so với những hoạt động sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún xưa cũ thì nhờ nông nghiệp công nghệ cao, nông dân dễ dàng mở rộng quy mô sản xuất, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tậ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Khoa Kinh tế Chính trị
BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN: NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN VÀ NÔNG THÔN
Giảng viên hướng dẫn : TS NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THU HUYỀN
Mã sinh viên : 18050077
Mã lớp học phần : 203_PEC3034 1
Chương trình đào tạo : CTĐT Chuẩn
Hà Nội – Tháng 9 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
Câu 1: 1 Câu 2: 6 TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3ĐỀ 1 Câu 1:
• Khái niệm: Nông nghiệp công nghệ cao là một nền nông nghiệp được ứng dụng kết
hợp những công nghệ mới, tiên tiến để sản xuất, còn gọi là công nghệ cao nhằm nâng cao hiệu quả, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng nông sản, thỏa mãn nhu cầu ngày càng
cao của xã hội và đảm bảo sự phát triển nông nghiệp bền vững (Nguồn: Cao đẳng điều
dưỡng Hà Nội)
• Vai trò, lợi ích của nông nghiệp công nghệ cao trong phát triển kinh tế - xã hội: Thứ nhất, Giúp tiết kiệm chi phí sản xuất từ đó làm tăng năng suất nông nghiệp
Với sự trợ giúp của công nghệ hiện đại, người nông dân có thể làm việc rất hiệu quả, ít tốn công sức và ít thời gian hơn bởi các thiết bị, máy móc công nghệ hiện đại hoạt động rất nhanh so với con người Với công việc đòi hỏi nhiều người và thời gian làm, khi áp dụng công nghệ cao người nông dân có thể dễ dàng mà không tốn nhiều tiền Ví dụ: nếu một người nông dân có thể làm ruộng trong một tuần, thì với sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại,
họ có thể làm ruộng trong một ngày Đây là cách công nghệ hiện đại tiết kiệm thời gian của người nông dân
Theo đó, năng suất của người nông dân sẽ tăng lên Nông dân không còn phải bón nước, phân bón và thuốc trừ sâu đồng nhất trên toàn bộ cánh đồng Lấy ví dụ trong lĩnh vực trồng trọt ở nước ta, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến, làm tốt công tác phòng trừ sâu bệnh nên sản lượng và chất lượng nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế tăng Tỷ trọng gạo chất lượng cao chiếm trên 80% gạo xuất khẩu, giúp nâng giá gạo xuất khẩu bình quân tăng từ 502 USD/tấn năm 2018 lên 510 USD/tấn năm 2019 Đặc biệt, giống gạo ST25 được công nhận là “gạo ngon nhất thế giới năm 2019” tại Hội nghị Thương mại gạo thế giới lần thứ 11 tổ chức tại Phi-lip-pin
Thứ hai, Sản xuất ra các nông sản với chất lượng cao, năng suất cao, ngay cả trong
những điều kiện không thuận lợi Người tiêu dùng có thể tiếp cận đến những nguồn sản phẩm sạch, chất lượng đảm bảo cùng với giá thành phải chăng
Trang 4• Giảm giá thành: Áp dụng khoa học công nghệ đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng ngành nông nghiệp, các mặt hàng nông sản trở nên dồi dào hơn từ đó giá thành được giảm đáng kể
• Tăng chất lượng nông sản: giống cây trồng được nâng cao cùng với ứng dụng hệ thống chăm sóc, kiểm soát tự động khiến cho mặt hàng nông sản được đảm bảo an toàn khi sử dụng Nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của các mặt hàng nông sản.,
Thứ ba, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tạo điều kiện làm việc cho người lao động
tốt hơn bằng cách cho phép giám sát và kiểm soát tốt hơn đối với sản xuất, chế biến, phân phối và lưu trữ thực vật và động vật Thông qua hệ thống kết nối di động, dù ngồi ở nhà nhưng người nông vẫn có thể biết rõ được tiến độ lô thửa cây trồng trên đồng ruộng và từng
ô chuồng, từng con gia súc để đưa ra các quyết định đúng đắn kịp thời và hiệu quả Từ đó, dẫn đến:
• Hiệu quả cao hơn và giá thấp hơn
• Điều kiện trồng trọt an toàn hơn và thực phẩm an toàn hơn
• Giảm tác động đến môi trường và sinh thái
Thứ tư, giúp sản xuất nông nghiệp tập trung hóa, quy mô hóa so với những hoạt động
sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún xưa cũ thì nhờ nông nghiệp công nghệ cao, nông dân dễ dàng mở rộng quy mô sản xuất, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp chế biến, việc ứng dụng khoa học và công nghệ sau thu hoạch cũng tạo ra những giá trị mới cho nông sản, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng đem lại nguồn thu
lớn hơn rất nhiều…
Thứ năm, Góp phần bảo vệ môi trường: Việc ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao
trong sản xuất nông nghiệp tạo ra các giống biến đổi gen giúp tăng sức đề kháng của cây trồng, vật nuôi trước dịch bệnh hay việc ứng dụng hiệu ứng nhà kính để tạo ra môi trường thuận lợi nhất cho sản xuất nông nghiệp không phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu đã khiến nông dân chủ động được kế hoạch sản xuất của mình cũng như khắc phục được tính mùa
vụ trong sản xuất nông nghiệp Từ đó, hạn chế được những thiệt hại do sự khắc nghiệt của
Trang 5khí hậu gây ra, giúp tăng được năng suất cây trồng vật nuôi trên một đơn vị diện tích lại bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, giảm khí thải nhà kính
• Những chính sách cơ bản nhằm phát triển nông nghiệp công nghệ cao của nhà nước:
Xác định được tầm quan trọng của nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao sẽ giúp thay đổi bức tranh nông nghiệp nước nhà, đưa nền nông nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển sâu rộng trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, Đảng và nhà nước đã thực thi đồng bộ nhiều chính sách quan trọng như:
Một là, Chính sách hỗ trợ tín dụng:
Nhà nước luôn xác định rõ vốn là điều kiện có ý nghĩa quyết định cho sự phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nên đã sớm có những chính sách hỗ trợ về vốn, như:
• Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12-4-2010, của Chính phủ, Về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, với chính sách cho vay tín chấp ở hạn mức phù hợp;
• Nghị quyết số 14/NQ-CP được Chính phủ ban hành ngày 5/3/2014, trong đó yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng chương trình cho vay thí điểm phục
vụ cho phát triển nông nghiệp áp dụng khoa học và công nghệ cao
• Nghị quyết số 30/2017/NQ - CP của Chính phủ ngày 7/3/2017, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về gói tín dụng 100.000 tỷ đồng từ nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại để cho vay phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch với lãi suất phù hợp, thấp hơn từ 0,5 - 1,5% so với lãi suất thị trường Với sự
hỗ trợ này, các cá nhân, doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp ứng dụng cao sẽ được hưởng các ưu đãi để tạo điều kiện phát triển nông nghiệp công nghệ cao;
• Đặc biệt, Nghị định số 116/2018/NĐ-CP, ngày 7-9-2018, của Chính phủ, Sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP, ngày 9-6-2015, của Chính phủ, về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, có nhiều điểm đột phá mới về cho vay đối với các dự án nông nghiệp công nghệ cao: Doanh
Trang 6nghiệp được xem xét cho vay không có tài sản đảm bảo tối đa bằng 70%-80% giá trị dự án nông nghiệp công nghệ cao với hình thức cho vay linh hoạt; ưu đãi về tiền thuê đất, cắt giảm thủ tục hành chính…
Hai là, Chính sách về đất đai
Nhà nước thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng lâu dài cho người dân sử dụng Người dân có quyền sử dụng đất nông nghiệp để canh tác, cho thuê, góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp, thế chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp vay vốn ngân hàng để phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh, chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật… Cùng với đó, Nhà nước thực hiện dồn điền, đổi thửa hình thành những mảnh đất có diện tích lớn hơn; khuyến khích các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp và nông dân, giữa các nông dân với nhau để phát triển nền nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn,…
Ba là, Chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp cao thông qua các chính sách
ưu đãi về thuế
Doanh nghiệp hưởng thuế suất ưu đãi 10%: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 20%, nhưng với doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực công nghệ cao thì được hưởng thuế suất ưu đãi với mức 10% (chỉ phải nộp thuế bằng ½ so với các lĩnh vực khác) trong thời hạn 15 năm kể từ năm đầu tiên có doanh thu (Khoản 2 Điều 22 Nghị định 154/2013/NĐ-CP và điểm a khoản 1 Điều 20 Thông tư 78/2014/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 12 Thông tư 96/2015/TT-BTC.)
Theo Nghị định số 57/2018/NĐ-CP của Chính phủ, các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn sẽ được hưởng nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích của Nhà nước: miễn, giảm tiền sử dụng đất, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước của Nhà nước; hỗ trợ tập trung đất đai, tiếp cận hỗ trợ tín dụng; hỗ trợ nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao; hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thị trường, hỗ trợ đầu tư cơ sở Ngoài ra, Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: miễn thuế nhập khẩu đối với vật tư đầu vào cho sản xuất nông nghiệp (như giống cây trồng; giống vật nuôi;…), hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư vào ngành nghề hoặc địa bàn ưu đãi đầu tư các
Trang 7nguyên liệu và vật tư nhập khẩu chưa được sản xuất trong nước cũng được miễn thuế trong thời hạn 5 năm (Theo quy định tại Điều 16 Luật thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13)
Bốn là, Chính sách hỗ trợ kinh phí thực hiện nghiên cứu phát triển nông nghiệp công
nghệ cao
Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định 57/2018/NĐ-CP, doanh nghiệp thực hiện
đề tài nghiên cứu khoa học, mua bản quyền công nghệ, mua công nghệ hoặc mua kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ để tạo ra sản phẩm mới, cải tiến công nghệ, công nghệ giảm thiểu ô nhiễm môi trường, công nghệ tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, tiết kiệm năng lượng thì được nhà nước hỗ trợ tới 80% kinh phí thực hiện, nhưng không quá
300 triệu đồng/đề tài/bản quyền/công nghệ (Trong trường hợp phải đáp ứng đủ các điều kiện hỗ trợ như: có doanh thu năm trước tối thiểu bằng 10 lần mức hỗ trợ; Các bản quyền, công nghệ doanh nghiệp đề xuất mua phải phù hợp với định hướng phát triển sản xuất của doanh nghiệp đã đăng ký)
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng thực hiện các chính sách hỗ trợ bên có nhu cầu sử dụng sản phẩm khoa học - công nghệ; ban hành các chính sách tín dụng ưu đãi thông qua việc thành lập các loại quỹ: Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ Phát triển khoa học - công nghệ của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Năm là, chính sách đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp
Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng cho sự phát triển của nông nghiệp công nghệ cao Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực, Đảng
ta đã đề ra quan điểm chỉ đạo nâng cao quy mô và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong nông nghiệp tại Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5-8-2008, của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Theo đó, Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 với mục tiêu phát triển tỷ lệ nhân lực qua đào tạo khối ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng từ mức 15,5% năm 2010 lên khoảng 50% năm 2020 Đến nay, ngành nông nghiệp triển khai đào tạo được trên 2,3 triệu lao động
Trang 8nông thôn học nghề nông nghiệp, đạt 75% kế hoạch Trong đó, giai đoạn 2016 - 2019 đào tạo 1,15 triệu - 1,4 triệu lao động, đạt 82% so với mục tiêu Tỷ lệ lao động sau học nghề có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ, nâng cao thu nhập đạt trên 90% Nông dân sau khi học nghề đã áp dụng được kỹ năng mới vào sản xuất Nhiều lao động sau học nghề mạnh dạn chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, đem lại thu nhập gấp 3-4 lần trước đây
Câu 2:
Phát triển nông thôn (PTNT) là một chiến lược được hoạch định để cải thiện đời sống
kinh tế - xã hội của người nghèo ở nông thôn Phát triển nông thôn phải nhằm cải thiện mức sống của đa số người nghèo ở nông thôn, làm cho họ có khả năng tự phát triển và cần có sự huy động, phân bố các nguồn lực và sự phân phối công bằng đầu ra trong một khuôn khổ chính sách phù hợp ở các mức độ quốc gia và vùng, bao gồm cả việc nâng cấp thể chế và
kỹ năng (Theo Ngân hàng Thế giới - WB)
❖ Sự cần thiết của phát triển nông thôn:
Mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn luôn là mục tiêu quan trọng trong chính sách phát triển của mỗi quốc gia bởi:
Phát triển nông thôn góp phần cải thiện kinh tế và xã hội ở nông thôn
Nông thôn là nơi sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp thiết yếu cho đời sống con người mà không một ngành sản xuất nào có thể thay thế được Việc phát triển nông thôn là một mục tiêu quan trọng với các quốc gia, đặc biệt là với các nước đang phát triển - nơi trung bình có đến 2/3 dân số sống ở nông thôn Số lao động này nếu được nâng cao trình
độ, trang bị công cụ thích hợp sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động đáng kể, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý trong phân công lao động xã hội
Phát triển nông thôn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế chung của quốc gia Bởi nó đồng nghĩa với việc giảm bớt gánh nặng cuộc sống cho người dân, giảm bất bình đẳng về giới, thu nhập và áp lực đô thị đi đôi với việc cải thiện sức khỏe, dinh dưỡng,
Trang 9học tập, môi trường từ đó tăng năng suất và tiền lương của người dân nông thôn, góp phần vào tăng trưởng kinh tế quốc gia nói chung
Phát triển nông thôn góp phần hội nhập kinh tế chặt chẽ của khu vực nông thôn với các khu vực thành thị lân cận và tạo việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn từ đó thu hẹp chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, mở rộng cơ hội và khuyến khích việc giữ chân những người có kỹ năng, bao gồm cả thanh niên, ở các khu vực nông thôn
❖ Vai trò của nhà nước, người dân và tổ chức doanh nghiệp trong phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là một vấn đề quan trọng, rộng lớn và lâu dài đòi hỏi sự tham gia, phối hợp chặt chẽ, đóng góp của các chủ thể nhà nước, người dân và doanh nghiệp
• Về Vai trò Nhà nước:
Thứ nhất, Tạo lập môi trường phát triển: nhà nước thúc đẩy phát triển các thể chế bao
gồm hành lang pháp lí và những cơ chế chính sách đối với tam nông, cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cũng như cung cấp kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội, thông tin, liên lạc,
hỗ trợ hình thành tổ chức nông dân, cung cấp dịch vụ khuyến nông và trợ cấp tín dụng, vật
tư đầu vào
Thứ hai, vai trò định hướng và điều tiết của nhà nước Điều đó được thể hiện thông qua
việc xây dựng chiến lược, chương trình và mục tiêu phát triển đối nông nghiệp, nông thôn hướng tới cải thiện đời sống người người dân thông qua các chính sách phát triển kinh tế nông thôn nhằm tạo ra nhiều của cải, tăng năng suất lao động, tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, đáp ứng đầu vào cho sản xuất nói chung; chính sách phát triển văn hóa xã hội và môi trường nông thôn nhằm cải thiện các vấn đề về giáo dục, y tế, văn hóa, lao động việc làm, xóa đói giảm nghèo, vệ sinh môi trường,…
Thứ ba, Bảo vệ, hỗ trợ phát triển cho khu vực nông thôn và người người dân thông qua
bảo vệ các nguồn lực và môi trường cho phát triển cũng như các lợi ích của nông nghiệp, nông thôn, nông dân; hỗ trợ cho phát triển tam nông về tài chính, đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, thị trường, đào tạo nguồn nhân lực:
Trang 10− Nhằm giúp khu vực nông thôn và nông dân tiếp thị hàng hóa nông sản có hiệu quả hơn nhà nước trực tiếp đầu tư vốn ngân sách cho các yêu cầu xây dựng nông thôn như phát triển đường giao thông nông thôn, quốc lộ, đường sắt, đường thủy; mạng lưới truyền thông, thông tin; cung cấp điện; xây dựng các chợ trung tâm và chợ sỉ trong khu vực và thiết lập các tiêu chuẩn hàng hóa nông sản cho giao dịch
− Nhà nước cũng bỏ ra chi phí để thu thập, đánh giá, kiểm chứng và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, các sáng kiến do nông dân tạo ra trên nông trại cho các nông dân khác
− Tạo hệ thống hỗ trợ đối với những đối tượng chịu thiệt thòi như người nghèo, người dân vùng khó khăn,…
− Giúp chuyển giao công nghệ mới, thông qua các trung tâm và trường dạy nghề đào tạo lực lượng lao động kĩ thuật ở nông thôn,…
Thứ tư, Vai trò kiểm tra, kiểm soát của nhà nước Điều này được thể hiện thông qua
việc nhà nước:
− Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế và chính sách
− Nâng cao hiệu quả của các cơ quan chức năng
− Phát huy dân chủ ở cơ sở, kiện toàn hệ thống chính trị địa phương
• Vai trò người dân - nông dân ở nông thôn
Thứ nhất, nông dân là chủ thể phát triển nông thôn bởi họ là nhân vật trung tâm của xã
hội nông thôn, là chủ thể của mọi quá trình kinh tế - văn hóa - xã hội diễn ra ở nông thôn
và là lực lượng đông đảo nhất ở nông thôn
Thứ hai, nông dân là chủ thể thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế
nông thôn Là chủ thể của mọi quá trình kinh tế ở nông thôn, nông dân chính là người lựa chọn phương thức sản xuất, cách thức kinh doanh, dịch vụ; Họ vừa là người tổ chức sản xuất, người trực tiếp sản xuất vừa là người buôn bán các sản phẩm của quá trình sản xuất- nghĩa là họ là người biến các chương trình, kế hoạch của nhà nước trở thành hiện thực
Thứ ba, nông dân là người thực hiện xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới Người
nông dân cùng với sự tham gia đóng góp kinh phí để thực hiện các hạng mục công trình kết