1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Quyet dinh giam doc tham 2005

375 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 375
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp theo quyển 1 và quyển 2 về Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao năm 2003 - 2004, đ-ợc sự đồng ý của Lãnh đạo Toà án nhân dân tối cao và Bộ Thông t

Trang 1

Toà án nhân dân tối cao

quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Năm 2005

Hà Nội - 2008

Trang 2

Toà án nhân dân tối cao

quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

năm 2005

(Các quyết định giám đốc thẩm hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình,

kinh doanh, th-ơng mại và hành chính năm 2005)

Hà Nội - 2008

Trang 3

1 Quyết định giám đốc thẩm số 01/HĐTP-HS, ngày 26-01-2005,

về vụ án Lê Văn Huyên phạm tội “Giết ng-ời” 18

2 Quyết định giám đốc thẩm số 03/2005/HĐTP-HS, ngày 26-01-2005,

về vụ án Phan Ngọc Hạnh phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

3 Quyết định giám đốc thẩm số 04/2005/HĐTP-HS, ngày 26-01-2005,

về phần dân sự trong vụ án Mai Văn Huy phạm các tội “Tham ô

tài sản”, “Buôn lậu”, “Đ-a hối lộ” 25

4 Quyết định giám đốc thẩm số 06/2005/HĐTP-HS, ngày 24-02-2005,

về vụ án Phạm Văn C-ờng phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản của công dân” 30

5 Quyết định giám đốc thẩm số 07/2005/HĐTP-HS, ngày 29-3-2005,

về vụ án Hồ Thị Bé phạm tội “Chiếm đoạt trẻ em” 33

6 Quyết định giám đốc thẩm số 08/2005/HĐTP-HS, ngày 25-4-2005,

về vụ án Cao Tỷ Phú phạm tội “Buôn lậu” 36

7 Quyết định giám đốc thẩm số 09/2005/HĐTP-HS, ngày 25-4-2005,

về vụ án Nguyễn Duy Dziễm phạm tội “Đánh bạc” 49

8 Quyết định giám đốc thẩm số 10/2005/HĐTP-HS, ngày 25-4-2005,

về vụ án Lê Hoàng Tân phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển

ph-ơng tiện giao thông đ-ờng bộ” 51

9 Quyết định giám đốc thẩm số 11/2005/HĐTP-HS, ngày 24-6-2005,

về vụ án L-u Hồng Thành phạm tội “Vận chuyển trái phép chất

Trang 4

10 Quyết định giám đốc thẩm số 12/2005/HĐTP-HS, ngày 24-6-2005,

về vụ án Phan Văn Minh, Ngô Thiết Hùng phạm tội “Vi phạm

quy định về điều khiển ph-ơng tiện giao thông đ-ờng bộ” 60

11 Quyết định giám đốc thẩm số 13/2005/HĐTP-HS, ngày 01-8-2005,

về vụ án Danh Nh-ợng phạm tội “Cố ý gây th-ơng tích” 63

12 Quyết định giám đốc thẩm số 14/2005/HS-GĐT, ngày 01-8-2005,

về vụ án Bùi Văn Nguyên phạm tội “Đánh bạc” 67

13 Quyết định giám đốc thẩm số 15/2005/HS-GĐT, ngày 01-8-2005,

về vụ án Tăng Duy Quang phạm tội “Cố ý gây th-ơng tích” 70

14 Quyết định giám đốc thẩm số 16/2005/HS-GĐT, ngày 02-8-2005,

về vụ án Lê Thị Roạn, Lại Minh Hùng phạm tội “Thiếu trách nhiệm

15 Quyết định giám đốc thẩm số 17/2005/HS-GĐT, ngày 14-9-2005,

về vụ án D-ơng Văn Thiệu phạm tội “Vi phạm quy định về điều

khiển ph-ơng tiện giao thông đ-ờng bộ” 80

16 Quyết định giám đốc thẩm số 18/2005/HS-GĐT, ngày 14-9-2005,

về vụ án Hồ Thanh Tấn bị xét xử về tội “Không tố giác tội phạm” 83

17 Quyết định giám đốc thẩm số 19/2005/HS-GĐT, ngày 31-10-2005,

về vụ án Phùng Thị Sến cùng đồng bọn phạm tội “Mua bán phụ nữ”

18 Quyết định giám đốc thẩm số 20/2005/HS-GĐT, ngày 31-10-2005,

về vụ án Lê Thị Nguyệt cùng đồng bọn phạm tội “tham ô tài sản

19 Quyết định giám đốc thẩm số 21/2005/HS-GĐT, ngày 31-10-2005,

về vụ án Hoàng Văn C-ờng và đồng bọn phạm tội “Giết ng-ời” 96

20 Quyết định giám đốc thẩm số 23/2005/HĐTP-HS, ngày 08-12-2005,

về vụ án Vũ Tiến Đức phạm tội “Giết ng-ời” 99

Trang 5

Phần thứ hai

quyết định giám đốc thẩm dân sự, hôn nhân và gia đình

và kinh doanh, th-ơng mại

21 Quyết định giám đốc thẩm số 01/HĐTP-DS, ngày 26-1-2005,

về vụ án “Tranh chấp nhà đất” 104

22 Quyết định giám đốc thẩm số 02/HĐTP-DS, ngày 26-1-2005,

23 Quyết định giám đốc thẩm số 03/HĐTP-DS, ngày 27-1-2005,

24 Quyết định giám đốc thẩm số 04/HĐTP-DS, ngày 27-1-2005,

về vụ án “Đòi nhà cho ở nhờ và tranh chấp quyền sử dụng đất” 122

25 Quyết định giám đốc thẩm số 05/HĐTP-DS, ngày 27-1-2005,

về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” 128

26 Quyết định giám đốc thẩm số 06/HĐTP-DS, ngày 28-1-2005,

27 Quyết định giám đốc thẩm số 07/HĐTP-DS, ngày 28/1/2005,

về vụ án “Tranh chấp tài sản sau ly hôn” 141

28 Quyết định giám đốc thẩm số 08/HĐTP-DS, ngày 24-2-2005,

về vụ án “Tranh chấp nhà đất” 147

29 Quyết định giám đốc thẩm số 09/HĐTP-DS, ngày 24-2-2005,

về vụ án “Tranh chấp nhà đất và đòi nợ” 153

30 Quyết định giám đốc thẩm số 10/HĐTP-DS, ngày 25-2-2005,

31 Quyết định giám đốc thẩm số 11/HĐTP-DS, ngày 25-2-2005,

32 Quyết định giám đốc thẩm số 12/HĐTP-DS, ngày 25-2-2005,

về vụ án “Tranh chấp nhà thờ” 170

Trang 6

33 Quyết định giám đốc thẩm số 13/HĐTP-DS, ngày 25-02-2005,

về vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế” 177

34 Quyết định giám đốc thẩm số 14/HĐTP-DS, ngày 29-3-2005,

35 Quyết định giám đốc thẩm số 15/HĐTP-DS, ngày 29-3-2005,

về vụ án “Đòi thanh toán tiền theo hợp đồng khoán việc” 188

36 Quyết định giám đốc thẩm số 16/HĐTP-DS, ngày 25-4-2005,

về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” 194

37 Quyết định giám đốc thẩm số 17/HĐTP-DS, ngày 25-4-2005,

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tặng cho nhà đất” 199

38 Quyết định giám đốc thẩm số 18/2005/DS-GĐT, ngày 22-6-2005,

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” 204

39 Quyết định giám đốc thẩm số 19/2005/DS-GĐT, ngày 22-6-2005,

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” 210

40 Quyết định giám đốc thẩm số 20/2005/DS-GĐT, ngày 22-6-2005,

về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” 217

41 Quyết định giám đốc thẩm số 21/2005/DS-GĐT, ngày 23-6-2005,

về vụ án “Đòi tài sản theo hợp đồng uỷ quyền” 223

42 Quyết định giám đốc thẩm số 22/2005/DS-GĐT, ngày 23-6-2005,

về vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở” 233

43 Quyết định giám đốc thẩm số 23/2005/DS-GĐT, ngày 23-6-2005,

44 Quyết định giám đốc thẩm số 24/2005/DS-GĐT, ngày 16-9-2005,

về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” 247

45 Quyết định giám đốc thẩm số 25/2005/DS-GĐT, ngày 16-9-2005,

46 Quyết định giám đốc thẩm số 26/2005/DS-GĐT, ngày 16-9-2005,

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nh-ợng quyền sử dụng đất” 261

Trang 7

47 Quyết định giám đốc thẩm số 27/2005/DS-GĐT, ngày 31-10-2005,

về vụ án “tranh chấp hợp đồng chuyển nh-ợng quyền sử dụng đất” 267

48 Quyết định giám đốc thẩm só 28/2005/DS-GĐT, ngày 01-11-2005,

về vụ án “Tranh chấp tài sản sau ly hôn” 272

49 Quyết định giám đốc thẩm số 29/2005/DS-GĐT, ngày 01-11-2005,

về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” 277

50 Quyết định giám đốc thẩm số 30/2005/DS-GĐT, ngày 06-12-2005,

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” 283

51 Quyết định giám đốc thẩm số 31/2005/DS-GĐT, ngày 06-12-2005,

về vụ án “Yêu cầu huỷ hôn nhân trái pháp luật” 293

52 Quyết định giám đốc thẩm số 32/2005/DS-GĐT, ngày 06-12-2005,

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản” 298

53 Quyết định giám đốc thẩm số 03/HĐTP-KT ngày 26-4-2005,

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng liên doanh” 307

54 Quyết định giám đốc số 04/KT-GĐT, ngày 23-6-2005, về vụ án

“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” 316

55 Quyết định giám đốc thẩm số 05/2005/KDTM-GĐT, ngày 03-8-2005,

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” 326

56 Quyết định giám đốc thẩm số 06/2005/KDTM-GĐT, ngày 15-9-2005,

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” 333

57 Quyết định giám đốc thẩm số 07/2005/KDTM-GĐT, ngày 15-9-2005,

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” 337

58 Quyết định giám đốc thẩm số 08/HĐTP-KT, ngày 30-3-2005,

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng gia công” 341

59 Quyết định giám đốc thẩm số 09/HĐTP-KT, ngày 30-3-2005,

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” 349

60 Quyết định giám đốc thẩm số 08/KDTM-GĐT, ngày 08-12-2005,

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ bảo trì

Trang 8

61 Quyết định giám đốc thẩm số 09/KDTM-GĐT, ngày 08-12-2005,

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” 359

Phần thứ ba

quyết định giám đốc thẩm Hành chính

62 Quyết định giám đốc thẩm số 01/HĐTP-HC, ngày 26-4-2005,

về vụ án tranh chấp hành chính “Khiếu kiện quyết định xử phạt

vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp” 365

63 Quyết định giám đốc thẩm số 02/HĐTP-HC, ngày 26-4-2005,

về vụ án tranh chấp hành chính “Khiếu kiện quyết định xử phạt

vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp” 369

Trang 9

Table of content

Page

Part One

Cassation decisions on criminal cases

1 Cassation Decision No 01/H§TP-HS, Dated 26-01-2005,

on Le Van Huyen for “Murder” 18

2 Cassation Decision No 03/2005/H§TP-HS, Dated 26-01-2005,

on Phan Ngoc Hanh for “Appropriating Property through

Swindling” and “Escaping from Places of Detention or

3 Cassation Decision No 04/2005/H§TP-HS, Dated 26-01-2005,

on Civil Decision in Mai Van Huy Committing “Embezzling

Property”, “Smuggling” and “Offering Bribes” 25

4 Cassation Decision No 06/2005/H§TP-HS, Dated 24-02-2005,

on Pham Van Cuong for “Abusing Trust in order to

Appropriate Citizen’s Property” 30

5 Cassation Decision No 07/2005/H§TP-HS, Dated 29-3-2005,

on Ho Thi Be for “Appropriating Children” 33

6 Cassation Decision No 08/2005/H§TP-HS, Dated 25-4-2005,

on Cao Ty Phu for “Smuggling” 36

7 Cassation Decision No 09/2005/H§TP-HS, Dated 25-4-2005,

on NguyÔn Duy Dziem for “Gambling” 49

8 Cassation Decision No 10/2005/H§TP-HS, Dated 25-4-2005,

on Le Hoang Tan for “Breaching Regulations on Operating

9 Cassation Decision No 11/2005/H§TP-HS, Dated 24-6-2005,

on Luu Hong Thanh for “Illegal Transporting Narcotics”

54

Trang 10

10 Cassation Decision No 12/2005/H§TP-HS, Dated 24-6-2005,

on Phan Van Minh and Ngo Thiet Hung for “Breaching Regulations on Operating Road Vehicles” 60

11 Cassation Decision No 13/2005/H§TP-HS, Dated 01-8-2005,

on Danh Nhuong for “Intentionally Inflicting Injury” 63

12 Cassation Decision No 14/2005/HS-G§T, Dated 01-8-2005,

on Bui Van Nguyen for “Gambling” 67

13 Cassation Decision No 15/2005/HS-G§T, Dated 01-8-2005,

on Tang Duy Quang for “Intentionally Inflicting Injury” 70

14 Cassation Decision No 16/2005/HS-G§T, Dated 02-8-2005,

on Le Thi Roan and Lai Minh Hung for “Negligence of Responsibility, Causing Serious Consequences” 74

15 Cassation Decision No 17/2005/HS-G§T, Dated 14-9-2005,

on Duong Van Thieu for “Breaching Regulations on Operating

16 Cassation Decision No 18/2005/HS-G§T, Dated 14-9-2005,

on Ho Thanh Tan for “Failing to Denounce Crimes” 83

17 Cassation Decision No 19/2005/HS-G§T, Dated 31-10-2005,

on Phung Thi Sen and Her Co-offenders for “Trafficking in Women” and “Trafficking in Children” 86

18 Cassation Decision No 20/2005/HS-G§T, Dated 31-10-2005,

on Le Thi Nguyet and Her Co-offenders for “Embezzling

19 Cassation Decision No 21/2005/HS-G§T, Dated 31-10-2005,

on Hoang Van Cuong and His Co-offenders for “Murder” 96

20 Cassation Decision No 23/2005/H§TP-HS, Dated 08-12-2005,

on Vu Tien Duc for “Murder” 99

Trang 11

Part Two

Cassation decisions on civil, marriage and family,

and Business, trade cases

21 Cassation Decision No 01/H§TP-DS, Dated 26-1-2005,

on “House and Land Dispute” 104

22 Cassation Decision No 02/H§TP-DS, Dated 26-1-2005,

23 Cassation Decision No 03/H§TP-DS, Dated 27-1-2005,

on “Asking for a House” 112

24 Cassation Decision No 04/H§TP-DS, Dated 27-1-2005,

on “Asking for a Borrowing House and Dispute about Land Use

25 Cassation Decision No 05/H§TP-DS, Dated 27-1-2005,

on “Dispute about Land Use Rights” 128

26 Cassation Decision No 06/H§TP-DS, Dated 28-1-2005,

27 Cassation Decision No 07/H§TP-DS, Dated 28/1/2005,

on “Property Dispute after Divorce” 141

28 Cassation Decision No 08/H§TP-DS, Dated 24-2-2005,

on “Land and House Dispute” 147

29 Cassation Decision No 09/H§TP-DS, Dated 24-2-2005,

on “Land and House Dispute, and Asking for Debts” 153

30 Cassation Decision No 10/H§TP-DS, Dated 25-2-2005,

31 Cassation Decision No 11/H§TP-DS, Dated 25-2-2005,

32 Cassation Decision No 12/H§TP-DS, Dated 25-2-2005,

on “Dispute about an Ancestral Temple” 170

Trang 12

33 Cassation Decision No 13/H§TP-DS, Dated 25-02-2005,

34 Cassation Decision No 14/H§TP-DS, Dated 29-3-2005,

35 Cassation Decision No 15/H§TP-DS, Dated 29-3-2005,

on “Asking for Payment under the Contract” 188

36 Cassation Decision No 16/H§TP-DS, Dated 25-4-2005,

on “Dispute about Land Use Rights” 194

37 Cassation Decision No 17/H§TP-DS, Dated 25-4-2005,

on “Dispute about the Contract for a Gift of House and Land” 199

38 Cassation Decision No 18/2005/DS-G§T, Dated 22-6-2005,

on “Dispute about the Contract for Sale of House” 204

39 Cassation Decision No 19/2005/DS-G§T, Dated 22-6-2005,

on “Dispute about the Contract for Sale and Purchase of Property” 210

40 Cassation Decision No 20/2005/DS-G§T, Dated 22-6-2005,

on “Dispute about Land Use Rights” 217

41 Cassation Decision No 21/2005/DS-G§T, Dated 23-6-2005,

on “Asking for Property under the Authorization Contract” 223

42 Cassation Decision No 22/2005/DS-G§T, Dated 23-6-2005,

on “Dispute about House Property and Land Use Rights” 233

43 Cassation Decision No 23/2005/DS-G§T, Dated 23-6-2005,

on “Asking for a House and Land” 240

44 Cassation Decision No 24/2005/DS-G§T, Dated 16-9-2005,

on “Dispute about Land Use Rights” 247

45 Cassation Decision No 25/2005/DS-G§T, Dated 16-9-2005,

46 Cassation Decision No 26/2005/DS-G§T, Dated 16-9-2005,

on “Dispute about the Contract for Transfer of Land Use Rights” 261

Trang 13

47 Cassation Decision No 27/2005/DS-G§T, Dated 31-10-2005,

on “Dispute about the Contract for Transfer of Land Use Rights” 267

48 Cassation Decision No 28/2005/DS-G§T, Dated 01-11-2005,

on “Dispute about Dividing Properties after Divorce” 272

49 Cassation Decision No 29/2005/DS-G§T, Dated 01-11-2005,

on “Dispute about Land Use Rights” 277

50 Cassation Decision No 30/2005/DS-G§T, Dated 06-12-2005,

on “Dispute about the Contract for Sale of Property 283

51 Cassation Decision No 31/2005/DS-G§T, Dated 06-12-2005,

on “Asking for Abrogating Illegal Marriage” 293

52 Cassation Decision No 32/2005/DS-G§T, Dated 06-12-2005,

on “Dispute about the Contract for Lease of Property” 298

53 Cassation Decision No 03/H§TP-KT, Dated 26-4-2005,

on “Dispute about the Joint-Venture Contract” 307

54 Cassation Decision No 04/KT-G§T, ngµy 23-6-2005,

on “Dispute about the Contract for Credit” 316

55 Cassation Decision No 05/2005/KDTM-G§T, Dated 03-8-2005,

on “Dispute about the Contract for Sale of Goods” 326

56 Cassation Decision No 06/2005/KDTM-G§T, Dated 15-9-2005,

on “Dispute about the Contract for Services” 333

57 Cassation Decision No 07/2005/KDTM-G§T, Dated 15-9-2005,

on “Dispute about the Contract for Credit” 337

58 Cassation Decision No 08/H§TP-KT, Dated 30-3-2005,

on “Dispute about the Processing Contract” 341

59 Cassation Decision No 09/H§TP-KT, Dated 30-3-2005,

on “Dispute about the Contract for Sale of Goods” 349

60 Cassation Decision No 08/KDTM-G§T, Dated 08-12-2005,

on “Dispute about the Contract for Sale and Service of

Trang 14

61 Cassation Decision No 09/KDTM-G§T, Dated 08-12-2005,

on “Dispute about the Contract for Sale of Goods” 359

Part Three

Cassation decisions on administrative cases

62 Cassation Decision No 01/H§TP-HC, Dated 26-4-2005,

on Administrative Dispute - “Complaining about the Administrative

Sanction for violating Industrial Property Rights” 365

63 Cassation Decision No 02/H§TP-HC, Dated 26-4-2005,

on Administrative Dispute - “Complaining about the Administrative

Sanction for violating Industrial Property Rights” 369

Trang 15

Lời nói đầu

Công bố bản án của Toà án đ-ợc coi là một thông lệ quốc tế nên đ-ợc thực hiện ở nhiều n-ớc trên thế giới Theo yêu cầu của Tổ chức Th-ơng mại thế giới (WTO) mà Việt Nam là thành viên thì các bản án của Toà án phải đ-ợc công bố hoặc sẵn có cho công chúng Vấn đề này cũng đã đ-ợc xác định là một trong các nhiệm vụ cải cách t- pháp trong Chiến l-ợc Cải cách t- pháp của Việt Nam

đến năm 2020, theo đó phải “Từng b-ớc thực hiện công khai hóa các bản án ”

Công bố các bản án, quyết định của Tòa án (đặc biệt là Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao) sẽ mang lại những kết quả tích cực: Phục vụ yêu cầu áp dụng thống nhất pháp luật trong công tác xét xử; nâng cao chất l-ợng của việc ra bản án và quyết định của Toà án; nâng cao nhận thức của ng-ời dân về quan điểm của Toà án trong việc áp dụng pháp luật trong công tác xét xử; giúp luật s-, cán bộ nghiên cứu, giảng viên, sinh viên trong việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập pháp luật thông qua thực tiễn sinh động

về hoạt động xét xử của Toà án

Tiếp theo quyển 1 và quyển 2 về Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (năm 2003 - 2004), đ-ợc sự đồng ý của Lãnh đạo Toà án nhân dân tối cao và Bộ Thông tin và Truyền thông; với sự

hỗ trợ của USAID (Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ) thông qua Dự án STAR Việt Nam (Dự án hỗ trợ Việt Nam thực hiện Hiệp định th-ơng mại song ph-ơng Việt Nam - Hoa Kỳ và các cam kết của Việt Nam đối với WTO), đặc biệt là sự

và ông David Brunell, Giám đốc Ch-ơng trình Phát triển kinh tế của USAID Việt Nam, Viện khoa học xét xử đã tiến hành biên soạn và phát hành quyển năm 2005

và quyển năm 2006 công bố một số quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc

Viện khoa học xét xử

Trang 16

preface

Publication of judgments is considered as international customary practice, which has been and is conducted in many countries As required by the World Trade Organization, of which Vietnam is a member, the Court Judgments must be publicized or available for the public This has been also identified,

in the Judicial Reform Strategy up to 2020, as one of tasks on judicial reform; according to which “gradually publicizing judgments must be performed…”

Publication of judgments (especially cassation decisions of the Justice Council of the Supreme People’s Court) definitely will gain positive outcomes: supporting the requirement of uniform application of laws by the Courts, improving the quality of judgments, increasing citizen’s awareness of the standpoints of Courts in dealing with disputes and violations, and providing vivid adjudicative practice to assist lawyers, researchers, lecturers and students

in teaching and studying

Following the successful publication of Volume 1 and 2 of cassation decisions

of the Justice Council of the Supreme People’s Court (2003-2004), with the permission of the Leaders of the Supreme People’s Court and the Ministry of Information & Communication, with the assistance provided by USAID (United States Agency of International Development) through of the STAR - Vietnam (Support for Trade Acceleration Project), especially the assistance of Sir Dennis Zvinakis, the Ex-Director of USAID - Vietnam and Sir David Brunell, the Director of the Economic Development Program of USAID - Vietnam, the Institute for Judicial Science collects and issues Volume 2005 and 2006

of cassation decisions of the Justice Council of the Supreme People’s Court

Respectfully presents to the readers

Institute for judicial science

Trang 17

Phần thứ nhất

quyết định giám đốc thẩm

hình sự

Trang 18

1 Quyết định giám đốc thẩm số 01/HĐTP-HS

Ngày 26-01-2005 Về vụ án Lê Văn Huyên

phạm tội “Giết ng-ời”

Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao

Tại phiên toà ngày 26 tháng 01 năm 2005 xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự đối với:

Lê Văn Huyên sinh năm 1974; trú tại làng Chiềng Khạt, xã Đồng

L-ơng, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá; dân tộc M-ờng; con ông Lê Văn Cẩm và bà Lê Thị Thái; có vợ là Lê Thị Thiên; có hai con (lớn 7 tuổi, nhỏ 4 tuổi); ch-a có tiền án, tiền sự; bị bắt giam ngày 24-4-2003

Nhận thấy:

Ngày 22-4-2003, Lê Văn Hùng và Lê Văn Huyên đi xe máy từ huyện Lang Chánh đến huyện Ngọc Lạc để liên hệ việc làm Khoảng 18 giờ cùng ngày, Hùng và Huyên đến nhà anh Chí ăn cơm và uống hết hai chai r-ợu (mỗi chai 0,5 lít); đến 21h 30 phút, Hùng đi xe máy chở Huyên về ngõ nhà chị Lê Thị Tân, Hùng vào nhà chị Tân mua thuốc, còn Huyên đi bộ ra quốc lộ 5

Do say r-ợu, Lê Văn Huyên đã cởi hết quần áo đứng giữa đ-ờng và gây

sự đánh nhau với ng-ời qua đ-ờng Khi anh Lê Xuân C-ờng đi xe máy chở anh Nguyễn Thái D-ơng đi đến thì Huyên chặn xe máy của anh C-ờng lại và túm anh D-ơng lôi khỏi xe Anh D-ơng sợ bỏ chạy, Huyên lại đến gây sự đánh anh C-ờng Thấy anh C-ờng bỏ chạy, Huyên nhổ một cọc rào bằng cây luồng dài 1,19 mét đuổi theo anh C-ờng đến vị trí rãnh thoát n-ớc bên đ-ờng Tại đây, Huyên và anh C-ờng vật nhau, nh-ng đ-ợc mọi ng-ời can ngăn Thấy anh D-ơng đang ngồi trên xe máy, Huyên cầm cọc rào đến đánh một cái vào đầu anh D-ơng từ phía sau làm anh D-ơng ngã xuống đ-ờng Huyên vứt cọc rào và

bỏ trốn trong rừng Đến ngày 24-4-2003 thì bị bắt tạm giam

Anh Nguyễn Thái D-ơng đ-ợc đ-a đi cấp cứu tại bệnh viện tỉnh Thanh Hoá, nh-ng do vết th-ơng quá nặng nên đã chết vào lúc 0h 30 phút ngày 25-4-2003

Theo biên bản khám nghiệm tử thi ngày 25-4-2003, thì anh D-ơng bị rạn

vỡ x-ơng chẩm trái dài 3 cm, cách trên vành tai trái 6 cm Cách vết này về phía trên có đ-ờng vỡ dài 19 x 1 cm từ khớp đỉnh thái d-ơng trái theo đ-ờng khớp trán đỉnh sang thái d-ơng phải; màng cứng không bị rách, tụ máu trong màng cứng bên bán cầu đại não phải, có đầy chất nhầy của khối máu tụ, tổ chức não

Trang 19

Tại bản giám định pháp y số 68 ngày 05-5-2003 đã kết luận: anh D-ơng chết do vỡ x-ơng hộp sọ chèn ép não do máu tụ nội sọ

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 217/HSST ngày 31-7-2003, Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá áp dụng khoản 2 Điều 93; các điểm b, p khoản 1 Điều 46

Bộ luật hình sự; xử phạt Lê Văn Huyên 13 năm tù về tội “Giết ng-ời”

Ngày 03-8-2003, ông Nguyễn Phúc Hải (là bố của anh D-ơng) kháng cáo không hoàn toàn nhất trí với bản án sơ thẩm và cho rằng vụ án còn có ng-ời

đồng phạm khác Tại phiên toà phúc thẩm, bà Phạm Thị Khánh (là mẹ anh D-ơng) cho rằng Toà án cấp sơ thẩm phạt bị cáo Huyên 13 năm tù là quá nhẹ

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 1945/HSPT ngày 26-12-2003, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội căn cứ khoản 1 Điều 220 Bộ luật tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm và kiến nghị cấp giám đốc thẩm xem xét hành vi của Lê Văn Huyên thuộc tr-ờng hợp phạm tội có tính chất côn đồ

Tại quyết định kháng nghị số 37/2004/HS-TK ngày 26-11-2004, Chánh

án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ phần trách nhiệm hình sự của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 217/HSST ngày 31-7-2003 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá để xét xử sơ thẩm lại theo h-ớng kết án Lê Văn Huyên về tội “Giết ng-ời” theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự và tăng hình phạt

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao

xét thấy:

Lê Văn Huyên sau khi uống r-ợu, đã có hành vi càn quấy, vô cớ đánh chết anh Nguyễn Thái D-ơng trong khi anh D-ơng không hề có mâu thuẫn gì với y Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tr-ờng hợp giết ng-ời có tính chất côn

đồ, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự đối với bị cáo

là áp dụng không đúng điều khoản của Bộ luật hình sự và chỉ phạt bị cáo 13 năm

tù là quá nhẹ, không t-ơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của

Trang 20

dân tỉnh Thanh Hoá để xét xử sơ thẩm lại theo h-ớng áp dụng điểm n khoản 1

Điều 93 Bộ luật hình sự và tăng hình phạt đối với Lê Văn Huyên

2 Tiếp tục tạm giam Lê Văn Huyên cho đến khi Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá thụ lý vụ án

3 Các quyết định khác của bản án hình sự phúc thẩm không bị kháng nghị giám đốc thẩm tiếp tục có hiệu lực pháp luật

- Lý do huỷ bản án sơ thẩm và phúc thẩm:

Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã áp dụng không đúng điều khoản của Bộ luật hình sự dẫn đến việc xử phạt quá nhẹ, không t-ơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo

- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ bản án sơ thẩm và phúc thẩm:

Thiếu sót trong việc nhận thức và áp dụng pháp luật

_

Quyết định giám đốc thẩm số 03/2005/HĐTP-HS Ngày 26-01-2005 Về vụ án Phan Ngọc Hạnh

phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

và “Trốn khỏi nơi giam”

Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Tại phiên toà ngày 26 tháng 01 năm 2005 xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự đối với:

Phan Ngọc Hạnh (tức Trần Ngọc Phong, Lê Thanh Hùng) sinh năm 1966;

trú tại 11/3 khu phố 1, ph-ờng Tam Hoà, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai; khi phạm tội là Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Nai UPA; con ông Phan Văn Toại và bà Đặng Thị Nghĩa (đã chết); có vợ và 3 con; bị bắt giam ngày 12-4-1995, trốn trại ngày 06-6-1998; bị bắt giam lại ngày 17-10-2000

Nhận thấy:

Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm kết luận về các hành vi phạm tội của Phan Ngọc Hạnh nh- sau:

Trang 21

Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Nai UPA, do Phan Ngọc Hạnh làm giám

đốc, Ngô Ngọc Căn làm phó giám đốc, với ngành nghề kinh doanh n-ớc khoáng

đóng chai, gia công sản xuất đá xây dựng, kinh doanh th-ơng mại Trong quá trình hoạt động kinh doanh Hạnh, Căn đã dùng thủ đoạn gian dối nh- ký kết hợp

đồng kinh tế mua bán hàng hoá, mua bán quyền sử dụng đất và nhà ở của các cá nhân nh-ng chỉ đặt cọc một số tiền để làm tin rồi dùng các giấy tờ sở hữu nhà,

đất của chủ sở hữu đem thế chấp tại Ngân hàng và các đơn vị kinh tế để đ-ợc bảo lãnh mua hàng trả chậm hoặc để đ-ợc ứng tiền; từ đó, chiếm đoạt tiền và tài sản của các đơn vị kinh tế và cá nhân với tổng số tiền 20.441.725.496 đồng và

300 l-ợng vàng; cụ thể nh- sau:

- Công ty chế biến kinh doanh nông thổ sản Bộ Th-ơng mại (gọi tắt là Công ty AGRIMEX) 606.845.500 đồng;

- Công ty trách nhiệm hữu hạn th-ơng mại Nam Khang 3.629.222.000 đồng;

- Công ty trách nhiệm hữu hạn Diên Hồng 267.000.000 đồng;

- Chi nhánh Công ty xuất nhập khẩu Ninh Bình 500.000.000 đồng;

đến ngày 16-10-2000 bị bắt theo lệnh truy nã

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 1470/HSST ngày 19-8-2003, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; khoản 1 Điều 311; điểm d khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt Phan Ngọc Hạnh tử hình

về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 năm tù về tội “trốn khỏi nơi giam”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phan Ngọc Hạnh phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là tử hình

Ngày 21-8-2003, Phan Ngọc Hạnh có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt với lý do: bị cáo không chiếm đoạt, số tiền còn nợ là do làm ăn thua lỗ, một số khoản nợ chỉ là quan hệ dân sự

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 412/HSPT ngày 09-3-2004, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã giữ nguyên các quyết định của bản án hình sự sơ thẩm

Trang 22

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 33/2004/HS-TK ngày 19-10-2004, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 412/HSPT ngày 09-3-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao

vi để có kết luận chính xác đúng pháp luật; cụ thể nh- sau:

* Về hành vi chiếm đoạt 606.845.500 đồng của Công ty chế biến kinh doanh nông thổ sản Bộ Th-ơng mại (AGRIMEX)

Từ ngày 14-3-1994 đến ngày 15-8-1994 Phan Ngọc Hạnh ký 05 hợp

đồng kinh tế bán cho Công ty chế biến kinh doanh nông thổ sản Bộ Th-ơng mại (AGRIMEX) 9000 tấn sắt, 4000 tấn thép, 8000 tấn nhựa đ-ờng (tổng giá trị là 47.799.000.000 đồng) với ph-ơng thức: Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Nai UPA tìm nguồn hàng, ứng tiền tr-ớc của AGRIMEX (phải chịu lãi suất 3,5%/tháng) để thanh toán cho các đơn vị có hàng sau đó bán lại hàng cho AGRIMEX để trừ vào số tiền đã ứng Từ ngày 29-3-1994 đến ngày 18-4-1995 Hạnh đã giao cho AGRIMEX đ-ợc 5.601,208 tấn sắt, 860,752 tấn thép, 3.425,375 tấn nhựa đ-ờng tổng trị giá là 27.028.349.800 đồng và trả đ-ợc 6.943.800.000 đồng Tổng cộng số tiền Hạnh đã trả đ-ợc cho AGRIMEX là 33.972.149.800 đồng, so số tiền Hạnh phải thanh toán cho AGRIMEX là 34.678.995.300 đồng, thì còn thiếu 706.845.500 đồng Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra thu hồi thêm đ-ợc 100.000.000 đồng trả cho AGRIMEX, nh- vậy số tiền Hạnh còn nợ AGRIMEX là 606.845.500 đồng

Tuy nhiên, qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì tổng số tiền

mà Hạnh phải thanh toán cho AGRIMEX là 34.678.995.300 đồng, nh-ng trong

đó có cả số nợ cũ là 4.011.691.700 đồng chuyển nợ từ Trung tâm SITIMEX do Hạnh làm phó giám đốc tr-ớc đây, 400.000.000 đồng do Hạnh vay của AGRIMEX (có thế chấp giấy tờ nhà đất) và số tiền lãi phải trả do ứng tiền của

Trang 23

đồng kinh tế chỉ có 28.896.098.200 đồng, trong khi thực tế Hạnh đã thanh toán bằng hàng và tiền cho AGRIMEX giá trị tổng cộng là 33.972.149.800 đồng Nh- vậy, nếu tính cả số nợ cũ, tiền vay, tiền lãi phải trả nh- đã nêu trên thì Hạnh còn phải thanh toán cho AGRIMEX 706.845.500 đồng (ch-a trừ 100.000.000

đồng mà Cơ quan điều tra đã thu hồi), nh-ng nếu so với số tiền thực nhận thì Hạnh đã thanh toán nhiều hơn số tiền đã nhận là 5.076.051.600 đồng Mặc dù hiện nay Hạnh vẫn còn phải trả cho AGRIMEX 606.845.500 đồng, nh-ng đây là nghĩa vụ phải thanh toán nợ trong quan hệ kinh tế Vì vậy, việc buộc Phan Ngọc Hạnh phải chịu trách nhiệm hình sự về “tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với khoản nợ 606.845.500 đồng là không đúng

* Về hành vi chiếm đoạt 2.450.000.000 đồng của bà Bùi Thị Thu Hồng

Từ tháng 7-1994 đến tháng 8-1994 Phan Ngọc Hạnh nhiều lần vay của bà Bùi Thị Thu Hồng với tổng số tiền 2.450.000.000 đồng với lãi suất 5% đến 7,5%/tháng, thời hạn thanh toán từ một đến hai tháng Theo lời khai của bà Hồng, khi Hạnh không có tiền trả Hạnh đã đ-a một số giấy chứng nhận quyền

sở hữu nhà, quyền sử dụng đất cho bà để làm tin

Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm kết luận bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Hồng là không phù hợp với quy định của pháp luật Việc Hạnh vay tiền bà Hồng diễn ra trong một thời gian dài, đ-ợc thực hiện nhiều lần và đều thể hiện sự tự nguyện của cả hai bên; Hạnh không dùng thủ

đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của bà Hồng; do đó, việc kết luận Hạnh phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với khoản tiền này là không có căn cứ

* Về hành vi chiếm đoạt 300 l-ợng vàng của ông Đỗ Hồng Chinh

Ngày 16-3-1995 Phan Ngọc Hạnh ký hợp đồng mua căn nhà số 65 Huỳnh

Đình Hai, ph-ờng 14, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh của vợ chồng

ông Đỗ Hồng Chinh và bà Hán Thị Tựu với giá 350 l-ợng vàng Ph-ơng thức thanh toán: Hạnh đ-a tr-ớc 50 l-ợng vàng và 100 triệu đồng, vợ chồng ông Chinh sẽ làm giấy uỷ quyền và giao toàn bộ giấy tờ căn nhà có chứng nhận của Phòng Công chứng nhà n-ớc thành phố Hồ Chí Minh để Hạnh thế chấp thực hiện dịch vụ mua bán trả chậm Trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày Phòng Công chứng nhà n-ớc thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận, Hạnh phải trả nốt cho ông Chinh số vàng còn lại và sau 20 ngày từ khi giao đủ tiền hai bên làm thủ tục giao nhận nhà Trong hai ngày 16 và 17-3-1995 Phan Ngọc Hạnh đã giao cho vợ chồng ông Chinh 250 triệu đồng (t-ơng đ-ơng 50 l-ợng vàng) Ngày 17-3-1995 tại Phòng Công chứng nhà n-ớc thành phố Hồ Chí Minh vợ chồng ông Chinh đã làm giấy cam kết thế chấp căn nhà 65 Huỳnh Đình Hai cho Ngân hàng công th-ơng thành phố Hồ Chí Minh để bảo lãnh cho Phan Ngọc Hạnh vay 4 tỷ đồng

Do Hạnh không trả đủ tiền mua nhà theo đúng hợp đồng nên ngày 24-3-1995

Trang 24

việc cam kết nêu trên đã bị Phòng Công chứng huỷ bỏ theo đề nghị của vợ chồng

ông Chinh Tuy nhiên, ngày 27-3-1995 Phan Ngọc Hạnh vẫn sử dụng hồ sơ căn nhà này để bảo lãnh cho các đối tác kinh doanh khác, đây là hành vi bất hợp pháp

Mặc dù hợp đồng mua bán nhà giữa vợ chồng ông Đỗ Hồng Chinh với Phan Ngọc Hạnh đã đ-ợc ký kết, Hạnh đã nộp tiền đặt cọc nh-ng việc mua bán ch-a đ-ợc thực hiện đến cùng, Hạnh không trả hết số tiền mua nhà và việc sang tên tr-ớc bạ ngôi nhà ch-a đ-ợc tiến hành nên căn nhà này vẫn thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Đỗ Hồng Chinh Hiện nay gia đình ông Chinh đang ở tại căn nhà này và ông Chinh yêu cầu xin đ-ợc xử lý việc đặt cọc mua bán căn nhà theo thủ tục tố tụng dân sự Thế nh-ng, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm kết luận Phan Ngọc Hạnh chiếm đoạt 300 l-ợng vàng (phần tiền mua nhà ch-a trả) của vợ chồng ông Đỗ Hồng Chinh là không có căn cứ

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm còn buộc Phan Ngọc Hạnh phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khoản tiền 988.654.476 đồng tiền lãi phát sinh trong quá trình Hạnh thực hiện các hợp đồng kinh tế với Công

ty Hồ Tây; 44.921.598 đồng tiền lãi phát sinh và 5.480.000 đồng bồi th-ờng tiền thuê xe, trong quá trình Hạnh thực hiện các hợp đồng kinh tế với Công ty vật t- Tiền Giang là không đúng quy định của pháp luật

Toà án cấp phúc thẩm kết án Phan Ngọc Hạnh 03 năm tù về tội “trốn khỏi nơi giam” là đúng, hình phạt này đã bị tổng hợp với hình phạt tử hình về tội

“lừa đảo chiếm đoạt tài sản” buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là tử hình Vì vậy, cần huỷ quyết định tổng hợp hình phạt tại bản án hình sự phúc thẩm số 412/HSPT ngày 09-3-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, để Toà án cấp phúc thẩm khi xét xử phúc thẩm lại tổng hợp hình phạt chung của hai tội theo đúng quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên, căn cứ vào Điều 285 và Điều 287 Bộ luật tố tụng hình sự;

Quyết định:

Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 412/HSPT ngày 09-3-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh để xét

xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật

Tiếp tục tạm giam bị cáo Phan Ngọc Hạnh đến khi Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lại vụ án

- Lý do huỷ bản án phúc thẩm:

1 Toà án cấp phúc thẩm xác định không chính xác các khoản tiền mà bị cáo đã lừa đảo chiếm đoạt;

Trang 25

2 Toà án các cấp đã buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các khoản tiền lãi là không đúng

- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ bản án phúc thẩm:

1 Thiếu sót trong việc cân nhắc và đánh giá chứng cứ;

2 Vận dụng không đúng quy định của pháp luật khi xác định tài sản chiếm đoạt

_

Quyết định giám đốc thẩm số 04/2005/HĐTP-HS

Ngày 26-01-2005 Về phần dân sự trong vụ án Mai Văn Huy

phạm các tội “tham ô tài sản”,

“buôn lậu”, “đ-a hối lộ”

Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Tại phiên toà ngày 26 tháng 01 năm 2005 xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm đối với phần dân sự liên quan đến việc chuyển quyền sử dụng lô đất 8374m2 ở ph-ờng An Phú Đông, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh trong vụ án Mai Văn Huy và đồng bọn bị kết án về các tội “tham ô tài sản”, “buôn lậu”,

“đ-a hối lộ”, “cố ý làm trái quy định của Nhà n-ớc về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”

Bị cáo Mai Văn Huy sinh năm 1961; trú tại: số 1A đ-ờng Nguyễn Trãi,

thị xã Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: nguyên là Giám đốc Công ty th-ơng mại dầu khí Đồng Tháp; bị bắt giam ngày 09-8-2000

(Trong vụ án này còn có các bị cáo khác)

Những ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bao gồm:

- Ông Nguyễn Minh Dũng, trú tại: 195 đ-ờng Tân Hoà Đông, ph-ờng 14, quận 6 thành phố Hồ Chí Minh;

- Bà Huỳnh Thị Kim Loan, trú tại số 26 đ-ờng Tiền Giang, ph-ờng 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh;

- Ông Đỗ Văn Đê, trú tại 934/3E ph-ờng An Phú Đông, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 26

Nhận thấy:

Năm 1997, trong thời gian làm Giám đốc Công ty th-ơng mại dầu khí

Đồng Tháp đồng thời là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần th-ơng mại dầu khí Sông Tiền, Mai Văn Huy và đồng bọn thực hiện các hành vi phạm tội nh- buôn lậu 45704 tấn xăng dầu trị giá 151.012.478.500 đồng; trốn thuế xuất nhập khẩu 33.195.064.157 đồng; tham ô 2.699.456.964 đồng; cố ý làm trái quy

định của Nhà n-ớc về quản lý kinh tế gây thiệt hại 6.341.420.064 đồng; thực hiện các hành vi chiếm đoạt khác 1.366.965.350 đồng; đ-a hối lộ 86.000.000

đồng và 40 chỉ vàng 24k Trong số tiền thiệt hại 6.341.420.064 đồng do hành vi

cố ý làm trái quy định của Nhà n-ớc về quản lý kinh tế có khoảng 165.000.000

đồng từ nguồn tiền bán lô đất 8.374m2 tại ph-ờng An Phú Đông, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 05-6-1999, Công ty cổ phần th-ơng mại và dầu khí Sông Tiền chuyển quyền sử dụng lô đất 8.374m2 tại ph-ờng An Phú Đông, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty th-ơng mại dầu khí Đồng Tháp, do ông Nguyễn Minh Dũng (Phó giám đốc Chi nhánh Công ty th-ơng mại dầu khí Đồng Tháp tại thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên trong giấy tờ chuyển nh-ợng đất và đã

đ-ợc Uỷ ban nhân dân quận 12, thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 6024m2 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01980/QSDĐ/Q12/1999 ngày 20-8-1999 là 5747m2 và Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất số 01981/QSDĐ/Q12/1999 ngày 20-8-1999 là 277m2)

Ngày 22-02-2000, theo sự chỉ đạo của Mai Văn Huy, ông Nguyễn Minh Dũng bán lô đất này cho ông Đỗ Văn Đê trú tại 934/3E ph-ờng An Phú Đông, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh 8374m2 với giá 2.299.500.000 đồng Ông Đê

đi tìm ng-ời mua là bà Huỳnh Thị Kim Loan (thực chất ông Đê là ng-ời đứng ra môi giới)

Ngày 26-02-2000 ông Dũng trực tiếp ký hợp đồng bán lô đất 8374m2 với

bà Huỳnh Thị Kim Loan

Ngày 10-3-2000 ông Nguyễn Minh Dũng và bà Huỳnh Thị Kim Loan chính thức lập hợp đồng chuyển nh-ợng 6024m2 (phần đã đ-ợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đ-a đến các cấp chính quyền địa ph-ơng để làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất

Ngày 27-4-2000 Uỷ ban nhân dân quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xác nhận đ-ợc chuyển quyền sử dụng đất và bà Huỳnh Thị Kim Loan đã đ-ợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02227/QSDĐ/Q12/2000 ngày 27-4-2000

là 5747m2 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02266/QSDĐ/Q12/2000 ngày 02-6-2000 là 277m2

Trang 27

dụng đất cho bà Loan thì vụ án Mai Văn Huy bị khởi tố nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Loan ch-a hoàn thành

Bà Huỳnh Thị Kim Loan đã trả tiền chuyển quyền sử dụng lô đất cho Công ty th-ơng mại dầu khí Đồng Tháp là 1.905.000.000 đồng Sau khi nhận 1.905.000.000 đồng của bà Loan, Mai Văn Huy dùng 1.740.000.000 đồng cho các hoạt động của Công ty Còn lại 165.000.000 đồng Huy không giải trình đ-ợc nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “cố ý làm trái quy định của Nhà n-ớc

về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” đối với khoản tiền này

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 43/HSST ngày 28-6-2002 Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã quyết định về phần liên quan đến lô đất 8374m2 ở ph-ờng An Phú Đông, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh nh- sau:

Huỷ hợp đồng chuyển nh-ợng 8374m2 đất giữa ông Nguyễn Minh Dũng

và ông Đỗ Văn Đê; giữa ông Đỗ Văn Đê và bà Huỳnh Thị Kim Loan

Huỷ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1980,1981 ngày 20-8-1999

và số 2388 ngày 31-7-2000 của Uỷ ban nhân dân quận 12 cấp 15301m2 đất tọa lạc tại ph-ờng An Phú Đông, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh do Nguyễn Minh Dũng đứng tên

Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2227 ngày 27-4-2000 của Uỷ ban nhân dân quận 12 về việc cấp 5.747m2 đất tại ph-ờng An Phú Đông, quận

12, thành phố Hồ Chí Minh do Huỳnh Thị Kim Loan đứng tên

Giao 15.301m2 đất toạ lạc tại ph-ờng An Phú Đông, quận 12, thành phố

Hồ Chí Minh cho Công ty th-ơng mại dầu khí Đồng Tháp tiếp tục quản lý theo quy định của pháp luật (giải tỏa biên bản kê biên ngày 11-9-2000 của Cơ quan

an ninh điều tra Bộ Công an)

Tách quan hệ chuyển nh-ợng đất nêu trên để giải quyết bằng vụ kiện dân

sự khác nếu nh- các đ-ơng sự có yêu cầu

Ngày 11-7-2002, Bà Huỳnh Thị Kim Loan kháng cáo đề nghị xem xét lại vì lô đất mà bà đã mua của ông Nguyễn Minh Dũng để thực hiện dự án đầu t- mới xây dựng Bệnh viện Hồng Đức và đã đ-ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 6024m2 đất, phần còn lại chỉ khoảng 1.700m2 đến 2.000m2 đang làm thủ tục sang tên thì bị đình lại, đề nghị đ-ợc tiếp tục thực hiện dự án

Ngày 10-7-2002, ông Nguyễn Minh Dũng kháng cáo yêu cầu đ-ợc tiếp tục hợp đồng chuyển nh-ợng đất cho ông Đê

Ngày 10-7-2002, ông Đỗ Văn Đê kháng cáo xin thực hiện tiếp phần còn lại của hợp đồng mua bán lô đất 8374m2 ngày 22-02-2000 đối với ông Nguyễn Minh Dũng, ông không đồng ý giao trả lại lô đất cho Công ty th-ơng mại dầu khí Đồng Tháp

Trang 28

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 2081/HSPT ngày 03-12-2002 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã bác yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Minh Dũng, Đỗ Văn Đê và bà Huỳnh Thị Kim Loan; giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần này

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 22/QĐ/VKSTC-V3 ngày 03-12-2004 Viện tr-ởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ bản

án hình sự phúc thẩm số 2081/HSPT ngày 03-12-2002 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh phần: “Bác yêu cầu kháng cáo của

ông Nguyễn Minh Dũng, Đỗ Văn Đê và bà Huỳnh Thị Kim Loan xin đ-ợc tiếp tục hợp đồng mua bán 8374m2 đất của Công ty th-ơng mại dầu khí Đồng Tháp, tọa lạc tại ph-ờng An Phú Đông, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh Giữ nguyên

án sơ thẩm về phần này và tách yêu cầu trên để giải quyết bằng quan hệ dân sự khác nếu nh- các đ-ơng sự có yêu cầu” và huỷ phần quyết định của bản án sơ thẩm số 43/HSST ngày 28-6-2002 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp liên quan đến việc mua bán lô đất nêu trên Để hợp đồng chuyển nh-ợng 8374m2 đất giữa các bên đ-ơng sự tiếp tục đ-ợc thực hiện

xét thấy:

Mai Văn Huy bị truy tố, xét xử về tội “cố ý làm trái quy định của Nhà n-ớc về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” đối với hành vi chi tiêu không đúng nguyên tắc, gây thiệt hại 165 triệu đồng trong số tiền 1.905.000.000

đồng chuyển nh-ợng quyền sử dụng lô đất 8374m2 đất cho bà Huỳnh Thị Kim Loan; Huy không bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản đối với số tiền do chuyển nh-ợng quyền sử dụng đất nên lô đất 8374m2 không phải là vật chứng của vụ án

và các quan hệ dân sự liên quan đến lô đất không thuộc phạm vi giải quyết của Toà án khi xét xử vụ án hình sự Hợp đồng chuyển nh-ợng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Minh Dũng (ng-ời đứng tên lô đất và đ-ợc sự đồng ý của Mai Văn Huy) với bà Huỳnh Thị Kim Loan là quan hệ dân sự không liên quan đến hành vi phạm tội của Mai Văn Huy, các bên đ-ơng sự không có tranh chấp và không yêu cầu Toà án giải quyết Vì thế, khi xét xử vụ án hình sự đối với Mai Văn Huy và các đồng phạm khác, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm xem xét và quyết định đối với quan hệ dân sự không liên quan đến vụ án hình sự; quyết định giao đất không phải là vật chứng của vụ án cho Công ty th-ơng mại dầu khí Đồng Tháp là không đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền Các tranh chấp dân sự liên quan đến việc chuyển nh-ợng lô đất 8374m2 nêu trên nếu phát sinh thì đ-ợc giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự khi các bên đ-ơng sự yêu cầu thì Toà án giải quyết Các vấn đề liên quan đến việc chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc phạm vi giải quyết của cơ quan Nhà n-ớc có thẩm quyền

Vì các lẽ trên, căn cứ vào Điều 285 và Điều 286 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trang 29

Quyết định:

Huỷ phần quyết định: “Bác yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Minh Dũng, Đỗ Văn Đê và bà Huỳnh Thị Kim Loan xin đ-ợc tiếp tục hợp đồng mua bán 8374m2 đất của Công ty th-ơng mại dầu khí Đồng Tháp, tọa lạc tại ph-ờng

An Phú Đông, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh Giữ nguyên án sơ thẩm về phần này và tách yêu cầu trên để giải quyết bằng quan hệ dân sự khác nếu nh- các

đ-ơng sự có yêu cầu” của bản án hình sự phúc thẩm số 2081/HSPT ngày 03-12-2002 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và huỷ phần quyết định: “Huỷ hợp đồng chuyển nh-ợng 8374m2 đất giữa ông Nguyễn Minh Dũng và ông Đỗ Văn Đê; giữa ông Đỗ Văn Đê và bà Huỳnh Thị Kim Loan Huỷ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1980, 1981 ngày 20-8-1999 và

số 2388 ngày 31-7-2000 của Uỷ ban nhân dân quận 12 cấp 15301m2 đất toạ lạc tại ph-ờng An Phú Đông, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh do Nguyễn Minh Dũng đứng tên Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2227 ngày 27-4-2000 của Uỷ ban nhân dân quận 12 về việc cấp 5.747m2 đất tại ph-ờng An Phú Đông, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh do bà Huỳnh Thị Kim Loan đứng tên Giao 15.301m2 đất tọa lạc tại ph-ờng An Phú Đông, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty th-ơng mại dầu khí Đồng Tháp tiếp tục quản lý theo quy định của pháp luật (giải toả biên bản kê biên ngày 11-9-2000 của Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an) Tách quan hệ chuyển nh-ợng đất nêu trên để giải quyết bằng

vụ kiện dân sự khác nếu nh- các đ-ơng sự có yêu cầu” tại bản án hình sự sơ thẩm số 43/HSST ngày 28-6-2002 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp Đình chỉ vụ án hình sự đối với phần dân sự này

Các quyết định khác của bản án hình sự phúc thẩm không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đã có hiệu lực pháp luật theo quy định

- Lý do huỷ một phần bản án phúc thẩm:

1 Khi xét xử vụ án hình sự đối với Mai Văn Huy và các đồng phạm khác, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm xem xét và quyết định đối với quan

hệ dân sự không liên quan đến vụ án hình sự;

2 Quyết định giao đất không phải là vật chứng của vụ án cho Công ty th-ơng mại dầu khí Đồng Tháp là không đúng với quy định của pháp luật về thẩm quyền

- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ một phần của bản án phúc thẩm:

Thiếu sót trong việc xác định thẩm quyền của Toà án

_

Trang 30

4 Quyết định giám đốc thẩm số 06/2005/HĐTP-HS

Ngày 24-02-2005 Về vụ án Phạm Văn C-ờng

phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”

Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Ngày 24 tháng 02 năm 2005 tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:

Phạm Văn C-ờng sinh năm 1940; trú tại số 30 đ-ờng 21A Lộc Hoà,

thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; khi phạm tội là cán bộ Phòng tổ chức lao

động thành phố Nam Định; con ông Phạm Văn Đầm (liệt sỹ) và bà Trần Thị Cà (đã chết); vợ là Trần Thị Tỉnh và có 3 con, bị bắt giam từ ngày 27-5-1998 đến ngày 22-5-2000

Nhận thấy:

Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm kết án Phạm Văn C-ờng về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân với nội dung sự việc nh- sau:

Vào tháng 4-1997, Phạm Ngọc Mỹ nguyên là cán bộ Phòng tiền l-ơng Ty lao động tỉnh Hà Nam Ninh (cũ) đã bị buộc thôi việc và là ng-ời quen của Phạm Văn C-ờng cho C-ờng biết Công ty nơi Mỹ làm việc đang cần tuyển và làm thủ tục cho ng-ời đi lao động tại Hàn Quốc Tuy không biết cụ thể Phạm Ngọc Mỹ làm việc ở cơ quan nào, có chức năng đ-a ng-ời đi lao động n-ớc ngoài không, nh-ng Phạm Văn C-ờng vẫn nhận lời với Mỹ tìm ng-ời đi lao động ở n-ớc ngoài Ban đầu, Phạm Văn C-ờng có ý định giới thiệu anh Phạm Văn Đức, nh-ng vì anh Đức không có tiền nên anh Đức đã giới thiệu bà Lê Thị Chiến (là hàng xóm của anh Đức) với Phạm Văn C-ờng để nhờ C-ờng làm thủ tục cho con gái bà Chiến là chị Nguyễn Thị Hoàng Oanh đi lao động tại Hàn Quốc Ngày 20-4-1997, vợ chồng bà Chiến đến nhà C-ờng để thoả thuận việc làm thủ tục thì gặp Phạm Ngọc Mỹ ở đó Hai bên thoả thuận khi chị Oanh đi Hàn Quốc

đ-ợc, thì vợ chồng bà Chiến đặt giấy tờ nhà cho Mỹ để làm tin, khi nào chị Oanh gửi tiền về trả đủ 3.500 USD thì sẽ trả lại giấy tờ nhà, Phạm Văn C-ờng là ng-ời đứng ra bảo lãnh

Ngày 29-4-1997, Mỹ đã đ-a chị Oanh đi khám sức khoẻ tại bệnh viện

Trang 31

bà Chiến hai lần tổng cộng là 5.000.000 đồng: ngày 11-5-1997 C-ờng nhận 4.000.000 đồng nói là tiền đặt cọc, nh-ng vì sợ ng-ời yêu chị Oanh không cho

đi nên C-ờng viết giấy với nội dung vay tiền; ngày 03-8-1997 C-ờng nhận 1.000.000 đồng nói là để đi làm vida, hộ chiếu nh-ng ch-a viết giấy biên nhận

Đến ngày 26-01-1998 bà Chiến đã yêu cầu C-ờng viết giấy biên nhận khoản tiền này

Đầu năm 1998, chị Oanh không có ý định đi lao động ở n-ớc ngoài nữa

mà ở nhà để lấy chồng, bà Chiến đòi tiền nh-ng C-ờng khất lần không trả và có viết một giấy hẹn đến ngày 30-4-1998 d-ơng lịch sẽ trả Đến hạn C-ờng không trả, nên ngày 04-5-1998 bà Chiến có đơn đề nghị gửi cơ quan Công an để yêu cầu C-ờng phải trả tiền cho bà Ngày 25-5-1998 C-ờng viết tiếp một giấy hẹn

đến ngày 10-6-1998 sẽ trả, nh-ng đến ngày 27-5-1998 C-ờng bị bắt do bị khởi

tố bị can về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa

Tại cơ quan điều tra C-ờng khai số tiền mà C-ờng nhận của bà Chiến thì C-ờng đã đ-a cho Phạm Ngọc Mỹ, nh-ng không khai rõ thời điểm giao tiền và không có giấy biên nhận Do Mỹ ch-a trả cho C-ờng nên C-ờng ch-a có tiền để trả lại cho bà Chiến, nh-ng C-ờng vẫn viết giấy khất nợ với bà Chiến Tuy nhiên, khi cơ quan điều tra hỏi Mỹ ở đâu thì C-ờng khai không rõ ràng nên cơ quan điều tra không xác định đ-ợc Phạm Ngọc Mỹ ở đâu, đang làm gì có đúng nh- Phạm Văn C-ờng khai hay không? Sau khi đ-ợc tha, C-ờng đã trả số tiền 5.000.000 đồng cho bà Lê Thị Chiến

Cũng trong thời gian này, C-ờng còn nhận làm thủ tục đ-a ng-ời quen của ông Lê Ngọc Bội là anh Phạm Tuấn Hùng và anh Trần Đức C-ờng đi Hàn Quốc Việc giao dịch làm thủ tục cũng thực hiện tại nhà C-ờng và có mặt Phạm Ngọc Mỹ Sau đó, Mỹ cũng đ-a hai anh đi khám sức khỏe ở bệnh viện Bạch Mai Khi hai anh khám sức khoẻ về, Phạm Văn C-ờng đã nhận của ông Lê Ngọc Bội 100USD và 16.500.000 đồng tổng cộng bằng 17.600.000 đồng và viết giấy biên nhận với nội dung vay tiền Tháng 8-1997 khi thấy hai anh không đi đ-ợc, nên ông Bội đòi lại tiền thì C-ờng đã trả cho ông Bội 12.000.000 đồng Số tiền còn nợ của ông Bội, C-ờng đã đ-a giấy phép sử dụng đất của em vợ C-ờng cho

ông Bội để làm tin Về hành vi này Phạm Văn C-ờng bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” nh-ng Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm xác định đây là quan hệ dân sự

Ngoài ra, năm 1996 vợ chồng Phạm Văn C-ờng và Trần Thị Tỉnh còn vay của Ngân hàng Công th-ơng tỉnh Nam Định 200.000.000 đồng, về hành vi này Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm kết án Phạm Văn C-ờng và Trần Thị Tỉnh về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa”, nh-ng Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã tuyên bố Phạm Văn C-ờng và Trần Thị Tỉnh không phạm tội

Trang 32

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/HSST ngày 25-01-1999, Toà án nhân dân tỉnh Nam Định áp dụng khoản 1 Điều 158, khoản 2 và khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985, xử phạt Phạm Văn C-ờng 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”, buộc Phạm Văn C-ờng phải bồi th-ờng cho bà Lê Thị Chiến số tiền 5.000.000 đồng

Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Lê Thị Chiến có đơn kháng cáo yêu cầu Phạm Văn C-ờng phải trả ngay số tiền 5.000.000 đồng và tiền lãi

Tại Quyết định số 52/KSXXHS ngày 30-01-1999, Viện tr-ởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đề nghị Toà án cấp phúc thẩm chuyển tội danh từ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân và tăng hình phạt đối với Phạm Văn C-ờng

Tại Quyết định số 09/PT1 ngày 14-02-2000, Viện tr-ởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã rút toàn bộ kháng nghị của Viện tr-ởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 947/HSPT ngày 22-5-2000, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội áp dụng khoản 1 Điều 158, các điểm a, d khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985 xử phạt Phạm Văn C-ờng 04 tháng tù về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”

Tại kháng nghị giám đốc thẩm số 46/2004/HS-TK ngày 31-12-2004, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ bản án hình sự phúc thẩm và bản án hình sự sơ thẩm đã kết án Phạm Văn C-ờng về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân và

đình chỉ vụ án; tuyên bố Phạm Văn C-ờng không phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân vì hành vi không cấu thành tội phạm

xét thấy:

Việc giao nhận khoản tiền 5.000.000 đồng giữa Phạm Văn C-ờng và bà

Lê Thị Chiến xuất phát từ sự tự nguyện của bà Chiến muốn cho con mình đi lao

động ở n-ớc ngoài Mọi việc giao dịch làm thủ tục cho ng-ời đi n-ớc ngoài đều

có sự tham gia của Phạm Ngọc Mỹ Khi bà Chiến đòi lại tiền thì C-ờng nêu lý

do số tiền bà Chiến đ-a C-ờng đã giao hết cho Mỹ, nh-ng Mỹ ch-a trả tiền nên C-ờng ch-a trả cho bà Chiến đ-ợc Nh- vậy, hành vi của C-ờng có liên quan

đến một ng-ời tên là Phạm Ngọc Mỹ, nh-ng Mỹ quan hệ, bàn bạc với C-ờng nh- thế nào về việc đ-a ng-ời đi n-ớc ngoài, có ý thức chiếm đoạt tài sản của họ hay không thì trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tr-ớc đây ch-a đ-ợc chứng minh làm rõ Tuy nhiên, vụ án này xảy ra cách đây đã hơn 07 năm, nếu

điều tra lại xác định có hành vi phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 158 Bộ luật hình sự năm 1985 hoặc khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 thì theo quy

Trang 33

định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Bộ luật hình sự năm 1999 thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự cũng đã hết; do đó việc huỷ bản án sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên để điều tra lại là không cần thiết Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đang

có trong hồ sơ vụ án thì cần xác định hành vi nêu trên của Phạm Văn C-ờng không cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân

Vì các lẽ trên, căn cứ vào Điều 285, Điều 286 và khoản 2 Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Lý do huỷ bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm:

1 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Văn C-ờng đã hết;

2 Không có căn cứ để xác định Phạm Văn C-ờng phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”

- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm:

1 Thiếu sót trong việc thu thập chứng cứ;

2 Thiếu sót trong việc nhận thức và áp dụng quy định của Bộ luật hình sự

về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

_

Quyết định giám đốc thẩm số 07/2005/HĐTP-HS

Ngày 29-3-2005 Về vụ án Hồ Thị Bé phạm tội “chiếm đoạt trẻ em”

Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Ngày 29 tháng 3 năm 2005 tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở

Trang 34

phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:

1 Hồ Thị Bé sinh năm 1972, trú tại thôn Bắc Sơn, xã Trung Giang,

huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: nội trợ; con ông Hồ Văn Bách và

bà Trần Thị Triều (đều đã chết); có chồng và 3 con (lớn nhất 11 tuổi, nhỏ nhất 8 tháng tuổi); bị cáo tại ngoại

2 Trần Hải sinh năm 1983; trú tại thôn Xuân Hoà, xã Trung Hải, huyện

Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; khi phạm tội là học sinh lớp 12/12; con ông Trần Văn

Đáp và bà Hà Thị Vân (là bị cáo trong cùng vụ án); bị cáo tại ngoại

(Trong vụ án này, còn có Hà Thị Vân bị phạt 12 tháng tù nh-ng cho h-ởng án treo, Trần Thị Gái bị phạt 12 tháng tù nh-ng cho h-ởng án treo đều về tội chiếm đoạt trẻ em nh-ng không bị kháng nghị giám đốc thẩm)

* Ng-ời bị hại: cháu Lê Văn Viên, sinh ngày 05-7-2000; ng-ời đại diện

hợp pháp của ng-ời bị hại: chị Lê Thị Quyên (là mẹ cháu Viên); trú tại thôn Cẩm Phổ, xã Gio Mỹ, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị

Nhận thấy:

Ngày 23-02-2003, Hà Thị Vân đến nhà con gái là Trần Thị Phù chơi Tại

đây, Vân gặp Hồ Thị Bé, Vân hỏi Bé và Phù: “có ai bán trẻ em thì mua cho một

đứa vì Trần Thị Gái có nhờ tìm hộ để làm con nuôi”, Bé trả lời là: “có biết chị Lê Thị Quyên ở thôn Cẩm Phổ có đứa con cần bán” Cùng ngày, Trần Hải (con trai Vân) đi xe máy chở Bé và Phù đến nhà chị Quyên hỏi mua cháu Viên (là con trai chị Quyên), chị Quyên đồng ý bán cháu Viên với giá một triệu đồng Hải về nói với Vân, Vân mang tiền đến để trả cho chị Quyên, nh-ng chị Quyên không

đồng ý và hẹn ngày hôm sau

Ngày 28-02-2003, Trần Thị Gái đ-a cho Phù 2 triệu đồng, Phù cùng Bé

và Hải lại đến nhà chị Quyên Đến nơi, chị Quyên đi vắng, đợi một lúc không thấy chị Quyên về thì Bé nói: “thôi bồng đi” Phù đã bế cháu Viên về nhà Phù

Sau đó sự việc đã bị phát hiện, cháu Lê Văn Viên đ-ợc cơ quan Công an giao trả cho chị Lê Thị Quyên

Tại bản cáo trạng số 98/KS ĐT-TA ngày 15-10-2003 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố Hồ Thị Bé, Trần Hải, Hà Thị Vân, Trần Thị Gái và Trần Thị Phù về tội “chiếm đoạt trẻ em” theo khoản 1 Điều 120 Bộ luật hình sự

Tại Quyết định số 02/QĐ-TA ngày 21-11-2003, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã tạm đình chỉ xét xử đối với bị cáo Trần Thị Phù

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 66/HSST ngày 27-11-2003, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị áp dụng khoản 1 Điều 120; điểm p khoản 1 Điều 46; áp dụng

Trang 35

Điều 47 đối với Trần Hải, Trần Thị Gái, Hà Thị Vân; áp dụng thêm khoản 1 và khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự đối với Trần Thị Gái, Hà Thị Vân; xử phạt Hồ Thị Bé 36 tháng tù và Trần Hải 18 tháng tù; xử phạt Trần Thị Gái và Hà Thị Vân mỗi bị cáo 12 tháng tù, nh-ng đều cho h-ởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, về tội “chiếm đoạt trẻ em”

Ngày 28-11-2003, Hồ Thị Bé có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và xin

số 28/HSST ngày 28-5-2004 Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị áp dụng khoản 1

Điều 120; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 47; khoản 1 và khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Thị Phù 2 năm tù về tội “chiếm đoạt trẻ em”, nh-ng cho h-ởng án treo Bản án này không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 432/HSPT ngày 18-6-2004, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng áp dụng khoản 3 Điều 220; khoản 1

Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự huỷ bản án hình sự sơ thẩm số 66/HSST ngày 27-11-2003 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị; giao hồ sơ vụ án cho Toà

án cấp sơ thẩm để tiến hành xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật

Tại Quyết định kháng nghị số 45/2004/HS-TK ngày 27-12-2004, Chánh

án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 432/HSPT ngày 18-6-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng; giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng để xét

xử phúc thẩm lại đối với các bị cáo có đơn kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao

Khi xét xử phúc thẩm, lẽ ra Toà án cấp phúc thẩm phải xét kháng cáo của

bị cáo kháng cáo; nếu quyết định tạm đình chỉ xét xử của Toà án cấp sơ thẩm không đúng pháp luật thì kiến nghị xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm Nh-ng

Trang 36

Toà án cấp phúc thẩm lại xem xét tính hợp pháp của Quyết định tạm đình chỉ xét

xử số 02/QĐ-TA ngày 21-11-2003 đối với Trần Thị Phù và không chỉ ra đ-ợc việc không xét xử Trần Thị Phù trong cùng vụ án Hồ Thị Bé sẽ ảnh h-ởng đến việc xem xét toàn diện, khách quan của vụ án, ảnh h-ởng đến việc đánh giá vai trò của các bị cáo và ảnh h-ởng đến quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác

là không đúng với quy định tại Điều 214 Bộ luật tố tụng hình sự (năm 1988) Toà án cấp phúc thẩm ch-a xét kháng cáo của Hồ Thị Bé và Trần Hải là thiếu sót

Mặt khác, sau khi đ-ợc tạm đình chỉ, Toà án cấp sơ thẩm đã đ-a Trần Thị Phù ra xét xử sơ thẩm và bị xử phạt 2 năm tù, nh-ng cho h-ởng án treo là t-ơng xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và không làm ảnh h-ởng đến việc xét xử đối với các bị cáo khác Vì vậy, chỉ cần huỷ bản

án phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại vụ án theo quy định của pháp luật

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào Điều 285 và Điều 287 Bộ luật tố tụng hình sự;

Quyết định:

Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 432/HSPT ngày 18-6-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng; giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy

- Nguyên nhân của việc huỷ bản án phúc thẩm:

Thiếu sót trong việc áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về phạm vi xét xử phúc thẩm

_

Quyết định giám đốc thẩm số 08/2005/HĐTP-HS

Ngày 25-4-2005 Về vụ án Cao Tỷ Phú

Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Ngày 25 tháng 4 năm 2005 tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở

Trang 37

phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:

1 Cao Tỷ Phú sinh năm 1962 tại Nghệ An; trú tại 16B c- xá Ngân hàng,

ph-ờng Tân Thuận Tây, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh; con ông Cao Trung L-ợng và bà Phạm Thị Tèo; có vợ và 2 con; tiền án: năm 1996 Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang phạt 18 tháng tù về tội “buôn lậu”; bị bắt giam ngày 29-7-2000

2 Cao Huy D-ơng sinh năm 1970 tại xã Nghi Kim, huyện Nghi Lộc

tỉnh Nghệ An; trú tại nhà 205/4A khu phố 1, ph-ờng Tân Quy Đông, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh; con ông Cao Văn Viên và bà Trần Thị Cam; có vợ và 1 con; ch-a có tiền án, tiền sự; bị bắt giam ngày 24-12-2000

3 Lê Bửu C-ờng sinh năm 1971 tại Tiền Giang; trú tại ấp Thanh Hiệp,

xã Thạnh Trị, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang; con ông Lê Bửu Châu và bà

Võ Thị Liên; có vợ và 1 con; ch-a có tiền án, tiền sự; đang tại ngoại

Những ng-ời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1 Ông Lê Phát Lợi; trú tại nhà số 27/1B khu phố 3, ph-ờng Linh Xuân, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh;

2 Ông Cao Văn Lợi; trú tại nhà số 300, đ-ờng Điện Biên Phủ, ph-ờng

Trang 38

ph-êng T©n §Þnh, quËn 1, thµnh phè Hå ChÝ Minh;

12 ChÞ Ph¹m Hång Thuý; tró t¹i nhµ sè 179, ®-êng Lª Hång Phong, ph-êng 3, quËn 5, thµnh phè Hå ChÝ Minh;

13 Bµ Huúnh ThÞ Thanh Nga; tró t¹i nhµ sè 48/48, ®-êng Hå BiÓu Ch¸nh, ph-êng 11, quËn Phó NhuËn, thµnh phè Hå ChÝ Minh;

14 Anh Tr-¬ng Anh CÈm; tró t¹i nhµ sè 2/155, ®-êng Phan Chu Trinh, ph-êng HiÖp Phó, quËn 9, thµnh phè Hå ChÝ Minh;

15 ¤ng NguyÔn Vò; tró t¹i nhµ sè 08 l« 2 c- x¸ Thanh §a, ph-êng 27, quËn B×nh Th¹nh, thµnh phè Hå ChÝ Minh;

16 Bµ NguyÔn ThÞ Duyªn; tró t¹i nhµ sè 235/39 Nam Kú Khëi NghÜa, ph-êng 7, quËn 3, thµnh phè Hå ChÝ Minh;

17 Bµ NguyÔn Kim Chi; tró t¹i nhµ sè 197A khu phè 1, ph-êng HiÖp Ph-íc, quËn Thñ §øc, thµnh phè Hå ChÝ Minh;

18 Bµ TrÞnh ThÞ Nhá; tró t¹i nhµ sè 367, tæ 97, ®-êng NguyÔn S¬n, ph-êng 18, quËn T©n B×nh, thµnh phè Hå ChÝ Minh;

19 ¤ng Hµ V¨n Phong; tró t¹i nhµ sè 426, ®-êng Céng Hoµ, ph-êng 13, quËn T©n B×nh, thµnh phè Hå ChÝ Minh;

20 ¤ng NguyÔn V¨n H-ng; tró t¹i nhµ sè 142, ®-êng TrÇn Phó, ph-êng Lam S¬n, thµnh phè Thanh Ho¸, tØnh Thanh Ho¸;

21 ¤ng Ph¹m Quang ThiÖp; tró t¹i nhµ sè 638, ®-êng Bµ TriÖu, thµnh phè Thanh Ho¸, tØnh Thanh Ho¸;

22 ¤ng Bïi V¨n Minh; tró t¹i nhµ sè 171, ®-êng NguyÔn Tr·i, quËn

27 ¤ng Tr-¬ng VÜnh Th¾ng; tró t¹i nhµ sè 107 TrÇn Xu©n So¹n, ph-êng

§«ng Thä, thµnh phè Thanh Ho¸, tØnh Thanh Ho¸;

28 ¤ng NguyÔn V¨n Minh; tró t¹i nhµ sè 12/1 Bïi ThÞ Xu©n, ph-êng

Trang 39

Ngọc Trạo, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá;

29 Ông Lê C-ờng; trú tại khối 1 xã Đông H-ng, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá;

30 Ông Hoàng Đình Thông; trú tại xã Đông Tân, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá;

31 Ban Tài chính quản trị Trung -ơng;

32 Ban Bảo vệ chính trị Tỉnh uỷ Vĩnh Long;

33 Công ty t- vấn thiết kế và dịch vụ đầu t- - Bộ Công nghiệp;

34 Công ty trách nhiệm hữu hạn Tây Hồ, thành phố Hà Nội;

35 B-u điện thành phố Hà Nội;

36 Công ty điện toán truyền số liệu; địa chỉ: nhà số 14, đ-ờng Trần H-ng

38 xe ôtô và 4 xe môtô nhập lậu cho các cơ quan và cá nhân; cụ thể nh- sau:

- Đầu năm 1997 Cao Huy D-ơng bán xe ôtô 52M-8495 cho anh Nguyễn Ph-ớc Ninh; anh Ninh bán lại cho anh Lê Phát Lợi trú tại nhà số 27/1B khu phố

3, ph-ờng Linh Xuân, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh

- Tháng 12-1997 Cao Huy D-ơng bán xe TOYOTA CAMRY biển kiểm soát 52N-6758 cho anh Nguyễn Ph-ớc Ninh Sau đó, anh Ninh bán lại cho ông Cao Văn Lợi trú tại 300 Điện Biên Phủ, ph-ờng 17, quận Bình Thạnh, thành phố

Hồ Chí Minh

- Tháng 11-1997 Cao Huy D-ơng bán xe TOYOTA CAMRY biển kiểm soát 52N-6857 cho ông Phan Đức Chi ở 158/31 Hàn Hải Nguyên, ph-ờng 19, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh

- Tháng 11-1997 Cao Huy D-ơng bán cho anh Lý Dũng xe ô tô biển kiểm soát 52N-6846 Hiện nay ông Hứa Văn Lập ở số 01, đ-ờng Nguyễn Bỉnh Khiêm, ph-ờng Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh đang bảo quản chiếc

xe này

- Đầu năm 1998 Cao Huy D-ơng bán cho bà Lê Thị Thảo trú tại nhà số

Trang 40

06, phố Cù Chính Lan, ph-ờng Diên Hồng, thành phố PleiKu, tỉnh Gia Lai xe

ôtô TOYOTA biển kiểm soát 52N-8981

- Cuối năm 1997 Cao Huy D-ơng bán xe TOYOTA CAMRY biển kiểm soát 52N-8971 cho anh Nguyễn Thành H-ng; anh H-ng bán lại cho ông Phạm Văn Bắc ở nhà số 13/3 khu phố 2, ph-ờng Bà Rịa-Vũng Tàu

- Đầu năm 1997 Cao Huy D-ơng bán xe ôtô HONDA ACCORD biển kiểm soát 52N-0459 cho anh Ngô Gia Phong, sau đó anh Phong bán cho bà Trần Thị Ngọc Minh ở 146 đ-ờng Đồng Khởi, ph-ờng Bến Nghé, quận 1, thành phố

Hồ Chí Minh

- Tháng 8-1997 Cao Huy D-ơng nhờ anh Nguyễn Văn Sáu bán xe ôtô TOYOTA CAMRY biển kiểm soát 52N-5236 cho Đỗ Lộc ở 61 Hồ Văn Huê, ph-ờng 9, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh

- Đầu năm 1997 Cao Huy D-ơng bán xe ôtô TOYOTA CAMRY biển kiểm soát 52N-0341 cho anh Lại Văn Ngọc Sơn; anh Sơn bán lại cho anh Hải; anh Hải bán lại cho bà Bùi Thị Lan trú tại nhà số 572, đ-ờng Trần H-ng Đạo, ph-ờng 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh

- Đầu năm 1998 Cao Huy D-ơng bán xe TOYOTA CAMRY biển kiểm soát 52N-9850 cho anh Huỳnh Văn Chiến; anh Chiến bán lại cho anh Hồ Văn Chức; anh Chức bán cho ông Võ Khắc Triệu trú tại nhà số 25/1, đ-ờng Nguyễn

An Ninh, ph-ờng 14, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

- Cuối năm 1997 Lê Bửu C-ờng bán cho chị Trần Thị Nghiệp trú tại nhà

số 54, đ-ờng Trần Quang Khải, ph-ờng Tân Định, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh xe ôtô TOYOTA CAMRY biển kiểm soát 52N-9893

- Đầu năm 1998 D-ơng và C-ờng bán xe ôtô HONDA ACCORD biển kiểm soát 52N-9034 cho anh Nguyễn Trọng Đoàn; sau đó anh Đoàn bán lại cho anh Nguyễn Văn Ba; khi anh Ba làm thủ tục sang tên thì phát hiện hồ sơ xe giả Hiện chị Phạm Hồng Thuý (vợ anh Nguyễn Văn Ba) trú tại nhà số 179, đ-ờng

Lê Hồng Phong, ph-ờng 3, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý xe này

- Đầu năm 1997 Cao Huy D-ơng bán xe ôtô TOYOTA CAMRY biển kiểm soát 52N-7803 cho chị Nguyễn Thị Bích Vân; chị Vân bán lại cho bà Huỳnh Thị Thanh Nga trú tại nhà số 48/48, đ-ờng Hồ Biểu Chánh, ph-ờng 11, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh

- Cuối năm 1997 Lê Bửu C-ờng bán xe ô tô TOYOTA CAMRY biển kiểm soát 52N-8954 cho anh Nguyễn Trọng Dũng; anh Dũng bán cho ông Trần Văn Tỷ; đến tháng 1-1998 ông Trần Văn Tỷ bán lại cho anh Tr-ơng Anh Cẩm trú tại nhà số 2/155, đ-ờng Phan Chu Trinh, ph-ờng Hiệp Phú, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh

Ngày đăng: 11/10/2021, 15:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w