Công bố các bản án, quyết định của Tòa án đặc biệt là Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sẽ mang lại những kết quả tích cực: Phục vụ yêu cầu áp dụng thống nhất phá
Trang 1Toµ ¸n nh©n d©n tèi cao
Trang 2Toà án nhân dân tối cao
quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
năm 2006
(Các quyết định giám đốc thẩm hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, th-ơng mại, lao động và hành chính năm 2006)
Hà Nội - 2008
Trang 31 Quyết định giám đốc thẩm số 01/2006/HS-GĐT, ngày 20-02-2006,
về vụ án Trần Văn D-ợc phạm tội “Cố ý gây th-ơng tích” 20
2 Quyết định giám đốc thẩm số 02/2006/HS-GĐT, ngày 20-02-2006,
về vụ án Vũ Đình Huân phạm tội “Giết ng-ời” và “C-ớp tài sản” 23
3 Quyết định giám đốc thẩm số 03/2006/HS-GĐT, ngày 20-02-2006,
về vụ án Phạm Thị Lê phạm tội “Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa” 29
4 Quyết định giám đốc thẩm số 04/2006/HS-GĐT, ngày 03-4-2006,
về vụ án Nguyễn Xuân Bính phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” 33
5 Quyết định giám đốc thẩm số 05/2006/HS-GĐT, ngày 10-4-2006,
về vụ án Phạm Sanh phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
6 Quyết định giám đốc thẩm số 06/2006/HS-GĐT, ngày 08-5-2006,
về vụ án Nguyễn Văn An, Phạm Văn Tú phạm tội “Giết ng-ời”
và “C-ớp tài sản” 40
7 Quyết định giám đốc thẩm số 07/2006/HS-GĐT, ngày 08-5-2006,
về vụ án Trịnh Xuân Nhân phạm tội “Cố ý làm trái quy định của
Nhà n-ớc về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” 44
8 Quyết định giám đốc thẩm số 08/2006/HS-GĐT, ngày 08-5-2006,
về vụ án Kim Thanh Hùng và đồng phạm phạm tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” 52
9 Quyết định giám đốc thẩm số 09/2006/HS-GĐT, ngày 08-5-2006,
về vụ án Võ Đình Thọ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” 57
10 Quyết định giám đốc thẩm số 10/2006/HS-GĐT, ngày 07-6-2006,
về vụ án Trần Văn Thắng phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” 65
Trang 411 Quyết định giám đốc thẩm số 12/2006/HS-GĐT, ngày 07-6-2006,
về vụ án Bùi Văn Hiệp phạm tội “Cố ý gây th-ơng tích” 68
12 Quyết định giám đốc thẩm số 14/2006/HS-GĐT, ngày 03-7-2006,
về vụ án Phạm Thế Văn và đồng phạm phạm tội “Mua bán phụ
nữ” và “Xuất cảnh trái phép” 72
13 Quyết định giám đốc thẩm số 15/2006/HS-GĐT, ngày 03-7-2006,
về vụ án Nguyễn Văn Vũ và đồng phạm phạm tội “C-ớp tài sản” 76
14 Quyết định giám đốc thẩm số 16/2006/HS-GĐT, ngày 03-7-2006,
về vụ án Nguyễn Hồng Hiển phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây
hậu quả nghiêm trọng” 78
15 Quyết định giám đốc thẩm số 17/2006/HS-GĐT, ngày 04-7-2006,
về vụ án Hoàng Văn Hồng phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản” 82
16 Quyết định giám đốc thẩm số 18/2006/HS-GĐT, ngày 03-7-2006,
về vụ án Huỳnh Văn Dũng phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức
17 Quyết định giám đốc thẩm số 19/2006/HS-GĐT, ngày 04-7-2006,
về vụ án Nguyễn Thị Hiền phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng
hoá qua biên giới” 92
18 Quyết định giám đốc thẩm số 20/2006/HS-GĐT, ngày 04-7-2006,
về vụ án Vũ Thị Thanh Huyền phạm tội “Vận chuyển trái phép
hàng hoá qua biên giới” 95
19 Quyết định giám đốc thẩm số 21/2006/HS-GĐT, ngày 01-8-2006,
về vụ án Vũ Hoàng Oanh và John Nguyễn phạm tội “Mua bán
trái phép chất ma tuý” 98
20 Quyết định giám đốc thẩm số 22/2006/HS-GĐT, ngày 01-8-2006,
về vụ án Trần Ngọc Bích cùng các bị cáo khác phạm tội “Trốn thuế”
và “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” 102
21 Quyết định giám đốc thẩm số 24/2006/HS-GĐT, ngày 01-8-2006,
về vụ án L-ơng Hoàng Minh và đồng bọn phạm tội “Giết ng-ời” 108
22 Quyết định giám đốc thẩm số 25/2006/HS-GĐT, ngày 02-8-2006,
về vụ án Nguyễn Trung Hậu và đồng bọn phạm tội “Tiêu thụ tài
sản do ng-ời khác phạm tội mà có” và “Làm giả con dấu, tài liệu
của cơ quan, tổ chức” 114
23 Quyết định giám đốc thẩm số 26/2006/HS-GĐT, ngày 08-9-2006,
về vụ án Phan Hồng Hải phạm tội “Vi phạm quy định về điều
khiển ph-ơng tiện giao thông đ-ờng bộ” 148
Trang 524 Quyết định giám đốc thẩm số 27/2006/HS-GĐT, ngày 08-9-2006,
về vụ án Phạm Thị Nga phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” 151
25 Quyết định giám đốc thẩm số 28/2006/HS-GĐT, ngày 03-10-2006,
về vụ án Nguyễn Quốc Sơn phạm tội “Buôn lậu” 154
26 Quyết định giám đốc thẩm số 29/2006/HS-GĐT, ngày 09-11-2006,
về vụ án Nguyễn Gia Nghĩa và đồng phạm phạm tội “C-ớp tài sản” 159
27 Quyết định giám đốc thẩm số 30/2006/HS-GĐT, ngày 09-11-2006,
về vụ án Đào Ngọc Pháp phạm tội “C-ớp giật tài sản” và “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” 162
28 Quyết định giám đốc thẩm số 31/2006/HS-GĐT, ngày 06-12-2006
về vụ án Nguyễn Sỹ Hắc phạm tội “Giết ng-ời” 166
Phần thứ hai
quyết định giám đốc thẩm dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, th-ơng mại và lao động
29 Quyết định giám đốc thẩm số 01/2006/DS-GĐT, ngày 21-02-2006,
về vụ án “Tranh chấp về thừa kế” 171
30 Quyết định giám đốc thẩm số 02/2006/DS-GĐT, ngày 21-02-2006,
về vụ án “Tranh chấp về bồi th-ờng thiệt hại” 180
31 Quyết định giám đốc thẩm số 03/2006/DS-GĐT, ngày 21-02-2006,
về vụ án “Tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm” 185
32 Quyết định giám đốc thẩm số 04/2006/DS-GĐT, ngày 22-02-2006,
về vụ án “Tranh chấp về hợp đồng chuyển nh-ợng quyền sử dụng đất” 190
33 Quyết định giám đốc thẩm số 05/2006/DS-GĐT, ngày 05-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp về thừa kế” 199
34 Quyết định giám đốc thẩm số 06/2006/DS-GĐT, ngày 06-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản” 209
35 Quyết định giám đốc thẩm số 07/2006/DS-GĐT, ngày 06-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp về quyền sử dụng đất” 220
36 Quyết định giám đốc thẩm số 08/2006/DS-GĐT, ngày 07-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp về nhà đất” 225
Trang 637 Quyết định giám đốc thẩm số 09/2006/DS-GĐT, ngày 09-5-2006,
về vụ án “Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản” 231
38 Quyết định giám đốc thẩm số 10/2006/DS-GĐT, ngày 11-5-2006,
về vụ án “Tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà và đòi nhà
39 Quyết định giám đốc thẩm số 11/2006/DS-GĐT, ngày 05-6-2006,
về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” 247
40 Quyết định giám đốc thẩm số 12/2006/DS-GĐT, ngày 05-6-2006,
về vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản” 254
41 Quyết định giám đốc thẩm số 13/2006/DS-GĐT, ngày 05-6-2006,
về vụ án “Tranh chấp về hợp đồng” 261
42 Quyết định giám đốc thẩm số 14/2006/DS-GĐT, ngày 06-6-2006,
về vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản” 265
43 Quyết định giám đốc thẩm số 15/2006/DS-GĐT, ngày 06-6-2006,
về vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản” 272
44 Quyết định giám đốc thẩm số 16/2006/DS-GĐT, ngày 05-7-2006,
về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” 278
45 Quyết định giám đốc thẩm số 17/2006/DS-GĐT, ngày 05-7-2006,
về vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản” 287
46 Quyết định giám đốc thẩm số 19/2006/DS-GĐT, ngày 02-8-2006,
về vụ án “Tranh chấp về thừa kế” 300
47 Quyết định giám đốc thẩm số 20/2006/DS-GĐT, ngày 02-8-2006,
về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” 309
48 Quyết định giám đốc thẩm số 21/2006/DS-GĐT, ngày 03-8-2006,
về vụ án “Tranh chấp về thừa kế” 313
49 Quyết định giám đốc thẩm số 22/2006/DS-GĐT, ngày 07-9-2006,
về vụ án “Tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà” 325
50 Quyết định giám đốc thẩm số 23/2006/DS-GĐT, ngày 07-9-2006,
về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” 330
51 Quyết định giám đốc thẩm số 24/2006/DS-GĐT, ngày 07-9-2006,
về vụ án “Tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà” 335
52 Quyết định giám đốc thẩm số 25/2006/DS-GĐT, ngày 02-10-2006,
về vụ án “Tranh chấp về thừa kế” 343
Trang 753 Quyết định giám đốc thẩm số 26/2006/DS-GĐT, ngày 02-10-2006,
về vụ án “Tranh chấp về thừa kế” 350
54 Quyết định giám đốc thẩm số 27/2006/DS-GĐT, ngày 02-10-2006,
về vụ án “Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và về thừa kế” 357
55 Quyết định giám đốc thẩm số 28/2006/DS-GĐT, ngày 02-10-2006,
về vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản” 365
56 Quyết định giám đốc thẩm số 29/2006/DS-GĐT, ngày 03-10-2006,
về vụ án “Tranh chấp về thừa kế” 372
57 Quyết định giám đốc thẩm số 30/2006/DS-GĐT, ngày 03-10-2006,
về vụ án “Tranh chấp về thừa kế” 380
58 Quyết định giám đốc thẩm số 31/2006/DS-GĐT, ngày 03-10-2006,
về vụ án “Tranh chấp về thừa kế” 389
59 Quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm số 32/2006/DS-GĐT,
ngày 04-10-2006, về vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu nhà ở” 399
60 Quyết định giám đốc thẩm số 34/2006/DS-GĐT, ngày 05-10-2006,
về vụ án “Tranh chấp về thừa kế” 400
61 Quyết định giám đốc thẩm số 35/2006/DS-GĐT, ngày 05-10-2006,
về vụ án “Tranh chấp về thừa kế” 407
62 Quyết định giám đốc thẩm số 36/2006/DS-GĐT, ngày 06-11-2006,
về vụ án “Tranh chấp về thừa kế” 413
63 Quyết định giám đốc thẩm số 37/2006/DS-GĐT, ngày 06-11-2006,
về vụ án “Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và về thừa kế” 419
64 Quyết định giám đốc thẩm số 38/2006/DS-GĐT, ngày 06-11-2006,
về vụ án “Tranh chấp về thừa kế” 429
65 Quyết định giám đốc thẩm số 40/2006/DS-GĐT, ngày 07-11-2006,
về vụ án “Tranh chấp về thừa kế” 439
66 Quyết định giám đốc thẩm số 41/2006/DS-GĐT, ngày 07-11-2006,
về vụ án “Tranh chấp về quyền sở hữu nhà” 448
67 Quyết định giám đốc thẩm số 42/2006/DS-GĐT, ngày 07-11-2006,
về vụ án “Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản” 453
68 Quyết định giám đốc thẩm số 43/2006/DS-GĐT, ngày 08-11-2006,
về vụ án “Tranh chấp về hợp đồng chuyển nh-ợng quyền sử dụng đất” 458
Trang 869 Quyết định giám đốc thẩm số 44/2006/DS-GĐT, ngày 08-11-2006,
về vụ án “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” 466
70 Quyết định giám đốc thẩm số 01/2006/KDTM-GĐT, ngày 04-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp giữa thành viên của công ty và công ty” 472
71 Quyết định giám đốc thẩm số 02/2006/KDTM-GĐT, ngày 5-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ phục vụ khách
72 Quyết định giám đốc thẩm số 03/2006/KDTM-GĐT, ngày 05-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp hợp đồng hợp tác thăm dò, khai thác, kinh
doanh đá Puzzolan” 486
73 Quyết định giám đốc thẩm số 04/KDTM-GĐT, ngày 05-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” 497
74 Quyết định giám đốc thẩm số 05/2006/KDTM-GĐT, ngày 10-5-2006,
về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” 504
75 Quyết định giám đốc thẩm số 06/2006/KDTM-GĐT, ngày 06-7-2006,
về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” 510
76 Quyết định giám đốc thẩm số 07/2006/KDTM-GĐT, ngày 06-7-2006,
về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” 519
77 Quyết định giám đốc thẩm số 01/2006/LĐ-GĐT, ngày 04-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp về đòi bồi th-ờng thiệt hại giữa ng-ời
lao động với doanh nghiệp xuất khẩu lao động” 528
78 Quyết định giám đốc thẩm số 02/2006/LĐ-GĐT, ngày 04-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp về tr-ờng hợp bị đơn ph-ơng chấm dứt
hợp đồng lao động” 534
79 Quyết định giám đốc thẩm số 03/2006/LĐ-GĐT, ngày 04-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp về tr-ờng hợp bị đơn ph-ơng chấm dứt
hợp đồng lao động” 541
80 Quyết định giám đốc thẩm số 04/2006/LĐ-GĐT, ngày 04-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp về tr-ờng hợp bị đơn ph-ơng chấm dứt
hợp đồng lao động” 548
81 Quyết định giám đốc thẩm số 05/2006/LĐ-GĐT, ngày 04-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp về tr-ờng hợp bị đơn ph-ơng chấm dứt
hợp đồng lao động” 554
82 Quyết định giám đốc thẩm số 06/2006/LĐ-GĐT, ngày 04-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp về tr-ờng hợp bị đơn ph-ơng chấm dứt
hợp đồng lao động” 561
Trang 983 Quyết định giám đốc thẩm số 07/2006/LĐ-GĐT, ngày 04-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp về tr-ờng hợp bị đơn ph-ơng chấm dứt
hợp đồng lao động” 567
84 Quyết định giám đốc thẩm số 08/2006/LĐ-GĐT, ngày 04-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp về tr-ờng hợp bị đơn ph-ơng chấm dứt
hợp đồng lao động” 574
85 Quyết định giám đốc thẩm số 09/2006/LĐ-GĐT, ngày 04-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp về tr-ờng hợp bị đơn ph-ơng chấm dứt
hợp đồng lao động” 580
86 Quyết định giám đốc thẩm số 10/2006/LĐ-GĐT, ngày 04-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp về tr-ờng hợp bị đơn ph-ơng chấm dứt
hợp đồng lao động” 586
87 Quyết định giám đốc thẩm số 11/2006/LĐ-GĐT, ngày 04-4-2006,
về vụ án “Tranh chấp về tr-ờng hợp bị đơn ph-ơng chấm dứt
hợp đồng lao động” 593
88 Quyết định giám đốc thẩm số 12/2006/LĐ-GĐT, ngày 04-7-2006,
về vụ án “Tranh chấp về tr-ờng hợp bị đơn ph-ơng chấm dứt
hợp đồng lao động” 599
89 Quyết định giám đốc thẩm số 13/2006/LĐ-GĐT, ngày 04-7-2006,
về vụ án “Tranh chấp về tr-ờng hợp bị đơn ph-ơng chấm dứt
hợp đồng lao động” 604
Phần thứ ba
quyết định giám đốc thẩm Hành chính
90 Quyết định giám đốc thẩm số 01/2006/HC-GĐT, ngày 20-02-2006,
về vụ án tranh chấp hành chính “Khiếu kiện quyết định giải quyết
tranh chấp quyền sử dụng đất” 612
91 Quyết định giám đốc thẩm số 02/2006/HC-GĐT, ngày 10-5-2006,
về vụ án tranh chấp hành chính “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi
phạm hành chính” 617
92 Quyết định giám đốc thẩm số 04/2006/HC-GĐT, ngày 09-11-2006,
về vụ án tranh chấp hành chính “Khiếu kiện quyết định thu hồi và
huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” 622
Trang 10Table of content
Page
Part One
Cassation decisions on criminal cases
1 Cassation Decision No 01/2006/HS-G§T, Dated 2-2006,
on Tran Van Duoc for “Intentionally Inflicting Injury” 20
2 Cassation Decision No 02/2006/HS-G§T, Dated 20-02-2006,
on Vu §inh Huan for “Murder” and “Plundering property” 23
3 Cassation Decision No 03/2006/HS-G§T, Dated 20-02-2006,
on Pham Thi Le for “Embezzling State’s Property” 29
4 Cassation Decision No 04/2006/HS-G§T, Dated 03-4-2006,
on Nguyen Xuan Binh for “Appropriating Property through
5 Cassation Decision No 05/2006/HS-G§T, Dated 10-4-2006,
on Pham Sanh for “Abusing Trust in order to Appropriate
6 Cassation Decision No 06/2006/HS-G§T, Dated 08-5-2006,
on Nguyen Van An and Pham Van Tu for “Murder” and
“Plundering Property” 40
7 Cassation Decision No 07/2006/HS-G§T, Dated 08-5-2006,
on Trinh Xuan Nhan for “Deliberately Acting against the State's
Regulations on Economic Management, Causing Serious
Consequences”
44
8 Cassation Decision No 08/2006/HS-G§T, Dated 08-5-2006,
on Kim Thanh Hung and His Co-offenders “Appropriating
Property through Swindling” 52
9 Cassation Decision No 09/2006/HS-G§T, Dated 08-5-2006,
on Vo §inh Tho “Appropriating Property through Swindling” 57
10 Cassation Decision No 10/2006/HS-G§T, Dated 07-6-2006,
on Tran Van Thang for “Appropriating Property through Swindling” 65
Trang 1111 Cassation Decision No 12/2006/HS-G§T, Dated 07-6-2006,
on Bui Van Hiep for “Intentionally Inflicting Injury” 68
12 Cassation Decision No 14/2006/HS-G§T, Dated 03-7-2006,
on Pham The Van and His Co-offenders for “Trafficking in
Women” and “Illegally Leaving the Country” 72
13 Cassation Decision No 15/2006/HS-G§T, Dated 03-7-2006,
on Nguyen Van Vu and His Co-offenders for “Plundering Property” 76
14 Cassation Decision No 16/2006/HS-G§T, Dated 03-7-2006,
on Nguyen Hong Hien for “Negligence of Responsibility,
Causing Serious Consequences” 78
15 Cassation Decision No 17/2006/HS-G§T, Dated 04-7-2006,
on Hoang Van Hong for “Abusing Trust in order to Appropriate
16 Cassation Decision No 18/2006/HS-G§T, Dated 03-7-2006,
on Huynh Van Dung for “Gambling” and “Organizing Gambling” 87
17 Cassation Decision No 19/2006/HS-G§T, Dated 04-7-2006,
on Nguyen Thi Hien for “Illegal Cross-border Transportation
18 Cassation Decision No 20/2006/HS-G§T, Dated 04-7-2006,
on Vu Thi Thanh Huyen for “Illegal Cross-border Transportation
19 Cassation Decision No 21/2006/HS-G§T, Dated 01-8-2006,
on Vu Hoang Oanh and John Nguyen for “Illegally Trading in
20 Cassation Decision No 22/2006/HS-G§T, Dated 01-8-2006,
on Tran Ngoc Bich and Her Co-offenders for “Tax Evasion”
and “Negligence of Responsibility, Causing Serious Consequences” 102
21 Cassation Decision No 24/2006/HS-G§T, Dated 01-8-2006,
on Luong Hoang Minh and His Co-offenders for “Murder” 108
22 Cassation Decision No 25/2006/HS-G§T, Dated 02-8-2006,
on Nguyen Trung Hau and His Co-offenders for “Consuming Property
Acquired through the Commission of Crime by Other Persons” and
“Forging Seals and/or Documents of Agencies and/or Organizations” 114
23 Cassation Decision No 26/2006/HS-G§T, Dated 08-9-2006,
on Phan Hong Hai for “Breaching Regulations on Operating
Road Vehicles” 148
Trang 1224 Cassation Decision No 27/2006/HS-G§T, Dated 08-9-2006,
on Pham Thi Nga for “Appropriating Property through Swindling” 151
25 Cassation Decision No 28/2006/HS-G§T, Dated 03-10-2006,
on Nguyen Quoc Son for “Smuggling” 154
26 Cassation Decision No 29/2006/HS-G§T, Dated 09-11-2006,
on Nguyen Gia Nghia and His Co-offenders “Plundering Property” 159
27 Cassation Decision No 30/2006/HS-G§T, Dated 09-11-2006,
on §ao Ngoc Phap for “Property Robbery by Snatching” and
“Appropriating Property through Swindling” 162
28 Cassation Decision No 31/2006/HS-G§T, Dated 06-12-2006
on Nguyen Sy Hac for “Murder” 166
Part Two
Cassation decisions on civil, marriage and family,
Business, trade and labor cases
29 Cassation Decision No 01/2006/DS-G§T, Dated 21-02-2006,
on “Heritance Dispute” 171
30 Cassation Decision No 02/2006/DS-G§T, Dated 21-02-2006,
on “Dispute about Damage Compensation” 180
31 Cassation Decision No 03/2006/DS-G§T, Dated 21-02-2006,
on “Dispute about the Insurance Contract” 185
32 Cassation Decision No 04/2006/DS-G§T, Dated 22-02-2006,
on “Dispute about the Contract for Transfer of Land Use Rights” 190
33 Cassation Decision No 05/2006/DS-G§T, Dated 05-4-2006,
on “Dispute about Inherited Property” 199
34 Cassation Decision No 06/2006/DS-G§T, Dated 06-4-2006,
on “Dispute about Ownership Rights with respect to Property” 209
35 Cassation Decision No 07/2006/DS-G§T, Dated 06-4-2006,
on “Dispute about Land Use Rights” 220
36 Cassation Decision No 08/2006/DS-G§T, Dated 07-4-2006,
on “House and Land Dispute” 225
Trang 1337 Cassation Decision No 09/2006/DS-G§T, Dated 09-5-2006,
on “Dispute about Ownership Rights with respect to Property” 231
38 Cassation Decision No 10/2006/DS-G§T, Dated 11-5-2006,
on “Dispute about the Contract for Sale of House and Asking
for a Leasing House” 237
39 Cassation Decision No 11/2006/DS-G§T, Dated 05-6-2006,
on “Dispute about Land Use Rights” 247
40 Cassation Decision No 12/2006/DS-G§T, Dated 05-6-2006,
on “Dispute about Ownership Rights with respect to Property” 254
41 Cassation Decision No 13/2006/DS-G§T, Dated 05-6-2006,
on “Contract Dispute” 261
42 Cassation Decision No 14/2006/DS-G§T, Dated 06-6-2006,
on “Dispute about Ownership Rights with respect to Property” 265
43 Cassation Decision No 15/2006/DS-G§T, Dated 06-6-2006,
on “Dispute about Ownership Rights with respect to Property” 272
44 Cassation Decision No 16/2006/DS-G§T, Dated 05-7-2006,
on “Dispute about Land Use Rights and Property enclosed with
45 Cassation Decision No 17/2006/DS-G§T, Dated 05-7-2006,
on “Dispute about Ownership Rights with respect to Property” 287
46 Cassation Decision No 19/2006/DS-G§T, Dated 02-8-2006,
on “Heritance Dispute” 300
47 Cassation Decision No 20/2006/DS-G§T, Dated 02-8-2006,
on “Dispute about Land Use Rights” 309
48 Cassation Decision No 21/2006/DS-G§T, Dated 03-8-2006,
on “Heritance Dispute” 313
49 Cassation Decision No 22/2006/DS-G§T, Dated 07-9-2006,
on “Dispute about the Contract for Sale of House” 325
50 Cassation Decision No 23/2006/DS-G§T, Dated 07-9-2006,
on “Dispute about Land Use Rights” 330
51 Cassation Decision No 24/2006/DS-G§T, Dated 07-9-2006,
on “Dispute about the Contract for Sale of House” 335
52 Cassation Decision No 25/2006/DS-G§T, Dated 02-10-2006,
on “Heritance Dispute” 343
Trang 1453 Cassation Decision No 26/2006/DS-G§T, Dated 02-10-2006,
on “Heritance Dispute” 350
54 Cassation Decision No 27/2006/DS-G§T, Dated 02-10-2006,
on “Dispute about Ownership Rights with respect to Property
and Heritance” 357
55 Cassation Decision No 28/2006/DS-G§T, Dated 02-10-2006,
on “Dispute about Ownership Rights with respect to Property” 365
56 Cassation Decision No 29/2006/DS-G§T, Dated 03-10-2006,
59 Cassation Decision No 32/2006/DS-G§T, Dated 04-10-2006,
on “Dispute about House Property” 399
60 Cassation Decision No 34/2006/DS-G§T, Dated 05-10-2006,
63 Cassation Decision No 37/2006/DS-G§T, Dated 06-11-2006,
on “Dispute about Ownership Rights with respect to Property
66 Cassation Decision No 41/2006/DS-G§T, Dated 07-11-2006,
on “Dispute about House Property” 448
67 Cassation Decision No 42/2006/DS-G§T, Dated 07-11-2006,
on “Dispute about Ownership Rights with respect to Property” 453
68 Cassation Decision No 43/2006/DS-G§T, Dated 08-11-2006,
on “Dispute about the Contract for Transfer of Land Use Rights” 458
Trang 1569 Cassation Decision No 44/2006/DS-G§T, Dated 08-11-2006,
on “Dispute about the Contract for Renting Property” 466
70 Cassation Decision No 01/2006/KDTM-G§T, Dated 04-4-2006,
on Dispute between a Company and Its Members 472
71 Cassation Decision No 02/2006/KDTM-G§T, Dated 5-4-2006,
on “Dispute about the Contract for Service” 480
72 Cassation Decision No 03/2006/KDTM-G§T, Dated 05-4-2006,
on “Dispute about the Contract for Exploring, Exploitation and
Trading of Puzzolan” 486
73 Cassation Decision No 04/KDTM-G§T, Dated 05-4-2006,
on “Dispute about the Sale Contract” 497
74 Cassation Decision No 05/2006/KDTM-G§T, Dated 10-5-2006,
on “Dispute about the Contract for Credit” 504
75 Cassation Decision No 06/2006/KDTM-G§T, Dated 06-7-2006,
on “Dispute about the Sale Contract” 510
76 Cassation Decision No 07/2006/KDTM-G§T, Dated 06-7-2006,
on “Dispute about the Sale Contract” 519
77 Cassation Decision No 01/2006/L§-G§T, Dated 04-4-2006,
on “Dispute between a Labor Export Business and Its
Employees on Asking for Damage Compensation” 528
78 Cassation Decision No 02/2006/L§-G§T, Dated 04-4-2006,
on “Dispute about the Unilateral Termination of Labor
79 Cassation Decision No 03/2006/L§-G§T, Dated 04-4-2006,
on “Dispute about the Unilateral Termination of Labor
80 Cassation Decision No 04/2006/L§-G§T, Dated 04-4-2006,
on “Dispute about the Unilateral Termination of Labor
81 Cassation Decision No 05/2006/L§-G§T, Dated 04-4-2006,
on “Dispute about the Unilateral Termination of Labor
82 Cassation Decision No 06/2006/L§-G§T, Dated 04-4-2006,
on “Dispute between a Labor Export Business and Its
Employees on Asking for Damage Compensation” 561
Trang 1683 Cassation Decision No 07/2006/L§-G§T, Dated 04-4-2006,
on “Dispute about the Unilateral Termination of Labor
84 Cassation Decision No 08/2006/L§-G§T, Dated 04-4-2006,
on “Dispute about the Unilateral Termination of Labor
85 Cassation Decision No 09/2006/L§-G§T, Dated 04-4-2006,
on “Dispute about the Unilateral Termination of Labor
86 Cassation Decision No 10/2006/L§-G§T, Dated 04-4-2006,
on “Dispute about the Unilateral Termination of Labor
87 Cassation Decision No 11/2006/L§-G§T, Dated 04-4-2006,
on “Dispute about the Unilateral Termination of Labor
88 Cassation Decision No 12/2006/L§-G§T, Dated 04-7-2006,
on “Dispute about the Unilateral Termination of Labor
89 Cassation Decision No 13/2006/L§-G§T, Dated 04-7-2006,
on “Dispute about the Unilateral Termination of Labor
Part Three
Cassation decisions on administrative cases
90 Cassation Decision No 01/2006/HC-G§T, Dated 20-02-2006,
on Administrative Dispute - “Complaint on the Decision
Dealing with Dispute about Land Use Rights” 612
91 Cassation Decision No 02/2006/HC-G§T, Dated 10-5-2006,
on Administrative Dispute - “Complaint on the Administrative
Sanction Decision” 617
92 Cassation Decision No 04/2006/HC-G§T, Dated 09-11-2006,
on Administrative Dispute - “Complaint on the Decision
Withdrawing and Abrogating the Certificate of Land Use Rights” 622
Trang 17Lời nói đầu
Công bố bản án của Toà án đ-ợc coi là một thông lệ quốc tế nên đ-ợc thực hiện ở nhiều n-ớc trên thế giới Theo yêu cầu của Tổ chức Th-ơng mại thế giới (WTO) mà Việt Nam là thành viên thì các bản án của Toà án phải đ-ợc công bố hoặc sẵn có cho công chúng Vấn đề này cũng đã đ-ợc xác định là một trong các nhiệm vụ cải cách t- pháp trong Chiến l-ợc Cải cách t- pháp của Việt Nam
đến năm 2020, theo đó phải “Từng b-ớc thực hiện công khai hóa các bản án ”
Công bố các bản án, quyết định của Tòa án (đặc biệt là Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao) sẽ mang lại những kết quả tích cực: Phục vụ yêu cầu áp dụng thống nhất pháp luật trong công tác xét xử; nâng cao chất l-ợng của việc ra bản án và quyết định của Toà án; nâng cao nhận thức của ng-ời dân về quan điểm của Toà án trong việc áp dụng pháp luật trong công tác xét xử; giúp luật s-, cán bộ nghiên cứu, giảng viên, sinh viên trong việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập pháp luật thông qua thực tiễn sinh động
về hoạt động xét xử của Toà án
Tiếp theo quyển 1 và quyển 2 về Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (năm 2003 - 2004), đ-ợc sự đồng ý của Lãnh đạo Toà án nhân dân tối cao và Bộ Thông tin và Truyền thông; với sự
hỗ trợ của USAID (Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ) thông qua Dự án STAR Việt Nam (Dự án hỗ trợ Việt Nam thực hiện Hiệp định th-ơng mại song ph-ơng Việt Nam - Hoa Kỳ và các cam kết của Việt Nam đối với WTO), đặc biệt là sự ủng hộ nhiệt tình của ông Dennis Zvinakis, Cố Giám đốc USAID - Việt Nam
và ông David Brunell, Giám đốc Ch-ơng trình Phát triển kinh tế của USAID Việt Nam, Viện khoa học xét xử đã tiến hành biên soạn và phát hành quyển năm 2005
và quyển năm 2006 công bố một số quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc
Viện khoa học xét xử
Trang 18preface
Publication of judgments is considered as international customary practice, which has been and is conducted in many countries As required by the World Trade Organization, of which Vietnam is a member, the Court Judgments must be publicized or available for the public This has been also identified,
in the Judicial Reform Strategy up to 2020, as one of tasks on judicial reform; according to which “gradually publicizing judgments must be performed…”
Publication of judgments (especially cassation decisions of the Justice Council of the Supreme People’s Court) definitely will gain positive outcomes: supporting the requirement of uniform application of laws by the Courts, improving the quality of judgments, increasing citizen’s awareness of the standpoints of Courts in dealing with disputes and violations, and providing vivid adjudicative practice to assist lawyers, researchers, lecturers and students
in teaching and studying
Following the successful publication of Volume 1 and 2 of cassation decisions
of the Justice Council of the Supreme People’s Court (2003-2004), with the permission of the Leaders of the Supreme People’s Court and the Ministry of Information & Communication, with the assistance provided by USAID (United States Agency of International Development) through of the STAR - Vietnam (Support for Trade Acceleration Project), especially the assistance of Sir Dennis Zvinakis, the Ex-Director of USAID - Vietnam and Sir David Brunell, the Director of the Economic Development Program of USAID - Vietnam, the Institute for Judicial Science collects and issues Volume 2005 and 2006
of cassation decisions of the Justice Council of the Supreme People’s Court
Respectfully presents to the readers
Institute for judicial science
Trang 19Phần thứ nhất
quyết định giám đốc thẩm
hình sự
Trang 20Trần Văn D-ợc (tên gọi khác Trần Quốc Việt) sinh năm 1965; trú tại
xóm 10, xã Chất Bình, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình; con ông Trần Văn Ruẩn
và bà Trần Thị Nhiễu; có vợ và 02 con; bị bắt giam ngày 24-6-2003
Ng-ời bị hại: ông Bùi Văn Cảnh sinh năm 1960; trú tại: xóm 10, xã Chất
Bình, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
đấm vào mặt, vào ngực anh Thuận Sau khi đ-ợc mọi ng-ời can ngăn, anh Thuận
về nhà bà Hoàng Thị Hoa (bà Hoa là dì ruột anh Thuận) và đ-ợc bà Hoa đ-a đi khám tại Trung tâm y tế huyện rồi về nhà điều trị
Đến 17 giờ cùng ngày bà Hoa gặp bà Hoàng Thị Thìn (mẹ anh Thuận) kể lại việc anh Thuận bị D-ợc đánh rồi cùng bà Thìn đến nhà D-ợc; bà Hoa đứng ngoài cổng còn bà Thìn vào nhà nói chuyện với vợ chồng D-ợc về việc anh Thuận nợ tiền cát của D-ợc và việc D-ợc đánh anh Thuận buổi chiều D-ợc nói:
“việc Thuận đến lấy cát nhà em, em có nói chị cũng không hiểu đâu”, lúc này bà Hoa đứng ngoài cổng chửi Nghe tiếng bà Hoa chửi ngoài cổng thì chị Liễu (vợ D-ợc) ở trong nhà chửi lại.Thấy to tiếng, ông Phạm Văn Lục là hàng xóm sang can ngăn thì bà Hoa bỏ về nhà kể lại với chồng là ông Cảnh về việc chị Liễu vừa chửi Sau khi nghe vợ kể xong, ông Cảnh đến nhà vợ chồng D-ợc chửi chị Liễu, chị Liễu nói: “tao đây mày làm gì tao thì làm”, ông Cảnh liền đấm vào má trái của chị Liễu, chị Liễu liền gọi: “anh D-ợc ơi, nó đánh em” Nghe vợ gọi, D-ợc
từ d-ới bếp chạy lên cầm theo 01 con dao đến chỗ ông Cảnh đang nói chuyện với ông Lục chém nhiều nhát trúng vào đỉnh đầu phía bên trái và trán của ông Cảnh, ông Cảnh bỏ chạy; bà Thìn nói “D-ợc ơi không đ-ợc đánh” thì D-ợc vung dao chém về phía bà Thìn trúng vào cổ phía x-ơng quai xanh d-ới tai gò má trái
Trang 21của bà Thìn làm rách da chảy máu Ông Cảnh bỏ chạy đến đống gạch và nhặt gạch ném về phía D-ợc nh-ng không trúng, D-ợc xông đến thì bị ông Cảnh ném viên gạch thứ 2 trúng vào nách trái của D-ợc, nh-ng không gây th-ơng tích D-ợc tiếp tục chém ông Cảnh, ông Cảnh giơ hai tay lên đỡ thì bị trúng vào lòng bàn tay phải và đỉnh trán; ông Cảnh bỏ chạy, D-ợc đuổi theo chém vào bả vai phía sau bên phải của ông Cảnh Mọi ng-ời đến can ngăn, D-ợc quay về nhà thì
bị Công an bắt giữ, thu đ-ợc một dao dài 43 cm, l-ỡi dao dài 31 cm, rộng 07 cm, chuôi gỗ dài 12 cm Ông Cảnh đ-ợc đ-a đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện Kim Sơn, sau đó đ-ợc chuyển đến Bệnh viện tỉnh Ninh Bình, Bệnh viện Việt
Đức, Hà Nội phẫu thuật và điều trị, đến ngày 30-6-2003 ra viện về điều trị tại Trung tâm phục hồi chức năng thị xã Tam Điệp…
Tại Bản giám định th-ơng tật pháp y số 46/GĐPY ngày 10-9-2003, Tổ chức giám định pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận th-ơng tích của ông Cảnh giảm 60% sức khoẻ, do các vết th-ơng cụt ngón 1 bàn tay trái; vỡ x-ơng ngón 1 bàn tay phải; đứt gân gấp bàn tay phải, ảnh h-ởng chức năng bàn tay phải; vỡ x-ơng bản ngoài vùng trán đỉnh trái dài 07 cm; đa chấn th-ơng phần mềm đầu, cổ, trán
và tay
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 09/HSST ngày 12-02-2004, Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm e khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn D-ợc 07 năm tù
về tội “cố ý gây th-ơng tích”; buộc Trần Văn D-ợc phải bồi th-ờng cho ông Bùi Văn Cảnh 35.262.800 đồng (gồm các khoản: chi phí cấp cứu, thuốc điều trị 16.862.800 đồng; thu nhập bị mất trong thời gian điều trị 02 tháng 2.000.000
đồng; bồi d-ỡng phục hồi sức khỏe 1.000.000 đồng; tiền ngày công lao động bị giảm sút trong 03 năm 14.400.000 đồng; công ng-ời chăm sóc 02 tháng 1.000.000 đồng) và 1.583.100 đồng án phí dân sự
Ngày 22-02-2004, Trần Văn D-ợc kháng cáo xin giảm hình phạt và ngày 31-3-2004 kháng cáo bổ sung cho rằng bồi th-ờng 34.500.000 đồng quá cao (đơn kháng cáo bổ sung quá hạn 04 ngày)
Ng-ời bị hại ông Bùi Văn Cảnh kháng cáo đề nghị xem xét lại hành vi của D-ợc là giết ng-ời và tăng hình phạt (đơn không ghi ngày tháng, nh-ng theo dấu b-u điện là ngày 04-4-2004, quá hạn kháng cáo)
Tại bản án hình sự phúc thẩm số 896/HSPT ngày 03-6-2004, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với Trần Văn D-ợc về tội danh, hình phạt và bồi th-ờng (Tuy nhiên, trong phần nhận định về khoản tiền thuốc điều trị 16.862.800 đồng, Toà án cấp phúc thẩm chỉ chấp nhận những khoản có hoá đơn, chứng từ là 6.862.800 đồng
Trang 22và chuyển 10.000.000 đồng sang bồi th-ờng tổn thất tinh thần cho ông Cảnh)
Tại kháng nghị giám đốc thẩm số 26/VKSTC-V3 ngày 17-11-2005, Viện tr-ởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ toàn bộ phần dân sự của bản án hình sự sơ thẩm và bản án hình sự phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm để điều tra, xét xử lại phần dân sự theo đúng quy định của pháp luật với lý do: “quá trình điều tra ch-a điều tra làm rõ mức thu nhập bình quân 01 tháng tr-ớc khi bị đánh của ng-ời bị hại là bao nhiêu, nh-ng vẫn buộc bị cáo phải bồi th-ờng mỗi tháng 1.000.000 đồng là không đúng; số tiền tổn thất tinh thần 10.000.000 đồng chuyển từ khoản tiền thuốc sang là ch-a phù hợp vì trong vụ án này phía bị hại cũng có lỗi; riêng khoản tiền thu nhập thực tế bị giảm sút, buộc bị cáo phải bồi th-ờng cho anh Cảnh 14.400.000 đồng trong 03 năm là không đúng với tinh thần h-ớng dẫn tại Nghị quyết 01/2004/NQHĐTP ngày 28-4-2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao”
Xét thấy:
Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm kết án Trần Văn D-ợc về tội “cố ý gây th-ơng tích” và xử phạt Trần Văn D-ợc 07 năm tù là đúng pháp luật
Tuy nhiên, về trách nhiệm dân sự cần xem xét lại bởi lẽ: Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận khoản tiền thuốc điều trị và các chi phí khác là 16.862.800 đồng trong vụ án này là có thể chấp nhận đ-ợc; Toà án cấp phúc thẩm chỉ chấp nhận những khoản có hoá đơn, chứng từ là 6.682.800 đồng là ch-a phù hợp với thực tế khách quan vì có những khoản tuy không có hoá đơn, nh-ng là chi phí hợp lý cần chấp nhận
Về khoản tiền thu nhập bị mất trong thời gian điều trị, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của ng-ời bị hại để buộc
bị cáo bồi th-ờng 1.000.000 đồng/tháng, trong khi ch-a làm rõ thu nhập bình quân hàng tháng của ng-ời bị hại tr-ớc khi bị th-ơng tích là bao nhiêu tiền để có căn cứ buộc bị cáo bồi th-ờng là ch-a đúng pháp luật; buộc bị cáo phải bồi th-ờng thu nhập bị giảm sút trong 03 năm 14.400.000 đồng là không đúng quy
định tại Điều 613 Bộ luật dân sự
Khoản tiền tổn thất về tinh thần: ng-ời bị hại yêu cầu giải quyết theo pháp luật, Toà án cấp sơ thẩm không giải quyết là thiếu sót; Toà án cấp phúc thẩm có xem xét giải quyết bồi th-ờng tổn thất tinh thần cho bị hại là cần thiết, nh-ng lại chuyển 10.000.000 đồng (m-ời triệu) tiền thuốc sang khoản này là ch-a đúng pháp luật
Trang 23Vì các lẽ trên, căn cứ vào Điều 285 và Điều 287 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ các bản án sơ thẩm và phúc thẩm:
Thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật về bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng
_
Quyết định giám đốc thẩm số 02/2006/HS-GĐT
Ngày 20-02-2006 Về vụ án Vũ Đình Huân
phạm tội “giết ng-ời” và “c-ớp tài sản”
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Ngày 20 tháng 02 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở
Trang 24phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:
Vũ Đình Huân sinh ngày 15-10-1981; đăng ký hộ khẩu th-ờng trú tại
thôn Vị Khê, xã Điền Xá, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định; tạm trú tại tổ 16, ấp Bến M-ơng, xã Thạnh Đức, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm m-ớn; trình độ văn hoá: lớp 9/12; con ông Vũ Đình Sinh và bà Hoàng Thị Chúc;
bị bắt giam ngày 12-12-2003
Ng-ời bị hại: ông Lê Văn Cầu sinh năm 1935 (đã chết); trú tại Long
Q-ới B, xã Long Phú, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang; không có vợ, con; ng-ời
đại diện hợp pháp của ng-ời bị hại: bà Trần Thị Chính (là thím dâu của ông Cầu), trú tại 106E/12, tổ 44, ph-ờng 3, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh
Nhận thấy:
Khoảng 10 giờ ngày 07-12-2003, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tây Ninh nhận đ-ợc tin báo ông Lê Văn Cầu là ng-ời làm thuê bị chết trong v-ờn cây cảnh do anh Lý Hên là chủ
Quá trình điều tra xác định nh- sau: Vũ Đình Huân và ông Lê Văn Cầu cùng là ng-ời làm thuê chăm sóc cây cảnh cho anh Lý Hên tại tổ 16, ấp Bến M-ơng, xã Thạnh Đức, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, ông Cầu vào làm từ tháng 8-2003, mỗi tháng đ-ợc anh Hên trả cho 500.000 đồng Huân vào làm từ tháng 9-2003, mỗi tháng đ-ợc anh Hên trả cho 800.000 đồng anh Hên làm cho ông Cầu và Huân mỗi ng-ời một cái chòi phía gần cuối v-ờn để nghỉ và ngủ tại v-ờn
Theo lời khai của Huân, thì ngày 06-12-2003 nh- th-ờng lệ, sau khi làm v-ờn đến 16 giờ, Huân về nấu cơm tại nhà sàn, 17 giờ ông Cầu và Huân cùng ăn cơm đến 17 giờ 30, ăn xong ông Cầu về chòi ngủ cách nhà sàn hơn 100 m, còn Huân dọn nhà sàn và mở ti vi xem Khoảng hơn 20 giờ nghe tiếng chó sủa theo h-ớng chòi tr-ớc đây Huân ở và chòi của ông Cầu đang ở, Huân tắt ti vi và đi về h-ớng có tiếng chó sủa xem có gì không Vì trời sáng trăng nên Huân không mang theo đèn, khi đến hàng chuối chỗ có tấm ván bắc ngang con m-ơng thì Huân phát hiện thấy có bóng ng-ời đang đi theo lối mòn ở giữa hai hàng cây Vạn Thiên Tùng cách chỗ Huân đang đứng khoảng 09m Huân gọi “ai đó, ai
đó”, nh-ng không nghe thấy tiếng trả lời Thấy bóng ng-ời đang lom khom làm gì đó, Huân nghĩ là kẻ trộm nên đi tiếp về h-ớng có bóng ng-ời và lấy 01 chiếc cuốc, cán làm bằng gỗ tầm vông để ở lối đi Khi chỉ còn cách khoảng 1,5 m và
đối diện nhau, Huân liền giơ cuốc thẳng lên đánh phần gọng cuốc vào vùng đầu ng-ời đó 02 cái liên tiếp theo h-ớng từ trên xuống Khi nghe ng-ời đó kêu “á” rồi ngã xuống đất, Huân mới phát hiện đó là ông Cầu Thấy ông Cầu nằm bất tỉnh, nghĩ ông Cầu đã chết, Huân liền ôm xác ông Cầu đến đặt ở khu vực v-ờn cây Thiên Tuế với t- thế nằm nghiêng bên phải cách chỗ vừa đánh khoảng 15m
Trang 25Sau đó Huân quay lại lấy cuốc đến thùng n-ớc tr-ớc cửa chòi tr-ớc đây Huân ở rửa tay và rửa sạch các vết máu dính ở cuốc và đem cuốc để ở v-ờn cây Vạn Thiên Tùng giáp với hàng cây Vạn Thiên Tuế gần chỗ để ông Cầu nằm Đồng thời Huân lấy đôi dép của ông Cầu ném vào giữa hai hàng cây Vạn Thiên Tùng rồi đi về tắm, giặt Sau đó vào nhà sàn vừa mở ti vi xem, vừa hút thuốc lá để suy nghĩ cách đối phó vì ông Cầu chết nằm trong v-ờn mà không mất tài sản thì Công an dễ nghi ngờ Huân đánh chết ông Cầu
Đến khoảng 21 giờ, Huân cầm đèn pin đến soi xem ông Cầu đã chết thật ch-a, rồi lấy ví ở túi quần sau của ông Cầu (trong ví có khoảng hơn 400.000
đồng) đem ra phía sau chòi chỗ Huân th-ờng đốt rác hàng ngày, đổ dầu đốt toàn
bộ số tiền có trong ví của ông Cầu Sau khi đốt tiền xong, Huân cầm ví về chòi của ông Cầu lấy khoá, mở tủ, bỏ ví vào túi xách và khoá tủ lại để tạo hiện tr-ờng giả ng-ời ngoài đột nhập vào giết ng-ời, c-ớp tài sản Xong Huân để chìa khoá vào chỗ cũ, tắt điện và về nhà sàn ngủ, nh-ng không ngủ đ-ợc vì lo sợ ch-a xoá hết dấu vết
Sáng sớm ngày 07-12-2004, sau khi ăn sáng xong, Huân định đến chỗ
đánh ông Cầu xem còn dấu vết gì không, nh-ng do sợ mọi ng-ời xung quanh nghi ngờ vì Huân không bao giờ ra v-ờn tr-ớc 7 giờ, nên khoảng 7 giờ Huân ra chỗ đã đánh ông Cầu đêm qua, thấy có nhiều vết máu còn dính trên mặt đất, Huân dùng máy bơm n-ớc xoá hết các dấu vết máu và sau đó vào chòi của ông Cầu lấy thuốc lá hút nhằm trấn tĩnh rồi quay lại chỗ vừa xoá dấu vết, chờ khô đất
để kiểm tra lại một lần nữa Khi thấy không còn vết máu nào, Huân vào nhà điện báo cho anh Tr-ơng Văn Hiếu là ng-ời làm công cho anh Hên ở v-ờn cây cảnh khác, cách v-ờn cây cảnh mà Huân đang làm 6 km và báo cho anh Hên biết việc phát hiện ông Cầu chết Khoảng 20 phút sau anh Hiếu đến và điện báo cho Công
an huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh
Tại Bản giám định pháp y số 15/GĐPY ngày 07-12-2003, Tổ chức giám
định pháp y tỉnh Tây Ninh kết luận: nạn nhân Lê Văn Cầu chết do chấn th-ơng
sọ não, tác động do vật tày có cạnh sắc Các dấu vết trên ng-ời ông Cầu thể hiện: rách da đầu vùng đỉnh trái 3 ì 0,6 cm, rách da đầu vùng thái d-ơng trái 4 ì
0,6 cm, rách da đầu sau tai trái 2 ì 1 cm, rách da đốt I ngón III tay trái 4 ì 1 cm, rách da sau bàn tay trái 3 ì 0,7 cm, gẫy x-ơng đốt I ngón III tay trái; các vết rách da đều có bờ mép vết th-ơng nham nhở
Tại Biên bản khám nghiệm hiện tr-ờng ngày 07 và 08-12-2003, Cơ quan
điều tra thu đ-ợc 02 chiếc cuốc; 04 tàu lá chuối; 01 đoạn ván gỗ bắc cầu; 02 chiếc dép nhựa màu trắng; 01 ví nhựa màu đen; 01 kìm mỏ lết…
Ngày 07 và ngày 08-12-2003, Cơ quan điều tra thu đ-ợc trong ng-ời Huân 1.295.000 đồng; thu đ-ợc 01 mảnh tiền loại 10.000 đồng bị rách nằm d-ới
Trang 26mặt n-ớc trong v-ờn cây cảnh
Tại Biên bản khám nghiệm hiện tr-ờng ngày 09-01-2004, Cơ quan điều tra thu lớp tro trên bề mặt đống tro nơi Huân khai đốt tiền
Tại Bản kết luận giám định số 224/C21(CIII) ngày 30-12-2003, Phân viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận: không phát hiện thấy dấu vết máu trên cây cuốc, cái kìm, 04 tàu lá chuối gửi đến giám định; trên đoạn ván gỗ và bịch
đất gửi đến giám định có dính máu ng-ời, l-ợng dấu vết ít không đủ để xác định nhóm máu; mẫu máu ghi thu của nạn nhân Cầu thuộc nhóm máu 0
Tại công văn số 874/C21(CIII) ngày 29-01-2004, Phân viện khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát Bộ công an trả lời: Phân viện khoa học hình sự không
đủ điều kiện, ph-ơng tiện để xác định “tro của tiền Ngân hàng Việt Nam” trong mẫu than tro gửi giám định
Về tài sản của ông Cầu, qua xác minh đ-ợc biết tr-ớc khi chết ông Cầu
có khoảng 500.000 đồng (là tiền công anh Hên trả ngày 03-12-2003), 01 nhẫn màu vàng 01 chỉ 24k mua tháng 11-2003, nh-ng khi ông Cầu chết không còn tài sản này
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/HSST ngày 03-02-2005, Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm e khoản 1 Điều 93; khoản 1 Điều 133; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Đình Huân tử hình về tội
“giết ng-ời” và 05 năm tù về tội “c-ớp tài sản”; tổng hợp hình phạt buộc Vũ
Đình Huân phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là tử hình
Ngày 07-02-2005 Vũ Đình Huân kháng cáo với nội dung: xử bị cáo tử hình là quá nặng và không đúng tội danh mà bị cáo đã gây ra vì việc gây ra cái chết cho ông Cầu là do bị cáo nhầm t-ởng chứ không có mục đích nào khác; việc lấy tiền đốt là để tạo hiện tr-ờng giả, đề nghị xem xét lại toàn bộ vụ án và tội danh
Tại bản án hình sự phúc thẩm số 716/HSPT ngày 17-4-2005, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh áp dụng điểm g khoản 1 Điều 93; khoản 1 Điều 133; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Đình Huân tử hình về tội “giết ng-ời” và 05 năm tù về tội “c-ớp tài sản”; tổng hợp hình phạt buộc Vũ Đình Huân phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là tử hình
Ngày 30-4-2005 Vũ Đình Huân có đơn xin tha tội chết gửi Chủ tịch n-ớc với nội dung: kết án bị cáo về tội “giết ng-ời” để “c-ớp tài sản” là không đúng Cái chết mà bị cáo gây ra cho ông Cầu là do nhầm t-ởng nh- bị cáo đã khai báo chứ không có ý định lấy tài sản
Trang 27Ngày 18-5-2005 Vũ Đình Huân có đơn kêu oan gửi Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị xem xét lại tội “c-ớp tài sản” với lý do sau khi đánh
ông Cầu chết, sợ đi tù và sợ bố mẹ buồn nên không dám nhận tội, nên đã lấy tiền của nạn nhân đốt để tạo hiện tr-ờng giả có ng-ời ngoài vào giết ng-ời để c-ớp tài sản
Tại Kháng nghị giám đốc thẩm số 29/HS-TK ngày 15-12-2005, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 716/HSPT ngày 17-4-2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh để xét xử phúc thẩm lại theo h-ớng giảm hình phạt cho Vũ Đình Huân về tội “giết ng-ời”
Tại phiên toà giám đốc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với Kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân dân tối cao; tuy nhiên, sau khi thảo luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị huỷ bản án hình sự phúc thẩm và bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để điều tra lại
Xét thấy:
Tại cơ quan điều tra, lúc đầu Huân không thừa nhận đã đánh ông Cầu chết, nh-ng sau đó Huân khai nhận do nhầm t-ởng ông Cầu là kẻ trộm nên đã dùng cuốc giơ thẳng lên đánh phần gọng cuốc vào vùng đầu ông Cầu hai cái liên tiếp theo h-ớng từ trên xuống Sau khi biết ông Cầu chết, sợ phải chịu trách nhiệm về việc đánh chết ông Cầu nên đã lấy tiền đốt đi để tạo hiện tr-ờng giả có ng-ời ngoài vào giết ông Cầu và c-ớp tài sản Căn cứ vào lời khai nhận tội của
Vũ Đình Huân cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên toà sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm thì Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm kết án vũ Đình Huân về tội “giết ng-ời” là có căn
cứ Tuy nhiên, việc kết luận Vũ Đình Huân giết ông Cầu với mục đích c-ớp tài sản là ch-a có căn cứ vững chắc, vì lời khai nhận tội của Huân và một số chứng
cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án không phù hợp với nhau, nên cần phải điều tra lại làm rõ thêm một số vấn đề cụ thể nh-:
Cần tiến hành thực nghiệm điều tra lại vì th-ơng tích trên ng-ời nạn nhân không phù hợp với lời khai của bị cáo; cho nên, có thể thực nghiệm cho ng-ời khác đóng thế bị cáo và có sự chứng kiến của bị cáo nhằm xác định bị cáo có nhìn thấy rõ ng-ời bị hại nh- nhận xét của bản án phúc thẩm hay chỉ nhìn thấy
mờ mờ nh- bị cáo khai, trên cơ sở đó khẳng định là đánh nhầm hay cố ý từ tr-ớc nhằm giết ông Lê Văn Cầu nhằm chiếm đoạt tài sản
Giám định mảnh giấy bạc loại 10.000 Việt Nam đồng thu đ-ợc tại hiện tr-ờng để xác định có phải bị đốt cháy nh- lời khai bị cáo không?
Trang 28Lấy lời khai của anh Lý Hên để xác định anh Hên đã trả tiền công cho
ông Cầu là bao nhiêu tháng hay mới chỉ trả 500.000 đồng, để xác định số tiền của ông Cầu tr-ớc khi chết; xác định nguồn gốc chiếc nhẫn của ông Cầu do đâu
mà có, tr-ớc ngày ông Cầu chết có còn đeo nhẫn không? đeo nhẫn ở ngón tay nào?
Lấy lời khai của chị D-ơng để xác định chị D-ơng có đ-a cho Huân 200.000 đồng không, vì ch-a có lời khai của chị D-ơng về số tiền này và lấy lời khai bổ sung những ng-ời đã đ-a tiền cho Huân để làm rõ nguồn tiền Huân có
và tiền Huân đã chi tiêu có phù hợp số tiền nh- đã thu đ-ợc trong ng-ời Huân không vì Huân khai về khoản tiền chi tiêu là không phù hợp với số tiền còn lại; tại lời khai ngày 09-12-2003 (BL78) Huân khai “việc tôi và ông Hai (tức ông Cầu) đổi tiền là chủ ý của tôi”, việc đổi tiền này có chủ ý gì?
Lấy lời khai các nhân chứng để xem xét tại thời điểm xảy ra vụ án, trong v-ờn cây cảnh có nuôi chó hay không?
Tr-ờng hợp các cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh đ-ợc Vũ
Đình Huân cố ý giết chết ông Cầu nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản mà do t-ởng nhầm ông Cầu là trộm mà đánh chết thì mức hình phạt tử hình đối với bị cáo là không cần thiết
Vì các lẽ trên, căn cứ vào Điều 285 và Điều 287 Bộ luật tố tụng hình sự;
Quyết định:
1 Huỷ bản hình sự phúc thẩm số 716/HSPT ngày 17-4-2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án hình sự sơ thẩm số 29/HSST ngày 03-02-2005 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh đối với Vũ Đình Huân để điều tra lại; chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết việc điều tra lại theo thẩm quyền
2 Tiếp tục tạm giam bị cáo Vũ Đình Huân cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý lại vụ án
- Lý do huỷ bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm:
Ch-a đủ căn cứ để xác định bị cáo phạm tội “C-ớp tài sản” nh- quyết
định của bản án sơ thẩm và phúc thẩm, cần tiến hành điều tra lại
- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ các bản án sơ thẩm và phúc thẩm:
Thiếu sót trong việc xem xét, đánh giá chứng cứ
_
Trang 293 Quyết định giám đốc thẩm số 03/2006/HS-GĐT
Ngày 20-02-2006 Về vụ án Phạm Thị Lê phạm tội “Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa”
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Ngày 20 tháng 02 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:
Phạm Thị Lê sinh năm 1950; trú tại tổ 16 ph-ờng Thịnh Đán, thành phố
Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; khi phạm tội là chủ cửa hàng kinh doanh xăng dầu (t- nhân); con ông Phạm Đức Minh và bà Phạm Thị Hài (đều đã chết); có chồng và 02 con; bị tạm giam từ ngày 19-5-1996 đến ngày 20-7-1997
Nguyên đơn dân sự: Kho bạc nhà n-ớc tỉnh Thái Nguyên
(Trong vụ án còn có 10 bị cáo khác)
Nhận thấy:
Kho bạc nhà n-ớc tỉnh Thái Nguyên (sau đây viết tắt là Kho bạc) tham gia thanh toán bù trừ từ năm 1993 và mở tài khoản thanh toán bù trừ tại Ngân hàng nhà n-ớc tỉnh Thái Nguyên để phục vụ cho việc thanh toán Tại Phòng kế toán của Kho bạc, Nguyễn Thị Thời là kế toán phụ trách thanh toán bù trừ, có trách nhiệm tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của séc, bảng kê nộp séc của khách hàng sau đó chuyển séc cùng với bảng kê nộp séc cho Nông Thanh Phú là Tr-ởng phòng kế toán hoặc D-ơng Thị Chiến, D-ơng Thị Hồi là các Phó tr-ởng phòng kế toán của Kho bạc ký duyệt thanh toán Sau khi các bảng kê nộp séc
đ-ợc Phú, Chiến hoặc Hồi kiểm tra và ký duyệt, Nguyễn Thị Thời tiến hành thủ tục chuyển tiền từ tài khoản thanh toán bù trừ của Kho bạc vào tài khoản của ng-ời thụ h-ởng
Phạm Thị Lê là cá nhân kinh doanh xăng dầu và Nguyễn Thị Kim Th- là cá nhân kinh doanh vật liệu xây dựng có mở tài khoản tại Ngân hàng nông nghiệp và Ngân hàng công th-ơng ở địa ph-ơng Do có quan hệ quen biết từ tr-ớc, Thời nói với Lê và Th- là có một số cơ quan nhà n-ớc có nhu cầu đổi séc lấy tiền mặt Theo thoả thuận của hai bên, sau khi số tiền ghi trên séc đ-ợc chuyển vào tài khoản, Lê và Th- giao lại số tiền mặt t-ơng ứng cho Thời và
đ-ợc trả tiền hoa hồng do “đổi séc” là 0,35%
Trong khoảng thời gian từ năm 1993 đến năm 1996, Nguyễn Thị Thời đã
có nhiều hành vi gian dối để chuyển 4.910.937.960 đồng (112 khoản) của Kho
Trang 30bạc vào tài khoản của t- nhân để chiếm đoạt; cụ thể nh- sau:
- Chuyển vào tài khoản của Phạm Thị Lê 108 khoản với số tiền là 4.851.937.960 đồng Trong số các chứng từ liên quan đến 108 khoản tiền này,
Lê đã ký tên vào 14 bảng kê nộp séc khống theo đề nghị của Thời Các bảng kê nộp séc này do Thời viết sẵn nội dung hoặc đọc cho Lê ghi nội dung vào bảng
kê Tuy không có séc kèm theo nh-ng Lê đã ký vào 14 bảng kê nộp séc này rồi giao lại cho Thời để thanh toán, tổng số tiền ghi trên 14 bảng kê là 753.800.000
đồng (Toà án các cấp chỉ buộc Phạm Thị Lê phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền này) Đối với 94 khoản tiền (4.098.137.960 đồng) còn lại, Thời đã tự lập các bảng kê nộp séc khống và giả mạo chữ ký ng-ời nộp séc là Phạm Thị Lê, dùng bảng kê nộp séc đã thanh toán để thanh toán lần thứ hai và sửa chữa chứng từ để rút tiền chuyển vào tài khoản của Lê
- Chuyển vào tài khoản của Nguyễn Thị Kim Th- 04 khoản với số tiền là 59.000.000 đồng Các bảng kê nộp séc khống này do Kim Th- ký rồi giao cho Thời để thanh toán
Sau khi chuyển tiền vào tài khoản, Thời báo cho Lê và Th- biết để chuẩn
bị số tiền mặt t-ơng ứng cho Thời đến lấy Lê, Th- thấy tiền đã đ-ợc chuyển vào tài khoản của mình thì dùng tiền mặt có sẵn ở nhà hoặc ra ngân hàng rút tiền giao cho Thời Tổng số tiền Lê đ-ợc h-ởng là 17.000.000 đồng và số tiền Th-
Ngày 10-5-1998, Phạm Thị Lê kháng cáo đề nghị xem xét lại về trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự của bị cáo
Tại Quyết định kháng nghị số 04 ngày 15-5-1998, Viện tr-ởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị Toà án cấp phúc thẩm tăng hình phạt đối với Phạm Thị Lê
Tại bản án hình sự phúc thẩm số 2136 ngày 31-10-1998, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội áp dụng khoản 3 Điều 133; khoản 3 Điều 38
Bộ luật hình sự năm 1985, xử phạt Phạm Thị Lê 09 năm tù về tội “tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa”, tuyên các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 24/KN-VKSTC-V3
Trang 31ngày 01-11-2005, Viện tr-ởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 2136 ngày (30) 31-10-1998 của Toà phúc thẩm Toà
án nhân dân tối cao tại Hà Nội và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ phần tội danh và hình phạt đối với Phạm Thị
Lê để xét xử phúc thẩm lại theo h-ớng tuyên Phạm Thị Lê phạm tội “cố ý làm trái quy định của Nhà n-ớc về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, cho
bị cáo h-ởng án treo, với lý do:
“Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm căn cứ vào 14 bảng kê nộp séc mà không có séc do Phạm Thị Lê ký để kết án Lê 09 năm tù về tội “tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa” Sau khi xét xử cơ quan điều tra đã bắt đ-ợc Nguyễn Thị Thời
và đ-a ra xét xử, Thời đã nhận toàn bộ hành vi phạm tội do Thời làm với thủ
đoạn dùng bảng kê nộp séc của Lê để đ-a vào thanh toán ở kho bạc Việc làm này của Thời, Lê hoàn toàn không biết, các bảng kê nộp séc khống đều do bị cáo Thời đọc cho Lê viết
Với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án ch-a đủ căn cứ để kết luận Phạm Thị Lê đồng phạm tham ô với Nguyễn Thị Thời Theo Thông t- 08 ngày 02-6-1994 của Ngân hàng nhà n-ớc Việt Nam và văn bản h-ớng dẫn
số 1338 ngày 05-11-1994 của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam thì có đủ căn cứ kết luận Phạm Thị Lê phạm tội “cố ý làm trái quy định của Nhà n-ớc về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” theo điều 165 Bộ luật hình sự năm 1999
Vụ án xảy ra đã lâu, Lê khai báo thành khẩn, đã khắc phục xong hậu quả, nhân thân là công nhân viên chức nghỉ h-u, hiện nay Phạm Thị Lê đ-ợc tại ngoại, do
đó nên cân nhắc đ-ờng lối xử lý đối với Phạm Thị Lê.”
Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng việc kết án Phạm Thị Lê về tội “tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa” là có căn
cứ, nh-ng cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì mức hình phạt Toà án các cấp đã tuyên là quá nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ bản án hình sự phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại, giảm hình phạt cho Phạm Thị Lê và cho bị cáo h-ởng án treo
Trang 32cho Nguyễn Thị Thời chiếm đoạt 753.800.000 đồng của Kho bạc nhà n-ớc tỉnh Thái Nguyên Do đó, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm kết án Phạm Thị Lê về tội “tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa” với vai trò đồng phạm giúp sức cho Nguyễn Thị Thời là có căn cứ, đúng pháp luật
Tuy nhiên, trong vụ án này một nguyên nhân quan trọng trong việc để xảy ra hậu quả của vụ án là hành vi thiếu trách nhiệm của các bị cáo là cán bộ tại Phòng kế toán của Kho bạc nhà n-ớc tỉnh Thái Nguyên (Nông Thanh Phú, D-ơng Thị Chiến, D-ơng Thị Hồi), việc ký duyệt của các bị cáo này có ý nghĩa quyết định đối với việc các bảng kê nộp séc khống đ-ợc chấp nhận thanh toán Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn công khai tại phiên toà sơ thẩm và phiên toà phúc thẩm thì Lê không đ-ợc bàn bạc, không biết
ý định phạm tội của Nguyễn Thị Thời, vì t- lợi mà đã có hành vi tạo điều kiện cho Thời chiếm đoạt tài sản của Nhà n-ớc Bị cáo đã nộp trả toàn bộ số tiền chiếm h-ởng, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, hoàn cảnh gia
đình khó khăn, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội
Vụ án xảy ra trong khoảng thời gian từ năm 1993 đến năm 1996, căn cứ vào quy định tại điểm c khoản 2 Nghị quyết số 32/1999/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 1999 thì đối với tr-ờng hợp phạm tội của Phạm Thị Lê có thể áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985 để giảm hình phạt cho bị cáo xuống d-ới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1985 (tr-ớc khi
đ-ợc sửa đổi, bổ sung ngày 10-5-1997) và cho bị cáo đ-ợc h-ởng án treo
Vì các lẽ trên, căn cứ vào Điều 285 và Điều 287 Bộ luật tố tụng hình sự;
Quyết định:
Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 2136 ngày 31-10-1998 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội về phần đã xét xử và quyết định đối với Phạm Thị Lê; giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại
Hà Nội để xét xử phúc thẩm đối với hành vi phạm tội của Phạm Thị Lê theo
đúng quy định của pháp luật
Các quyết định khác của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật
- Lý do huỷ bản án phúc thẩm:
1 Không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội;
2 Cần áp dụng Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Bộ luật hình sự năm 1999 để giảm hình phạt cho bị cáo
Trang 33- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ bản án phúc thẩm:
Thiếu sót trong việc cân nhắc, quyết định hình phạt
_
Quyết định giám đốc thẩm số 04/2006/HS-GĐT
Ngày 03-4-2006 Về vụ án Nguyễn Xuân Bính
phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Ngày 03 tháng 4 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:
Nguyễn Xuân Bính sinh năm 1944 tại Lĩnh Nam, Thanh Trì, Hà Nội; trú
tại 92/19/16 Huỳnh Kh-ơng An, ph-ờng 5, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh; con ông Nguyễn Văn Vọng và bà Lê Thị Kiến (đều đã chết); có vợ và 08 con; bị bắt giam ngày 20-7-2002
tù tính từ ngày 20-7-2002
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 13-4-2005 (đ-ợc đính chính theo Công văn đính chính số 117/ĐCBA – TA ngày 03-11-2005), Toà án quân
sự quân khu thủ đô Hà Nội áp dụng khoản 1 Điều 181; điểm g khoản 1 Điều 48; các điểm b, p và s khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 50; Điều 51 Bộ luật hình sự;
xử phạt Nguyễn Xuân Bính 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển, l-u
hành giấy tờ có giá giả”; tổng hợp với hình phạt với 25 (hai m-ơi lăm) năm tù về
tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án hình sự phúc thẩm số 1934/HSPT ngày 16-12-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội; buộc
bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 27 (hai m-ơi bảy) năm
Trang 34tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20-7-2002
Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nên đã có hiệu lực pháp luật
Tại bản án hình sự phúc thẩm số 520/2005 ngày 17-5-2005, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; các
điểm b, p, và s khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 42; Điều 47; khoản 1 Điều 51;
điểm a khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Xuân Bính 13 (m-ời ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp với hình phạt 25 (hai m-ơi lăm) năm tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 1934/HSPT ngày 16-12-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 30 (ba m-ơi) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20-7-2002
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 27/2005/HS-TK ngày 30-11-2005, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ phần quyết định tổng hợp hình phạt của bản án hình sự phúc thẩm số 520/2005 ngày 17-5-2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội đối với Nguyễn Xuân Bính,
để tổng hợp hình phạt của các bản án theo đúng quy định của pháp luật
Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao
Xét thấy:
Hình phạt 25 (hai m-ơi lăm) năm tù tại bản án hình sự phúc thẩm
số 934/HSPT ngày 16-12-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại
Hà Nội đã đ-ợc tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển, l-u hành giấy tờ có giá giả” tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 13-4-2005 của Toà án quân sự quân khu thủ đô Hà Nội; buộc Nguyễn Xuân Bính phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 27 (hai m-ơi bảy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20-7-2002
Khi xét xử phúc thẩm Nguyễn Xuân Bính về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tại bản án hình sự phúc thẩm số 520/2005 ngày 17-5-2005, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội không tổng hợp với hình phạt 27 (hai m-ơi bảy) năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 13-4-2005 của Toà án quân sự quân khu thủ đô Hà Nội mà một lần nữa lại tổng hợp hình phạt 25 (hai m-ơi lăm) năm tù của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên với hình phạt 13 (m-ời ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Nh- vậy, hình phạt 25 (hai m-ơi lăm) năm tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 1934/HSPT ngày 16-12-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội bị tổng hợp 02 lần Do tổng
Trang 35Vì các lẽ trên, căn cứ vào Điều 285 và Điều 286 Bộ luật tố tụng hình sự;
Quyết Định:
Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 520/2005 ngày 17-5-2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội đối với Nguyễn Xuân Bính về phần quyết định “tổng hợp với bản án số 1934/HSPT ngày 16-12-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 25 năm tù buộc bị cáo Nguyễn Xuân Bính phải chấp hành hình phạt chung hai bản án là 30 năm tù (ba m-ơi năm)”để tiến hành việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo đúng quy
- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ bản án phúc thẩm:
Thiếu sót trong việc tổng hợp hình phạt của các bản án khác nhau
Trang 36phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:
Phạm Sanh sinh năm 1933, tại Quảng Ngãi; trú tại số 145/8 D-ơng Tử
Giang, ph-ờng 15, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: nguyên Giám
đốc Công ty TNHH Sakico; con ông Phạm Tỵ và bà Lê Thị Em (đều đã chết); có
vợ và 09 con đều đã tr-ởng thành; bị bắt tạm giam ngày 04-12-1998
Nguyên đơn dân sự: Ngân hàng th-ơng mại cổ phần các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh (VP Bank), chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh Trụ sở: 165-169 Hàm Nghi, ph-ờng Nguyễn Thái Bình, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
Ng-ời có quyền lợi liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị Lệ Thu; trú tại
số 16/2 Nguyễn Thị Thập, ph-ờng Bình Thuận, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh
Nhận thấy:
Công ty Sakico do Phạm Sanh làm Giám đốc là một khách hàng của Ngân hàng th-ơng mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (sau đây gọi tắt là VP Bank) Năm 1996, trong quá trình kinh doanh, Phạm Sanh đã có hành
vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt của VP Bank một l-ợng hàng hoá trị giá 2.081.236,17 USD, tính theo giá chuyển đổi tại thời điểm đó khoảng trên 26.000.000.000 đồng (12.500 đồng/1 USD)
Chị Nguyễn Thị Lệ Thu là ng-ời có quan hệ làm ăn với Phạm Sanh nh-ng không có hộ khẩu th-ờng trú tại thành phố Hồ Chí Minh Ngày 25-3-1994 chị Nguyễn Thị Lệ Thu lập Hợp đồng viết tay mua căn nhà số 16/2 lộ 1, xã Tân Thuận Tây, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh của ông Đào Văn Nhiều và
bà Lê Thị út với giá 42 l-ợng vàng Ông Nhiều và bà út đã nhận vàng của chị Thu có giấy biên nhận, đến ngày 03-10-1994 đã thanh toán xong Ngày 23-6-1994, Phạm Sanh viết giấy xác nhận đứng tên hộ chị Thu mua nhà Giấy này có xác nhận của vợ chồng ông Nhiều, bà út; của cảnh sát khu vực và Uỷ ban nhân dân xã Tân Thuận Tây vào ngày 27-8-1994
Ngày 13-8-1994 Phạm Sanh ký với ông Nhiều và bà út Hợp đồng mua bán chuyển nh-ợng nhà số 147/HĐ-MBN, Hợp đồng này đ-ợc Uỷ ban nhân dân huyện Nhà Bè chứng nhận vào ngày 27-8-1994 Phạm Sanh làm tờ khai chuyển dịch tài sản, nộp thuế tr-ớc bạ ngày 29-8-1994 và đăng ký tại Phòng xây dựng giao thông vận tải huyện Nhà Bè ngày 27-9-1994
Ngày 09-5-1996 Kiến trúc s- tr-ởng thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy phép xây dựng số 1955/GPXD cho Phạm Sanh
Ngày 02-12-1998, Phạm Sanh bị khởi tố bị can về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Ngày 12-4-1999, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có lệnh kê biên tài sản số 04/ĐT đối với căn nhà số
Trang 3716/2 lộ 1, xã Tân Thuận Tây, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, do Phạm Sanh đứng tên Hợp đồng nhận chuyển nh-ợng và giấy phép xây dựng; giao cho chị Thu bảo quản chờ xử lý
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 431/HSST ngày 13-4-2001,Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định: xử phạt Phạm Sanh 10 năm tù về tội
“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; buộc Phạm Sanh phải hoàn trả số tiền
đã chiếm đoạt và tiền nợ đối với VP Bank-Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh là 17.434.350,44 USD và 589.901.700 đồng Việt Nam; tiếp tục duy trì kê biên tài sản theo danh mục tại quyết định kê biên số 105/ĐT ngày 02-12-1998 của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và giao cho Công
ty Sakico quản lý d-ới sự giám sát của VP Bank khi có quyết định thi hành án thì giao cho Cơ quan thi hành án phát mãi thi hành án; giải toả quyết định kê biên tài sản số 04/ĐT ngày 12-4-1999 của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đối với căn nhà số 16/2 lộ 1, Tân Thuận Tây, Nhà
Bè để chị Nguyễn Thị Lệ Thu lập hồ sơ đăng ký tài sản
Ngày 18-4-2001, Chi nhánh VP Bank tại thành phố Hồ Chí Minh kháng cáo yêu cầu xem xét lại căn nhà số 16/2 lộ 1, xã Tân Thuận Tây, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh để kê biên bảo đảm thi hành án
Ngày 20-4-2001, Phạm Sanh có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt
Ngày 23-4-2001, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị số 13/KSXX-HS đề nghị Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh áp dụng Điều 7 Bộ luật hình sự 1999; khoản 3 Điều 135 Bộ luật hình sự 1985 xử phúc thẩm theo h-ớng tăng hình phạt
đối với Phạm Sanh; huỷ việc giải toả quyết định kê biên tài sản số 04/ĐT ngày 12-4-1999 của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đối với căn nhà số 16/2 lộ 1, xã Tân Thuận Tây, huyện Nhà Bè, thành phố
Hồ Chí Minh vì đây là tài sản do Phạm Sanh đứng tên chủ quyền và giấy phép xây dựng
Tại bản án hình sự phúc thẩm số 133/PTHS ngày 04-3-2002, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định: sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm; xử phạt bị cáo Phạm Sanh 13 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và huỷ bỏ việc giải toả quyết định kê biên tài sản số 04/ĐT ngày 12-4-1999 của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đối với căn nhà 16/2 lộ 1, Tân Thuận Tây, Nhà Bè theo
án số 431/HSST ngày 13-4-2000 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; tiếp tục duy trì kê biên tài sản số 04/ĐT ngày 12-4-1999 và số 105/ĐT ngày 02-12-1998 của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và giao cho Công ty Sakico quản lý d-ới sự giám sát của VP Bank, khi có
Trang 38quyết định thi hành án thì giao cho cơ quan thi hành án phát mãi thi hành án
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 20/2005/HS-TK ngày 04-10-2005, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ quyết định
“huỷ bỏ việc giải toả quyết định kê biên tài sản số 04/ĐT ngày 12-4-1999 của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đối với căn nhà 16/2 lộ 1, xã Tân Thuận Tây, huyện Nhà Bè theo bản án hình sự sơ thẩm
số 431/HSST ngày 13-4-2000 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh” và
huỷ bỏ các chữ “số 04/ĐT ngày 12-4-1999 và” trong quyết định: “tiếp tục duy trì kê biên tài sản số 04/ĐT ngày 12-4-1999 và số 105/ĐT ngày 02-12-1998 của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và giao cho Công ty Sakico quản lý d-ới sự giám sát của VP Bank, khi có quyết định thi hành án thì giao cho cơ quan thi hành án phát mãi thi hành” của bản án hình sự
phúc thẩm số 133/PTHS ngày 04-3-2002 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, với lý do: ch-a đủ căn cứ kết luận căn nhà số 16/2
lộ 1, xã Tân Thuận Tây, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh (nay là số 16/2 Nguyễn Thị Thập, ph-ờng Bình Thuận, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh) hoàn toàn thuộc sở hữu của Phạm Sanh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao tham gia phiên toà giám đốc thẩm đề nghị huỷ phần quyết định về xử lý căn nhà số 16/2 lộ 1, xã Tân Thuận Tây, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh (nay là số 16/2 Nguyễn Thị Thập, ph-ờng Bình Thuận, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh) của bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm xác minh, xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật
Xét thấy:
Mặc dù theo một số giấy tờ nh-: Hợp đồng mua bán chuyển nh-ợng nhà số 147/HĐ-MBN ngày 13-8-1994, Giấy phép xây dựng số 1955/GPXD ngày 09-5-1996 của Kiến trúc s- tr-ởng thành phố Hồ Chí Minh thì căn nhà
số 16/2 lộ 1, xã Tân Thuận Tây, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh (nay là
số 16/2 Nguyễn Thị Thập, ph-ờng Bình Thuận, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh)
đứng tên Phạm Sanh nh-ng căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì ngày 25-3-1994 chị Nguyễn Thị Lệ Thu đã lập hợp đồng mua căn nhà số 16/2 nói trên của ông Đào Văn Nhiều và bà Lê Thị út, chị Thu là ng-ời trực tiếp trả vàng cho ông Nhiều và bà út, trực tiếp quản lý, sử dụng nhà đất, Phạm Sanh viết giấy xác nhận đứng tên hộ chị Thu mua căn nhà số 16/2 và đ-ợc những ng-ời bán nhà, cảnh sát khu vực và Uỷ ban nhân dân xã Tân Thuận Tây xác nhận việc này Do đó, Toà án cấp phúc thẩm xác định căn nhà số 16/2 thuộc quyền sở hữu của Phạm Sanh là ch-a có căn cứ vững chắc
Trang 39Tuy nhiên, những ng-ời bán nhà và những ng-ời xác nhận việc Phạm Sanh đứng tên mua nhà hộ chị Thu ch-a đ-ợc các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập để lấy lời khai về quá trình mua bán căn nhà số 16/2 Số vàng mà chị Thu trả cho ông Nhiều và bà út là tài sản riêng của chị Thu hay là vàng do Phạm Sanh
đ-a cũng ch-a đ-ợc làm rõ Trong khi đó, Phạm Sanh thừa nhận khi xây dựng căn nhà này Phạm Sanh cũng có đóng góp một số vật liệu xây dựng nh- xi măng, sắt Vì vậy, ch-a đủ căn cứ để kết luận căn nhà số 16/2 thuộc quyền sở hữu riêng của Phạm Sanh hay quyền sở hữu riêng của chị Nguyễn Thị Lệ Thu, hay thuộc sở hữu chung của Phạm Sanh và chị Nguyễn Thị Lệ Thu Do đó, việc Toà án cấp sơ thẩm huỷ bỏ kê biên và Toà án cấp phúc thẩm duy trì kê biên đối với căn nhà số 16/2 đều ch-a có căn cứ vững chắc
Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 279; khoản 3 Điều 285 và
Điều 287 Bộ luật tố tụng hình sự;
Quyết Định:
Huỷ quyết định: “Huỷ bỏ việc giải toả quyết định kê biên tài sản
số 04/ĐT ngày 12-4-1999 của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đối với căn nhà 16/2 lộ 1 Tân Thuận Tây, Nhà Bè theo án
số 431/HSST ngày 13-4-2000 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Tiếp tục duy trì kê biên tài sản số 04/ĐT ngày 12-4-1999 của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và giao cho Công ty Sakico quản lý d-ới sự giám sát của VP Bank, khi có quyết định thi hành án thì giao cho cơ quan thi hành án phát mãi thi hành án” của bản án hình sự phúc thẩm
số 133/PTHS ngày 04-3-2002 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; huỷ quyết định: “Giải toả quyết định kê biên tài sản
số 04/ĐT ngày 12-4-1999 của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đối với căn nhà số 16/2 Lộ 1 Tân Thuận Tây, Nhà Bè để bà Nguyễn Thị Lệ Thu lập hồ sơ đăng ký tài sản” của bản án hình sự sơ thẩm
số 431/HSST ngày 13-4-2001 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết, xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật
Các quyết định khác của bản án hình sự phúc thẩm và bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không bị kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật
- Lý do huỷ một phần bản án sơ thẩm và một phần bản án phúc thẩm:
Toà án cấp phúc thẩm xác định căn nhà 16/2 thuộc quyền sở hữu của Phạm Sanh là ch-a đủ căn cứ, cần tiến hành điều tra lại
Trang 40Nguyễn Văn An sinh năm 1983; trú tại thôn Hậu Trạch, xã Liêm Hải,
huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định; con ông Nguyễn Văn Chẩn và bà Nguyễn Thị Hiền; ch-a có tiền án, tiền sự; bị bắt giam ngày 25-11-2004
Ng-ời bị hại: Anh Đặng Xuân Th-ởng sinh năm 1958 (đã chết); ng-ời
đại diện hợp pháp của ng-ời bị hại: chị Nguyễn Thị Sự (vợ anh Th-ởng) trú tại phòng 2 dãy Đ5, ph-ờng Văn Miếu, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
(Trong vụ án này còn có bị cáo Phạm Văn Tú sinh năm 1983 bị xử phạt
18 năm tù về tội “giết ng-ời”; 03 năm tù về tội “c-ớp tài sản”; tổng hợp hình phạt chung là 21 năm tù)
Nhận thấy:
Nguyễn Văn An và Phạm Văn Tú cùng ở xã Liêm Hải, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định Cuối tháng 6-2004, khi đến chơi tại hiệu cắt tóc của anh Đoàn Văn Thanh ở xã Nam Lợi, huyện Nam Trực, An bàn với Tú và Đoàn Văn Thanh
về việc đi thuê xe ôm để c-ớp bán lấy tiền tiêu thì đ-ợc Tú đồng ý, còn Thanh sợ nên từ chối
Ngày 27-6-2004 An rủ Tú lên Hà Nội tìm việc làm nh-ng không tìm
đ-ợc, chiều ngày 30-6-2004 tại hồ Linh Đàm, thành phố Hà Nội, An bàn với Tú quay về Nam Định thuê xe ôm về khu đ-ờng liên xã Nam Lợi – Nam Hồng, huyện Nam Trực nơi có địa bàn vắng sẽ giết lái xe và lấy xe máy để bán, thì
đ-ợc Tú nhất trí Khoảng 17 giờ cùng ngày, An và Tú mặc quần áo bộ đội mang