BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN HỒ SƠ HÀNH CHÍNH SỐ 9/DA1 Khiếu kiện Quyết định XPVPHC về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng quản lý công trình hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng n
Trang 1BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
HỒ SƠ HÀNH CHÍNH SỐ 9/DA1
Khiếu kiện Quyết định XPVPHC về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng quản lý công trình hạ tầng đô thị và quản lý sử
dụng nhà
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ KIỆN:
Theo đơn kiện nội dung được tóm tắt như sau:
Gia đình bà Trần Thị Mơ sinh sống và canh tác trên khu đất ổn định không tranh chấp, nguồn gốc lưu truyền từ nhiều đời trên thửa đất 306 và 308 thuộc tờ bản đồ số 5 của năm 1938 và 1962
Vì hoàn cảnh khó khăn nên bố mẹ bà Trần Thị Mơ đã bán cho gia đình ông
bà Tý (bố đẻ ông Nguyễn Đình Yến) một phần đất có diện tích 250m2 Hai gia đình có thỏa thuận riêng là gia đình bà Mơ nhường lại phần đất có diện tích 3m x 2,5m để gia đình ông Yến mở ngõ đi chung với gia đình bà Mơ Số diện tích nối với diện tích 3m x 2,5 nêu trên là 8,5m x 2,5m được gia đình bà Mơ sử dụng làm ngõ của gia đình bà từ rất lâu đời Tất cả các diện tích đất nêu đều được hai gia đình nộp thuế sử dụng theo quy định của pháp luật
Phần đất tiếp giáp với ngõ đi chung của hai gia đình khi đó là đất gia đình
bà Trần Thị Mơ vẫn làm cổng tre rồi xây cổng gạch trên diện tích 8m x 2,5m nối 3m x 2.5m Năm 1991 gia đình bà Trần Thị Mơ xây cổng lại bằng cổng gạch, với móng bằng sắt, trụ gạch, mái bê tông Tuy nhiên vào thời điểm này, các gia đình hàng xóm liền kề, bao gồm gia đình ông Yến và chính quyền địa phương không có
ý kiến gì phản đối
Năm 2003 bà Quýt chia đất cho các con ở riêng, con bà Quýt muốn mở cổng ra ngõ thì không có đất và thế là phát sinh vấn đề tranh chấp việc xem phần đất của bà Mơ là đất riêng hay là lối đi chung? Bà Quýt đã có đơn đề nghị gửi chính quyền địa phương yêu cầu giải quyết xem phần đất của bà mơ là lối đi chung Tới 03/8/2005 bà Quýt lại có đơn đề nghị UBND xã Trúc Trạch về việc giải quyết tranh chấp ngõ đi chung với gia đình bà Mơ
Đầu năm 2006 (30/4/2006) , bà Quýt làm đơn kiến nghị gởi UBND huyện Long Trì và Phòng Tài nguyên & môi trường huyện Long Trì về việc gia đình bà
Mơ xây cổng lấn chiếm đất công Sau đó UBND xã Phúc Trạch tổ chức hòa giải cho các bên nhưng không thành Trong biên bản về giải quyết tranh chấp ngõ đi này, UBND xã Phúc Trạch chưa đề cập đây là ngõ đi chung hay là đất riêng!
Ngày 07/04/2006, UBND xã Phúc Trạch đã tiến hành hòa giải
Ngày 23/08/2006, UBND xã Phúc Trạch đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi: gia đình bà Mơ tự ý xây dựng cổng ra vào của gia đình trên vị trí đất công
Trang 2Ngày 31-8-2006 xã Phúc Trạch lại cĩ quyết định số 45/QĐ-CTUB gửi bà
Mơ về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm pháp luật nhưng gia đình bà Mơ không thực hiện
Ngày 07-12-2006, UBND xã Phúc Trạch ra quyết định số 87/QĐ-CTUB về việc cưỡng chế thi hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, việc cưỡng chế thi hành lúc 8h30 ngày 10-12-2006
Nhưng do an ninh khu vực ngày càng phức tạp, nên ngày 29/08/2007 gia đình bà Mơ quyết định xây dựng lại cổng nhà thì đã bị UBND xã Phúc Trạch lập biên bản đồng thời ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số : 118/QĐ-XP-UB ngày 30/08/2007 của Chủ tịch UBND xã Phúc Trạch
Ngày 30/08/2007 bà Mơ cĩ đơn khiếu nại quyết định số 118/QĐ-XP-UB ngày 30/08/2007 của Chủ tịch UBND xã Phúc Trạch xử phạt bà Mơ 300.000đ và buộc bà Mơ khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra
Không đồng ý vơi quyết định nêu trên, bà Mơ có đơn khiếu nại gửi UBND xã Phúc Trạch
Ngày 30/09/2007 UBND xã Phúc Trạch cĩ quyết định số 128/QĐ-UB bác đơn khiếu nại của bà Mơ
Ngày 18/10/2007, bà Mơ nộp đơn khởi kiện về hành chính tại Tịa án nhân dân huyện Long Trì, TP.H Ngày 02/11/2007, Tịa án nhân dân huyện Long Trì đã
ra thơng báo số : 127/2007/TB-TA thụ lý án hành chính; yêu cầu người bị kiện và các người cĩ quyền lợi nghĩa vũ liên quan gửi Tịa án ý kiến trả lời về vụ án hành chính
Đến ngày 27/12/2007, Tịa án nhân dân huyện Long Trì đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/HCST-QĐXX
1 Xác định tư cách đương sự:
a) Người khởi kiện : Bà Trần Thị Mơ, sinh năm: 1944
Địa chỉ : Đội 1 Mộc Hương, xã Phúc Trạch, huyện Long Trì, TP.H
b) Người bị kiện : Chủ tịch UBND xã Phúc Trạch, huyện Long Trì, TP H c) Người cĩ quyền lợi và nghĩa vụ liên quan :
- Bà Phạm Thị Quýt
- Anh Nguyễn Đình Lợi, 1982
- Bà Nguyễn Thị Vân, đại diện cho chị Nguyễn Thị Dung ủy quyền
- Ơng Nguyễn Đình Nhạn, đại diện cho anh Nguyễn Đình Thắng ủy quyền
2 Đối tượng khởi kiện:
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số : 118/QĐXP-UB ngày 30/08/2007, xử phạt hành vi vi phạm tại điều 6 khoản 2 điểm a của Nghị định
Trang 3126/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 26/05/2004 về hành vi “xây dựng trên đất lấn chiếm “đối với chủ đầu tư tổ chức xây dựng bộ phận cơng trình”
3 Yêu cầu khởi kiện:
Yêu cầu tịa án tuyên hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 118/QĐXP-UB ngày 30/08/2007 về lĩnh vực đất đai của Chủ tịch UBND xã Phúc Trạch, huyện Long Trì, TP H
4 Điều kiện khởi kiện:
Điều kiện khởi kiện hợp lệ vì đã thực hiện giai đoạn “tiền tố tụng”
- Ngày 30/08/2007 bà Trần Thị Mơ đã làm đơn khiếu nại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số : 118/QĐXP-UB gửi UBND xã Phúc Trạch (bút lục 6) Sau đĩ Ủy ban nhân dân xã Phúc Trạch đã ra quyết định giải quyết khiếu nại số 128/QĐ-UB ngày 30/09/2007 bác đơn khiếu nại của bà Mơ (bút lục 7)
5 Thời hiệu khởi kiện:
Là 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khơng thỏa đáng đối với cơ quan giải quyết khiếu nại lần đầu
Quyết định giải quyết khiếu nại số : 128/QĐ-UB ngày 30/09/2007 bác đơn khiếu nại của bà Trần Thị Mơ (bút lục 7) Đơn khởi kiện của bà Mơ ghi ngày 18/10/2007 (bút lục 1,2) Như vậy, bà Mơ nộp đơn tại Tịa án nhân dân huyện Long Trì, TP H nằm trong thời hạn khởi kiện theo luật định
II KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TỊA:
Danh sách dự kiến các câu hỏi tại phiên tòa của luật sư bảo vệ người khởi kiện:
Hỏi bên bị khởi kiện:
- Xin ơng cho biết trước khi xã cùng nhân dân làm đường tại ngõ Bạch Mã thì UBND xã cĩ khảo sát trước hay khơng?
- Theo lời khai của bà Mơ và lời làm chứng của ơng lưu Đức Ao thì bà Mơ
đã làm cổng rào trước khi làm đường cĩ đúng khơng?
- Khi thực hiện chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm, xã đứng ra huy động hay do các hộ dân cam kết tự nguyện gĩp tiền, gĩp đất?
- Cĩ văn bản nào thể hiện việc gĩp đất của dân để làm đường hay khơng?
- Từ năm 1991 đến năm 1994 bà Mơ đã mấy lần sửa và xây cổng lại bằng gạch nếu vi phạm tại sao UBND xã khơng cĩ ý kiến?
- Xin ông cho biết, UBND xã có nhận được khiếu nại về việc bà Mơ vi phạm không? Là ai khiếu nại? Thời gian cụ thể khi nào?
- Xin ông cho biết tại sao khi thu thuế nhà đất tại nhà bà Mơ thì thu thuế là 944m2 nhưng sao đĩ đo vẽ lại chỉ tính đất nhà bà Mơ cĩ 928m2?
- Ơng cho biết các căn cứ pháp lý và trình tự thủ tục khi xã ra Quyết định 118/QĐXP-UB về xử phạt VPHC đối với hành vi của bà Mơ?
Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Trang 41> Hỏi bà Phạm Thị Quýt:
- Xin bà cho biết việc mua bán đất giữa 2 nhà từ khi nào? Khi mua bán có thỏa thuận về lối đi chung không?
- Khi gia đình bà Mơ để phần đất làm lối đi chung, gia đình bà có thực hiện nghĩa vụ đền bù gì cho gia đình bà Mơ không?
- Từ khi bà về ở với ơng Yến đến trước khi làm đường thì bên nhà bà Mơ
đã cĩ hàng rào bằng tre đúng khơng?
- Năm 1991 khi bà Mơ sửa nhà cĩ xây lại hàng rào đúng khơng?
- Khi đĩ bà cĩ ý kiến gì với gia đình bà Mơ hay khơng?
- Lý do để bà khiếu nại việc bà Trần Thị Mơ làm cổng chiếm ngõ đi chung
cĩ phải do khi bà chia đất cho các con thì phần đất đĩ khơng cĩ lối đi ra đúng khơng?
- Năm 1992 bà tham gia lát ngõ đi chung vậy ngỏ được lĩt tới đâu, cĩ lát hết vị trí đất gia đình bà khơng?
- Khi lĩt ngỏ bà cĩ thỏa thuận gì với UBND xã về việc hiến đất làm lối đi chung khơng?
- Bà Mơ đã mấy lần sửa rồi xây cổng bằng bê tơng sao bà khơng cĩ ý kiến
gì phản đối?
- Vị trí nhà bà cịn tiếp giáp với bất động sản liền khác để thơng ra lối đi tiện lợi hơn đi chung với bà Mơ hay khơng?
2> Hỏi ơng Trần Đình Thục:
- Xin ơng cho biết việc lát gạch ngõ đi chung năm 1992 diện tích lát gạch trong ngõ tới đâu?
- Theo ơng trình bày trong BL 20 thì việc lĩt gạch chỉ vừa qua cơng sắt cũ của nhà Bà Mơ nhưng khơng đáng kể cĩ đúng như thế khơng?
- Cũng theo BL 20 thì ơng cĩ biết việc gia đình bà Mơ cĩ thỏa thuận bớt lại chỉ một phấn ngõ đi cho gia đình Bà Quýt đúng khơng?
3> Hỏi ơng Lưu Đức Ao:
- Xin ơng cho biết việc ơng xây cổng cho Bà Mơ là trước khi UBND xã làm đường cĩ đúng khơng?
- Khi đĩ cĩ ai ngăn cản việc xây dựng đĩ khơng?
4> Hỏi ơng Nguyễn Danh Nhượng:
- Xin ơng cho biết cĩ phải ơng xây nhà vào năm 1986 khơng?
- Vậy cĩ phải khi đĩ bên nhà bà Mơ đã cĩ cổng hay khơng? Và chính vì vậy nên khi ơng xây nhà khơng trát được hết đúng khơng?
Hỏi nguyên đơn bà Trần Thị Mơ:
- Gia đình bà đã được cấp Giấy CNQSDĐ chưa?
Trang 5- Bà cho biết việc bố mẹ bà bán đất cho gia đình ông Nguyễn Đình Yến và hai bên thỏa thuận chỉ lùi lại 1 phần đất là 3m x 2,5m là nói miệng hay bằng văn bản? Việc nầy có ai biết không?
- Năm 1993 gia đình bà có kê khai hiện trạng đất với bộ phận quản lý đất đai của xã không?
- Bà xác định lại với Hội đồng xét xử, vào năm 1993 bà có ký vào sơ đồ đất liền kề gia đình bà Phạm Thị Quýt không?
- Lý do vì sao bà ký?
- Bà cho biết khi bào xây hàng rào vào năm 1991 có ai khiếu nại không?
III VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐƯỢC ÁP DỤNG:
1 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy Ban nhân dân năm 2003;
2 Luật khiếu nại tố cáo năm 1998 đã sửa đổi bổ sung 2004, 2005;
3 Luật đất đai năm 1998 – 2003;
4 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính số 44/2002 PL-UBTVQH10 ngày 02/7/2002;
5 Nghị định 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính;
6 Nghị định 126/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2004 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động quản lý xây dựng công trình hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà;
7 Thông tư số 01/2005/TT-BXD ngày 21/01/2005 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 126/2004/NĐ-CP;
8 Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đất đai;
9 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đất đai;
10 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã sửa đổi bổ sung 2006;
11 Nghị định 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số s9ie62u của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo;
12 Nghị quyết 04/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996, 1998, 2006
IV BẢN LUẬN CỨ :
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Long Trì, ngày tháng năm
Trang 6BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ
Kính thưa Hội đồng xét xử ;
Thưa Đại diện Viện Kiểm sát;
Thưa các vị Luật sư đồng nghiệp
Tôi là Luật sư ………… , thuộc Văn phòng Luật sư X Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh Theo yêu cầu của bà Trần Thị Mơ, được sự cho phép của quý Tòa, hôm nay tôi tham gia phiên tòa với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Thị Mơ trong vụ kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 118/QĐXP-UB của UBND xã Phúc Trạch, huyện Long Trì, Thành phố H
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Từ trước cách mạng tháng 8 bố mẹ bà Trần Thị Mơ đã bán cho gia đình ông bà Tý (bố đẻ ông Nguyễn Đình Yến) diện tích 250m2 Hai gia đình có thỏa thuận riêng là gia đình bà Mơ nhường lại phần đất có diện tích 3m x 2,5m để gia đình ông Yến mở ngõ đi chung với gia đình bà Mơ Số diện tích nối với diện tích 3m x 2,5 nêu trên là 8,5m x 2,5m được gia đình bà Mơ sử dụng làm ngõ của gia đình bà từ rất lâu đời Tất cả các diện tích đất nêu đều được hai gia đình nộp thuế
sử dụng theo quy định của pháp luật
Giáp ngõ đi chung là đất gia đình bà Trần Thị Mơ vẫn làm cổng tre rồi xây cổng gạch trên diện tích 8m x 2,5m nối 3m x 2.5m Từ năm 1991 đến 1994 gia đình bà Trần Thị Mơ xây cổng lại bằng cổng gạch, với móng cừ bằng sắt, trụ gạch, mái bê tông Tuy nhiên vào thời điểm này, các gia đình hàng xóm liền kề, bao gồm gia đình ông Yến và chính quyền địa phương không có ý kiến gì phản đối
Năm 2003 bà Phạm Thị Quýt (là vợ hai ông Nguyễn Đình Yến) có chia đất cho các con ở riêng, con bà Phạm Thị Quýt muốn mở cổng ra ngõ thì không có đất Do đó bà Phạm Thị Quýt có đơn đề nghị gửi chính quyền địa phương yêu cầu giải quyết Tới 03/8/2005 bà Phạm Thị Quýt lại có đơn đề nghị UBND xã Trúc Trạch về việc giải quyết tranh chấp ngõ đi chung với gia đình bà Trần Thị Mơ
Đầu năm 2006 (30/4/2006) , bà Quýt (vợ hai của ông Yến) làm đơn kiến nghị gởi UBND huyện Long Trì và Phòng Tài nguyên & môi trường huyện Long Trì về việc gia đình bà Mơ xây cổng lấn chiếm đất công Sau đó UBND xã Phúc Trạch tổ chức hòa giải cho các bên nhưng không thành Trong biên bản về giải quyết tranh chấp ngõ đi này, UBND xã Phúc Trạch chưa đề cập đây là ngõ đi chung
Ngày 07/04/2006, UBND xã Phúc Trạch đã tiến hành hòa giải
Ngày 23/08/2006, UBND xã Phúc Trạch đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi: gia đình bà Mơ tự ý xây dựng cổng ra vào của gia đình trên
vị trí đất công
Nhưng do an ninh khu vực ngày càng phức tạp, nên ngày 29/08/2007 gia đình bà Mơ quyết định xây dựng lại cổng nhà thì đã bị UBND xã Phúc Trạch lập
Trang 7biên bản đồng thời ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số : 118/QĐ-XP-UB ngày 30/08/2007 của Chủ tịch UBND xã Phúc Trạch
Ngày 30/08/2007 bà Mơ cĩ đơn khiếu nại quyết định số 118/QĐ-XP-UB ngày 30/08/2007 của Chủ tịch UBND xã Phúc Trạch
Ngày 30/09/2007 UBND xã Phúc Trạch cĩ quyết định số 128/QĐ-UB bác đơn khiếu nại của bà Mơ
Ngày 18/10/2007, bà Mơ nộp đơn khởi kiện về hành chính tại Tịa án nhân dân huyện Long Trì, TP.H Ngày 02/11/2007, Tịa án nhân dân huyện Long Trì đã
ra thơng báo số : 127/2007/TB-TA thụ lý án hành chính; yêu cầu người bị kiện và các người cĩ quyền lợi nghĩa vũ liên quan gửi Tịa án ý kiến trả lời về vụ án hành chính
Đến ngày 27/12/2007, Tịa án nhân dân huyện Long Trì đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/HCST-QĐXX
Bà Mơ khởi kiện yêu cầu Tịa án nhân dân huyện Long Trì tuyên hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 118/QĐXP-UB ngày 30/08/2007 của Chủ tịch UBND xã Phúc Trạch, huyện Long Trì, TP H
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và phân tích, đánh giá các chứng cứ, đồng thời căn cứ vào phần xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin đưa ra một số quan điểm dựa trên căn cứ pháp luật để bảo vệ cho thân chủ của tôi như sau:
Biên bản vi phạm hành chính số 13/BB-VPHC ngày 29/08/2007, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 118/QĐXP-UB ngày 30/08/2007, cơng văn trả lời của UBND xã Phúc Trạch gửi Tịa án nhân dân huyện Long Trì (bút lục 41, 42) UBND xã Phúc Trạch dựa vào các căn cứ pháp lý sau:
- Điều 6 khoản 2 điểm a Nghị Định 126/2004/NĐ-CP ngày 26/05/2004 của Chính Phủ về xử phạt hành chính trong hoạt động xây dựng, quản lý cơng trình hạ
tầng đơ thị và quản lý sử dụng nhà “Xử phạt chủ đầu tư tổ chức xây dựng bộ phận cơng trình, cơng trình trên đất khơng được xây dựng Xây dựng trên đất lấn chiếm”
- Điều 13 khoản 2 điểm đ Luật đất đai năm 2003 qui định: “Đất sử dụng vào mục đích cơng cộng gồm đất giao thơng, thủy lợi; đất xây dựng các cơng trình văn hĩa, y tế giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích cơng cộng; đất cĩ di tích lịch sử, văn hĩa, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng các cơng trình cơng cộng khác theo quy định của Chính phủ”
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai Tại điều 6 khoản 5 điểm b cĩ qui định cụ thể các loại đất được
sử dụng vào mục đích cơng cộng như sau ” b) Đất chuyên dùng bao gồm đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng cơng trình sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phịng, an ninh; đất sản xuất, kinh doanh phi nơng nghiệp; đất sử dụng vào mục đích cơng cộng.
Trang 8Đất sử dụng vào mục đích công cộng là đất sử dụng vào mục đích xây dựng công trình đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, cảng đường thuỷ, bến phà, bến xe
ô tô, bãi đỗ xe, ga đường sắt, cảng hàng không; hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống công trình thuỷ lợi, đê, đập; hệ thống đường dây tải điện, hệ thống mạng truyền thông, hệ thống dẫn xăng, dầu, khí; đất sử dụng làm nhà trẻ, trường học, bệnh viện, chợ, công viên, vườn hoa, khu vui chơi cho trẻ em, quảng trường, sân vận động, khu an dưỡng, khu nuôi dưỡng người già và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, cơ sở tập luyện thể dục thể thao, công trình văn hoá, điểm bưu điện -văn hoá xã, tượng đài, bia tưởng niệm, nhà tang lễ, câu lạc bộ, nhà hát, bảo tàng, triển lãm, rạp chiếu phim, rạp xiếc, cơ sở phục hồi chức năng cho người khuyết tật, cơ sở dạy nghề, cơ sở cai nghiện ma tuý, trại giáo dưỡng, trại phục hồi nhân phẩm; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng hoặc được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định bảo vệ; đất để chất thải, bãi rác, khu xử lý chất thải;”
Nhưng theo Luật đất đai năm 2003 và Nghị định 181/2004/NĐ-CP thì phần đất của gia đình bà Mơ đã bị UBND xã Phúc Trạch đã cho là “đất công” thì không nằm trong qui định của pháp luật về đất đai là “đất công cộng” Mặt khác, theo điều 1 khoản 1 của Nghị định 126/2004/NĐ-CP ngày 26/05/2004 của Chính phủ
về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, quản lý công trình hạ
tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà qui định về phạm vi điều chỉnh “Nghị định này quy định các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, quản lý công trình hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà; hình thức và mức xử phạt; thẩm quyền và thủ tục xử phạt; khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo” Do
ngõ Bạch Mã thuộc xã Phúc Trạch không là công trình hạ tầng đô thi và phần đất
bị buộc là lấn chiếm không phải là đất đô thị, càng không phải là nhà ở trong khu
đô thị Do đó, căn cứ pháp luật về xử phạt hành vi vi phạm hành chính do UBND
xã Phúc Trạch nêu trên là không đúng căn cứ pháp lý
Theo Điều 3 khoản 1 của Nghị định 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002
qui định “Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính được quy định cụ thể trong các văn bản luật của Quốc Hội, pháp lệnh của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội và Nghị định của Chính phủ Các văn bản do Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành để chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền không được quy định hành vi vi phạm hành chính và hình thức, mức xử phạt;” và theo Điều 2
PLXLVPHC 2002 thì thẩm quyền quy định hành vi vi phạm hành chính như
sau: “ Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước; quy định chế độ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ
sở chữa bệnh, quản chế hành chính” Vì vậy pháp luật quy định chỉ có Chính phủ
mới có thẩm quyền quy định về hành vi vi phạm hành chính và áp dụng các biện
Trang 9pháp xử lý hành chính khác, do đĩ các cơ quan khác khơng được tư ý quy định trái thẩm quyền Thế nên quyết định số 118/QĐXP-UB xử phạt bà Mơ 300.000đ do hành vi “tự ý xây dựng công trình trên đất công – lối đi chung”, việc này là không hợp lý, là trái với quy định của pháp luật Hơn nữa theo quy định tai khoản 1, điều 4 Nghị định 126/2004/NĐ-CP ngày 26/5/2004: “thời hiệu xử phạt
vi phạm hành chính là 02 năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện” Mà ở đây việc bà Mơ xây dựng cổng sắt là hành vi sửa chữa lại cổng đã tồn tại từ trước đĩ rất lâu chứ không phải là hành vi mới làm phát sinh thay đổi hiện trạng, do đó hành vi này không thể xem là hành vi vi phạm được Vì thế việc xử phạt hành vi bà Mơ sửa chữa cổng sắt của chủ tịch UBND xã Phúc Trạch là không có căn cứ và không hợp lý Các văn bản của UBND xã Phúc Trạch làm căn cứ trong lần xử lý cưỡng chế tháo dỡ cổng nhà bà Mơ đầu tiên năm 2004 là cơng văn 138 của Phịng địa chính nhà đất và đơ thị chỉ nêu ý kiến riêng của từng
cơ quan, cũng như ý kiến chỉ đạo của cấp trên mà khơng cĩ bất kỳ căn cứ nào chính thức xác nhận và cơng nhận khu đất này là đất cơng và bản vẽ quy hoạch chi tiết khu vực
Thêm nữa căn cứ để UBND xã Phúc Trạch ra quyết định 118 là từ cơ sở xác định công trình bà Mơ mới xây dựng nằm trên “đất công”, căn cứ này cũng thật sự chưa thuyết phục
Theo điều 275- Bộ luật dân sự 2005 quy định về lối đi qua bất động sản liền kề thì khi bán đất, gia đình bà Mơ đã dành cho gia đình ông Yến lối đi, đó là phần diện tích 3x2,5m Còn về phần diện tích 8,5x2,5m liền kề mà từ trước đến nay gia đình bà Mơ vẫn dùng như lối đi không hề có văn bản nào thỏa thuận đây là lối đi chung Trên thực tế, phần đất này vẫn thuộc quyền sở hữu của bà Mơ và bà Mơ đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính về thuế nhà đất từ trước cho đến hiện nay là 944m2 như theo trích lục bản đồ năm 1994 mà chúng ta đã làm rõ qua quá trình hỏi tại tòa Vì thế một lần nữa tôi khẳng định, phần đất bà Mơ xây dựng cổng là thuộc quyền sở hữu của bà Mơ chứ không phải là đất công như trong khẳng định của ông Đinh Văn Bái - chủ tịch UBND xã Phúc Trạch
Trang 10Từ những lời khai trong hồ sơ của ông Thục và ông Ao (căn cứ bút lục số
22, 23) và theo kết quả đã trả lời của các bên trong phần hỏi tại tòa, việc xây dựng, sửa chữa cổng đã xảy ra từ lâu và vào thời điểm đó không hề có sự tranh chấp, khiếu kiện nào của các hộ xung quanh hay sự can thiệp của chính quyền địa phương Hành vi xây dựng cổng rào của gia đình bà Mơ nhằm bảo vệ an ninh cho gia đình cũng như thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (căn cứ điều 107 – Luật đất đai) Do đó việc năm 2006, UBND xã lập biên bản hành vi vi phạm và xử phạt là không căn cứ tình hình thực tế cũng như việc đảm bảo quyền và nghĩa vụ của bà Mơ đối với đất đang sở hữu
Xét và nguồn gốc sử dụng đất thì các thửa đất của gia đình bà Mơ, bà Quýt
và ơng Lượng trước đây là của cùng một chủ đất, sau đĩ chia cho các con, người ở phía ngồi phải bớt ngỏ cho người ở phía trong (BL 20) Gia đình nhà ơng Yến – chồng là bà Quýt là người mua lại, đến ở sau từ trước cách mạng tháng tám năm
1945 đến nay đã thể hiện sự cĩ ranh giới, ổn định khơng cĩ tranh chấp là khách quan Nên bà Quýt cho rằng bà Mơ lấn chiếm đất cơng (ngỏ đi chung) để xây dựng cổng rào là khơng cĩ cơ sở thực tế Tại trích lục bản đồ (BL79) năm 1962 thì thửa 306 và 308 là của gia đình bà Mơ đồng thời nĩ cịn phù hợp trích lục bản đồ của UBND xã Phúc Trạch ngày 24/11/2005 (BL80), đất của gia đình bà Quýt thuộc thửa 49/250 chỉ là 250m2 là đúng với thực tế theo như trình bày của gia đình
bà Mơ
Điều này chứng tỏ rằng việc bà Mơ xây dựng hàng rào trên diện tích đất trên là phù hợp, đúng theo quy định của pháp luật
Gia đình bà Mơ xây cổng năm 1991 trên diện tích đất 8,5m x 2,5m ngay tại cổng làm bằng tre trước đây là phù hợp và cĩ cơ sở đúng với thực tế theo những người làm chứng đã xác nhận (BL11) Bên cạnh đĩ tại các lời khai của những người làm chứng (BL 20, 21) họ đều thừa nhận và khẳng định việc xây dựng cổng nhà bà Mơ là trên diện tích đất của nhà bà Mơ chứ khơng phải nhà bà Quýt và đường đi đĩ khơng phải của đất cơng như UBND xã Phúc Trạch cũng như các cơ quan khác nhận định
Vì các lẽ trên, tơi kiến nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Hủy bỏ tồn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 118/QĐXP-UB ngày 30/08/2007 của UBND xã Phúc Trạch, huyện Long Trì, TP.H
Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giải quyết bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà Mơ