm gương, gương tối, cầm vàng, vàng phai” Có khi là lời than của người nông dân nghèo đói: “Gánh cực mà đổ lên non / Còng lưng mà chạy, cực còn theo sau”
Nhưng nhiều khi ca dao chính là lời phản kháng mãnh liệt đòi công lý,
chống các tệ nạn xã hội, các bất công, tiêu cực của xã hội: “Con ơi nhớ lấy câu này / Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan” “Của bụt mất một đền mười / Bụt vẫn còn cười, bụt chửa lấy cho”… Những tiếng hát đó
chứa đựng nhiều nét tiêu biểu của tâm hồn và tính cách của dân tộc ta Nội dung phong phú đó đòi hỏi ca dao cũng phải có các hình thức nghệ
thuật đa dạng, độc đáo: “Với ý nghĩa là thơ theo ý nghĩa đầy đủ của thơ,
ca dao đã vận dụng mọi khả năng của ngôn ngữ dân tộc để biểu hiện một cách chính xác, tinh tế cuộc sống… Thông qua việc sáng tác ca dao, nhân dân đã đưa ngôn ngữ văn học đến trình độ nghệ thuật cao, nhiều
Trang 19khi đạt đến tính trong sáng cổ điển” [35, tr23] Trong ca dao, nhiều câu
có ngôn từ trau chuốt, ý nhị, đầy chất thơ:
Đến đây mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
Nhưng có khi từ những chất liệu bình thường, gần gũi trong đời sống lao động hàng ngày, ca dao đã tạo nên những hình tượng có sức
truyền cảm lớn Hình tượng “nước đổ lỗ vôi” trong câu ca dao sau là một minh chứng: “Yêu nhau chẳng đặng thì thôi, / Cầm bằng nước đổ lỗ vôi,
sá gì” Một câu ca dao tưởng chừng rất dân dã, mộc mạc nhưng ẩn đằng
sau đó là bao tâm tư, tình cảm dồn nén trái ngược nhau Bao công sức vun vén cho tình yêu giống như người cố công sức gánh cho kịp nước đổ vào hố vôi đang sôi Nhưng càng đổ càng mất hút, bao nhiêu nước cũng
không vừa Mấy tiếng thốt “thì thôi” và “cầm bằng” là sự đau xót cho
nỗi mình bị phụ bạc, nhưng đó cũng là tiếng nói của lòng tự trọng, một
lời coi khinh kẻ bạc tình, ích kỉ, tham lam Một tiếng “sá gì” chốt ở cuối
câu cũng vẽ lên một nội tâm vừa phức tạp vừa đã dứt khoát Tất cả những
từ “chẳng đặng”, “thì thôi”, “sá gì” gắn kết với hình tượng trung tâm
“nước đổ lỗ vôi” đã tạo nên một sức biểu hiện mạnh mẽ và đầy ấn tượng
Ca dao còn là nơi khởi phát của lục bát, một thể thơ “mang khuôn mặt rất riêng giữa những khuôn mặt làng văn thế giới, ( ) những đường nét độc đáo mà không tìm thấy ở nơi nào ngoài Việt Nam” [24, tr381]
Thơ lục bát với nhịp điệu nhịp nhàng, uyển chuyển, giãn nỡ linh hoạt về dung lượng biểu hiện đã trở thành phương tiện biểu đạt tâm hồn của người Việt nhiều thế kỷ nay
Trải qua hàng nghìn năm đào thải và chắt lọc, ca dao trở thành một kho báu, một vốn quý của cả dân tộc Ca dao có sức sống mãnh liệt và bền bỉ trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam Ca dao có mặt ở
Trang 20khắp nơi Ca dao xuất hiện trong những lời ru của bà của mẹ đưa em thơ vào giấc ngủ Ca dao xuất hiện trong những bài giảng của thầy cô trong lớp học Ca dao được sưu tầm in trong các tuyển tập đóng bìa vàng, để trang trọng trên các kệ sách Ca dao xuất hiện trên các trang web hiện đại Do đó, ít người Việt Nam nào lại không thuộc vài câu ca dao vì nó gắn chặt với sinh hoạt hàng ngày, gắn chặt với nhận thức cuộc sống, với lời ăn tiếng nói của nhân dân Ai cũng có cảm tưởng rằng mình thông thuộc ca dao vì hàng ngày ít hoặc nhiều đều nghe thấy người khác nói và
ví von bằng ca dao Chính vì vậy mà các tập đại thành của văn học Việt Nam như Quốc âm thi tập, Truyện Kiều, thơ Nôm Hồ Xuân Hương,…đều tiếp nhận các ảnh hưởng của ca dao Ở thơ hiện đại, các nhà thơ đã có nhiều cơ hội tiếp thu, học hỏi nhiều hình thức mới lạ của các nền thơ ca thế giới nhưng các hình thức nghệ thuật ca dao vẫn có sức hút mãnh liệt với họ Hơn nữa, như trên chúng tôi đã đề cập, ca dao chủ yếu là tiếng hát trữ tình của con người, nên là giữa ca dao và thơ hiện đại còn có sự đồng chức năng về mặt thể loại, cả hai đều là thơ trữ tình Cũng
từ sự tương đồng này mà thơ hiện đại chịu ảnh hưởng ca dao nhiều hơn các thể loại văn học dân gian khác
Giai đoạn 1932-1945, phong trào Thơ mới xuất hiện, mở ra thời kỳ mới cho nền thi ca Việt Nam, thời hiện đại Để chống lại sự khuôn sáo của thơ luật Đường đã trở nên già cỗi, các nhà Thơ mới đua nhau đi tìm những hình thức mới lạ từ các nền thơ ca lớn của thế giới Nhưng một số nhà Thơ mới khác mà tiêu biểu là Nguyễn Bính đã đi theo xu hướng ngược lại Đó là tìm về với cội nguồn của văn học dân tộc: “Ông là nhà thơ đầu tiên trên thi đàn thơ hiện đại của thế kỷ này đã dùng hình thức của thơ ca dân gian (đặc biệt của ca dao, dân ca) để chuyển tải nội dung thẩm mỹ của Thơ mới: Nội dung trữ tình cá nhân của một nhà thơ lãng mạn…”[51, tr26] Thơ Nguyễn Bính viết về những đề tài quen thuộc,
phổ biến với mọi người Đó là thiên nhiên cảnh vật làng quê Việt Nam
Trang 21yên ả, tươi đẹp với những đêm hội chèo, đồng lúa, lũy tre xanh hay ngào
ngạt mùi hoa bưởi, hoa cam đưa hương: “Thong thả dân gian nghỉ việc đồng/ Lúa thì con gái mượt như nhung/ Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng/ Ngào ngạt hương em bay, bướm vẽ vòng” [1, tr66] Cảnh vật là cái
nền để nhà thơ bộc lộ cảm xúc với những mối tình quê của những anh trai làng, cô thôn nữ và biết bao tình cảm tốt đẹp khác như tình mẹ con,
vợ chồng, bạn bè, tình yêu quê hương… vẫn luôn sáng lên không vẩn đục trước cát bụi cuộc đời Đi đôi với những đề tài quen thuộc này, Nguyễn Bính cũng biết cách làm cho thơ mình trở nên dễ hiểu, dễ thuộc với mọi người nhờ những bài lục bát gần với ca dao, ngôn ngữ nôm na, dân dã
cùa dân quê: “Láng giềng đã đỏ đèn đâu - Chờ em chừng dập miếng giầu
em sang – Đôi ta cùng ở một làng – Cùng đi một ngõ vội vàng chi anh –
Em nghe họ nói mong manh – Hình như họ biết chúng mình với nhau” [1,
tr5] Chính vì vậy mà nhà nghiên cứu Đoàn Thị Đặng Hương đã nhận định thơ ông viết như dân gian mà vẫn là thơ của một nhà Thơ mới và khẳng định đây là cái tài, cái đặc sắc chỉ một mình Nguyễn Bính có Thơ của Nguyễn Bính mang vẻ đẹp của ca dao nhưng không trở về ca dao theo lối mô phỏng, sao chép Ông đã tìm được ở ca dao những đặc điểm, yếu tố hình thức thích hợp để thể hiện ý tưởng, tình cảm của mình Ông mượn điệu than của ca dao để viết về những số phận tủi cực, đầy nước mắt của những cô gái khi thì phải lỡ bước sang ngang, khi thì phải lấy chồng sớm, khi thì bị người yêu phụ bạc Hoặc dùng những hình ảnh quen thuộc của làng quê như cây bưởi không hoa, lợn không nuôi, đặc ao bèo, giầu không leo giàn để diễn tả nỗi buồn, nỗi mất mát của tình yêu trong tâm hồn con người Việt Nam hiện đại Cất cánh trên nền folklore, Nguyễn Bính đã tạo nên một giọng thơ quê mùa độc đáo làm say đắm bao thế hệ độc giả
Nếu trước Cách mạng tháng tám, Nguyễn Bính là người kế tục xuất sắc nhất những tinh hoa của ca dao thì trong giai đoạn kháng chiến chống
Trang 22Pháp, vị trí này thuộc về Tố Hữu Ông đã biết cách làm giàu cho sáng tác của mình trên mảnh đất màu mỡ của ca dao, từ đó khai thác và khơi nguồn cảm hứng để tạo nên những tác phẩm mới Nhận định về tập thơ
Việt Bắc, GS Hà Minh Đức đã viết: “Trong những năm kháng chiến chống Pháp, thơ phải mang hình thức dân tộc, biết trở về với cái gốc của
ca dao dân ca Việt Bắc có nhiều tiếng ca, hòa điệu trong những bài thơ lục bát nổi tiếng Xuân Diệu đã nhận xét đúng: “Thơ Tố Hữu thành ca dao”[ 37, tr16] Thơ Tố Hữu là tiếng hát say mê của lý tưởng cách mạng
cao đẹp Hồn thơ Tố Hữu luôn hướng đến cái ta chung, lẽ sống lớn, niềm vui lớn của dân tộc và cách mạng Vì vậy, cảm hứng chủ đạo trong thơ ông là cảm hứng lịch sử dân tộc, là vận mệnh của cộng đồng Các nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu thường mang phẩm chất tiêu biểu cho dân
tộc: anh vệ quốc quân, anh giải phóng quân… Tất cả những nội dung trên
được thể hiện qua giọng thơ mang tính chất tâm tình, gần với phong cách
của văn học dân gian Vận dụng kết cấu đối đáp giao duyên, điệu hát ru
mượt mà, ngôn ngữ giản dị nên thơ Tố Hữu mang giọng điệu của tình thương mến, của những cuộc trò chuyện tâm tình, nhắn nhủ Nhiều vấn
đề chính trị khô khan được diễn tả bằng tình cảm của muôn đời như tình
mẹ con: “Con ong làm mật, yêu hoa / Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời / Con người muốn sống con ơi / Phải yêu đồng chí, yêu người anh em” [37, tr325], tình yêu đôi lứa: “Mình đi có nhớ những ngày/ Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù / Mình về có nhớ chiến khu / Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai…”[37, tr236] Do đó, thơ ông thể hiện
những tình cảm lớn nhưng vẫn rất truyền cảm, vẫn dễ nhớ, dễ thuộc và dễ
đi vào lòng người
Bước sang giai đoạn chống Mỹ và thời kỳ đổi mới, nhiều nhà thơ trẻ cũng góp nhặt những tinh hoa của ca dao để làm thơ mình thêm phong phú Trong những gương mặt thơ ấy, Nguyễn Duy nổi lên như một hiện
tượng Thơ ông “đượm tính dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian
Trang 23Lời thơ đơn sơ, gần với khẩu ngữ Tư duy thơ thì hiện đại, hình thức thơ thì phảng phất phong độ cổ điển phương đông [14, tr96] Dù trong thời
chiến hay thời bình, Nguyễn Duy vẫn bắt được cái thần, cái hồn của con người, sự vật và thể hiện chúng rất sinh động trong những bài thơ của mình Nguyễn Duy đặc biệt thành công ở việc vận dụng thơ lục bát của
dân tộc Nhiều bài thơ lục bát của ông “không bị héo đi vì kỹ thuật, vẫn tươi mềm, tự nhiên và cứ như từ trời rơi xuống” [14, tr92]: “Bến Tuần loáng thoáng hàng dâu - Em xa vườn lựu từ lâu lắm rồi - Lối mòn đá cuội rong chơi - Lơ thơ tơ trắng dưới chân đồi hoa mơ – Lan báo hỉ nở tình cờ - Bông ngô đồng rụng xuống bờ Hương giang – Chợ chiều Bến Ngự chưa tan – Ai đi ngược dốc Phú Cam một mình” [14, tr30] Nhiều
bài lại mang màu sắc hiện đại, nghịch ngợm, phá cách cả về nhịp điệu, lối nói và ngôn từ Cái êm đềm, ngọt ngào, mượt mà thường thấy của lục bát không còn nhưng người đọc vẫn tìm được cái thú vị ngụ trong ý,
trong lời: “Kính thưa Thị Nở tuyệt trần – Trăng ngồn ngộn trắng khỏa thân với người – Nhớ không sông ộp oạp xuôi – Gió oằn oại hổn hển trời phù sa” [105] Có thể nói, những bài thơ hay nhất trong trong sự nghiệp
thơ của nhà thơ xứ Thanh đều có dấu ấn của ca dao Ông vừa học hỏi, vận dụng các hình thức ca dao một cách nhuần nhuyễn vừa đổi mới, làm giàu thêm cho những hình thức ấy
Ba giai đoạn với ba nhà thơ tiêu biểu phần nào đã chứng minh ca dao có ảnh hưởng rất lớn đến thơ hiện đại Nhưng sự ảnh hưởng của ca dao với nền thơ ca hiện đại không chỉ gói gọn trong ba nhà thơ này Dấu vết của ca dao còn in rõ ở nhiều tuyển tập thơ, nhiều tác giả thơ Mở nhiều tập thơ, người đọc vẫn thấy bóng hình của ca dao thấp thoáng trên từng trang giấy Đó là thể lục bát truyền thống đã tạo nên nhiều tên tuổi lớn vẫn luôn được trân trọng Phong trào Thơ mới không chỉ có Nguyễn Bính viết lục bát hay mà còn có Huy Cận, Hồ Dzếnh, Bàng Bá Lân, Lưu Trọng Lư Trong một cuộc thăm dò của giáo sư Hà Minh Đức về phong
Trang 24trào Thơ mới, bài thơ lục bát Ngậm ngùi của Huy Cận được bình chọn là
một trong khoảng hơn một chục bài hay nhất của Thơ mới Khi làm
Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam, các nhà biên soạn đã phát hiện ra một
điều thú vị: phần lớn thơ lục bát được làm ở thời hiện đại Điều đó chứng
tỏ thể thơ dân tộc này vẫn có một sức hấp dẫn đặc biệt với các nhà thơ khi họ đã có cơ hội lựa chọn nhiều thể thơ mới mẻ, hiện đại khác Hay đó
là những hình ảnh làng quê Việt Nam có sức lay động nhiều thế hệ như dòng sông, bến nước, cây cau, giàn trầu, đồng lúa, nương ngô vẫn xuất hiện nhiều trên các trang thơ Chỉ nói đến dòng sông đã có rất nhiều bài
thơ hay: Con sông quê hương của Tế Hanh, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Lỗi hẹn sông Cầu của Trương Nam Hương, Những dòng sông của Bế Kiến Quốc, Khúc hát sông quê của Lê Huy Mậu Hay hình
ảnh thuyền bến đã có nhiều trong ca dao nay vẫn thấp thoáng đi về trong
thơ hiện đại với Lời kỹ nữ của Xuân Diệu, Thuyền Trương Chi đang trôi của Vũ Quần Phương, Thuyền và biển của Xuân Quỳnh Những điều
trên cho thấy mỗi nhà thơ đều có ý thức học hỏi ca dao để phát huy thế mạnh của mình
Trong quá khứ, ca dao đã góp phần không nhỏ làm nên các kiệt tác như Truyện Kiều, Thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Lục Vân Tiên… Ngày nay, ca dao đã bồi đắp cho cánh đồng thơ Việt Nam hiện đại thêm màu
mỡ, tốt tươi Sức sống của ca dao trong dòng chảy của nền văn học Việt Nam chưa bao giờ cạn Điều đó là do những nguyên nhân nào?
1.2 Sự ảnh hưởng của ca dao với thơ ca Việt Nam hiện đại là kết quả tất yếu của quy luật kế thừa trong văn học
Văn học dân gian là ngọn nguồn của nghệ thuật ngôn từ
Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều trải qua quá trình sinh ra, tồn tại, phát triển và diệt vong Sự vật mới ra đời thay cho sự vật cũ nhưng cái mới không ra đời từ hư vô mà là trên cơ sở kế thừa nền tảng
của cái cũ Văn học cũng không nằm ngoài quy luật đó: “Văn học dân
Trang 25gian là ngọn nguồn của nghệ thuật ngôn từ nói chung, là cái nôi thơ ca của nền văn học sơ sinh của mọi dân tộc” [90, tr51] Trong thời kỳ đầu
của lịch sử nhân loại, văn học dân gian là duy nhất và lưu hành bằng miệng Đến giai đoạn phát triển cao hơn, con người dùng các ký tự để ghi lại lời nói của mình, văn học viết ra đời Lúc mới ra đời, văn học viết vẫn đơn thuần tồn tại dưới dạng ghi chép các truyện cổ, thơ ca dân gian rồi sau đó phát triển để trở thành một dòng văn học độc lập có đặc trưng thi pháp riêng Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, nước ta bị các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ trước khi có chữ viết riêng nên khi giành được độc lập vào thế kỷ X, nhà nước phong kiến Việt Nam vẫn sử dụng chữ viết cũng như các thể loại văn chương có sẵn của người Trung Quốc trong dòng văn học viết Do viết bằng chữ nước ngoài (chữ Hán) nên chỉ
có một số ít trí thức được học hành mới đọc và viết được loại chữ này Còn lại đa số nhân dân lao động không biết chữ vẫn dùng văn học dân gian để thỏa mãn nhu cầu sáng tác của mình Như vậy, đến giai đoạn này, văn học viết và văn học dân gian cùng song hành tồn tại Tuy nhiên, dù là hai bộ phận của nghệ thuật ngôn từ có sự ra đời và phát triển trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau nhưng văn học dân gian và văn học viết đều có cái chung đó là bối cảnh văn hóa, thực tiễn đời sống dân tộc cũng như đều chịu sự chi phối bởi những quy luật chung của hoạt động sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn từ Vì vậy, giữa văn học dân gian và văn học viết có mối liên hệ tác động qua lại Mối liên hệ tác động này có thể diễn
ra theo nhiều hình thức khác nhau như chuyển hóa, đồng hóa, vay mượn hoặc kế thừa giữa bộ phận này với bộ phận kia Từ câu ca dao:
- Còn duyên như tượng tô vàng Hết duyên như tổ ong tàn ngày mưa
Nguyễn Trãi đã sáng tạo nên những câu thơ đầy triết lý trong Quốc âm thi tập:
Trang 26- La ỷ dập dìu, hàng chợ họp Cửa nhà bịn rịn, tổ ong tàn
Ca dao có câu: “Thật vàng chẳng phải thau đâu/ Đừng đem thử lửa
mà đau lòng vàng” thì đọc bài 116 ở tập Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi cũng gặp ý này: “Ngọc lành, nào có tơ vết/ Vàng thật, âu chi lửa thiêu”
Ca dao có câu:
Đầu năm ăn quả thanh yên Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng
Vì cam cho quýt phải lòng
Vì em nhan sắc cho lòng anh thương
Nguyễn Du đã mượn để miêu tả hoàn cảnh lẽ mọn của Kiều với Thúc Sinh:
- Đôi ta chút nghĩa đèo bòng, Đến nhà, trước liệu nói sòng cho minh [11, tr124]
Hoặc câu thơ miêu tả quyết tâm tìm Kiều của Kim Trọng: “Rắp mong treo ấn từ quan/ Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng qua” được rút ra từ câu ca dao: “Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo/ Thất bát sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua”
Trong khi đó nhiều câu ca dao cũng được nhân dân ứng tác dựa trên Truyện Kiều:
Dứt tình kẻ ở người đi Cũng như Kim Trọng biệt ly Thúy Kiều
Có điều này bởi Truyện Kiều đã trở thành tài sản chung của cả dân tộc Những nhân vật này với nhân dân không chỉ nằm trong sách vở mà
là những con người có da, có thịt, đang sống cuộc sống ở quanh họ
Hồ Xuân Hương cũng thường khai thác và sử dụng các câu ca dao
trong thơ mình Ca dao viết: “Không chồng mà chửa mới ngoan/ Có chồng mà chửa, thế gian sự thường” Cũng từng ấy ý, Xuân Hương đã
Trang 27dọn lại thành một câu sắc gọn, hết sức có cá tính để làm câu kết cho bài
thơ Không chồng mà chửa: “Không có, nhưng mà có, mới ngoan”
Khởi điểm của văn học viết là văn học dân gian còn khởi điểm của
thơ Việt Nam chính là ca dao, tục ngữ: “ngạn ngữ, phong dao thực là cái tảng móng tinh túy cho nền quốc học của ta, dù ta muốn thâu thái bao nhiêu tài liệu kiểu mẫu về học thuật thế giới để xây dựng nên cái lâu đài văn hóa hoàn toàn tốt đẹp cho ta thế nào, thì trước cũng phải trông vào cái tảng móng ấy có vững vàng mới được[39,tr77] Ca dao là bộ phận thơ
ca trữ tình dân gian truyền thống và đặc sắc nhất của dân tộc ta Hơn thế nữa, ca dao đã đảm nhiệm một sứ mệnh quan trọng trước lịch sử dân tộc,
sứ mệnh gìn giữ tiếng Việt Nước Việt đã bao lần bị các thế lực ngoại bang lớn mạnh xâm chiếm và tìm cách đồng hóa Nhưng các âm mưu này lần lượt thất bại bởi trong khi mất nước, dân tộc ta vẫn giữ được chìa khóa mở cửa tự do, đó là ngôn ngữ của dân tộc Suốt thời kỳ trung đại, người Việt Nam không có chữ viết riêng, vẫn phải dùng Hán tự trong các văn bản hành chính nhà nước và sáng tác văn chương ở dòng văn học viết Nhưng tiếng Việt vẫn tồn tại trong lời ăn tiếng nói của nhân dân Nhân dân lao động dùng tiếng mẹ đẻ của mình để sáng tác và lưu truyền dòng văn học dân gian đã tồn tại lâu đời Ca dao sinh ra từ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, được sáng tác bằng ngôn ngữ dân tộc của quần chúng lao động Thể loại thơ trữ tình dân gian này được nhân dân lưu giữ, gọt rũa theo dòng thời gian Từ ca dao, tiếng Việt ngày càng trong sáng, giàu đẹp hơn Ca dao lại thường dùng thể thơ chủ yếu là lục bát, một thể thơ không có trong văn học Trung Quốc, nhưng lại phổ biến trong văn học của dân tộc Việt và các dân tộc ở vùng Đông Nam Á Chính vì những yếu tố trên, ca dao là bộ phận văn học có tính dân tộc sâu sắc, là nguồn cội cho thơ ca dân tộc kế thừa và phát triển Do vậy, các nhà thơ hiện đại
đã tìm đến ca dao như là tìm về cái gốc rễ của văn học truyền thống để
Trang 28chiếm lĩnh các kinh nghiệm sáng tạo của dân tộc mà lớp người đi trước
để lại
Kế thừa trong văn học là quy luật tất yếu
Giống như mọi sự vật khác, các thời đại sau của văn học cũng luôn
có sự kế tục, kế thừa những thành quả văn nghệ của thời đại trước Kế thừa là sợi dây liên kết cái cũ và cái mới, quá khứ với hiện tại Quá khứ không bao giờ biến mất hoàn toàn Trong dòng chảy vô tận của thời gian, những nhân tố của quá khứ sẽ để lại dấu ấn nhất định ở hiện tại Những nhân tố của quá khứ sẽ tham gia vào việc tạo lập cái hiện tại, tạo nên sợi dây liên hệ sinh động giữa quá khứ và hiện tại Tác phẩm là vấn đề trung tâm của văn học Không có tác phẩm thì không thể nói đến giai đoạn, trào lưu và rộng ra là nền văn học Nhưng tác phẩm của mỗi tác giả không phải chỉ là tài sáng tạo của riêng bản thân người nghệ sĩ Thực tiễn
đã chứng minh bất cứ nhà văn nào khi sáng tác cũng chịu ảnh hưởng của bầu khí quyển văn hóa, văn học dân tộc Ngay từ khi còn nằm nôi, anh ta
đã được tiếp xúc với lời ru, các truyện kể dân gian của bà, của mẹ Theo năm tháng, anh ta sẽ được tiếp xúc với các mẫu mực sáng tạo khác của dân tộc và nhân loại Nghiễm nhiên khi sáng tác, các mẫu mực ấy sẽ đọng lại trong tác phẩm của người nghệ sĩ và cùng với sự lao động nghệ thuật miệt mài của mình, anh ta sẽ tạo nên những giá trị mới Làm được điều đó, tác phẩm của anh ta sẽ tiếp tục được đời sau lưu giữ, kế thừa Sự
kế thừa này diễn ra ở tất cả các thể loại của văn học Truyện Kiều trở thành kiệt tác không chỉ ở tài thiên bẩm của riêng cá nhân Nguyễn Du mà còn là sự kế thừa của cả truyền thống văn học dân tộc từ ca dao đến truyện Nôm bình dân Đến lượt nó, Truyện Kiều lại trở thành một mẫu mực cho các sáng tác của đời sau Thơ Nguyễn Bính được đông đảo công chúng mến mộ và có sức sống lâu bền cũng bởi nó là sự kết tinh giữa sự
kế thừa truyền thống thơ ca lâu đời của dân tộc và sự sáng tạo tài hoa của bản thân thi sĩ Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp tạo được tiếng vang trên
Trang 29văn đàn trong và ngoài nước cũng chính là nhờ ông đã kế thừa truyền thống sáng tác của dân tộc Nhiều yếu tố hoang đường, kỳ lạ của truyện
cổ tích được nhà văn sử dụng làm cho truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp vừa hiện đại vừa đậm chất dân gian
Sự kế thừa trong văn học diễn ra ở cả nội dung và hình thức
Sự kế thừa có thể ở phương diện nội dung như đề tài, chủ đề, tư tưởng, quan niệm Chủ nghĩa yêu nước, chủ đề xuyên suốt trong văn học Việt, xuất phát từ nhu cầu chống ngoại xâm của dân tộc ta Hay tiếng hát than thân là một trong những nội dung trữ tình nổi bật của ca dao cũng cũng luôn được văn học viết kế thừa Đó là lời than cho chung cho “phận
đàn bà” trong Truyện Kiều: “Đau đớn thay phận đàn bà – Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” [53, tr348] Hay là tiếng than thương cho thân
phận trôi dạt trong đường đời dài đằng đẵng của Nguyễn Bính:
Thày đừng nhớ, mẹ đừng thương Cầm như đồng kẽm ngang đường bỏ rơi ! Thày mẹ ơi, thày mẹ ơi
Tiếc công thày mẹ đẻ người con hư ![ 1, tr70]
Sự kế thừa không chỉ ở nội dung mà còn ở phương diện hình thức như thể thơ, biểu tượng, ngôn ngữ, các phương thức chuyển nghĩa Lục bát, một thể thơ linh hoạt về nhạc điệu, hay nói như nhà thơ Nguyễn Đình
Thi thì nó “có khả năng dung được nguồn cảm hứng tràn lan” và có
“sức lôi cuốn như một dòng sông” không phải ngẫu nhiên trở thành một
thể thơ truyền thống của dân tộc được nhiều thế hệ nhà thơ sử dụng Lục bát đã kết tinh giá trị ở ca dao, trở thành đỉnh cao với Truyện Kiều và tiếp tục được kế thừa, phát triển bởi các nhà thơ hiện đại như Nguyễn Bính,
Tố Hữu, Nguyễn Duy Xuất hiện nhiều như vậy nhưng lục bát vẫn luôn
được độc giả yêu thích bởi nó “mang theo dư vang của câu ca, điệu hò, các hình ảnh cây đa, bến nước, con đò…gợi những hằng số tình cảm tích
tụ tự bao đời” [56, tr57]
Trang 30 Kế thừa đi đôi với chọn lọc cái cũ
Một tác phẩm văn học, một giai đoạn văn học hay thời đại văn học mới là sự phát triển tiếp tục của những cái cũ trên cơ sở gạt bỏ những cái lỗi thời, lạc hậu đồng thời chọn lọc, giữ lại những giá trị đã được thừa nhận và bổ sung thêm những giá trị mới Phong trào Thơ mới ra đời đã tạo nên một cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam Nhưng không phải các nhà Thơ mới chối bỏ hoàn toàn giá trị, thành tựu thơ ca của dân tộc
Họ chỉ loại bỏ những gì không còn phù hợp với thời đại của mình nữa Các nhà Thơ mới chống lại cái khuôn sáo cứng nhắc về hình thức cũng như về nội dung của thơ Đường luật nhưng lại tiếp thu học hỏi những giá trị đã kết tinh trong thơ ca truyền thống của dân tộc Trong Thơ mới, người đọc vẫn thấy phảng phất âm hưởng trang trọng, đài các của thơ cổ điển, sự hồn nhiên, mộc mạc của ca dao Đi cùng với tìm tòi những hình thức biểu hiện mới thì các nhà Thơ mới cũng chịu khó xử lí lại các hình thức thơ ca truyền thống của dân tộc như lục bát, tứ tuyệt… Nhưng nói giai đoạn văn học mới là sự phát triển trên cơ sở cái cũ không có nghĩa là tác phẩm văn học, giai đoạn văn học sau cao hơn và có giá trị hơn tác phẩm, giai đoạn văn học cũ Trong văn học, cái mới không thay thế hoàn toàn cái cũ như trong các lĩnh vực khoa học khác Ở vật lý chẳng hạn, khi đèn điện được phát minh thì thay thế hoàn toàn đèn dầu Còn trong văn học thì hiện tượng này không xảy ra Thơ Nôm Hồ Xuân Hương không thay thế thơ Nôm Nguyễn Trãi và đến thời hiện đại cũng vậy, văn thơ cách mạng không thể thay thế Phong trào Thơ mới, cũng như thơ Nguyễn Bính không thay thế ca dao Cả hai đều có giá trị tự thân, không có cái nào thay thế cái nào
Kế thừa đi liền với sáng tạo
Kế thừa không phải là sự rập khuôn máy móc, giản đơn Bởi kế thừa chỉ có giá trị khi nó là tiền đề cho sự ra đời của cái mới Do đó, kế thừa phải đi liền với đổi mới, sáng tạo để tạo ra các giá trị nghệ thuật không
Trang 31lặp lại Có thể lấy minh chứng điều này qua việc tìm hiểu ảnh hưởng của
ca dao ru con trong một số tác phẩm của các nhà thơ hiện đại Ca dao ru con là phần lời của các bài hát ru, thường dùng để đưa các em bé vào giấc ngủ Vì vậy, chúng thường có nhạc điệu chậm rãi, nhẹ nhàng, êm ái
và lắng đọng Trong sáng tác của nhiều nhà thơ hiện đại, người đọc cũng bắt gặp giọng điệu quen thuộc của hát ru Những làn điệu hát ru đã được chuyển hóa thành giọng điệu riêng của mỗi nhà thơ Từ điệu hát ru con nguyên thủy đến điệu ru ở mỗi bài thơ đã mở ra những sắc thái, biên độ khác nhau của tình cảm và nhạc điệu Đó có thể là lời nhắn gửi đầy nước
mắt của người con gái phải Lỡ bước sang ngang: “Em ơi! Em ở lại nhà/
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương/ Mẹ già một nắng hai sương/ Chị đi
một bước trăm đường xót xa”[1, tr35] Lời bà ru cháu trong bài Cá nước
của Tố Hữu lại là lời ru về tình yêu quê hương đất nước, về tinh thần đấu
tranh bảo vệ Tổ quốc: “Cháu ơi cháu lớn với bà/ Bố mày đi đánh giặc xa
chưa về” [37, tr188] Tiếng ru là lời khuyên người ta phải biết đến tình
yêu lớn, tình yêu đồng bào, đồng chí: “Con ong làm mật yêu hoa/ Con cá bơi, yêu nước; con chim ca, yêu trời/ Con người muốn sống con ơi/ Phải
yêu đồng chí yêu người anh em”[37, tr325] Trong bài Lời ru con cò
biển của Nguyễn Duy, lời ru chất chứa những chua xót, lo lắng cho loài
cò đang bị xâm phạm môi trường sinh thái: “Đáy giăng, lưới quét, sóng chồm/ Lấy ai làm bạn sớm hôm với cò / Mai rồi lại hát ầu ơ/ Con cò lặn lội bên bờ đại dương” [14, tr32]
Ngoài ra, người đọc còn gặp những lời ru khác nhau trong nhiều bài
thơ của các tác giả khác Bài Ngậm ngùi của Huy Cận là lời ru dành cho
người vợ mà ông rất mực thương yêu: “Sợi buồn con nhện giăng mau/
Em ơi! Hãy ngủ anh hầu quạt đây ( )/ Tay anh em hãy tựa đầu/ Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi”[104] Tiếng hát ru của người mẹ vùng
cao trong thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ để ru con ngủ mà còn là tình cảm, là ước mơ của người mẹ với cách mạng:
Trang 32Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi
Mẹ thương a kay, mẹ thương bộ đội Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần Mai sau khôn lớn vung chày lún sân [79, tr649]
Với nhà thơ nữ Xuân Quỳnh, những bài thơ được lấy cảm hứng từ
lời ru xuất hiện khá nhiều Chị không những ru con (Ngủ nào ngủ ngoan, Lời ru của mẹ, Lời ru trên mặt đất) mà còn ru người yêu: Ngủ đi, người
của em yêu/ Ngủ đi vầng trán yêu thương[95, tr35] và Hát ru chồng những đêm khó ngủ:
- Anh không ngủ được ư anh?
Để em mở quạt, quấn mành lên cho .Ngủ đi em khép cửa phòng
Để em lên gác trông xem thế nào .Khuya rồi anh hãy ngủ đi
Để em trở dậy em che bớt đèn [ 95, tr44 –tr45]
Đằng sau những lời ru dành cho chồng, cho con ấy còn chất chứa bao điều muốn nói của nhà thơ với cuộc đời Điều đáng nói hơn cả là Xuân Quỳnh đã thành công khi chọn lời ru làm phương tiện thơ ca để biểu hiện tâm hồn đầy yêu thương và giàu đức hy sinh của mình
Trải qua hàng ngàn năm, ca dao chính là nơi tích tụ những kinh
nghiệm sáng tạo thơ trữ tình của dân tộc Việt Nam Do đó, các nhà thơ hiện đại luôn có ý thức kế thừa, chuyển hóa những kinh nghiệm sáng tác dân gian vào các tác phẩm của mình
1.3 Cơ sở xã hội, thời đại, tư tưởng quyết định tới sự ảnh hưởng của
ca dao với thơ ca hiện đại
Các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về văn hóa văn nghệ
Trang 33Văn nghệ là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng Ngoài chịu sự chi phối của cơ sở hạ tầng, văn nghệ còn có mối quan hệ ràng buộc với các hình thái ý thức xã hội khác như khoa học, triết học, đạo đức, Trong các hình thái ý thức xã hội, chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng với văn học Tùy theo giai đoạn lịch sử, chính trị có thể tiến
bộ hoặc phản động và quan hệ giữa văn học với chính trị không phải lúc nào cũng thuần nhất một chiều Có những giai đoạn lịch sử, văn nghệ quay lưng lại với chính trị Ngược lại, có những giai đoạn lịch sử, văn nghệ lại nhiệt thành cổ vũ, phục vụ chính trị Từ sau Cách mạng tháng Tám, quan hệ giữa văn nghệ và chính trị nằm trong vế thứ hai này Do vậy, sự phát triển về nội dung cũng như hình thức của văn nghệ nói chung, của thơ ca nói riêng gắn chặt với đời sống chính trị và vận mệnh của đất nước
Sau cách mạng tháng Tám, nhiệm vụ thiết yếu nhất của dân tộc Việt
Nam là kháng chiến cứu quốc nên Đảng chủ trương: “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến” Đảng đã vạch ra bản chất của nền văn hóa mới Việt Nam như sau:“Chống tính chất xa cách nhân dân, phản lại quần chúng của văn hóa thống trị ở nước ta trước đây và trong vùng địch tạm chiếm hiện nay, văn hóa dân chủ mới Việt Nam phải là văn hóa đại chúng Nó phục vụ nhân dân, phục vụ số rất đông người Nó chống lại quan điểm cho rằng văn hóa là siêu phàm, càng cao càng quý, càng khó càng hay” [5, tr543] Vì vậy, Đảng và nhà nước khuyến khích các
văn nghệ sĩ hòa nhập và tìm hiểu về cuộc sống, về sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của nhân dân, đặc biệt là tìm hiểu nghiên cứu văn học dân gian và ứng dụng chúng vào sáng tác Nhiều văn kiện của các nhà lãnh đạo Đảng
và nhà nước đã đề cập đến vai trò của văn học dân gian cũng như thái độ của văn nghệ sĩ với truyền thống văn học này Trong Báo cáo tại hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai, tháng 7/1948, Trường Chinh đã vạch rõ:
“Bên cạnh nền văn hóa chính thống của các thời đại, có cả một nền văn
Trang 34hóa nhân dân còn lưu lại trong phương ngôn, ngạn ngữ, ca dao, truyện
cổ tích, tranh gà lợn,v.v Đó là một kho tàng rất quý mà các nhà văn hóa, sử học và khảo cổ học nước ta còn phải dày công tìm bới mới hiều
biết hết được”[5, tr514 – tr515]
Phạm Văn Đồng, một nhà lãnh đạo đồng thời cũng là một nhà văn
hóa lớn của dân tộc, thường khuyên các nhà thơ “Phải chọn những hình thức quen thuộc với quảng đại quần chúng nhân dân, không ngại dùng những hình thức cổ truyền đã được thử thách” [16, tr201]
Trong Thư gửi hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai, Hồ Chủ
tịch đã viết: “Chúng ta cần phải xây đắp một nên văn hóa kháng chiến, kiến quốc thiết thực và rộng rãi, để giúp sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của toàn dân Muốn đi đến kết quả đó, thiết tưởng các nhà văn hóa
ta cần tổ chức chặt chẽ và đi sâu vào quần chúng” [13, tr55] Và tại hội nghị cán bộ văn hóa năm 1958, Bác lại nhấn mạnh: “Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay mà lại ngắn, chứ không “trường thiên đại hải”, dây cà ra dây muống Cán bộ văn hóa cần phải giúp đỡ những sáng tác của quần chúng Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý.” [13, tr86]
Các vị lãnh tụ ra sức kêu gọi các văn nghệ sĩ sử dụng những hình thức cổ truyền của văn học dân gian một mặt vì chúng đã có sẵn một lực lượng công chúng đông đảo Bởi trước Cách mạng tháng Tám, đa số nhân dân lao động vẫn không biết chữ, văn chương lưu hành trong nhân dân vẫn là văn học dân gian theo con đường truyền miệng Còn các sáng tác của các văn nghệ sĩ chuyên nghiệp thường tách rời với đời sống nhân dân nên ít được quần chúng biết đến Mặt khác, đây cũng là bộ phận văn học có tính dân tộc nhất, ít mang yếu tố ngoại lai Do đó, việc đề cao
những giá trị của văn học dân gian để “hướng việc xây dựng và phát triển nền văn nghệ mới theo con đường tiếp thu và phát huy những truyền
Trang 35thồng tốt đẹp của dòng văn nghệ dân gian ấy, là một nhiệm vụ quan trọng và có tính chất tất yếu” [39, tr84]
Các nhà thơ hòa mình vào đời sống, sinh hoạt văn nghệ của nhân dân
Những định hướng của Đảng, của lãnh tụ đối với các sáng tác của văn nghệ sĩ giống như kim chỉ nam về mặt lý luận cho các văn nghệ sĩ tìm hiểu và học tập các sáng tác văn học dân gian và làm cho các tác phẩm mang ảnh hưởng của văn học dân gian xuất hiện ngày càng nhiều Các nhà văn, nhà thơ thay vì chỉ sống và làm thơ văn chuyên nghiệp ở các thành thị nay đã tỏa đi khắp đất nước để thâm nhập, tìm hiểu đời sống của nhân dân Chính trong những chuyến đi cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt văn nghệ với quần chúng nhân dân, họ đã thấy được vai trò to lớn và tài năng sáng tạo nghệ thuật của quần chúng nhân dân Cũng từ đây, các nhà thơ phát hiện ra những vốn cũ dân tộc vô cùng phong phú, đặc biệt là
ca dao, tạo nguồn cảm hứng dồi dào cho mạch thơ của họ tuôn chảy tự nhiên, đầy hơi thở cuộc sống đời thường Trong bài nhận định, phê bình
về tập thơ Việt Bắc, nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã kể lại không khí cùng
sống cùng chiến đấu với nhân dân của nhà thơ Tố Hữu như sau: “Chiến thắng Việt Bắc của bộ đội và nhân dân ta đã làm cho Tố Hữu tạo nên được một chiến thắng Việt Bắc trong thơ Anh viết liền một hơi những bài
Bà mẹ Việt Bắc, Lượm, Bầm ơi, Những con người thực, những sự việc thực của đời sống hàng ngày lúc đó như một luồng sống ào ạt thổi vào tâm hồn anh, làm nảy lên những bài thơ như “măng mọc sau mưa xuân”[55, tr61] Ông còn khẳng định thêm :“cũng nhờ đi vào quần chúng, cố gắng nói tiếng nói của quần chúng, Tố Hữu đã tìm được tiếng nói Việt Nam trong sáng của ca dao” [55, tr 68]
Chính nhà thơ Xuân Diệu, người được mệnh danh là “mới nhất trong những nhà Thơ mới” [80, tr132] vì những vần thơ quá Tây của ông
trong phong trào Thơ mới, sau khi tham gia cách mạng và sống cùng
Trang 36nhân dân đã thừa nhận: “Làm nghề gì, lo nghề ấy Làm thơ, mà không nghe, học ca dao từ thuở mới biết khôn thì, như lời Khổng Tử: “Không học Kinh Thi lấy gì mà nói?”, không học ca dao từ nhỏ, thì làm sao cho giỏi đuợc thơ”.[84, tr86]
Với tâm thế ấy, đi suốt dọc chiều dài đất nước, ông đã “mang sẵn ý thức gặp ca dao hay ai đánh rơi thì nhặt lấy ngay về mà cất” [84, tr86]
và đã được “những cái sung sướng thật thú vị của thơ” [84, tr86] Qua
những trải nghiệm của bản thân, thi sĩ đã đúc kết:
Bản thân tôi học ca dao về sáng tạo vần, về sáng tạo hình tượng, về sáng tạo tiếng, chữ Học cái ngắn của ca dao Học cái tính lưu truyền của ca dao Chớ nghĩ rằng: ca dao câu nào cũng hay Thật ra câu nào còn lưu truyền được đến ngày nay là đã trải qua một cuộc đào thải tự nhiên gắt gao, khe khắt Những người làm thơ nên học tập những câu ca dao còn truyền lại, nghiên cứu xem tại sao vượt được hàng nghìn năm?[84, tr92 – tr93]
Những tâm sự gan ruột của nhà thơ lớn càng thổi bùng lên ngọn lửa
đã được nhen từ các nhà lãnh tụ về việc học tập ca dao trong sáng tác của các nhà thơ Có thể nói, chưa bao giờ trong lịch sử thơ ca Việt Nam mà
ca dao lại ảnh hưởng rộng rãi và sâu sắc đến sáng tác của các nhà thơ như thế Từ những vần thơ của các cây đại thụ trong làng thơ như Nguyễn Bính, Tố Hữu đến các sáng tác của những người mới bước chân vào làng thơ như Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Trần Đăng Khoa đều vang vọng của những câu ca dao quen thuộc Ai ai cũng có ý thức “nhặt” những cái hay của ca dao để gom góp cất vào thơ mình Người thì mượn thể thơ, người thì mượn ngôn ngữ, người thì mượn biểu tượng, kết cấu của ca dao để thể hiện cảm xúc, tình cảm của mình Tuy nhiên, không phải chịu ảnh hưởng của ca dao thì thơ của nhà thơ nào cũng giống như nhà thơ nào Ca dao chỉ đóng vai trò là các phương tiện, chất liệu để các nhà thơ vẽ những bức vẽ của riêng mình
Trang 371.4 Những con đường tiếp xúc và tích lũy vốn ca dao của các nhà thơ
Các nhà thơ tiếp xúc với ca dao từ thời thơ ấu
Kí ức tuổi thơ có vai trò quan trọng tạo nên phong cách của nhà thơ Nhìn lại các tác giả chịu ảnh hưởng ca dao sâu sắc thì họ đều có tuổi thơ gắn liền với ca dao Ngược thời gian trở về thế kỷ 18, kiệt tác Truyện Kiều có ngôn ngữ thơ ca gần gũi với ca dao chính vì từ bé Nguyễn Du đã được tắm hồn mình trong lời ru, lời ca của mẹ Mẹ Nguyễn Du quê ở vùng quan họ Kinh Bắc nên những câu quan họ mượt mà, những lời ru đằm thắm đã ghi dấu trong ông sâu sắc Rồi sau này, khi tránh loạn kiêu binh, về sống ở quê vợ và quê cha, nhà thơ đã có dịp tiếp xúc, tham gia vào các buổi sinh hoạt văn hóa dân gian làm cho nguồn ca dao, dân ca càng ngấm sâu vào tâm hồn Tố Như Đầu thế kỷ XX, cái duyên đưa Tản
Đà bén và kết văn học dân gian chính là từ những đêm đi nghe hát chèo,
đi dự các cuộc hát ví từ thời còn ham bắt chuồn chuồn và để trái đào “Từ ngày đó, văn học dân gian cứ len mãi vào cuộc đời Tản Đà, làm rung động tình cảm hồn thơ, gây một ảnh hưởng tích cực và quyết định đối với văn nghiệp của thi sĩ” [84, tr450] Nguyễn Bính sinh ra trong một gia
đình nhà nho nghèo ở nông thôn Ông không được đến lớp, phải học ở nhà với cha, rồi sau được cậu ruột nuôi dạy Cả tuổi thơ Nguyễn Bính đã tiếp thu sâu sắc tinh hoa của văn minh thôn dã, văn hóa xóm làng Vì vậy, thơ ông mang hơi thở của thôn quê, của ca dao là điều tự nhiên Tố Hữu từ thuở nhỏ đã được thừa hưởng kho tàng ca dao của mẹ, con gái của cụ Tú ở làng quê thuộc nhiều ca dao, tục ngữ Lên bảy tuổi, ông là người chép ca dao, tục ngữ cho người cha say mê sưu tầm văn hóa dân
gian của dân tộc Sau này, trong bài viết “Câu chuyện về thơ”, nhà thơ
Trang 38tâm sự: “Hồi ấy, tôi cho đó là một việc đáng sợ Ai đời mới bốn giờ sáng
mà ông cụ đã lôi tôi dậy, bắt chép hàng chục câu ca dao vào kho sách cứ dày lên mãi Ấy thế mà rồi quen đi, tôi dần dần nhớ đến thuộc lòng câu hát cũ, cho đến khi lớn lên, những tiếng, chữ, âm điệu ấy cứ ngân nga mãi trong lòng [46, tr6] Còn nhiều người khi đọc các tập thơ của Nguyễn Duy cũng băn khoăn tự hỏi vì đâu mà ông lại “chuyên trị thể lục bát và vận dụng ca dao vào thơ mình thần sầu như vậy”[64] Nhưng nếu
chịu khó ngược dòng thời gian, tìm về với tuổi thơ của nhà thơ mang
“chút sóng chút gió” của dòng sông Mạ này thì câu trả lời thật đơn giản
Nguyễn Duy lớn lên trong thời mưa bom bão đạn, vốn văn hóa mà ông lãnh hội đầu tiên không phải từ trường lớp mà chính là những câu hò vè,
ca dao, truyện Nôm của bà, của mẹ Từ đó, ca dao đã trở thành máu thịt của ông rồi
Bên cạnh các nhà thơ trên còn có thể kể đến Xuân Quỳnh Nữ thi sĩ
mồ côi mẹ nhưng lại lớn lên trong tiếng ru, những câu ca dao, truyện cổ của bà của chị Chị tự học làm thơ là chính chứ không phải được đào tạo qua trường lớp chính quy Và vốn ca dao được thấm nhuần từ bé chính là một hành trang quan trọng để chị bước vào làng thơ
Các nhà thơ hiện đại mỗi người một hoàn cảnh sống và tiếp xúc với
ca dao khác nhau nhưng tựu chung lại, ca dao dều đọng lại trong tâm hồn
họ những lớp trầm tích quý báu và là nguồn vốn liếng vô hạn cho sự nghiệp thơ ca của họ sau này
Các nhà thơ tiếp thu ca dao một cách có ý thức
Nhưng để việc tiếp thu ca dao của các nhà thơ trở thành hệ thống thì
họ phải có ý thức trong việc tiếp thu ấy Tùy vào giai đoạn, tùy theo mục đích sáng tạo và phong cách cá nhân mà họ có ý thức tiếp nhận và lựa chọn những tư tưởng, quan niệm cũng như các phương thức biểu hiện của ca dao khác nhau Thời Nguyễn Bính sống là thời của phong trào Âu hóa đang diễn ra rầm rộ trên tất cả các mặt, các chuẩn mực đạo đức cũng
Trang 39như chuẩn mực thẩm mỹ đều thay đổi Văn học nghệ thuật chịu nhiều
ảnh hưởng phương Tây: “Mỗi nhà thơ Việt hình như mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp” [80, tr42] Trước xu hướng Tây hóa ấy, Nguyễn Bính lại muốn quay về với cội nguồn Trong bài Chân quê, bề nổi là nói
chuyện cô gái quê sau khi đi tỉnh về thì “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”, nhưng bề chìm chính là một tuyên ngôn nghệ thuật của Nguyễn Bính, đó là giữ lấy cội nguồn, giữ lấy truyền thống:
Nói ra sợ mất lòng em Van em em hãy giữ nguyên quê mùa [1, tr55]
Chính vì vậy mà Nguyễn Bính quay về với ca dao để thể hiện tính chất Việt Nam của mình Ông sáng tạo lại những công thức về nội dung cũng như nghệ thuật của ca dao để thể hiện tâm hồn mình Từ những đổ vỡ tình cảm của bản thân, Nguyễn Bính đã chú ý khai thác những nhớ mong, ngang trái, trúc trắc của những tình yêu không thành, một chủ đề quen thuộc trong ca dao truyền thống Những câu thơ của ông như:
-Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một người chín nhớ mười mong một người [1, tr47]
-Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ
Em thử quay xem được mấy vòng [1, tr57]
chính là được thoát thai từ những câu ca dao về tình yêu đôi lứa
Khi Tố Hữu viết tập Việt Bắc, cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra, đòi hỏi nhà thơ phải chọn lựa những hình thức vừa quen thuộc với quảng đại quần chúng nhân dân vừa có giá trị nghệ thuật cao và những hình thức của ca dao đã đáp ứng được điều này Các bài thơ của ông có nội dung mang đầy hơi thở của thời cuộc với những dân công phá đường, anh vệ quốc quân chiếm đồn địch, chú bé liên lạc dũng cảm được thể hiện trong những hình thức quen thuộc của ca dao như hát ru, lối kết cấu đối đáp, các hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ v v Chính vì
Trang 40vậy mà “thơ Tố Hữu phổ biến rất rộng rãi trong nhân dân, người ta ngâm thơ Tố Hữu như ca hát những bài ca dao, dân ca vậy” [67, tr47]
Nhà thơ trào phúng Tú Mỡ cũng nhận thấy ở các sáng tác dân gian như ca dao, tục ngữ, chuyện khôi hài, chuyện tiếu lâm những nghệ thuật
biểu hiện phù hợp với văn phong và tình cảm của mình: “Lời nói của đại chúng chất phác, không úp mở mà bọn phong kiến giả đạo đức cho là tục, nhưng tôi rất ưa thích vì nó nói chua ngoa mới thỏa mãn được lòng căm thù địch” [10, tr131]
Còn nhà thơ Nguyễn Duy, mối duyên nợ của ông với ca dao bắt đầu
khi ông tìm con đường khẳng định tiếng thơ của mình: “Nhớ những ngày đầu dò đường vào làng thơ, Nguyễn Duy ngơ ngác thấy gì cũng lạ, gặp gì cũng kính Năm 1971, nghe đài gặp Hoài Thanh bàn chuyện ca dao hiện đại, trong đầu cậu lính trẻ Nguyễn Duy ghi nhớ mãi câu nói của Hoài Thanh: “Cái gì còn tồn tại đến hôm nay thì hiện đại” Chính câu nói đó của Hoài Thanh góp thêm niềm tin mãnh liệt vào thể thơ lục bát Nguyễn Duy đang làm Vì rằng ca dao chưa bao giờ mất đi, vậy thì lục bát luôn luôn hiện đại”[64] Do đó, nhiều bài thơ lục bát của Nguyễn Duy xuất
hiện không ngừng và các bài thơ hay của ông đều mang hơi thở, dấu ấn của ca dao
Ca dao là bộ phận thơ trữ tình dân gian rất gần gũi và thân thuộc với người dân Việt Nam Ca dao là nơi lưu giữ những tâm tư, tình cảm, tư tưởng của nhiều thế hệ cha ông ta Hơn thế nữa, ca dao còn là nơi gọt rũa những hình thức của văn học dân tộc như ngôn ngữ, thể thơ, biểu tượng ngày càng mẫu mực hơn Do đó, ca dao đã trở thành một nguồn mạch trong trẻo khơi gợi những sáng tác của đời sau, trong đó có thơ hiện đại
Sự tiếp thu, học hỏi ca dao của các nhà thơ hiện đại do nhiều yếu tố chi phối Đó là quy luật kế thừa các thành tựu của thời đại trước trong văn học Sự kế thừa đảm bảo cho quá trình thơ ca phát triển liên tục và là tiền
đề tạo ra những sáng tạo mới Văn học dân gian là cái có trước, văn học