1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những biến bất và khả biến trong thi luật thơ lục bát nguyễn bính trước 1945

70 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 784,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thể lục bát của các nhà thơ mới nói chung, của Nguyễn Bính nói riêng giúp chúng ta xác định được khả năng “mở”, sự thích ứng của lục bát trong hành trình hi

Trang 1

Tr-ờng đại học vinh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới

Th.S Biện Thị Quỳnh Nga, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong

suốt quá trình thực hiện đề tài Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn - Trường Đại học Vinh, cùng gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ, nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Khóa luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được những ý kiến góp ý quý báu của các thầy cô và các bạn

Vinh, tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Lê Thị Tuyết

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài 5

3.1 Đối tượng nghiên cứu: 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu: 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp và cấu trúc của khóa luận 6

6.1 Đóng góp 6

6.2 Cấu trúc của khóa luận 6

Chương 1 MỘT CÁI NHÌN CHUNG VỀ THỂ THƠ LỤC BÁT VÀ LỤC BÁT NGUYỄN BÍNH 1.1 Lục bát - thể thơ mang đậm tâm hồn, bản sắc Việt Nam 8

1.1.1 Khái niệm “thơ lục bát” 8

1.1.2 Lục bát - thể thơ có hành trình xuyên suốt trong lịch sử thơ ca Việt Nam 9

1.1.3 Lục bát như là “quốc thơ” của Việt Nam 11

1.2 Lục bát Nguyễn Bính 12

1.2.1 Nhà thơ Nguyễn Bính 12

1.2.2 Lục bát - thể thơ chủ đạo và thành công nhất của sự nghiệp thơ ca Nguyễn Bính 14

1.2.3 Những đặc sắc cơ bản của lục bát Nguyễn Bính 15

1.2.4 Nguyễn Bính - một đỉnh cao của thơ lục bát 21

Trang 4

Chương 2 NHỮNG BẤT BIẾN TRONG THI LUẬT THƠ LỤC BÁT

NGUYỄN BÍNH TRƯỚC 1945

2.1 Mô hình ổn định (bất biến) của lục bát 23

2.1.1 Về vần 23

2.1.2 Về luật 24

2.2 Những bất biến trong thi luật thơ lục bát Nguyễn Bính trước 1945 25

2.2.1 Số bài đảm bảo mô hình chuẩn (trên đây) của lục bát Nguyễn Bính 25

2.2.2 Sức mạnh của truyền thống đối với Nguyễn Bính trong thi pháp thơ lục bát 37

Chương 3 NHỮNG KHẢ BIẾN TRONG THI LUẬT THƠ LỤC BÁT NGUYỄN BÍNH TRƯỚC 1945 3.1 Những khả biến (biến thể, biến dạng) của thơ lục bát 39

3.1.1 Về vần và luật 39

3.1.2 Số tiếng trong dòng thơ 41

3.2 Những khả biến của thi luật thơ lục bát Nguyễn Bính trước 1945 42

3.2.1 Về vần 42

3.2.2 Về luật 42

3.3 Đánh giá những thay đổi, làm mới của thi luật thơ lục bát

Nguyễn Bính trước 1945 59

KẾT LUẬN 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ xuất sắc của phong trào

Thơ mới (1932 - 1945) nói riêng và của thơ Việt Nam hiện đại nói chung Nhắc đến Nguyễn Bính là nhắc đến một hồn thơ lục bát tài hoa của làng thơ Việt Nam Nguyễn Bính đã ghi dấu vào nền thơ dân tộc bằng một phong cách lục bát rất riêng, đậm đà “hồn quê”, vừa hiện đại lại vừa rất truyền thống Điều này đặc biệt được thể hiện rõ qua thi luật của thể lục bát trong thơ ông, nhất là bộ phận sáng tác trước Cách mạng Vậy thi luật thơ lục bát Nguyễn Bính trước 1945 có gì đặc sắc? Và đâu là những kế thừa và sáng tạo của Nguyễn Bính đối với lục bát - một thể thơ cổ truyền của dân tộc? Đây là những câu hỏi mà chúng tôi đang rất quan tâm

1.2 Lục bát là một trong những thể thơ điển hình, tiêu biểu của hệ thống

thể loại văn học dân tộc (hệ thống thể loại nội sinh - thuần Việt) Nó đã đạt đến điển phạm thời trung đại Liệu còn có thể làm mới thể loại này? Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thể lục bát của các nhà thơ mới nói chung, của Nguyễn Bính nói riêng giúp chúng ta xác định được khả năng “mở”, sự thích ứng của

lục bát trong hành trình hiện đại hóa thơ ca dân tộc

1.3 Hiện nay, Thơ mới được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ

thông khá nhiều, trong đó có thơ lục bát Nguyễn Bính Tìm hiểu những bất biến và khả biến trong thi luật thơ lục bát Nguyễn Bính trước Cách mạng còn góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu, học tập cũng như giảng dạy thơ

Nguyễn Bính

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Thơ lục bát Nguyễn Bính chiếm một vị trí khá nổi bật, quan trọng trong Thơ mới 1932 - 1945 nói riêng và thơ Việt Nam hiện đại nói chung Giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm tới thơ lục bát của Nguyễn Bính nhất là trên

Trang 6

phương diện thi pháp thể loại Dưới dạng là các công trình khoa học lớn như sách chuyên luận, chuyên khảo, các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, tiêu biểu phải kể đến các tác giả như Hà Minh Đức, Trần Đình

Sử, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Quốc Túy, Đoàn Thị Đặng Hương, Vương Trí Nhàn, Đoàn Đức Phương, Nguyễn xuân Kính, Phan Diễm Phương, v.v

Hà Minh Đức và Bùi Văn Nguyên trong công trình Thơ ca Việt Nam,

hình thức và thể loại khi tìm hiểu thể lục bát trong Thơ mới 1932 - 1945 đã

đánh giá: “Nguyễn Bính là nhà thơ tiêu biểu của khuynh hướng thơ trở về với làn điệu ca dao Nguyễn bính làm được nhiều bài thơ lục bát mang phong cách ca dao, về hình ảnh ngôn ngữ nhịp điệu cũng như lối diễn đạt ( ) Nhịp điệu thơ lục bát Nguyễn Bính thanh thoát, linh hoạt Nguyễn Bính là một nhà thơ của đồng quê Nguyễn Bính là một nhà thơ tiểu tư sản thích viết về nông thôn theo cảm xúc và suy nghĩ riêng của mình Thơ lục bát của Nguyễn Bính bình dị trong nội dung xúc cảm nhưng cũng giàu chất thi vị về cuộc sống ở nông thôn” [10, 316]

Nhà nghiên cứu Đoàn Thị Đặng Hương trong bài viết Nguyễn Bính - thi

sĩ nhà quê khẳng định dáng hình riêng của thơ Nguyễn Bính trên thi đàn thơ

mới, trong đó đề cập vấn đề cách tân của Nguyễn Bính về mặt thi pháp trên thi đàn Thơ mới: “Ông là người có cống hiến lớn trong việc tiếp nhận và đưa vào những thay đổi trong giới hạn mà thi pháp dân gian cho phép để thực hiện những bước chuyển nghĩa mới trong tư duy thơ hiện đại Như đòi hỏi chung của tư duy Thơ mới (1932 - 1944) là phá vỡ các cấu trúc thơ ca truyền thống

và thơ ca cổ điển để vươn tới những cấu trúc tự do về mặt thể loại (về mặt này thì các nhà thơ đi trước và đồng thời với Nguyễn Bính trong làng Thơ mới đã làm: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Huy Cận và đặc biệt là với Xuân Diệu), đây thực sự là một cuộc cách mạng về thi pháp của thơ Việt Nam ( ) Trong cuộc cách mạng thơ này Nguyễn Bính đóng vai trò

Trang 7

là một nhà cách tân với công lao là đã phát triển và mở rộng thi pháp thơ ca dân gian” [16, 199]

Nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Quý trong Thi pháp dân gian trong phong

trào Thơ mới có đề cập về thể loại thơ lục bát ở thơ mới dân gian Nguyễn

Bính với đặc điểm cách tân trên phương diện hình thành khổ thơ: “Đặc điểm cách tân của thể thơ lục bát ở thơ mới dân gian Nguyễn Bính so với thể thơ lục bát cổ truyền là ở chỗ: việc hình thành khổ thơ Đơn vị khổ thơ chưa hề có

ở khổ thơ lục bát cổ truyền Thể thơ lục bát ở Thơ mới nói chung và ở Thơ mới dân gian Nguyễn Bính nói riêng xuất hiện đơn vị mới mẻ của ngôn ngữ thơ: đơn vị khổ thơ lục bát” [26, 336]

Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong Thi sĩ của hồn quê khẳng định

rằng: “Chỉ trong phạm vi thế kỉ này, giữa không biết bao nhiêu thi sĩ mà nông thôn nước ta đã cung cấp cho văn học, trước sau, Nguyễn Bính vẫn là một tài năng bậc nhất, hơn nữa, một tài năng tự nhiên, nghĩa là vừa dồi dào, vừa độc đáo Những bài thơ lục bát rất gần dân gian của ông được viết với một sự dễ dàng thanh thoát mà không bao giờ một người dụng công có thể làm nổi Rộng hơn câu chuyện về thơ lục bát là chữ nghĩa, là cách nói ví von ngẫu hứng và nhiều thi liệu khác nó khiến cho cách cảm, cách nghĩ của Nguyễn Bính rất gần gũi với nhiều người” [23, 206]

Lê Đình Kỵ trong bài viết Nguyễn Bính - thơ của truyền thống, của thế

hệ cũng đánh giá: “Nổi bật lên ở nguyễn Bính là ca dao, cả cảm xúc lẫn tư

duy, cả ý, tình, điệu Đã là ca dao thì theo thể lục bát với những ví von, những cách nghĩ, cách nói truyền thống Nhưng đó dù sao cũng chỉ là phần bên ngoài của ca dao Thơ Nguyễn Bính không chỉ giống ca dao ở cái vỏ bên ngoài mà đã tiếp thu được phần hồn của nó, được thể hiện vào những câu ca dao hay nhất mà một tác giả thời nay có thể viết ra được” [20, 220]

Đoàn Đức Phương trong công trình Thơ Nguyễn Bính với nghệ thuật

biểu hiện đậm đà sắc thái văn hóa dân gian cho rằng: “Trong thơ Nguyễn

Trang 8

Bớnh, õm hưởng của văn húa dõn gian cũn vang vọng ở thể lục bỏt - thể loại điển hỡnh nhất của ca dao dõn ca Thơ lục bỏt đó cú truyền thống lõu đời; với

sự tuần hoàn đều đặn của hai cõu sỏu - tỏm, với vần chõn và vần lưng bao giờ cũng hiệp vần theo thanh bằng, thể thơ này rất thớch hợp cho giọng kể lể, lời tõm sự, cho những nỗi niềm buồn đau thương xút, bõng khuõng nhớ nhung ( ) Nguyễn Bớnh đó phỏt huy cao độ sự phự hợp giữa đặc trưng của thể loại lục bỏt là mềm mại, uyển chuyển, giàu nhạc điệu với phong cỏch thơ của mỡnh là mộc mạc, đằm thắm, dịu dàng Nhà thơ thường dựng kiểu ngắt nhịp hai chữ một truyền thống, kiểu ngắt nhịp này tạo õm hưởng trầm buồn, tha thiết [25, 327] Dưới dạng là cỏc luận văn thạc sĩ, khúa luận tốt nghiệp trong cỏc trường

Đại học, nổi bật cú luận văn thạc sĩ Thể loại truyền thống thuần Việt trong

Thơ mới 1932 - 1945 của Th.S Biện Thị Quỳnh Nga Cụng trỡnh cú đề cập

đến thi phỏp thể loại lục bỏt Thơ mới, trong đú Nguyễn Bớnh được xem là một dẫn chứng tiờu biểu

Phong cách Thơ mới Nguyễn Bính, giọng điệu Thơ mới Nguyễn Bính là chất dân gian đậm đà thể hiện trong hình thức nghệ thuật của thể thơ lục bát Vì thể thơ lục bát Nguyễn Bính chính là thơ dân gian hiện đại Thơ Nguyễn Bính có sức hút mãnh liệt, dạt dào với đông đảo bạn đọc bao thế hệ và đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học quan tâm tìm hiểu, khám phá và khẳng định những sáng tạo độc đáo của nhà thơ với vai trò là một trong những nhà cách tân về mặt thi pháp Nguyễn Bính đã vận dụng hình thức của thơ ca dân gian đặc biệt là ca dao dân ca để chuyển tải nội dung thẩm mỹ của thơ mới

Như vậy, thơ Nguyễn Bớnh núi chung và thơ lục bỏt Nguyễn Bớnh núi riờng đó cú một bề dày lịch sử nghiờn cứu Và hầu hết cỏc nhà nghiờn cứu đều phỏt hiện và khẳng định được những đúng gúp đầy sỏng tạo và độc đỏo của Nguyễn Bớnh về đặc điểm nghệ thuật, hỡnh thức, cấu trỳc thể thơ lục bỏt Và nhỡn chung thơ lục bỏt của Nguyễn Bớnh đó được nghiờn cứu trờn nhiều

Trang 9

phương diện như vần, luật, nhịp điệu, ngôn ngữ và giọng điệu Ở đây cũng tìm hiểu, khảo cứu các vấn đề về thi luật thơ lục bát Nguyễn Bính trước Cách mạng (như vần, nhịp, luật bằng - trắc, cấu trúc ) nhưng chúng tôi muốn đặt vấn đề nghiên cứu đó dưới một góc nhìn mới: Đó là những bất biến (cái ổn định) và khả biến (cái thay đổi) trong thi luật thơ lục bát Nguyễn Bính trước

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Những bất biến và khả biến trong thi luật thơ lục bát Nguyễn Bính trước

1945

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Khóa luận tập trung khảo sát, tìm hiểu thể loại lục bát trong sáng tác của Nguyễn Bính trước 1945 xét trên phương diện đặc điểm thi luật

- Tài liệu mà khóa luận dùng làm văn bản khảo sát chính là cuốn Tuyển

tập Nguyễn Bính, Nxb Văn học, Hà Nội, 1986

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Xác định vị thế và đặc sắc của thơ lục bát Nguyễn Bính trong thơ

Việt Nam hiện đại

4.2 Chỉ ra những bất biến trong thi luật thơ lục bát Nguyễn Bính trước 1945

Trang 10

4.3 Nghiên cứu, tìm hiểu những khả biến trong thi luật thơ lục bát

Nguyễn Bính trước 1945

Cuối cùng rút ra một số kết luận về thi luật thơ lục bát Nguyễn Bính

trước 1945

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó có các phương pháp chính:

Với đề tài: Tìm hiểu những bất biến và khả biến trong thi luật thơ lục

bát Nguyễn Bính trước 1945, chúng tôi sẽ làm sáng rõ những đặc sắc cơ bản

của thơ lục bát Nguyễn Bính (xét trên phương diện đặc điểm thi luật của thể

loại); từ đây thấy được những kế thừa cùng những cách tân, sáng tạo của nhà

thơ đối với thể thơ truyền thống của dân tộc; qua đó khẳng định những đóng

góp không thể thay thế của Nguyễn Bính đối với phong trào Thơ mới nói

riêng và quá trình hiện đại hóa thơ ca Việt Nam nói chung Kết quả của khóa

luận còn góp phần khẳng định con đường đi đến hiện đại của thơ ca dân tộc

luôn luôn phải có sự tiếp nối, kế thừa truyền thống

6.2 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của khóa

luận được triển khai trong ba chương:

Ch-¬ng 1: Mét c¸i nh×n chung vÒ thÓ th¬ lôc b¸t vµ lục b¸t NguyÔn BÝnh

Ch-¬ng 2: Nh÷ng bÊt biÕn trong thi luËt th¬ lôc b¸t NguyÔn BÝnh tr-íc 1945

Ch-¬ng 3: Nh÷ng kh¶ biÕn trong thi luËt th¬ lôc b¸t NguyÔn BÝnh tr-íc 1945

Trang 11

Chương 1 MỘT CÁI NHÌN CHUNG VỀ THỂ THƠ LỤC BÁT

VÀ LỤC BÁT NGUYỄN BÍNH

1.1 Lục bát - thể thơ mang đậm tâm hồn, bản sắc Việt Nam

1.1.1 Khái niệm “thơ lục bát”

Thơ lục bát là thể thơ cách luật thuần túy Việt Nam Đơn vị cơ bản của

nó là một cặp câu, chiếm hai dòng thơ với số tiếng ổn định: câu lục, dòng trên (6 tiếng); câu bát, dòng dưới (8 tiếng) Số câu của một bài lục bát không hạn định, có thể từ hai đến hàng nghìn câu thơ Thể lục bát có dung lượng tối thiểu gồm một câu (gồm hai dòng, 14 tiếng) thấy rõ nhất trong ca dao Ví dụ:

- Giờ sao gió mát sau lưng,

Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này

- Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

Tác phẩm văn vần dài nhất của người Việt thời trung đại viết theo thể lục

bát là Thiên Nam ngữ lục gồm 8136 dòng

Thể lục bát có một hệ thống thi luật tương đối chặt chẽ, đạt đến hoàn chỉnh và ổn định từ trong văn học trung đại Trước hết, xét về vần Thanh điệu của vần chủ yếu là vần bằng (thanh ngang và thanh huyền) Vị trí gieo vần: lục bát vừa dùng vần chân (cước vận) tức gieo vần ở tiếng thứ 6 của câu lục, vừa dùng vần lưng (yêu vận) tức từ bắt vần ở tiếng thứ 6 của câu bát Tiếng thứ 8 của câu bát này lại tiếp tục thả vần (vần lưng) để tiếng thứ 6 của câu lục tiếp theo bắt vần (vần chân) Về luật phối điệu (luật bằng - trắc): các tiếng thứ 4 (ở cả câu lục, câu bát) phải là thanh trắc, các tiếng thứ 2, 6, 8 (ở cá câu lục và câu bát) phải là thanh bằng, nhưng tiếng thứ 6 và tiếng thứ 8 trong cùng một câu bát phải khác thanh so với nhau, tức là nếu tiếng thứ 6 là thanh huyền thì tiếng thứ 8 phải là thanh không hoặc ngược lại Nhịp điệu thơ lục

Trang 12

bát thông thường là ngắt nhịp chẵn, mỗi nhịp hai tiếng Ngoài ra, thể lục bát còn có những dạng biến thể: tiếng cuối của câu lục gieo vần xuống tiếng thứ 4 (có khi là tiếng thứ 2) câu bát Tiếng thứ 4 này vốn mang thanh trắc phải chuyển thành thanh bằng (trầm); thanh bằng ở tiếng thứ 2 đổi thành thanh trắc, thanh trắc ở tiếng thứ 4 đổi thành thanh bằng; có thể gặp lối ngắt nhịp lẻ mỗi nhịp 3 tiếng; câu thơ không còn kích thước thông thường mà có thể thêm hoặc bớt một số tiếng Đây là mô hình thi luật cơ bản của thể lục bát, tuy nhiên thơ lục bát vẫn cho phép mọi sự tìm tòi sáng tạo về âm luật trong các bài thơ cụ thể

Ngoài đặc điểm thi luật, thể lục bát cũng có chức năng và nội dung thể loại khá phong phú và đa dạng Trong văn học trung đại, kể cả văn học viết và văn học dân gian (ca dao, dân ca) thể lục bát đã phát huy thành công chức

năng tự sự, tự sự - trữ tình (trong các truyện thơ nổi tiếng như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu ) và một số

chức năng với nội dung giải trí, mua vui đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của đời sống người lao động (trong ca dao), ví dụ:

- Làm trai cho đáng nên trai Một trăm đám cỗ chẳng sai đám nào

- Xưa kia ta ở trên trời

Đứt dây rớt xuống làm người trần gian

Từ thế kỷ XX trở đi, trong đời sống văn học hiện đại, thể lục bát đặc biệt

có ưu thế trong trữ tình bộc lộ tâm trạng, cảm xúc của con người cá nhân cá thể trong cuộc sống hiện đại

1.1.2 Lục bát - thể thơ có hành trình xuyên suốt trong lịch sử thơ ca Việt Nam

Thể thơ lục bát đã có từ rất xa xưa, trong văn học dân gian, cụ thể là trong ca dao Riêng đối với văn học viết, hiện người ta vẫn chưa xác định được thời điểm ra đời của thể thơ lục bát Vấn đề này đã được nhiều nhà

Trang 13

nghiờn cứu thuộc nhiều thơi kỡ quan tõm Trong bài tựa Quốc õm từ điệu

(1886), Phạm Đỡnh Toỏi viết: “Biết thể thơ lục bỏt ấy sỏng tỏc từ thời nào và

ai là ng-ời đề x-ớng tr-ớc hết, sách x-a không nói đến, thật đáng tiếc cho nền

từ chương nước nhà” [29, 47] Cũng theo Phạm Đình Toái thì từ thời Trần - Lê (thế kỷ XIII - XVI), thơ lục bát đã đ-ợc sáng tác rất nhiều Tuy vậy, hiện ch-a

có cứ liệu nào về thể lục bát trong thơ Nôm đời Trần (thế kỉ XIII - XIV) Trên thư tịch còn lại ngày nay ng-ời ta còn thấy thể lục bát đ-ợc ghi lại sớm nhất trong một bài hát cửa đình của Lê Đức Mao (1462 - 1529), xen kẽ với thể nói

lối và song thất Trần Danh Án trong sách Nam phong giải trào cũng ghi đ-ợc

một số bài ca dao lục bát rút ra từ các bài hát cửa đình thời Lê Các cứ liệu trên cho thấy thể lục bát đã phổ biến đối với thơ Nôm cuối thế kỷ XV, đầu

XVI Các tác phẩm Nôm dùng thể thơ này ở nửa cuối thế kỷ XVI là Lâm

tuyền vãn (gần 2000 câu) của Phùng Khắc Khoan, Ngoạ Long c-ơng vãn (136

câu) và T- Dung vãn (236 câu) của Đào Duy Từ Cuối thế kỷ XVI hoặc đầu XVII xuất hiện Thiên Nam ngữ lục, một tập diễn ca lịch sử dài trên 8000 câu

lục bát Ở giai đoạn này thể thơ lục bỏt mới hỡnh thành và đến thế kỷ XIII - XVII đi vào ổn định Bước sang thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX lục bỏt phỏt triển mạnh và đạt đến trỡnh độ cổ điển Lục bát là thể thơ chủ yếu của ca dao,

của hàng trăm tác phẩm truyện Nôm mà đỉnh cao là kiệt tác Truyện Kiều của

Nguyễn Du, ng-ời đã đ-a lục bát đạt đến trình độ cổ điển trong văn học Nôm bác học thời trung đại Đầu thế kỉ XX, trong sự chuyển đổi từ mô hình văn học trung đại sang văn học hiện đại, qua những bàn tay tài hoa của Tản Đà, Nguyễn Bớnh, Huy Cận, Nguyễn Đỡnh Thư, thể lục bát đã đ-ợc cỏch tõn, làm mới trờn nhiều phương diện để tiếp tục là một trong những thể thơ tiếng Việt phổ biến và được yờu thớch Từ sau 1945, xuất hiện nhiều phong cỏch lục bỏt hết sức độc đỏo như Bựi Giỏng, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn Và đặc biệt, hiện nay trong nền văn học đương đại, nhiều bạn trẻ vẫn say mờ và tiếp tục làm thơ lục bỏt

Trang 14

Nhìn lại lịch sử thơ ca, ta thấy rằng các thể thơ ca cổ truyền dân tộc của

ta là những thể thơ đ-ợc sử dụng phổ biến và làm cơ sở cho sự ra đời của những thể thơ mới Trong phong trào Thơ mới, thể thơ lục bát đ-ợc nhiều nhà thơ mới sử dụng Đối với thể thơ lục bát, về cấu trúc vẫn ổn định còn về cú pháp thơ ca thì ít nhiều có sự thay đổi cho phù hợp với nội dung và tình cảm mới của các nhà thơ mới Nhiều nhà thơ mới sáng tác đ-ợc nhiều bài thơ lục bát có giá trị nh- Thế Lữ, Huy Cận, Nguyễn Bính Về hình thức thể thơ lục bát trong phong trào Thơ mới đ-ợc khai thác theo hai khuynh h-ớng là khuynh h-ớng hiện đại hoá và khuynh h-ớng trở về với ca dao

Khuynh h-ớng hiện đại hoá thể hiện khá rõ trong những bát của Thế Lữ, Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Huy cận Các nhà thơ mới đã vận dụng những đặc tr-ng vốn có của thể thơ lục bát để biểu đạt, gửi gắm những t- t-ởng, tình cảm mới Khuynh h-ớng trở về với ca dao, dân ca tiêu biểu nhất là nhà thơ Nguyễn Bính Những bài thơ lục bát của Nguyễn Bính mang phong cách ca dao dân gian về nội dung và cả hình thức, từ hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu đến cách diễn đạt

Phong trào Thơ mới là sự kiện lớn trong lịch sử văn học dân tộc, là một cuộc biến đổi lớn lao về thi pháp và t- duy thơ, nhất là về thể loại thơ bởi

“hình thức thơ ca gắn liền với cuộc sống và cuộc sống thay đổi thì hình thức thơ ca không thể không có những nét biến dạng” [10, 35] Thể thơ lục bát hoàn chỉnh với nhiều nét đặc sắc của nó mà chúng ta có đ-ợc ngày nay là kết tinh của sự sáng tạo của ông cha ta thông qua quá trình sản xuất và chiến đấu lâu dài bền bỉ Lục bát vẫn là một thể thơ phổ biến cả cho sáng tác dân gian

đ-ơng đại lẫn các diễn ca mang chức năng phi văn học (ví dụ diễn ca về quy tắc giao thông )

Lục bát là thể thơ có hành trình xuyên suốt trong lịch sử thơ ca Việt Nam Lục bát là thể thơ rất quen thuộc, phổ biến trong tục ngữ, ca dao, dõn ca, trong các làn điệu chèo, tuồng, trong bài văn, các tập diễn ca, các truyện thơ;

Trang 15

sau này thơ lục bát cũng đ-ợc dùng vào trong các thể thơ mới Ngày nay, trong thơ ca Việt nam hiện đại, thơ lục bát vẫn chiếm một vị trí quan trọng,

đ-ợc nhiều nhà thơ sử dụng và quần chúng yêu thích

1.1.3 Lục bỏt như là “quốc thơ” của Việt Nam

Trong lịch sử văn học Việt Nam, thể lục bát có vai trò đặc biệt quan trọng

và có sức sống mạnh mẽ Trong hệ thống thể loại văn học dân tộc, bên cạnh những thể loại vay mượn (ngoại nhập) là những thể loại thuần Việt (nội sinh), trong đó có thể thơ lục bát Cú thể khẳng định thể lục bát là sản phẩm nghệ

thuật do nhân dân ta sáng tác ra Ở thế kỷ XIX, trong bài tựa cuốn Quốc âm

thi tập, nhà nho Phạm Đình Toái đã có nhận xét khá tinh tế: “Thể thơ lục bát

đâu cũng quen thuộc không hẹn mà giống nhau, tao nhân mặc khách mà mở miệng nên thơ, gái dệt trai cày nói lời hợp điệu, cho đến câu hát của xóm làng, lời đùa của trẻ con,cũng không gì là không nhịp nhàng hợp vận” [5, 8] Số l-ợng tác giả làm thơ lục bát, số l-ợng tác phẩm thơ lục bát mà lịch sử văn học dân tộc đã có, đang cú và sẽ tiếp tục mãi mãi dòng chảy không bao giờ ngừng Đối với người Việt Nam, thể thơ lục bát giống như “cây nhà lá vườn”, là quý nhất, đ-ợc xem nh- “đặc sản” Với đặc điểm về gieo vần, ngắt nhịp, cấu trúc câu Thể thơ lục bát rất uyển chuyển, linh hoạt, đặc biệt phù hợp với tính cách của con ng-ời Việt Nam (vốn rất thích sự nhẹ nhàng, tinh tế, duyên dáng) Lục bát là thể thơ của dân tộc, mang cốt cách thuần tuý Việt nam Thể loại này có lẽ đã có từ rất xa x-a, trong ca dao Tuy nhiên, hiện nay ng-ời ta cũng chưa xác định đ-ợc niên đại ra đời cụ thể của thể lục bát trong văn học viết Thể thơ lục bát trong văn học viết Việt Nam tồn tại và phát triển qua ba thời kỳ lớn: thế kỷ XIII - XVII, XVIII - XIX, đầu XX - đến nay Ba thời kỳ này đồng thời cũng là quá trình vận động và phát triển của lục bát trên cả ba ph-ơng diện chức năng, nội dungvà thi pháp thể loại Xem xét chức năng và nội dung của thể lục bát, Cao Huy Đỉnh cho rằng: “Từ thế kỷ XVII, lục bát trở nên vạn năng, dùng để diễn tả mọi thứ cảm nghĩ, tự sự, trữ tình, nghị luận

Trang 16

cũng nh- diễn kịch, dù dung l-ợng dài ngắn, rộng hẹp, khó dễ đến đâu cũng

thích nghi đ-ợc” [7]

Từ văn học dân gian đến văn học hiện đại, lục bát vẫn luôn là thể thơ

chiếm vị trí quan trọng trong các tác phẩm văn ch-ơng Điều đó đã khẳng

định sức sống mạnh mẽ và ý nghĩa của thể loại này trong nền văn học dõn tộc Cùng với chiếc nón bài thơ, với tà áo dài, thể thơ luc bát đã hợp thành nét đẹp

truyền thống, bản sắc riêng của văn hóa Việt Nam Chính vì vậy, lục bát đ-ợc

xem nh- là “quốc thơ” của Việt Nam Người Việt Nam sáng tạo ra lục bỏt -

một thể loại văn học dân tộc và sử dụng nú để sáng tạo ra cỏc tỏc phẩm nghệ

thuật - những sản phẩm tinh thần cao quý Những tác phẩm văn ch-ơng ấy là

sự gửi gắm suy nghĩ, tình cảm, -ớc mơ, khát vọng của ng-ời Việt, phản ánh

đời sống hiện thực chân thành và cảm xúc của con ng-ời

1.2 Lục bỏt Nguyễn Bớnh

1.2.1 Nhà thơ Nguyễn Bớnh

Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính Nhà thơ sinh vào cuối xuân

đầu hạ năm 1918 ễng sinh ra và lớn lờn ở thôn Thiện Vịnh, xã Cộng Hoà,

huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định - một miền quê nằm trong cái nôi của nền văn

minh châu thổ Sông Hồng Gia đỡnh Nguyễn Bớnh là một gia đỡnh nhà nho

nghốo Cha Nguyễn Bính tên là Nguyễn Đạo Bình, làm nghề dạy học, còn mẹ

là bà Bùi Thị Miện, con gái một gia đình khá giả Nguyễn Bính mồ côi mẹ khi

ông mới sinh đ-ợc ba tháng, đõy là một mất mỏt lớn đối với ụng ễng từng

viết:

Tôi còn sống sót là may

Mẹ hiền mất sớm trời đày làm thơ

(Nhà tụi)

Thời nhỏ Nguyễn Bính không đ-ợc đi học ở tr-ờng mà chỉ ở nhà với cha

và cậu Ông tỏ ra là ng-ời có năng khiếu làm thơ từ nhỏ, lúc 13 tuổi ông đã

làm thơ Tuy nhiên mãi đến năm 1932, Nguyễn Bính mới rời quê ra Hà Nội và

Trang 17

từ đây bắt đầu nổi tiếng trong sự nghiệp sáng tác văn học với tác phẩm Cô hái

mơ ễng đạt giải khuyến khớch của Tự lực văn đoàn với tập thơ Tâm hồn tôi

(1940) Năm 1943 Nguyễn Bính đ-ợc giải nhất văn học Nam Xuyên ở Sài

Gòn với truyện thơ Cây đàn tì bà

Năm 1947, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống pháp ở Nam Bộ Nhà thơ hăng hái tham gia mọi công tác và đ-ợc giữ trách nhiệm trọng yếu nh- phụ trách hội văn hoá cứu quốc tỉnh Rạch Giá, phó chủ nhiệm tỉnh bộ Việt Minh ở tỉnh Rạch Giá, sau làm ban văn nghệ thuộc phòng tuyên huấn Quân khu VIII Thời gian này Nguyễn Bính sáng tác nhiều, cổ động tinh thần yêu n-ớc quyết chiến quyết thắng, giết giặc lập công Tháng 11/1954, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, ông công tác ở hội nhà văn Việt Nam Năm 1956, ông

làm chủ bút tuần báo Trăm hoa và đã cho đăng báo một số bài viết

Năm 1958, Nguyễn Bớnh công tác tại tr-ờng văn hoá thông tin tỉnh Nam

Định, ông đã góp phần vào sự tr-ởng thành của phong trào sáng tác văn nghệ của quê ông và thơ ông vẫn bám sỏt yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa ph-ơng cũng nh- của cả n-ớc Nguyễn Bính mất đột ngột vào sáng 30 tết năm

1966 khi ông vừa hoàn thành và cho in bài thơ Quê h-ơng - một bài thơ có

những báo hiệu của một giai đoạn mới trong đời thơ ông

Trong suốt 30 năm, Nguyễn Bính đã sáng tác trờn nhiều thể loại nh- thơ, kịch, truyện thơ Sức sáng tác của ụng rất mónh liệt, ụng viết rất đều và sống hết mình cho sự nghiệp thơ ca Hoạt động văn nghệ của ông phong phú, đa dạng song thành tựu xuất sắc nhất của Nguyễn Bớnh được độc giả yêu thích là thơ Thơ là mảng sáng tác kết tụ tài năng và tâm huyết của đời ông Riêng về thơ, có thể nói rằng ông là cây bút sung sức nhất của phong trào Thơ mới Sau Cách mạng, Nguyễn Bính vẫn cho ra đời rất nhiều tập thơ có giá trị

Nhìn chung, cuộc đời Nguyễn Bính tuy ngắn ngủi nh-ng sự nghiệp sáng tác của ông rất phong phú và đa dạng Mỗi chặng đ-ờng sáng tác của ông đều

có vẻ riêng, song sức mạnh và tâm huyết sáng tác của nhà thơ có lẽ dồn vào

Trang 18

giai đoạn tr-ớc Cách mạng Với lối viết giàu tính trữ tình dân gian, Nguyễn Bính đã tạo đ-ợc một g-ơng mặt riêng trong nền văn học hiện đại Việt Nam

Ông đ-ợc đông đảo độc giả công nhận nh- một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại Năm 2000, Nguyễn Bính đã đ-ợc Nhà n-ớc truy tặng giải th-ởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

1.2.2 Lục bỏt – thể thơ chủ đạo và thành cụng nhất của sự nghiệp thơ

ca Nguyễn Bớnh

Trong suốt 30 năm, Nguyễn Bớnh đó sỏng tỏc nhiều thể loại như thơ, kịch, truyện thơ, chốo Tuy nhiờn lục bỏt là thể thơ được Nguyễn Bớnh sử

dụng nhiều nhất Thống kờ từ cuốn Tuyển tập Nguyễn Bớnh [15] chỳng tụi

nhận thấy tập thơ cú 59 bài thỡ cú 37 bài theo thể lục bỏt (chiếm 62,7%) và 22 bài làm theo thể thơ khỏc (chiếm 37,3%) Trong đú, trước Cỏch mạng Nguyễn Bớnh cú 31 bài thơ lục bỏt (chiếm 52,5% so với cỏc thể thơ khỏc); sau Cỏch mạng cú 6 bài thơ lục bỏt (chiếm 10,1% so với thể thơ khỏc) Như vậy, sau Cỏch mạng số lượng thơ lục bỏt của Nguyễn Bớnh ớt hơn Thơ lục bỏt Nguyễn Bớnh đạt đến mức xuất sắc và cú ý nghĩa trường tồn Những điều đú đó chứng

tỏ Nguyễn Bớnh rất cú sở trường về lục bỏt Nguyễn Bớnh làm thơ lục bỏt như một năng khiếu thiờn bẩm Thi sĩ Mộng Tuyết nhận xột: “Bớnh viết lục bỏt nhanh như văn xuụi” [28, 61] Ngọc Giao cũng nhận xột: “Điều khiến tụi lạ là Nguyễn Bớnh chưa bao giờ phải đăm chiờu vũ túc về việc hoàn chỉnh một thi phẩm dài ngắn và khú dễ Anh thường ứng khẩu đọc trước mọi người, coi việc sỏng tạo một bài thơ dễ dàng như tớp rượu” [30, 62]

Cú thể núi, xột trong toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Bớnh, thể loại làm nờn văn nghiệp của ụng chớnh là thể lục bỏt Nguyễn Bớnh làm rất nhiều bài thơ lục bỏt Hệ thống cảm xỳc và những hỡnh ảnh trong thơ lục bỏt Nguyễn Bớnh mang rừ nột tớnh chất cỏ thể húa, cú sắc thỏi riờng làm nờn phong cỏch Nguyễn Bớnh Thơ ụng là thơ dõn gian hiện đại Nhờ cú hỡnh thức thơ phự hợp, tớnh chất cỏ thể húa tõm trạng và hỡnh ảnh trong thơ luụn gắn liền với sự

Trang 19

khẳng định vai trũ của chủ thể trong nhận thức và cảm thụ thẩm mỹ Những

bài thơ lục bỏt của Nguyễn Bớnh như Chõn quờ, Lỡ bước sang ngang, Cụ

hàng xúm, Tương tư mói mói neo đậu lũng người bao thế hệ

Như vậy, cú thể khẳng định lục bỏt chớnh là thể thơ chủ đạo và thành cụng nhất của sự nghiệp thơ ca Nguyễn Bớnh

1.2.3 Những đặc sắc cơ bản của lục bỏt Nguyễn Bớnh

Nguyễn Bính làm thơ từ năm 13 tuổi, bài thơ đầu trên của ông đ-ợc đăng

báo là bài Cô hái mơ Tập thơ Tâm hồn tôi (1937) của ông đã đ-ợc giải

th-ởng tự lực văn đoàn Từ đó ông liên tiếp sáng tác rất nhiều tác phẩm:

Lỡ b-ớc sang ngang (1940) H-ơng cố nhân (1941) Một nghìn cửa sổ (1941) M-ời hai bến n-ớc (1942) Ng-ời con gái ở lầu hoa (1942) Mây Tần (1942)

Ngoài ra có: Thơ lẻ (trước 1945)

Đồng Tháp M-ời (1955) Thơ lẻ (sau 1945)

Gửi vợ miền Nam (1955)

Đêm sao sáng (1962)

Nguyễn Bính là nhà thơ xuất sắc của phong trào Thơ mới 1932 - 1945 Có thể nói ông là g-ơng mặt Thơ mới nổi bật nhất giai đoạn 1940 - 1945 và thơ lục bỏt núi riờng cũng như toàn bộ sỏng tỏc của Nguyễn Bớnh núi chung trước Cỏch mạng chủ yếu tập hợp và ghi danh trong phong trào Thơ mới Vỡ vậy,

thực hiện đề tài “Những bất biến và khả biến trong thi luật thơ lục bỏt Nguyễn

Bớnh trước 1945”, những tỏc phẩm mà chỳng tụi khảo sỏt chủ yếu nằm trong

Trang 20

khuụn khổ Thơ mới (kể cả những sỏng tỏc lục bỏt của ụng trong “Tuyển tập Nguyễn Bớnh” đều thuộc Thơ mới)

Thơ Nguyễn Bính có hai đề tài chủ yếu là: nông thôn, làng quê và tha h-ơng Trong đó thơ về làng quê là bộ phận quan nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bính, góp phần hình thành phong cách nghệ thuật thơ độc đáo của Nguyễn Bính tr-ớc Cách mạng và đõy là đặc sắc cơ bản nhất của thơ lục bỏt Nguyễn Bớnh Nguyễn Bính được mệnh danh là “Nhà thơ chân quê”, “Thi

sĩ của đồng quê”

Giữa một thời đại mà “Sự đụng chạm với phương Tây đã làm tan rã bao nhiêu bức tường thành kiên cố”(Hoài Thanh) thì Nguyễn Bính vẫn đứng vững với tính chất quê mùa, mộc mạc, gần gũi với truyền thống dân tộc Ông là dẫn chứng tiêu biểu, xuất sắc, là đại diện cho một khuynh h-ớng thơ ca của phong trào Thơ mới: quay về cội nguồn dân tộc Trong khi hầu hết các thi sĩ trong phong trào Thơ mới chịu ảnh h-ởng của ph-ơng Tây thì Nguyễn Bính gắn bó

và hấp thu tinh hoa của ca dao, dân ca, truyện thơ dân gian cả về nội dung lẫn

hình thức Bài thơ Chân quê chính là tuyên ngôn thơ Nguyễn Bính:

Hoa chanh nở giữa v-ờn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê

Nguyễn Bính đã gắn bó sâu sắc với làng quê, tình quê qua những vần thơ của ông Có thể nói trong thơ ca thời kỳ hiện đại, Nguyễn Bính là ng-ời thành công hơn cả với những mảng thơ viết về làng quê Nguyễn Bính đã khơi dậy trong lũng ng-ời đọc tình cảm quê h-ơng: “Thơ Nguyễn Bính đã đánh thức ng-ời nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta Ta bỗng thấy v-ờn cam bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta một điều mà ng-ời ta không thể hiểu bằng lý trí, một

điều đáng quý” [28, 337]

Nhiều nhà thơ trong phong trào Thơ mới viết về làng quê nh- nhà thơ Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Tế Hanh, Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ và

Trang 21

Nguyễn Bính đã tạo nên một mảng thơ về quê h-ơng có giá trị và đậm đà màu sắc dân tộc Tuy nhiên bức tranh quê trong thơ Nguyễn Bính mới thực sự đầy

đủ nhất, nó không phải chỉ có vẻ bề ngoài của làng quê mà thấy đ-ợc tâm hồn quê trong đó Đó là một hồn quê Việt Nam nguyên vẹn, đậm đà nh- chính suy nghĩ, tình cảm của ng-ời nông dân chân lấm tay bùn, quanh năm s-ơng nắng

Đề tài về cuộc sống làng quê và đời sống tình cảm của ng-ời nông dân Việt Nam những năm tr-ớc cách mạng đi vào thơ Nguyễn Bính một cách tự nhiên, bình dị và nhanh chóng chiếm vị trí đặc biệt trong lòng ng-ời đọc Nguyễn Bính là thi sĩ của làng quê Tô Hoài có lần đã nhận xét : “Khi nào anh cũng là ng-ời của các xứ đồng, của cái dầu bay, của dây hoa lý, của m-a th-a, m-a bụi giữa mọi công ăn việc làm vất vả s-ơng nắng Bởi đấy là cốt lõi cuộc đời

và tâm hồn thơ Nguyễn Bính Quê h-ơng là tất cả và cũng là nơi in đậm dấu vết đời mình” [30, 150] Với Nguyễn Bính, phong vị quê h-ơng lúc nào cũng

đậm đà, chan chứa hơn bao giờ hết T- t-ởng nghệ thuật bao trùm mảng thơ viết về làng quê của Nguyễn Bính là niềm khát khao níu giữ những vẻ đẹp chân quê, bảo vệ nét văn hoá truyền thống:

Hôm qua em đi tỉnh về H-ơng đồng gió nội bay đi ít nhiều (Chõn quờ)

Nguyễn Bính muốn tìm về cội nguồn dân tộc Bài thơ Chân quê thể hiện

rõ điều đó:

Nói ra sợ mất lòng em Van em em hãy giữ nguyên quê mùa

Nh- hôm em đi lễ chùa

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh

Một nột đặc sắc nữa khụng thể thiếu trong thơ lục bỏt Nguyễn Bớnh là thơ lục bỏt của Nguyễn Bớnh khụng chỉ thể hiện chõn thực, sinh động cảnh quờ, tỡnh quờ, hồn quờ mà cũn vừa rất truyền thống, vừa rất hiện đại Thơ lục

Trang 22

bát của Nguyễn Bính kế thừa truyền thống trên phương diện mô hình thi pháp, thi luật và nội dung ý nghĩa Về mô hình thi pháp, thi luật, thơ lục bát Nguyễn Bính mang đậm dấu ấn của ngôn ngữ ca dao, thành ngữ, lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân lao động, gần gũi với “điệu than” của nhiều làn điệu dân ca:

- Vì tằm tôi phải chạy dâu

Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay

(Thời trước)

- Chị giờ sống cũng bằng không Coi như chị đã ngang sông đắm đò

(Lỡ bước sang ngang)

- Thày đừng nhớ, mẹ đừng mong

Cầm như đồng kẽm, ngang đường bỏ rơi Thày mẹ ơi, thày mẹ ơi

Tiếc công thày mẹ đẻ người con hư

(Thư gửi thày mẹ)

- Cái ngày cô chửa có chồng

Đường gần tôi cứ đi vòng cho xa

Từ ngày cô đi lấy chồng

Gớm sao có một quãng đường mà xa

(Qua nhà)

Ngôn ngữ thơ nguyễn Bính là ngôn ngữ trong sáng, giản dị, giàu màu sắc dân gian dân tộc Về mặt nội dung, ý nghĩa, thơ lục bát Nguyễn Bính thể hiện hồn quê, cảnh quê, tình quê, đậm đà bản sắc dân tộc Đó là thế giới cảnh quan thôn dã bình dị, gần gũi với những dậu mồng tơi, hoa chanh, hoa bưởi, giời cao, gió cả, trăng sáng, ao rau, hoa bướm, trầu cau, bến đò Thơ lục bát Nguyễn Bính cũng hiện đại ở cả hai phương diện nội dung, ý nghĩa và hình thức nghệ thuật Đó là những vần thơ thể hiện bản sắc con người cá nhân, cá

Trang 23

thể Nguyễn Bớnh đó cú sự cỏch tõn về vần, điệu, tạo dỏng lại cho cõu thơ lục bỏt Về điều này, Đoàn Thị Đặng Hương đó đỏnh giỏ: “Việc sáng tạo trong một cấu trúc có sẵn, một mô hình truyền thống cố định là điều khó khăn không kém sự sáng tạo ra những cấu trúc mới cho thơ Nguyễn Bính là nhà thơ đầu tiên trên thi đàn thơ hiện đại dùng hình thức của thơ ca dân gian (đặc biệt của ca dao, dõn ca) để chuyển tải nội dung thẩm mỹ của thơ mới: nội dung trữ tỡnh cỏ nhõn của một nhà thơ lóng mạn” [16, 188] So với các nhà thơ lãng mạn tr-ớc Cách mạng, Nguyễn Bính “đứng riêng một cõi” [20, 220] Nếu

có lẫn lộn thì chỉ có lẫn lộn với các tác giả vụ danh từ bao đời đã làm nên kho tàng ca dao vô giá của dân tộc Nổi bật lên ở thơ Nguyễn Bính là chất ca dao ở cả cảm xúc, cảm hứng và cả giọng điệu, t- duy thơ Thơ Nguyễn Bính thể hiện tính dân tộc và hiện đại xen lẫn, thơ ông là dấu nối giữa thơ hiện đại và thơ

dân gian Những bài thơ lục bát của Nguyễn Bính nh- Chân quê, T-ơng tự, Lỡ

b-ớc sang ngang, Ng-ời hàng xóm thể hiện rõ điều đó Nguyễn Bính đi tìm

tính chất Việt Nam lại trở về với ca dao Thơ Nguyễn Bính có cái vỏ mộc mạc của những câu hát đồng quê Thành công nhất của Nguyễn Bính khi viết về làng quê là ông đã phát huy đ-ợc thế mạnh của thể lục bát từ ca dao truyền thống Nét nổi bật trong thơ lục bát Nguyễn Bính trong sự khu biệt với lục bát

ca dao là ông đã thổi vào đó thứ hồn quê mang màu sắc cá nhân, tình cảm của con ng-ời hiện đại

Em nghe họ nói mong manh Hình nh- họ biết chúng mình với nhau (Chờ nhau)

Em ơi em ở lại nhà

V-ờn dâu em đốn mẹ già em th-ơng

Mẹ già một nắng hai s-ơng

Chị đi một b-ớc trăm đ-ờng xót xa

(Lỡ bước sang ngang)

Trang 24

Điều đó đã tạo nên vẻ đẹp, sức hút diệu kỳ, một luồng gió khác lạ và bất ngờ cho thi đàn thơ hiện đại Những hoa cỏ may, giậu mồng tơi, giàn trầu, hoa xoan, hoa b-ởi, cánh buồm nâu, v-ờn cam, v-ờn dâu, hoa h-ớng d-ơng đi vào thơ Nguyễn Bính với những dáng hình riêng, đậm phong vị quê:

Ai làm cả gió đắt cau

Mấy hôm s-ơng muối cho giầu đổ non

(Chờ nhau) Lòng anh nh- hoa h-ớng d-ơng Trăm nghìn đổ lại một ph-ơng mặt trời (Em với anh) Hôm nay d-ới bến xuôi đò Th-ơng nhau qua cửa tò vò nhìn nhau

Anh đi đấy, anh về đâu?

Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm

(Không đề)

Nh- vậy thơ Nguyễn Bính tính dân tộc và hiện đại xen lẫn hài hoà Tiếp thu và chọn lọc văn hoá dân tộc, tìm tòi những cánh thể hiện gần gũi thơ ca dân gian truyền thống, phong cách thơ Nguyễn Bính tập trung sinh động và

đậm đà nhất Nguyễn Bính xứng đáng là một “nghệ sĩ dân gian’’ Hồn quê Việt Nam nguyên vẹn, đậm đà, gần gũi với ca dao, dân ca thể hiện thành công trong hình thức thơ ca là thể thơ lục bát

Trang 25

Túm lại, những đặc sắc cơ bản của lục bỏt Nguyễn bớnh là đó thể hiện chõn thực, sinh động cảnh quờ, tỡnh quờ, hồn quờ đồng thời thơ lục bỏt Nguyễn Bớnh vừa rất truyền thống vừa rất hiện đại

1.2.4 Nguyễn Bớnh - một đỉnh cao của thơ lục bỏt

Trong phong trào Thơ mới núi riờng và thơ Việt Nam hiện đại núi chung, thơ lục bát đ-ợc rất nhiều nhà thơ sử dụng để sáng tác, trong đó nhà thơ Nguyễn Bính cú thể xem là một trong những đỉnh cao của thơ lục bát Việt Nam Thơ lục bát của Nguyễn Bính đặc sắc ở cả nội dung lẫn hình thức thể loại “Có thể nói Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ bậc nhất của thế kỷ này về thơ lục bát” [16, 195] Với ông, thể thơ dân tộc lục bát đã phát triển tới

đỉnh cao của nó trong thi đàn hiện đại Nguyễn Bính đã phát triển thi pháp thơ lục bát truyền thống để thể hiện những vấn đề phức tạp, trừu t-ợng trong cảm xúc tâm trạng của một nhà thơ mới lãng mạn và hiện đại Với những sáng tạo

độc đáo của mình, sự cách tân thể thơ lục bát cả về nội dung và hình thức, Nguyễn Bính đã khẳng định đ-ợc vị trí của mình trong nền văn học Việt Nam hiện đại Sáng tác của ông có sức sống lâu bền, có tầm phổ biến rộng rãi, có vị trí quan trọng trên thi đàn

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã viết: “Nếu các thi nhân ta đủ

chân thành để thừa h-ởng di sản x-a, nếu họ biết tìm đến thơ x-a với một tấm lòng trẻ, họ sẽ phát huy đ-ợc những gì vĩnh viễn hơn, sâu sắc hơn mà bình dị hơn trong linh hồn nòi giống” [27, 47] Nguyễn Bính là một nhà thơ nh- thế Thơ Nguyễn Bính thể hiện lòng yêu quý, trân trọng bản sắc văn hoá dân tộc

đó là ngôn ngữ dân tộc, gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt Đó cũng là lòng yêu quê h-ơng, đất n-ớc, gìn giữ, kế thừa và phát huy, sáng tạo kho tàng văn hoá truyền thống Nguyễn Bính đã làm sống lại vẻ đẹp của ca dao trong nguyên thể của nó đồng thời thể thơ lục bát của ụng cũn có những cách tân, sáng tạo mới mẻ

Trang 26

Tóm lại, Nguyễn Bính và thơ lục bỏt của ụng có vị trí quan trọng và không thể thay thế trong phong trào Thơ mới nói riêng, văn học Việt Nam hiện đại nói chung:

Nghìn sao lấp lánh trên trời Ngôi sao Nguyễn Bính vẫn ngời trong đờm

Vẫn ngời bởi những niềm tin Vẫn ngời bởi vẫn còn nghìn tình th-ơng

(Nguyễn Bớnh - một vỡ sao - Hoàng Tấn)

Trang 27

Chương 2 NHỮNG BẤT BIẾN TRONG THI LUẬT THƠ LỤC BÁT

Xét đặc trưng thi pháp của thể loại lục bát, trước hết phải nói đến vần Về thanh điệu của vần, vần trong thơ lục bát là những vần bằng nên nó góp phần giúp những bài thơ lục bát diễn tả nhịp điệu đều đều, miêu tả những động tác đều đặn, những tâm trạng bình yên mà lắng đọng Thơ lục bát đọc lên thấy hài hòa, cân đối, tính nhạc cao Đặc biệt, những bài thơ càng nhiều vần bằng, vần chính thì tính nhạc càng cao, sự nhịp nhàng cân đối càng tăng Vần có vai trò tạo ra những đặc trưng, sắc thái, giọng điệu nhịp nhàng, cân đối, êm ái, du dương như những lời ru của thơ lục bát Ví dụ:

- Cái bống là cái bống bình Thổi cơm nấu nước một mình mà thôi Trong nhà cho chí ngoài sân Mọi việc thu xếp đặt lần mới thôi

Rạng ngày có khách đến chơi Cơm ăn rượu uống cho vui lòng chàng (Ca dao)

- Bồng em mà bỏ vô vôi

Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

Trang 28

Mua vụi chợ Quỏn chợ Cầu Mua canh Bỏt Nhị, mua trầu Hội An

(Ca dao)

Về vị trớ gieo vần: Lục bát vừa dùng vần chân (c-ớc vận), tức gieo vần ở tiếng thứ 6 (câu lục), vừa dùng vần l-ng (yêu vận) tức từ bắt vần ở tiếng thứ 6 câu bát Tiếng thứ 8 của câu bát lại tiếp tục thả vần (vần l-ng) để tiếng thứ 6 của câu lục tiếp theo bắt vần (vần chân) Ví dụ:

Non cao những ngóng cùng trông Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày X-ơng mai một nắm hao gầy Tóc mây một mái đã đầy tuyết s-ơng

là thanh bằng nh-ng phải khác âm vực so với nhau, nghĩa là tiếng thứ 6 là thanh không thì tiếng thứ 8 phải là thanh huyền (“tang” - tiếng thứ 7 - “tình”)

và ng-ợc lại (“tình” - tiếng thứ 7 - “tang”)

Vớ dụ: - Trước sau nào thấy búng người

Hoa đào năm ngoỏi cũn cười giú đụng

Trang 29

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

- Trải qua một cuộc bể dõu Những điều trụng thấy mà đau đớn lũng

Luật đối lập trầm bổng trong thơ lục bát cú thể nói “là một trong những nguyên tắc rất đặc trưng của thi luật dân tộc” [24, 47]

Về nhịp: xột về tớnh chất hoàn chỉnh về mặt ngữ nghĩa, ngữ õm và ngữ điệu thỡ cả cặp lục bỏt 14 õm tiết được coi như một đơn vị nhịp điệu, trong đơn vị đú lại cú thể ngắt ra từng tiết tấu tựy theo cỏch diễn đạt của cõu thơ Thơ lục bỏt thường ngắt nhịp chẵn như nhịp 2/2/2 (cõu lục), nhịp 2/2/2/2 và 4/4 (cõu bỏt) Vớ dụ:

- Khi sao/ phong gấm/ rủ là

Giờ sao/ tan tỏc/ như hoa/ giữa đường

Mặt sao/ dày giú/ dạn sương Thõn sao/ bướm chỏn/ ong chường/ bấy thõn

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Trang 30

Có thể nói Nguyễn Bính dành cho thể thơ lục bát một sự -u ái đặc biệt trong hành trình sáng tạo thơ ca của nhà thơ Trong các thể thơ mà Nguyễn Bính sử dụng để sáng tỏc thơ ca thì thể lục bát chiếm số l-ợng lớn nhất Và dĩ nhiên những bài thơ lục bát đồ sộ ấy diễn tả một cách phong phú nhất, dồi dào nhất hình ảnh, cảm xúc, tâm trạng, thế giới nghệ thuật của hồn thơ Nguyễn Bính Cú thể thấy những bất biến trong thi luật thơ lục bát Nguyễn Bính tr-ớc

1945 trong quan hệ đối sánh với thơ lục bát cổ truyền đ-ợc biểu hiện ở các ph-ơng diện chủ yếu là: cách thức gieo vần và phối điệu (luật bằng trắc), nhịp điệu và cấu trúc

Về vần: trong thơ, vần thơ thực hiện 3 chức năng cơ bản là: tách biệt các

dòng thơ và tạo liên kết giữa chúng với nhau, tạo âm h-ởng, tiếng vang trong thơ, tạo tâm thế “chờ đợi vần” đối với các tiếng xuất hiện sau đó ở vị trí nhất

định nhằm làm nổi bật ý nghĩa của từ hiệp vần

Xột về vị trớ gieo vần: thơ lục bát Nguyễn Bính tr-ớc 1945 phần lớn đảm bảo mô hình chỉnh thể của thơ lục bát cổ truyền Đó là sự kết hợp hài hoà giữa

2 loại vần: vần l-ng và vần chân Tiếng cuối cõu lục gieo vần xuống tiếng thứ sỏu cõu bỏt, tiếng cuối cõu bỏt gieo vần xuống tiếng cuối cõu lục tiếp theo Vần chân đ-ợc gieo vào cuối dòng thơ, có tác dụng đánh dấu sự kết thúc dòng thơ và tạo nên mối liên hệ giữa các dòng thơ

Có cô lối xóm hàng năm Trồng dâu tốt lá, chăn tằm -ơm tơ

Năm nay đợi đến bao giờ Dâu cô tới lứa, tằm cô chín vàng Tơ cô óng chuốt mịn màng Sang xin một ít cho đàn có dây

(Đàn tôi)

Trang 31

Tiếng cuối câu lục gieo vần xuống tiếng thứ sáu câu bát, tiếng cuối câu bát gieo vần với tiếng cuối câu lục tiếp theo Ở đây là cỏc vần “ăm” (năm - tằm), “ơ” (tơ - giờ - cụ) và “ang” (vàng – màng - đàng)

Bài thơ Bên sông:

Có hai em bé học trò Xem con kiến gió đi giò lá tre Nửa xuôi từng một thôi bè Nắng sang bãi cát bên kia cho nhiều Thoáng nh- một lớp phù kiều Chim đàn nối cánh bay vèo ngang sông Thuyền buôn đã mấy ngày ròng Nằm suông, lái chửa ăn xong giá hàng

Bài thơ có sự kết hợp vần chân và l-ng một cách hài hoà Đó là cỏc vần

“o” (trũ - giũ), “e” (tre - bố - kia), “iêu” (nhiều - kiều - vốo), “ông” (sụng - rũng - xong)

Bài Thu rơi từng cánh:

Mựa thu hoa cỳc lại tàn Thuyền ai buộc mãi bên làn cây cong Ng-ời về để lạnh phòng không Thu rơi từng cánh cho lòng nhớ th-ơng

Có ng-ời cung nữ họ V-ơng Lên lầu nhìn dải sông H-ơng nhớ nhà

Bài thơ có ba cặp lục bát, nhà thơ sử dụng đến ba vần để gieo, đó là vần

“an” (tàn - làn), “ong” (cong - khụng - lũng), “ương” (thương - Vương - Hương)

Có thể kể đến rất nhiều bài thơ lục bát của Nguyễn Bính cho thấy cách gieo vần l-ng và vần chân ở vị trớ cố định (tiếng thứ 6 cõu lục, tiếng thứ 6 cõu bỏt và tiếng thứ 8 cõu bỏt) đ-ợc kết hợp hài hoà trong bài thơ Thống kờ cỏc

cặp vần trong 31 bài thơ lục bỏt của Nguyễn Bớnh trước Cỏch mạng từ Tuyển

Trang 32

tập Nguyễn Bớnh cho kết quả là: trong 157 cặp lục - bỏt, 441 cặp vần thỡ cú

202 cặp vần chõn (chiếm 45,80%), cú 239 cặp vần lưng (chiếm 54,20%) Bài

thơ gieo vần chõn nhiều nhất là bài Lỡ bước sang ngang cú 110 cõu thơ lục bỏt với 53 cặp vần chõn, bài Người hàng xúm cú 42 cõu thơ lục bỏt với 20 cặp vần chõn, bài Thư gửi thày mẹ và Anh về quờ cũ đều cú 30 cõu thơ lục bỏt với

14 cặp vần chõn Bài thơ gieo vần lưng nhiều nhất là bài Lỡ bước sang

ngang với 55 cặp vần lưng, bài Người hàng xúm với 21 cặp vần lưng, bài Anh

về quờ cũ cú với 15 cặp vần lưng, bài Tương tư với 10 cặp vần lưng

Về õm điệu của vần: tất cả các bài thơ lục bỏt của Nguyễn Bính đều gieo vần bằng đã tạo nên đ-ợc sự êm đềm, nhẹ nhàng, mêng mang, tính nhạc trong thơ, góp phần làm cho thơ Nguyễn Bính dễ đi vào lòng ng-ời một cách tự nhiên nhất:

- Từ ngày cô đi lấy chồng

Trang 33

Xanh rừng xanh núi da giời cũng xanh

Áo chàm cô mán thanh thanh Mắt xanh biêng biếc một mình t-ơng t-

(Vài nét rừng) Thống kờ từ Tuyển tập Nguyễn Bớnh [15] thấy rằng tỉ lệ thanh bằng trong

vần chiếm ưu thế hoàn toàn so với thanh trắc Kết quả thống kờ như sau: trong

31 bài thơ lục bỏt của Nguyễn Bớnh trước Cỏch mạng cú 350 cặp vần được gieo vần bằng (chiếm 100%)

Nh- vậy về gieo vần, thơ lục bát Nguyễn Bính h-ớng tới sự chuẩn mực

của thơ cách luật, nghĩa là hoàn toàn sử dụng vần bằng Bài thơ Lỡ b-ớc sang

ngang đạt đ-ợc mức độ hoà âm cao bằng cách triệt để sử dụng vần chính Vần

chính là sự hoà phối âm thanh ở mức độ cao giữa các tiếng đ-ợc gieo vần, trong đó bộ phận vần cái (kể từ nguyên âm chính đến cuối âm tiết hoàn toàn trùng hợp):

Em ơi! em ở lại nhà V-ờn dâu em đốn, mẹ già em th-ơng

Mẹ già một nắng hai s-ơng Chị đi một b-ớc trăm đ-ờng xót xa

Cậy em, em ở lại nhà V-ờn dâu em đốn, mẹ già em th-ơng

(Lỡ bước sang ngang)

Trong bài thơ này tỉ lệ các dòng thơ sử dụng các bộ vần có khuôn âm trùng khít là 87/110 dòng thơ

Bài Qua nhà cũng h-ớng tới mức độ hoà âm cao bằng cách sử dụng rất

nhiều vần chính:

Cái ngày cô chưa có chồng

Đ-ờng gần tôi cứ đi vòng cho xa Lối này lắm b-ởi nhiều hoa

Trang 34

(Đi vòng để đ-ợc qua nhà đấy thôi) Một hôm thấy cô c-ời c-ời Tôi yêu yêu quá nh-ng hơi mất lòng Biết đâu rồi chả nói chòng :

“Làng mình khối đứa phải lòng mình đây!"

Một năm đến lắm là ngày Mùa thu mùa cốm vào ngay mùa hồng

Từ ngày cô đi lấy chồng Gớm sao có một quãng đồng mà xa

Bờ rào cây b-ởi không hoa Qua bên nhà thấy bên nhà vắng teo

Lợn không nuôi, đặc ao bèo Giầu không giây chẳng buồn leo vào giàn Giếng thời m-a ngập n-ớc tràn

Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều

Bài Qua nhà có 11 dòng thơ/18 dòng thơ sử dụng bộ vần có khuôn âm

trùng khít Ở đây, ba cặp lục bát đầu bài (sáu dòng thơ) sự hoà phối âm thanh giữa các dòng thơ đ-ợc Nguyễn Bính sáng tạo bằng cách gieo vần thông (nghĩa là một loại vần tạo nên bởi sự hoà phối âm thanh giữa các tiếng đ-ợc gieo vần trong đó bộ phận vần cái (kể từ nguyên âm chính đến cuối âm tiết) không lặp lại hoàn toàn mà có thể khác biệt nhau chút ít) Đó là vần “ông - ong - a - oa - a - ôi - -ơi - ơi - ong” Đến cặp lục bát thứ t- trở đi sự hoà phối

âm thanh lại đ-ợc gieo vần chính: đó là vần “ong - ong”, “ay - ay”, “ông -

ông”, “eo - eo”, “an - an”

Trang 35

Bài thơ Giấc mơ anh lái đò cũng cho thấy sự kế thừa về thi luật lục bát

cổ truyền của Nguyễn Bính Bài thơ cũng đ-ợc gieo vần l-ng và vần chõn một cách hài hoà rất phổ biến trong lục bát Đồng thời, Nguyễn Bính cũng sử dụng rất nhiều thanh bằng

Năm x-a chở chiếc thuyền này Cho cô sang bãi t-ớc đay chiều chiều

Để anh mơ mãi mơ nhiều

T-ớc đay xe võng nhuộm điều ta đi

T-ng bừng vua mở khoa thi Anh đỗ quan trạng vinh quy về làng Võng anh đi tr-ớc võng nàng Cả hai chiếc võng cùng sang một đò

Đồn rằng đám c-ới cô to Nhà giai thuê chín chiếc đò đón dâu Nhà gái ăn chín nghìn cau Tiền cheo tiền c-ới chừng đâu chín nghìn

Lang thang anh dạm bán thuyền

Có ng-ời giả chín quan tiền lại thụi

Ở bài thơ này, tỉ lệ dòng thơ sử dụng bộ vần có khuôn âm trùng khít là 10 dòng /14 dòng

Khảo sát bài Anh về quê cũ và Th- gửi thày mẹ thấy 19 dòng thơ/ 30

Ngày đăng: 16/09/2021, 17:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (chủ biên), Bùi Trọng Cường (1999), Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân (chủ biên), Bùi Trọng Cường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
2. Lại Nguyên Ân (1988), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1988
3. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1987
4. Huy Cận, Hà Minh Đức (1997), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca
Tác giả: Huy Cận, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
5. Hoàng Minh Đạo (2009), Bài giảng: Văn học dân gian Việt Nam, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Hoàng Minh Đạo
Năm: 2009
6. Phan Cự Đệ (2002), Văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
7. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1974
8. Hà Minh Đức (1997), Một thời đại trong thi ca - về phong trào Thơ mới 1932- 1945, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thời đại trong thi ca - về phong trào Thơ mới 1932- 1945
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
9. Hà Minh Đức (1986), Nguyễn Bính, thi sĩ của đồng quê, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: thi sĩ của đồng quê
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1986
10. Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên (1971), Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại
Tác giả: Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1971
11. Hà Minh Đức, Đoàn Đức Phương (2007), Nguyễn Bính, về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính, về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức, Đoàn Đức Phương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
12. Nguyễn Thành Giang (2010), Tính truyền thống và hiện đại trong thơ tình lục bát Nguyễn Bính, http:/ www.saimonthidan.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính truyền thống và hiện đại trong thơ tình lục bát Nguyễn Bính
Tác giả: Nguyễn Thành Giang
Năm: 2010
13. Thái Thị Hoàng Hà (2009), Ngôn ngữ thơ lục bát Nguyễn Bính, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Thư viện Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ lục bát Nguyễn Bính
Tác giả: Thái Thị Hoàng Hà
Năm: 2009
14. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên),(1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
15. Tô Hoài (1986), Tuyển tập Nguyễn Bính, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyễn Bính
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1986
16. Đoàn Thị Đặng Hương, “Nguyễn Bính - thi sĩ nhà quê” trong sách Nguyễn Bính, về tác gia và tác phẩm (2007), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính - thi sĩ nhà quê"” trong sách "Nguyễn Bính, về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Đoàn Thị Đặng Hương, “Nguyễn Bính - thi sĩ nhà quê” trong sách Nguyễn Bính, về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
17. Đoàn Hương (2004), Văn luận, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn luận
Tác giả: Đoàn Hương
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004
18. Nguyễn Xuân Kính (2004), Thi pháp ca dao, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
19. Lê Đình Kỵ (1997), Thơ mới - những bước thăng trầm, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới - những bước thăng trầm
Tác giả: Lê Đình Kỵ
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
20. Lê Đình Kỵ, “Nguyễn Bính - thơ của truyền thống, của thế hệ” trong sách Nguyễn Bính, về tác gia và tác phẩm (2007), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính - thơ của truyền thống, của thế hệ"” trong sách "Nguyễn Bính, về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lê Đình Kỵ, “Nguyễn Bính - thơ của truyền thống, của thế hệ” trong sách Nguyễn Bính, về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm