Kết quả của tình hình này là học sinh tốt nghiệp phổ thông không viết được tiếng Việt một cách chững chạc vì những tri thức được trình bày trong sách giáo khoa rất xa với thực tế tiếng V
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
muc
ĐOÀN THỊ PHI YẾN
CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT TRONG THƠ LỤC BÁT CỔ ĐIỂN
VÀ THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI
Luận án Thạc sĩ Khoa học Chuyên ngành Ngôn Ngữ:
Mã số: 504 - 08 Người hướng dẫn Khoa học: PGS CAO XUÂN HẠO
-Thành phố Hồ Chí Minh 1997 -
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐOÀN THỊ PHI YẾN
CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT TRONG THƠ LỤC BÁT CỔ ĐIỂN
VÀ THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI
Luận án Thạc sĩ Khoa học Chuyên ngành Ngôn Ngữ:
Mã số: 504 - 08 Người hướng dẫn Khoa học: PGS CAO XUÂN HẠO
-Thành phố Hồ Chí Minh 1997 -
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Ngữ pháp chức năng với một hệ thống phương pháp tiếp cận các hiện tượng ngôn ngữ phù hợp đang được các nhà ngôn ngữ Việt Nam quan tâm Hệ phương pháp này đã và đang tạo ra một cách nhìn nhận mới trong việc nghiên cứu, mô tả chính xác hơn bản chất tiếng Việt
Đặc biệt với hệ thống lý thuyết khoa học, chặt chẽ, ngữ pháp chức năng đã giúp các nhà Việt ngữ học miêu tả phân tích câu thành cấu trúc đề thuyết
Đề tài luận văn này của chúng tôi trình bày kết quả kháo sát, miêu tả cấu trúc đề thuyết trong thơ lục bát cổ điển và thơ lục bát hiện đại theo quan điểm ngữ pháp chức năng
Do vấn đề còn mới mẻ và tài liệu nghiên cứu ít ỏi nên luận văn chỉ thực hiện ở mức
độ nhất định
Chúng tôi xin được bày tỏ nơi đây lòng biết ơn sâu sắc đối với Giáo sư Cao Xuân Hạo
- người thầy đã đành nhiều thời gian và công sức để hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn
Chúng tôi cũng xin cám ơn sự động viên giúp đỡ của Quí Thầy Cô Khoa Ngữ văn Trường Đại học sư phạm, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và của các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành đề tài
TP.HCM, ngày 15 tháng 12 năm 1997
Trang 4NHỮNG KÝ HIỆU DÙNG TRONG LUẬN VẪN
Trang 5DẪN NHẬP
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1 Ngữ pháp chức năng với sự phát triển đầy hứa hẹn của nó trên thế giới ngày nay đã đem lại cho ngữ pháp tiếng Việt nhiều phát hiện lý thú và bổ ích, góp phần giúp cho việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt khắc phục tình trạng khó khăn hiện nay do việc cố gò theo khuôn mẫu ngữ pháp của một ngôn ngữ khác
"Trong nhiều thế kỷ, các sách ngôn ngữ đại cương đều khái quát hóa những đặc trưng hình thức của ngữ pháp các ngôn ngữ Châu Âu, coi đó là những thuộc tính chung của mọi ngôn ngữ và trong quá trình miêu tả các ngôn ngữ thuộc những loại hình ngôn ngữ khác nhau, người ta cố gò cấu trúc của ngôn ngữ này vào khuôn mẫu của câu trúc ngôn ngữ Châu
Âu Đặc biệt kết cấu chủ ngữ, vị ngữ mà nội dung thực chất là một mối quan hệ hình thái học không biểu hiện một quan hệ nhất định nào về nghĩa và về logic, giữa một danh từ mang danh cách và một động từ "đã chia" phù ứng với danh từ về ngôi và số, được xem là tiêu chí
để phân loại câu trong mọi ngôn ngữ"1
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, không cho thấy một cái gì có thể gọi là chủ ngữ cả, vì tiếng Việt không có cách và không có sự phù ứng về hình thái học Trong tiếng Việt câu chia làm hai phần Đề và Thuyết tương ứng với hai phần của một mệnh đề trong logic học
Hơn nữa, nếu phân tích câu tiếng Việt theo kết cấu chủ - vị thì chỉ phân tích được những kiểu câu giống như câu ngôn ngữ Châu Âu còn những kiểu câu không giống thì phải đảo lại cho giống hoặc xem là câu đặc biệt, còn lại khoảng 80% những câu thường dùng trong tiếng Việt hội thoại cũng như trong văn học cổ điển và dân gian thì hầu như không được đề cập đến Ngay cả trong sách giáo khoa dạy cho học sinh phổ thông, tình hình cũng không khác bao nhiêu Kết quả của tình hình này là học sinh tốt nghiệp phổ thông không viết được tiếng Việt một cách chững chạc vì những tri thức được trình bày trong sách giáo khoa
rất xa với thực tế tiếng Việt và không hoàn toàn phù hợp với cảm thức của người Việt
Trong khi đó, mô hình phân tích câu thành hai phần đề - thuyết cho phép phân tích một cách thỏa đáng và đơn giản hầu hết các kiểu câu một bậc hay nhiều bậc, có những câu có đến bốn năm bậc đề - thuyết mà nếu phân tích theo chủ ngữ, vị ngữ thì không sao phân tích một cách ổn thỏa được
1
Hoàng Xuân Tâm - Bùi Tất Tươm - Nguyễn Văn Bằng - Câu trong tiếng Việt - 1992 - Trang 4
Trang 62 Việc phân tích câu thành cấu trúc đề - thuyết là một việc làm cần thiết trong nhà trường hiện nay Vì ngữ pháp truyền thống không phù hợp với yêu cầu dạy tiếng Việt thực hành trong nhà trường Việc phân tích câu thành câu trúc để thuyết không chỉ giúp học sinh
nắm kiến thức khoa học dễ tiếp thu và ứng dụng cho tiếng Việt mà còn giúp các em sử dụng
tiếng Việt trong giao tiếp một cách chủ động và thích đáng
Chúng tôi vận dụng quan điểm và phương pháp của ngữ pháp chức năng để miêu tả, khảo sát các kiểu câu theo mô hình Đ - T, chủ yếu là trong thơ lục bát cổ điển, hiện đại và dân gian Chúng tôi quan niệm đây là một dịp thử nghiệm nhằm thử thách thêm hiệu lực của thủ pháp phân tích câu theo mô hình Đề - Thuyết trong tiếng Việt nói chung và thơ lục bát nói riêng, một thể thơ có thể coi là phổ thông nhất của văn học Việt Nam Trên cơ sở đó chúng tôi muôn đưa ra một vài nhận xét về sự đồng nhất và khác biệt giữa thơ lục bát cổ điển, dân gian và hiện đại
Ngữ pháp chức năng với tên tuổi của các nhà chức năng luận như L.Tesnier, C.Fillmore, M.Halliday, M.Clark, S.Dik đang tạo ra những hướng đi mới đầy lạc quan cho
sự nghiệp nghiên cứu tiếng Việt
Quan điểm của ngữ pháp chức năng đã có đủ cơ sở để các nhà Việt ngữ học đi sâu
vào việc nghiên cứu tìm hiểu những vấn đề chưa dược quan tâm thỏa đáng Đó là vấn đề cấu
trúc Đề - Thuyết của câu tiếng Việt
1 Cấu trúc thông báo và hai thành phần Đề - Thuyết của câu:
Kể từ Aristote trở đi (thế kỷ thứ V trước Công nguyên) ngôn ngữ học phương Tây thường phân tích câu như gồm có hai thành phần "logic": Chủ ngữ và Vị ngữ Trong một thời gian kéo dài hơn hai mươi thế kỷ, các nhà ngôn ngữ học và các nhà lôgic học yên trí rằng sự phân chia này có hiệu lực trên cả hai bình diện tư duy và ngôn ngữ - và cách suy nghĩ đó khá hợp lý và tự nhiên, vì việc ngôn ngữ sinh ra là để diễn đạt tư duy là một chân lý mà xưa nay chưa hề có ai hồ nghi Nhưng đến một lúc nào đó (cụ thể là vào cuối thế kỷ XIX), các nhà ngôn ngữ học bắt đầu nhận thấy rằng Chủ ngữ trong câu không phải bao giờ cũng trùng với
Chủ ngữ trong mệnh đề và từ đấy họ thấy cần phân biệt Chủ ngữ ngữ pháp với Chủ ngữ
lôgic Năm 1939, một nhà ngôn ngữ học của Trường Prague là V.Mathcsius nhận thấy rằng bên cạnh cách phân đoạn câu thành Chủ ngữ (ngữ pháp) và Vị ngữ, một cách phân đoạn thuần túy hình thức còn có một cách phân đoạn thực tại hơn nhiều: cách phân đoạn thành Đề
và Thuyết (Thema và Rhema) mà nội dung là "cấu trúc thông
Trang 7báo" của câu, phân biệt Cái cho sẵn với Cái mới Năm 1958, một nhà Hán học Mỹ là C.RHockett, tuy không dẫn Mathesius, đã gần như lặp lại lý thuyết Phân đoạn thực tại khi ông phân chia câu ra thành hai phẫn Topic và Comment Từ đấy trở đi, hai khái niệm Đề và thuyết ngày càng trở thành quan thuộc đối với giới ngôn ngữ học, và đến những năm 1970, nhất là sau khi cuốn Subject and Topic do C.Li chủ biên ra đời, người ta đã nhận ra rằng có những ngôn ngữ khó lòng có thể phân tích theo mô hình Chủ - Vị: câu của các ngôn ngữ này cần được phân tích theo mô hình khác: mô hình Đề - Thuyết, mà đa số các tác giả đồng nhất với cấu trúc thông báo
2 Cấu trúc đề - thuyết trong Việt ngữ học:
2.1 Trước đây chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu cấu trúc đề -thuyết của câu một cách có hệ thống, cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt được các nhà Việt ngữ học mô
tả theo mô hình "chủ vị" sở dĩ họ làm được như vậy là nhờ ở chỗ khái niệm chủ ngữ không bao giờ được các tác giả Việt ngữ học định nghĩa một cách hiển ngôn Và đủ chính xác Chủ ngữ được họ đồng nhất với tham tố thứ nhất trong lõi vị ngữ hoặc với một số vai nghĩa được chọn một cách tiên nghiệm
Tuy vậy từ khá lâu đã có những tác giả cảm thấy có một cái gì không thật ổn trong cách phân tích câu tiếng Việt theo mô hình Chủ - Vị Theo Giáo sư Cao Xuân Hạo thì Nguyễn Kim Thản là người đầu tiên thấy được rằng danh ngữ ở đầu những câu như:
(1) Sách để trên bàn
(2) Ghế này ngồi được ba người1
cũng cần được xử lý về ngữ pháp như các danh ngữ chỉ vật trải qua quá trình (sách roi) hay mang tính chất (sách hay lắm) Các danh ngữ ở (1) và (2) cũng được coi là chủ ngữ2
Hơn nữa, trong "cơ sở ngữ pháp tiếng Việt" xuất bản năm 1981 Nguyễn Kim Thản lại viết: "Chủ ngữ là phần nêu lên cái gì đó, vị ngữ là phần nói về chủ ngữ", "đúng ra nên gọi chủ ngữ là phần nêu, vị ngữ là phần báo"3
Ông đồng nhất sự phân biệt giữa hai phần này với sự phân biệt giữa topic (phần nêu)
và comment (phần báo) Nhưng vì ông không định nghĩa hai khái niệm này một cách hiểu ngôn nên ông đã tỏ ra thiếu nhất quán khi phân tích các danh ngữ (giới ngữ) ở đầu những câu như:
Trang 82.1.2 Ngoài Nguyễn Kim Thản còn có Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê trong
"Khảo luận về ngữ pháp Việt nam" Xuất bản 1963 cũng viết về các danh ngữ ở đầu câu
(6) Thư gửi cho Ất rồi
(7) Quyển sách này mua ở hiệu mỗ
Vì muốn giản dị mà chúng tôi coi "quyển sách này, thư" là chủ từ bị động chứ chính
ra những tiếng ấy là chủ đề"1 , "Chủ từ bị động chính ra là chủ đề" trong khi đó chủ đề và chủ
từ được hai ông phân biệt một cách dứt khoát
(8) Thư gửi cho Giáp rồi2
Hai ông cho "Thư" là chu đề, "Giáp" là chủ từ
Mặc dầu, hai ông đã có thuật ngữ cho hai khái niệm này "thoại đề", "mỗi câu có một cái đề" ("thoại đề")
Hai ông lại cho rằng: cần phân biệt khi nào là chủ từ khi nào là bổ từ của câu Hai ông thấy rằng các danh ngữ và giới ngữ ở đầu những câu như:
(9) Nhà có khách
(9') Trong nhà (ở trong nhà) có khách
(10) Một năm có bốn mùa
(10') Trong một năm có bốn mùa3
Thì "trong nhà", "ở trong nhà", "trong một năm" vẫn là chủ từ hoặc:
(11) Sân quét dọn sạch sẽ
(11') Ở ngoài sân (ngoài sân) quét dọn sạch sẽ
Nhà trang hoàng đẹp lắm
(12') Trong nhà (ở trong nhà) trang hoàng đẹp lắm4
thì "trong nhà" và "ở trong nhà" "ngoài sân" "ở ngoài sân" vẫn là chủ từ Nhưng hai ông lại cho những danh từ và giới ngữ ở những câu như:
Trang 9Thì "tường" hay "trên tường", "tháng trước" hay "trong tháng trước" lại là bổ từ của câu Theo hai ông này thì "treo" và "chết" không thể coi là diễn tả trạng thái của "tường" hay
"tháng trước" được
Ở đây, ta thấy bộc lộ rõ ảnh hưởng quá hẹp của quan niệm mới về thoại đề "do thiếu một định nghĩa minh xác về khái niệm này"1 Cho nên hai ông cũng tỏ ra thiếu nhất quán khi phân tích các danh ngữ ở đầu những câu sau:
(15) Năm nay, nóng hơn năm ngoái
(16) Hôm qua mưa suốt ngày
(17) Năm nay trời nóng hơn năm ngoái
(18) Hôm qua trời mưa suốt ngày
"Năm nay" ở (15) và "Hôm qua" ở (16) thì hai ông cho là "chủ từ" còn "năm nay" ở (17) và "hôm qua" ở (18) lại cho là "bổ từ thời gian"
Nhìn chung các tác giả của những công trình trên khi phân tích cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt vẫn không thoát khỏi những ảnh hưởng của cấu trúc cú pháp chủ vị
2.1.3 Bên cạnh những công trình của Nguyễn Kim Thản, của Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, sau này còn có những tác giả đi sâu vào nghiên cứu vấn đề "phân đoạn thực tại" của câu tiếng Việt có thể kể đến các tác giả sau:
Lưu Vân Lăng "nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trên quan điểm ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân" (tạp chí ngôn ngữ năm 1970)
Lý Toàn Thắng "Giới thiệu lý thuyết phân đoạn thực tại câu" (tạp chí ngôn ngữ 1.1981)
Diệp Quang Ban "Khả năng xác lập mối liên hệ giữa phân đoạn thực tại và phân đoạn ngữ pháp câu tiếng Việt" (4.1989)
Các bài viết của các tác giả nói trên đã đưa ra những nhận xét và lập luận rất bổ ích:
"Sự phân đoạn thực tại chia câu thành hai phần là chủ đề (Thema, topic) và thuật đề (Rheme, comment) trong đó thuật đề là thành phần luôn luôn phải có mặt, còn chủ đề có thể
có có thể không"2
"Khi hai ngữ kết hợp thành một thông báo, trong đó có bộ phận chỉ cái được đề ra và
bộ phận chỉ cái thuyết minh rõ thì kết hợp này gọi là cú", "ngữ chỉ cái được đề ra là đề ngữ, ngữ chỉ cái thuyết minh rõ là thuyết ngữ Đây là hai bộ phận quan trọng nhất"3
Trang 10Nhìn chung, các tác giả trên đã phát hiện ra hai thành phần cơ bản của câu tiếng Việt
và phân đoạn câu xuất phát từ ý nghĩa cụ thể được câu biểu thị và từ sự phân tích nội dung thông báo được chứa đựng trong câu đó và ở một ngữ cảnh cụ thể nào đó Các tác giả trên đã viết: "Ngữ pháp học truyền thống đã nghiên cứu câu một cách cô lập không đặt nó vào trong một hành động giao tiếp cụ thể, vào một tình huống (ngữ cảnh) cụ thể Do vậy nó đã bỏ qua một sự kiện ngôn ngữ đáng lẽ cần được quan tâm là: cùng một câu nói (với cùng một cấu trúc
cú pháp và từ vựng ngữ nghĩa như nhau) nhưng tùyý định của người nói(người viết) trong những tình huống giao tiếp cụ thể mà câu nói đó thực hiện những nhiệm vụ thông báo khác nhau "1
Tuy nhiên các tác giả trên vẫn bị khống chế của những định kiến cũ về kiểu câu chủ
vị Việc phân tích cấu trúc đề - thuyết dường như được thực hiện sau khi câu được phân tích thành chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ
- Các tác giả trên còn cho thuật đề là bổ ngữ được đưa lên phía trước "Bổ ngữ được đảo lên trước vị ngữ để nhấn mạnh với tư cách là thuật đề của câu:
Ngoài ra, các tác giả thường đồng nhất giữa sự phần chia đề - thuyết với sự phân chia
cũ - mới, một chủ trương không chắc đã tích hợp với cấu trúc câu của tiếng Việt:
- Chủ đề là cái người nghe đã biết
- Thuật đề là cái mới, cái chưa biết
Trang 11So với những công trình trước nhóm tác giả này đã nhìn nhận một cách minh xác hơn trong khi vận dụng các khái niệm nhưng họ lại không gần sự thật bằng các tác giả Nguyễn Kim Thản, Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê trong khi phân tích cú pháp tiếng Việt Họ cho những câu đơn đặc biệt chỉ không gian thời gian khi gia nhập vào một câu chỉ sự kiện trở thành trạng ngữ của câu
Ví dụ:
(21) Hết giờ Mọi người ra về
(22) Hết giờ, mọi người ra về
"Hết giờ" trong (21) cho là câu đặc biệt
"Hết giờ" trong (22) lại cho là trạng ngữ của câu
2.1.4 L.C.Thompson (1965) trong cuốn "ngữ pháp tiếng Việt" đã có những nhận định đúng đắn về những điều cơ bản nhất của cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt "Ông miêu tả cấu trúc câu đơn tiếng Việt như một ngữ đoạn hạn định mà trung tâm là một vị ngữ có kèm theo một bổ ngữ hạn định (focal complement) đặt trước vị ngữ có tác dụng nêu rõ những điểm quy chiếu về không gian, thời gian, phương thức, người, vật, khái niệm cho vị ngữ, các bổ ngữ ấy
có thể là một danh ngữ hay một vị ngữ"1
Theo Thompson trong tiếng Việt không thể tìm thấy một cái gì gọi là "chủ ngữ" Ông cũng là người hiểu được chữ "thì" và chức năng tối quan trọng của nó Ông đã thấy rằng đề là cái gì mà đằng sau thêm "thì" nghĩa không thay đổi (muốn biết Đề - Thuyết đặt "thì" vào giữa)
Ngoài L.C.Thompson còn có K.Dyvik (nhà ngôn ngữ Na-uy) 1984 cũng viết về câu tiếng Việt Ông cho rằng: Tiếng Việt là thứ tiếng chẳng có gì là chủ ngữ cả và trong tiếng Việt sử dụng "thì" để phân định ranh giới Đề - Thuyết Tiếng Việt là tiếng thiên về chủ để
2.2 Gần đây, trào lưu ngữ pháp chức năng được các nhà Việt ngữ học hết sức quan tâm đến
2.2.1 Trên nền tảng lý luận của ngữ pháp chức năng hiện đại, Giáo sư Cao Xuân Hạo cho ta thấy những ý kiến đầy sức thuyết phục cho tiếng Việt
"Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng" của Cao Xuân hạo xuất bản năm 1991 đã soi sáng những vấn đề mấu chốt của ngành Việt ngữ pháp học
Giáo sư Cao Xuân Hạo đưa ra quan điểm câu trúc cơ bản của câu tiếng Việt là cấu trúc đề - thuyết
1
Cao Xuân Hạo - Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng - Quvển I - 1991 - Trang 146
Trang 12Dựa trên quan điểm đề - thuyết của ông, có thể phân tích tất cả các kiểu câu trong tiếng Việt Việc xác định chức năng cú pháp logic và thông báo chung của hai thứ đề (chủ đề
và khung đề) là xác định phạm vi hiệu lực của phần thuyết và tiêu chí ngữ pháp hình thức của
cả hai là có thể đặt chữ "thì" giữa đề và thuyết để đánh dấu ranh giới giữa chúng cho phép chúng ta phân tích câu một cách đơn giản mà lại tinh tế đến từng chi tiết nhỏ nhất (điều này khác ngữ pháp chủ - vị chỉ phân tích được những kiểu câu giống ngữ pháp Châu Âu); đồng thời cho thấy sự khác nhau hết sức quan trọng về logic và về chức năng thông báo giữa đề và trạng ngữ chỉ nơi chốn, thời gian hay điều kiện (trong ngữ pháp chủ - vị khung đề được hiểu
là trạng ngữ được đưa ra phía trước hay là trạng ngữ của toàn câu)
Có thể nói, công trình nghiên cứu của giáo sư Cao Xuân Hạo đã và đang đưa ngữ pháp tiếng Việt đi theo một hướng mới đầy hứa hẹn
2.2.2 Sau công trình nghiên cứu của Giáo sư Cao Xuân Hạo thì có nhiều người và tập thể có tổ chức đi theo hướng phân tích câu theo quan điểm của ông
- Tiêu biêu là công trình "Câu trong Tiếng Việt" (1992) của nhóm các ông Hoàng Xuân Tâm, Bùi Tất Tươm, Nguyễn Văn Bằng Công trình nghiên cứu này cơ bản dựa bên
"Sơ thảo ngữ pháp chức năng" của giáo sư Cao Xuân Hạo nhưng việc trình bày những luận
điểm của cuốn sách dưới dạng ngắn gọn hơn, có tính chất sư phạm hơn
- Nhiều giáo viên và sinh viên của các trường Đại học - Cao đẳng đã làm luận văn tốt nghiệp theo hướng khai triển cấu trúc đề - thuyết của câu tiếng Việt trong các tác phẩm văn chương
Chúng tôi cũng mạnh dạn đi tiếp bước đi của các nhà nghiên cứu Đề tài của chúng tôi chỉ là sự kế thừa và tiếp thu các thành quả những công trình đi trước, vận dụng quan điểm ngữ pháp chức năng về cấu trúc đề - thuyết của câu tiếng Việt để khảo sát, miêu tả, phân tích câu trong thơ lục bát cổ điển và thơ lục bát hiện đại
III PHẠM VI VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
Cấu trúc đề thuyết của câu tiếng Việt rất phong phú và đa dạng Ở đây chúng tôi chỉ
xử lý đề tài ở một số vấn đề sau:
1 Xác định cấu trúc Đ-T là cấu trúc cú pháp cơ bản trong câu của tiếng Việt
2 Tìm hiểu đặc điểm chung của cấu trúc đề - thuyết trong câu tiếng Việt:
- Đề thuyết trong câu tiếng Việt
- Những đặc tính ngữ pháp của đề
Trang 13- Những phương tiện đánh dấu đề - thuyết
- Các kiểu cấu trúc câu trong ngôn bản
3 Vận dụng lý thuyết về cấu trúc đề - thuyết của câu trên cơ sở ngữ pháp chức năng
để miêu tả, khảo sát các kiểu cấu trúc đề - thuyết trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du và trong thơ lục bát của Tố Hữu Trên cơ sở đó nhận xét một số mẫu câu tiêu biểu
Chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu hết các kiểu cấu trúc trong hai tác phẩm thơ trên mà chỉ dừng lại khảo sát, miêu tả một số kiểu câu cơ bản
Sở dĩ, chúng tôi chọn miêu lả cấu trúc đề - thuyết trong "Truyện Kiều" và thơ Tố Hữu
vì "Truyện Kiều" của Nguyễn Du là một cuốn tiểu thuyết bằng thơ mà ở đó Nguyễn Du đã sử dụng thể thơ phổ biến nhất, nhân dân trong văn học Việt nam là thể thơ lục bát "Truyện Kiều" được coi là đỉnh cao của nền văn học cổ Việt nam Trong "Truyện Kiều" có hầu hết các kiểu câu hoặc mầm mống các kiểu câu của ngôn ngữ hiện đại Hơn nữa, cú pháp trong
"Truyện Kiều" còn nhiều vấn đề cần bàn cãi đối với các nhà ngôn ngữ học Việt nam
Hoàng Tuệ trong "ngữ pháp Truyện Kiều" đưa ra những cách hiểu khác nhau về cấu trúc của các câu thơ trong "Truyện Kiều" trong đó, tác giả đưa ra những cách phân tích câu xuất phát từ các khuôn cú pháp đã in sâu trong óc mình, (có lẽ chủ yếu là của tiếng Pháp) rồi phân tích các câu tiếng Việt theo đúng cái khuôn ấy, nhiều khi không khỏi có phần khiên cưỡng Rõ ràng là nếu cứ theo cú pháp truyền thống một cách nghiêm ngặt thì không thể lý giải hết những câu thơ biến hóa trong "Truyện Kiều" nhưng nếu phân tích theo cấu trúc đề - thuyết trên quan điểm ngữ pháp chức năng thì lại rất dễ dàng
Với Tố Hữu "con chim đầu đàn của thơ ca hiện đại", thể thơ lục bát đã được sử dụng khá nhiều trong những bài thơ đậm đà màu sắc dân tộc, mang phong vị rất rõ nét của ca dao, lại có những câu thơ lấy lại của Truyện Kiều hoặc mô phỏng rất sát những tứ thơ của "Truyện Kiều"
Luận văn này về cơ sở lý thuyết dựa trên quan điểm của Giáo sư Cao Xuân Hạo trong
"Sơ thảo ngữ pháp chức năng" và công trình có tính chất giáo khoa của nhóm các ông Hoàng Xuân Tâm, Bùi Tất Tươm và Nguyễn Văn Bằng là những giảng viên tiếng Việt có kinh nghiệm của trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14IV Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI:
Việc nghiên cứu đề tài "cấu trúc đề - thuyết trong thơ lục bát cổ điển và thơ lục bát hiện đại" theo chúng tôi có nhữn ý nghĩa sau đây:
1 Quan điểm của ngữ pháp chức năng giúp chúng ta nhận thức một cách minh xác cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt là cấu trúc đề - thuyết, luôn phân biệt một cách rạch ròi ranh giới để phân định cấu trúc đề - thuyết trong câu tiếng Việt
2 Đưa ra một thủ pháp phần tích cấu trúc câu của tiếng Việt theo hướng ngữ pháp chức năng, dễ thực hiện hơn thủ pháp Chủ - Vị và phù hợp với cảm thức của người Việt hơn
3 Tiếp tục ứng dụng những thủ pháp phân tích cú pháp theo mô hình Đề -Thuyết vào những kiểu câu mới để nêu rõ thêm khả năng ứng dụng của thủ pháp này, nhằm thử xem một
hệ thống ngữ pháp chỉ căn cứ vào những sự kiện của chính thứ tiếng Việt mà ta nói và viết hàng ngày chứ không mô phỏng ngữ pháp Châu Âu thì có thể đem lại những kết quả gì cho việc nâng cao hiệu quả giảng dạy và nghiên cứu tiếng Việt
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỂ TÀI:
Trong quá trình xử lý đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp, thủ pháp sau:
1 Phương pháp miêu tả:
Dùng để khảo sát, miêu tả các kiểu cấu trúc đề - thuyết có trong thơ lục bát cổ điển và hiện đại
2 Phương pháp chêm xen (cải biên):
Thêm các tác tử đánh dấu đề - thuyết để phát hiện ranh giới giữa đề và thuyết từ bậc cao đến bậc thấp nhằm giúp cho việc miêu tả được chính xác hơn
3 Phương pháp đối chiếu so sánh:
Dùng để so sánh việc sử dụng các kiểu câu trong hai tác phẩm thơ Truyện Kiều và thơ
Trang 15* Dẫn nhập:
Phần này tập trung giới thuyết về đề tài và phương pháp nghiên cứu đề tài
* Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương này chủ yếu tóm tắt ngữ pháp chức năng Cụ thể là cấu trúc đề -thuyết của
Giáo sư Cao Xuân Hạo Đây là chương tạo tiền đề cho việc miêu tả, khảo sát ở chương sau
* Chương II: CÁC KIỂU CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT TRONG "TRUYỆN KIỀU"
CỦA NGUYỄN DU
* Chương III: CÁC KIỂU CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT TRONG THƠ LỤC BÁT
CỦA TỐ HỮU
Hai chương này nhằm miêu tả các kiểu cấu trúc câu theo mô hình Đề -Thuyết có
trong hai tác phẩm thơ nói trên
* Kết luận:
Nhận xét sự tương đồng và khác biệt về cấu trúc câu trong thơ lục bát cổ điển và hiện
đại so với nhau cũng như so với thơ lục bát của dân gian Điều chúng tôi rút ra được là về
căn bản thơ lục bát xưa và nay vẫn sử dụng một cấu trúc cú pháp như nhau, trong đó câu
được kiến tạo theo mô hình Đề - Thuyết chứ không phải theo mô hình Chủ - Vị những
trường hợp câu khuyết Chủ đề, những trường hợp câu chỉ có Khung đề, những kiểu câu
phức tạp có nhiều bậc Đề - Thuyết, vốn cùng có mặt với một tần số ngang nhau trong thơ
Nguyễn Du, thơ Tố Hữu và ca dao được thấy rất rõ rằng mô hình Đề - Thuyết đang tiếp tục
được khai thác trong toàn bộ nền thi ca Việt Nam
* Kiến nghị:
Trong khi ngữ pháp truyền thống như đã được giảng dạy ở nhà trường phổ thông
trong hơn 50 năm nay tuy có giúp cho học sinh làm quen với cách phân tích cấu trúc của
ngôn ngữ, nhưng còn nặng về những kiểu câu giống như các kiểu câu của tiếng Châu Âu, ít
chú ý đến những kiểu câu tiêu biểu của tiếng Việt, nhất là các cấu trúc cú pháp được sử dụng
rất nhiều trong thơ cổ điển và dân gian, cho nên tầm hiểu biết và kỹ năng phân tích của học
sinh rất hạn chế
Trong khi đó, những bước đầu nghiên cứu tiếng Việt trên quan điểm ngữ pháp chức
năng tuy còn ít ỏi nhưng đã mở ra những triển vọng khá rõ nét Tuy vậy
Trang 16những người đại diện cho truyền thống ngữ pháp cũ vẫn chưa chú ý đúng mức đến việc khảo sát thêm hướng đi mới này Trong khoa học, quán tính của những lý thuyết cũ là điều dễ hiểu Nhưng điều đáng tiếc là sau khi những công trình về ngữ pháp chức năng ra đời (năm 1991 - 1993), hầu như không có một bài nào lên tiếng tán thành, phê phán hay bác bỏ, số lượng những công trình thử ứng dụng những thành tựu của ngữ pháp chức năng vào những vấn đề của tiếng Việt có thể đếm trên đầu ngón tay, và không vượt quá phạm vi của những luận văn đại học, cao học và phó tiến sĩ Do đó khó lòng có thể có một nhận đinh, dù là sơ bộ, về giá trị thực sự của trào lưu khoa học này Theo chúng tôi đó là một khoảng trống khó lòng có thể chấp nhận trong khi giới ngôn ngữ học ở các nước khác đang tập trung sự chú ý vào phương hướng này
Chúng tôi hy vọng rằng trong một tương lai gần sẽ có nhiều công trình thử nghiệm nghiêm túc hơn, sâu sắc hơn công trình cứu chúng tôi, cho thấy rõ hơn nữa những điểm mạnh
và những điểm yếu của phương pháp này Mặt khác, chúng tôi cũng mong các tác giả đi theo phương pháp truyền thống bỏ công ra chứng minh cho tính hữu hiệu, của phương pháp cũ đối với những tính vực chưa được khai thác mấy như vốn văn học dân gian
Trang 17CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Trào lưu ngữ pháp chức năng:
1 Trào lưu ngữ pháp chức năng kế thừa một di sản khá vững mạnh của ba trường phái:
1.1 Trường Prague (The Prague School) đứng đầu là ba người Nga: N.s Trobeckoj, R.O Jackobson và Karccuski (học trò của Saussure) và những nhà ngôn ngữ Tiệp Khắc: V Mathesius (tác giá của lý thuyết "Phân đoạn thực tại"), B.Trnk, J.Vachek
1.2 Trường Luân Đôn (The London School) với những tên tuổi như: J.R.Firth, V.Malinonski, M.A.K Halliday, và khái niệm Bối cảnh Văn hóa của ngôn ngữ được xây dựng trên kinh nghiệm nghiên cứu các ngôn ngữ phương Đông và Châu Phi
1.3 Lý thuyết của C.S Peirce về ba bình diện của ký hiệu (trong đó có bình diện Dụng pháp hay Dụng học)
Nhưng đóng vai trò quyết định có lẽ là ảnh hưởng của lý thuyết hành động ngôn từ (Speech Act Theory) của J.L Austin Theo Austin, nói không phải là nhằm chuyển đạt thông tin mà là để tác động đến người khác: nói là một hành động Xã hội tồn tại và phát triển là
do sự tương tác (Intevaction) tronng hoạt động giao tiếp
2 Nền tảng lý luận của ngữ pháp chức năng hiện đại đã được nhiều nhà ngôn ngữ học nước ngoài xác lập và được Giáo sư Cao Xuân Hạo vận dụng đầy sức thuyết phục cho tiếng Việt
Theo Giáo sư Cao Xuân Hạo "Ngữ pháp chức năng là một lý thuyết và hệ phương pháp được xây dựng trên quan điểm coi ngôn ngữ là một phương tiện thực hiện sự giao tiếp giữa người và người", "một trong những yêu cầu có tính chất kỹ thuật của ngữ pháp chức năng là phân giới một cách minh xác giữa mặt biểu thị và mặt được biểu thị cũng như giữa các bình diện của từng mặt vì có như thế mới tránh được sự lẫn lộn tiêu chuẩn trong khi xác định một cách minh xác mối quan hệ chức năng giữa các bình diện của ngôn ngữ Nếu lẫn lộn giữa ba bình diện sẽ dẫn đến những cách phân tích và trình bày ngữ pháp thiếu minh xác"1
1
Cao Xuân Hạo - Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, - Quyển I - 1991 - Trang 34
Trang 18II Cấu trúc đề - thuyết trong ngôn ngữ học hiện thời:
1 Vị trí của cấu trúc Đề -Thuyết:
1 Cấu trúc đề - thuyết của câu là một hiện tượng thuộc bình diện logic ngôn từ
(Logicodis cursive) nghĩa là nó thuộc lĩnh vực logic trong chừng mực logic được tuyến tính hóa trong ngôn từ và thuộc tính vực ngôn từ trong chừng mực nó phản ánh tác động nhận định của tư duy"1
2 Đề - Thuyết và nghĩa logic:
Trong tiếng Việt cấu trúc cơ bản của câu chia làm hai phần đề - thuyết tương ứng với hai phần sở đề (subjectum / Thema) và sở thuyết (pradicatun / Rhema) của một mệnh đề trong logic học
Sự cấu trúc hóa câu thành hai phần đề và thuyết không lệ thuộc vào tính chít của sự tình được trần thuật Nội dung nghĩa học của nó nằm trọn trong cách tổ chức mệnh đề theo một hướng đi nhất định của tư duy: xuất hiện lần lượt cái trước và cái sau (cái xuất phát và cái kết thúc)
Thống nhất với luận điểm vừa nêu trên, giáo sư Cao Xuân Hạo đưa ra cách tổ chức cốt lõi cơ bản của một câu đầy đủ như sau:
"Khi nói một câu người ta đưa ra một cái đề, rồi nói một điều gì về cái đề đó hoặc trong khuôn khổ của cái đề đó"2
2.1 Từ định nghĩa trên ông đưa ra định nghĩa về đề như sau: "Đề là thành tố trực tiếp của câu nêu rõ cái phạm vi ứng dụng của điều được nói bằng thành tố trực tiếp thứ hai: phần thuyết"
- Đề có thể là một danh ngữ, một giới ngữ, một vị ngữ, một tiểu cú (một cấu trúc đề - thuyết ở bậc thấp hơn câu) Trong việc phân tích câu xác định được đề tức là xác định được thuyết và ngược lại
- Khi nói đề chung ta cần phân biệt ngoại đề và nội đề
• Ngoại đề (Trong tiếng Việt tuy cũng thông dụng như trong các ngôn ngữ thiên chủ ngữ, nhưng không tiêu biểu như nội đề) có thể tách ra khỏi cú pháp của câu, sau nó khó có thể thêm "thì", được tách ra khỏi phần còn lại của câu bằng một chỗ ngừng nhằm tập trung chú ý vào người đối thoại
(23) Anh Nam ấy à, tôi vừa gặp anh ấy xong
• Nội đề thì nằm trong cấu trúc ngữ pháp của câu, khi phát âm nó liền mạch với phần thuyết, không có chỗ ngừng nào Nội đề có hai loại: chủ đề và khung đề:
Trang 19- "Chủ đề là phần câu chỉ đối tượng được nói đến trong phần thuyết, cái chủ thể của
đánh dấu biên giới bằng thì
- Theo quan điểm đề - thuyết của ngữ pháp chức năng thì đề không phải là trạng ngữ hoặc định ngữ, bổ ngữ được đưa lên phía trước
Ngữ pháp truyền thống cho khung đề là trạng ngữ của vị từ hay của câu, song
- Về mặt chức năng thì giữa khung đề và trạng ngữ có những sự khác nhau quan trọng: Khung đề nêu rõ phạm vi trong đó điều được nói ra ở phần thuyết có hiệu lực Chẳng hạn, câu
(24) Trời mưa thì cháu không đi nhà trẻ được
cho biết trong hoàn cảnh trời mưa sẽ có gì xảy ra
Còn trạng ngữ thì nói rõ thêm một chi tiết có giá trị thông báo cho câu
(25) Cháu không đi nhà trẻ hôm nào trời mưa
cho biết cháu không đi nhà trẻ vào (những) hôm nào
- Về mặt hình thức ngữ pháp thì sau trạng ngữ không thể thêm tác tử "thì" và "là"
Về mặt vị trí thì khung đề và một số trạng ngữ đều có thể đứng ở đầu câu, nhưng trạng ngữ có thể chuyển vị trí lên đầu câu mà vẫn không trở thành khung đề
Ngữ pháp truyền thống cho những câu như:
(26) Giếng này nước trong
(27) Xã bên ruộng tốt
là những câu đảo ngữ (đưa định ngữ hoặc bổ ngữ lên phía trước) nhằm mục đích nhấn mạnh
Thật ra, đây không phải là những trường hợp đảo, xét về nội dung khách quan của sự tình được biểu thị thì hai câu:
(26) Giếng này nước trong
và (26') Nước giếng này trong
không có gì khác nhau; nhưng xét về nghĩa lô-gich thì câu (26) nói về giếng, còn câu (26') nói
về nước: hai câu nói về hai đề tài khác nhau
Trang 202.3 Tính xác định của đề:
Vì chức năng của phần đề là nêu rõ giới hạn ứng dụng của điều được nói ở phần thuyết cho nên đề phải có tính xác định, nghĩa là nó phải cho người nghe biết rõ đang nói về đối tượng cụ thể nào Đề mà không đủ tính xác định thì sẽ khiến cho các câu được tri giác như những câu không trọn vẹn
(32) Đứa nào làm vỡ bình hoa
(33) Bao giờ thì anh về
2.4 Quyền tinh lược đồng chỉ của đề:
Quyền tinh lược danh ngữ đồng sở chỉ là một thuộc tính của chủ đề
(34) Quốc hội thảo luận và thông qua hiến pháp
Do quyền tinh lược đồng sở chỉ với chủ đề mà "quốc hội" không được nhắc lại trước
vị ngữ thứ hai
Việc lược bỏ danh ngữ đồng sở chỉ không phải là biện pháp tiết kiệm mà chủ yếu là biện pháp liên kết các thành phần câu để tạo mạch lạc trong câu và do đó làm nên tính đơn vị, tính nhất thể của câu, phân biệt một câu với nhiều câu liên tiếp hoặc nhiều vế câu ghép lại trong câu ghép
3 Những phương tiện đánh dấu sự phản chia đề - thuyết trong câu:
3.1 Tiêu chí ngữ pháp hình thức để phân tích cấu trúc câu thành hai phần đề - thuyết
là dùng hai tác tử ''thì" và "là"
Trang 213.1.1 "Thì" là một từ chuyên biệt chỉ dùng vào chức năng phân giới đề -thuyết, "thì"
là tác tử đánh dấu phần đề, khi có thì xuất hiện trước nó chắc chắn là đề, trừ những trường hợp sau:
- Từ "thì" phân giới đề - thuyết trong cặp tiểu cú có cấu trúc tương phản
(36) Con tôi đứa thì đi học đứa thì đi làm
(37) Món này ăn thì ngon nhưng làm thì mất công
- Trong phần thuyết có một thành ngữ có cấu trúc đề - thuyết kiểu "không thì" làm
đề
(38) Anh em ở đây không ít thì nhiều đểu có đóng góp
- Trong câu có thuyết tình thái "thì" đặt trước phần thuyết đó
(39) Hình như anh hài lòng lắm thì phải
- "Thì" được sử dụng một cách bắt buộc không thể bỏ trong những trường hợp sau:
Khi đề và thuyết cùng cấu trúc từ loại:
(40) Tham thì thâm
(41) Anh mời thì tôi đến
Khi giữa các từ ngữ đặt ở chỗ tiếp xúc giữa đề và thuyết có thể ngẫu nhiên làm sai nghĩa của câu hoặc làm câu trở thành vô nghĩa
(42) Trông thấy địch thì khai triển đội hình
(42') Trông thấy địch khai triển đội hình (43) Khi tàu chạy thì về
(43') Khi tàu chạy về
Khi đề không phải là danh ngữ, thuyết không phải là vị ngữ được tình thái hóa đầy đủ:
(44) Anh đến thì tốt
(45) Tạnh mưa thì đi
Khi đề dài và phức tạp, trong khi thuyết, lại quá ngắn
(46) Mai sau dù có bao giờ Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Khi thuyết là một động ngữ làm trạng ngữ chỉ phương thức, nguyên nhân được nêu riêng
(47) Anh Nam làm việc thì chăm chỉ
Trong phần thuyết thành ngữ hóa "thuyết giả"
(48) Nhỡ bố biết thì chết
3.1.2 "Là" là một tác tử đánh dấu thuyết, chuyên việc thuyết hóa cho ngữ đoạn đi sau
Trang 22"Là" được sử dụng một cách bắt buộc trong những trường hợp sau:
Khi thuyết là một danh ngữ trong câu định tính hay đẳng thức
(49) Của rẻ là của ôi
(50) Ông Năm là một người cương trực
Khi thuyết là một danh ngữ biểu thị chủ thể của vị ngữ hay giới ngữ làm đề
(51) Đứng trên bục giảng là một ông giáo cao và gầy
Khi thuyết là một danh ngữ biểu thị đối thể của động từ thuộc phần đề được nêu riêng ra
(52) Em tôi thích nhất là kẹo chanh
Khi thuyết là một giới ngữ có chuyển tố chỉ thời gian, nguyên nhân, mục đích được nêu riêng
(53) Họ gặp nhau lần cuối cùng là trong chiến dịch Tây Bắc
Khi thuyết là một vị ngữ nhưng:
* Đề không có quan hệ tham tố (trực tiếp, gián tiếp) với nó
(54) Ưu điểm của nó là ham học
* Đề là một vị ngữ làm thành tham tố duy nhất của vị ngữ làm thuyết
(55) Anh đi là phải
- Trong những phần thuyết thành ngữ hóa "Thuyết giả " cố ý nghĩa tình thái ở cuối câu (là cùng, là may, là phức, là giỏi )
* Ngoại lệ:
- Trong cấu trúc đồng dạng có thể lược bỏ tác tử phân giới "thì"
(56) Chó (thì) treo, mèo (thì) đậy (57) Mềm nắn, rắn buông
- Khi thuyết là một danh ngữ hay giới ngừ chỉ gốc gác, nơi chốn, chất liệu hay sở hữu thì miễn dùng "là"
(58) Anh ấy người Hà Nội (59) Cái nồi này bằng gang
3.1.3 "Mà" có công dụng phân giới không phải của toàn câu mà là của tiểu cú làm đề hoặc thuyết
(60) Người mà đến thế thì thôi
(61) Cá này mà hấp với nấm thì ngon tuyệt
Trong một số văn cảnh "mà" cũng có khi phân giới đề - thuyết của câu Nhưng khi đúng giữa hai cấu trúc đề - thuyết thì "mà " là từ nối
3.2 Những phương tiện bổ sung để phân giới đề - thuyết:
Ngoài phương tiện dùng tác tử "thì", "là", "mà" để phân giới đề - thuyết còn một số phương tiện khác giúp làm rõ cấu trúc đề - thuyết của câu
Trang 233.2.1 Những yếu tố sóng đôi đánh dấu đề - thuyết
- Cặp từ nghi vấn / chỉ định, một thì ở phần đề, một thì ở phần thuyết
(62) Ai làm nấy chịu (63) Cha nào con nấy (64) Có bao nhiêu ăn bấy nhiêu
- Những đại từ nghi vấn trên cũng được dùng ở phần đề để đi với "cũng" ở phần thuyết
(65) Ai làm cũng được (66) Nó làm gì cũng giỏi
- Các cặp từ: có / mới, mới / đã, chưa / đã, càng / càng, đã / thì, vừa / đã cũng có thể sóng đôi để đánh dấu đề - thuyết
3.2.2 Những yếu tố đánh dấu thêm phần thuyết
Theo giáo sư Cao Xuân Hạo có 18 vị từ tình thái có tác dụng đánh dấu thêm phần thuyết trong câu (không bao giờ thấy trong phần đề): bèn liền, liền, tức khắc, ất khắc, tất nhiên, rất, cực kỳ, hãy, chớ, khoan, đừng, mới
Tóm lại: Cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt gồm hai phần đề và thuyết Đề thì có nội
đề và ngoại đề Trong nội đề có chủ đề và khung đề Để đánh dấu phần đề và thuyết dùng tác
tử "thì", "là", "mà"
III Các kiểu cấu trúc câu theo lý thuyết ngữ pháp chức năng của giáo sư Cao Xuân Hạo:
1 Câu một phần (câu không đề):
Câu một phần là câu chỉ có một phần thuyết, không có đề trên bề mặt của câu Gồm những kiểu câu sau:
1.1 Những kiểu câu lấy khung cảnh hiện hữu làm đề:
Thời tiết, thời gian (giờ giấc) cảnh vật trước mắt, đối tượng cụ thể mà người nói và người nghe đang quan tâm Sự tồn tại hay xuất hiện của một vật hay hiện tượng bất kỳ
(67) Nắng chang chang thế kia
(71) Xin có lời mời
(72) Xin chúc mừng anh đầy hạnh phúc
Trang 241.3 Những loại câu có phần đề bỏ trống chỉ "anh" là kiểu câu yêu cầu, khuyên nhủ, cầu khiến
(75) Đừng làm ồn nhé!
(76) Đi làm đấy à!
(77) Có muốn xem tranh không?
2 Câu có hai phần đề - thuyết:
Câu hai phần đề - thuyết là kiểu câu điển hình, tiêu biểu và thông dụng Câu hai phần
có thể là câu một bậc đề thuyết hoặc có từ hai bậc đề thuyết trở lên
2.1 Câu một bậc:
Đây là kiểu câu mà cả đề và thuyết đều có một cấu trúc không thể chia thành hai phần
đề thuyết ở cấp thấp hơn, Đề trong câu một bậc có thể là chủ đề hoặc khung đề Cấu trúc cú pháp của câu một bậc được vẽ thành sơ đồ sau:
Đề và thuyết trong câu một bậc có thể là đơn hoặc ghép
(78) Gà trống, gà mái đều là gà sống cả
(79) Họ sống và chiến đâu
Câu một bậc là cơ sở để cấu tạo nên những kiểu câu phức hợp hơn Mức độ phức hợp của câu được tính bằng số cấu trúc đề - thuyết, không tính đến các cặp bên dưới ngữ đoạn (bên trong các ngữ đoạn làm đề hoặc thuyết có thể có các kiểu cấu trúc đề - thuyết làm định ngữ hoặc bổ ngữ), những kiểu cấu trúc đề - thuyết này không làm thành một bậc thấp hơn
2.2 Câu hai bậc trở lên (câu nhiều bậc):
Câu nhiều bậc là kiểu câu mà đề hoặc thuyết bậc trên được cấu tạo bằng một cấu trúc
đề - thuyết bậc dưới (lấy cấu trúc đề - thuyết để làm đề hoặc thuyết)
Theo lý thuyết của Cao Xuân Hạo nếu không phân biệt hai thứ đề và thành
phần ngữ đoạn khác nhau của các vế có ba kiểu cấu trúc câu hai bậc như sau:
Trang 252.2.1 Các kiểu câu hai bậc:
* Kiểu I:
a Câu hai bậc kiểu I có thuyết đơn:
Tôi tên là Nam
b Câu hai bậc kiểu I có thuyết ghép:
Cao Bằng gạo trắng nước trong Câu hai bậc kiểu I có thể khai triển như sau:
Trang 26* Kiểu II:
a Câu đơn hai bậc kiểu II có đề đơn
b Câu hai bậc kiểu II có đề kép:
* Kiểu III:
a Câu đơn hai bậc không có phần kép:
Tre già măng mọc
Anh ốm (thì) nghỉ (là) phải
b Câu hai bậc có phần kép:
Trang 272.2.2 Câu ba bậc trở lên:
Câu đơn có ba bậc đề - thuyết trở lên căn bản cấu trúc như câu hai bậc Nó là sự khai triển câu hai bậc sang trái hoặc sang phải
3 Câu đặc biệt:
Đây là loại câu không có cấu trúc đề - thuyết, có câu trúc của một ngữ không thể coi
là đề hay thuyết vì nó không thể biểu thị sở đề hay sở thuyết của một mệnh đề (không phản ánh một mệnh đề)
Chúng ta có những kiểu câu đặc biệt trong những trường hợp sau:
Tiến quân ca, vịnh Hạ Long, Chinh phụ ngâm, Tắt đèn
3.4 Từ tượng thanh được dùng thành câu riêng:
(80) Ùng, oàng ! Từ miệt Vĩnh Yên vẳng lại tiếng đại bác nổ
Các kiểu cấu trúc câu của câu tiếng Việt gồm câu hai phần đề - thuyết, câu một phần
và câu đặc biệt, câu một phần và hai phần đều có thể là đơn hoặc kép Số bậc của câu là số bậc trong một cấu trúc đề - thuyết hai phần Trong câu ghép số bậc của câu được gọi theo vế câu có số bậc nhiều nhất
Trang 28CHƯƠNG II CÁC KIỂU CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA
NGUYỄN DU
Chương này chúng tôi trình bày các kiểu cấu trúc sau:
I Câu đơn một bậc đề - thuyết
1 Câu đơn mộc bậc chủ đề, thuyết:
* Câu có tác tử "thì" phân giới đề thuyết
3206 Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao
84 Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
* Câu có "đã" mở đầu cho thuyết
1629 Bóng dâu đã xế ngang đầu
892 Tiếng oan đã muốn vạch trời kêu oan
1092 Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành
(Hoặc các câu 1031, 2617, 3045, 2494, 2617, 1568, 980)
Trang 29* Câu không sử dụng phương tiện phân giới
928 Bên thì mấy ả mày ngài
1416 Bên nào thì cũng chưa yên bên nào
1401 Nơi gần thì chẳng tiện nơi
229 Giữa thì long án hẳn hoi
928 Bên thì ngồi rốn năm người làng chơi
Hoặc các câu: 922, 3052, 1359, 2376, 2375
* Là phân giới KĐ-T
1774 Biết đâu địa ngục thiên đường là đâu
Trang 30* Một hư từ kết với "là " cho biết ranh giới của KĐ-T
444 Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao
1808 Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh
1540 Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên
128 Chớ nề u hiểu mới là anh em
* Đã mở đầu cho T
Sau khung đề phần lớn là câu tồn tại
301 Tan sương đã thấy bóng người bước ra
380 Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông
689 Trong tay đã sẵn đồng tiền
693 Việc nhà đã tạm thong dong
1094 Đẩy song đã thấy Sở Khanh lẻn vào
* Không sử dụng phương tiện phần giới
3 Câu với phần đề và thuyết được nhấn mạnh:
Đây là loại câu có sử dụng yếu tố tình thái để nhấn mạnh thêm phần Đ hoặc phần T của câu (những từ tán thán, hô ngữ và những từ có tính chất cường điệu)
234 Phận con thôi cố ra gì mai sau
1238 Thân sao bướm chán ong chường bấy thân ? (hô ngữ)
706 Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì ?
753 Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây
963 Này này sự đã quả nhiên
1068 Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa ?
Trang 314 Câu đơn một bậc thuyết - đề:
1044 Quạt nồng ấp lạnh Những ai đó giờ
5 Câu đơn một bậc Đ ghép:
811
6 Câu đơn một bậc T ghép:
Hoặc các câu 1003, 04, 1284, 27947
(thì)
Trang 327 Câu có yếu tố sóng đôi đánh dấu Đ.T :
75.76 Đã không duyên trước chăng mà
Thì chi chút ít gọi là duyên sau
* Càng / càng
824 Càng nhìn vẻ ngọc càng say khúc vàng
2363 Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều
* Bao nhiêu / Bấy nhiêu
2558 Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu
Các cặp từ này tuy không đồng dạng với nhau nhưng có sự tương ứng về nghĩa
II Câu đơn hai bậc đề - thuyết
Kiểu 1 :
1 Câu đơn hai bậc kiểu I có T đơn :
Mấy người phụ bạc xưa kia Chiếu danh tầm nã bắt về khảo tra
Trang 331307 Dưới trăng quyên đã gọi hè
Hoặc các câu: 2043, 1567, 211, 240, 253, 261, 1121, 1197, 2751, 837, 2666, 2077,
2071, 2115, 2787, 2801, 1144, 2806, 2355, 2293, 1325, 1606, 1800, 1234, 1235, 1096, 1113,
39, 113, 169, 170, 604, 632, 1809, 2356, 1637, 1678
Hoặc:
Trang 34179 Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong
2 Câu đơn hai bậc kiểu I có T ghép:
Hoặc các câu: 1119, 1255, 265, 1461 – 62, 2364, 2311, 1755
Trang 35* Kiểu II:
1 Câu đơn hai bậc kiểu II có Đ đơn :
trong
2772 Chàng Vương nghe tiếng vội vàng chạy
ra Hoặc các câu: 206, 2645, 336, 694, 2072, 2806, 2271 – 72
Thân tàn Gạn đục khơi trong (là) Nhờ quân tử khác long người ta
2 Câu đơn 2 bậc kiểu II có Đ kép :
*Kiểu III:
Trang 361 Câu đơn hai bậc kiểu III không có phần kép:
Hoặc các câu: 2203 - 04, 2810, 2536, 2218, 1570, 484, 1268, 1366, 1657, 1029, 1030,
167, 986, 891 – 92
2 Câu đơn hai bậc kiểu III có phần kép:
Vật Đổi Sao Dời Tử sinh Cũng giữ lấy lời tử sinh (“Dẫu rằng” tác tử đánh dấu KĐ)
Trang 37Thuyền tình Vừa ghé tới
nơi
(thì đà) trâm Gãy Cành Rơi bao giờ
Dường như bên nóc bên thềm Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng
Trang 38Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai
III Câu đơn ba bậc đề thuyết trở lên:
Nửa năm Hương lửa Đương nồng Trượng phu Thoắt đã động lòng
bốn phương
nghìn vàng chưa cânTài
này
sắc ấy
mặn mà cả
Trang 39Tình riêng Chưa dám rỉ răng Tiểu thư Trước đã Liệu đường
nhủ qua
nghiệp má đào
Trang 40“Dẫu rằng” tác tử đánh dấu khung đề
Ra tuồng trên bộc dưới dâu (thì) con người ấy ai cầu làm chi