Công trình này tập trung vào việc xây dựng, hoàn thiện các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao và nhận định: “Ngay cả ở Việt Nam cũng cần phải xây dựng, phát tri
Trang 1Công nhận án lệ: Quyết định giám đốc thẩm là án mẫu?
Bài viết cập nhật lúc: 04:12 ngày 01/05/2009
Tập hợp các bản án giám đốc thẩm chuẩn thành án lệ để khắc phục những kẽ hở mà luật thành văn chưa quy định
Số trước, chúng tôi đã phản ánh việc các tòa thường vận dụng hướng dẫn của TAND tối cao để xử án Để chuyện vận dụng này đi vào nề nếp, quy củ hơn, nhiều chuyên gia đã đề xuất nên phát triển án lệ và cần phải coi các quyết định giám đốc thẩm chuẩn là án lệ
Khắc phục nhiều nhược điểm
Theo ông Trần Thế Hòa (VKSND tối cao tại TP.HCM), việc công nhận án lệ sẽ khắc phục được nhiều nhược điểm trong quá trình áp dụng pháp luật hiện nay
Trước hết, với những tranh chấp cụ thể mà pháp luật quy định chưa rõ hoặc chưa có, thẩm phán nên vận dụng các quy định khác của pháp luật để giải quyết Sau đó, nếu phán quyết không bị xem lại thì lấy nó minh họa cho các vụ tranh chấp tương tự Phán quyết này có thể xem là án lệ và cơ quan chức năng cần tập hợp, phát hành rộng rãi cho mọi người tham khảo Điều này có lợi là pháp luật được áp dụng thống nhất, đồng thời giúp cán bộ tố tụng và người dân có thể dự đoán được kết quả tranh chấp Hướng giải quyết từ những án lệ này dần dần sẽ được nâng lên thành các quy định thành văn
Ở một khía cạnh khác, thực tế luôn phát sinh nhiều vướng mắc mà luật không lường trước, không lường hết để điều chỉnh Nếu thẩm phán chờ có quy định mới thì sẽ vi phạm thời hạn tố tụng, vi phạm quyền đi kiện của người dân… Trong những trường hợp như thế, nếu áp dụng án lệ sẽ khắc phục được nhược điểm này Nghĩa là dựa vào những án lệ
đã được nhiều người chấp nhận để giải quyết tranh chấp còn hơn là ách lại với lý do chưa
có luật
Án giám đốc thẩm là án mẫu?
Trang 2Vấn đề được nhiều người quan tâm là những bản án nào sẽ trở thành án lệ để các tòa, các thẩm phán tham khảo
Theo thạc sĩ Đỗ Thành Trung (giảng viên Trường đại học Luật TP.HCM), trước đây từng
có một công trình nghiên cứu chung của Việt Nam và Nhật Bản gợi mở phương hướng
cơ bản thích hợp cho việc sử dụng án lệ tại nước ta Công trình này tập trung vào việc xây dựng, hoàn thiện các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao và nhận định: “Ngay cả ở Việt Nam cũng cần phải xây dựng, phát triển hệ thống, trong đó coi quan điểm được thể hiện trong các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao là án lệ và tòa án cấp dưới cần đưa ra các xét xử không mâu thuẫn với các án lệ này”
Luật sư Bùi Quang Nghiêm (Phó Chủ nhiệm Đoàn luật sư TP.HCM) nhận xét, bản án giám đốc thẩm của TAND tối cao thực chất là án lệ nhưng chưa được chính thức công nhận mà thôi Ở nước ta, thẩm quyền giải thích luật là của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhưng trên thực tế, khi gặp những trường hợp mà luật quy định chưa rõ hoặc chưa điều chỉnh, rất hiếm khi cơ quan này ra văn bản giải thích Trong khi đó, thẩm phán là người trực tiếp áp dụng pháp luật, trực tiếp điều chỉnh các quan hệ, các tranh chấp đang nảy sinh nên việc giao cho họ quyền giải thích pháp luật bằng bản án là phù hợp nhất Từ những bản án giải thích luật này, nhà làm luật sẽ nâng lên thành các văn bản luật để chấm dứt chuyện xét xử mà không viện dẫn cơ sở pháp lý
Làm sao để án lệ đi vào đời sống?
Một vấn đề rất lớn khác mà thạc sĩ Đỗ Thành Trung dự đoán là chúng ta sẽ gặp không ít khó khăn ban đầu khi thừa nhận án lệ bởi nước ta không phải là nước có truyền thống án
lệ Việc nhận thức vai trò tích cực của án lệ cũng như sử dụng chúng như một nguồn luật vẫn còn rất mới mẻ ở Việt Nam
Để khắc phục, ông Trung cho rằng cần phải thay đổi nhận thức pháp lý và thói quen để coi án lệ như một nguồn luật bổ sung khi giải quyết án Mặt khác, cần phải trao quyền giải thích pháp luật cho ngành tòa án bằng quy định thành văn chính thức, rõ ràng, càng chi tiết càng tốt (về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, phương pháp giải thích pháp luật)… Cạnh đó, các thẩm phán phải nỗ lực để bảo đảm cho quan điểm pháp lý thể hiện trong những án lệ có tính thuyết phục, hợp lý, đáng tin cậy
Cuối cùng, để cho việc sử dụng án lệ có hiệu quả thì việc tập hợp, chọn lọc và công bố án
lệ là việc rất quan trọng Có các tập án lệ sẽ tạo điều kiện cho các thẩm phán áp dụng pháp luật thống nhất, minh bạch, còn người dân có thể tìm hiểu các quy định, nâng cao dân trí và ý thức tuân thủ pháp luật
Những nỗ lực đầu tiên
Theo một thẩm phán TAND tối cao, nước ta đã đi những bước đầu tiên trong việc tiếp cận
án lệ thông qua việc ấn hành hai tập quyết định giám đốc thẩm về kinh doanh, thương mại, hình sự… điển hình của năm 2004 Hai tập sách này trình bày, phân tích, chỉ ra
Trang 3những vướng mắc, sai sót tố tụng để các thẩm phán rút kinh nghiệm Đây là những tư liệu rất quý bên cạnh hệ thống luật thành văn để phục vụ công tác xét xử, nghiên cứu pháp luật
Vị thẩm phán này khẳng định: “Không chỉ người làm công tác pháp luật và sinh viên luật
mà mọi người dân đều mong muốn TAND tối cao thường xuyên phát hành rộng rãi các bản án giám đốc thẩm để họ có thể dự đoán kết quả nếu xảy ra những vụ kiện tụng tương
tự ở tòa Điều này còn tránh được việc người dân khiếu nại giám đốc thẩm tràn lan theo kiểu cầu may như hiện nay”
Theo www.phapluattp.vn
Án lệ - loại nguồn quan trọng bậc nhất tại Úc!
Nguyễn Bá Bình (Nghiên cứu sinh tại ĐH New South Wales, Sydney; Bài viết cho Báo Pháp luật Việt Nam - Bộ
Tư pháp (số Chủ nhật, 30/08/2009))
Với những luật lệ được người Anh thiết lập từ những ngày đầu đặt chân tới Úc và áp đặt
sự cai trị tại nước này thì thật không có gì đáng ngạc nhiên khi Úc cũng là một trong những nước thuộc dòng họ pháp luật chung Anh – Mỹ (Common Law) Khác với Việt Nam – một nước mang nhiều đặc điểm nổi trội của dòng họ pháp luật Châu Âu lục địa (Civil Law), có bốn loại nguồn luật được áp dụng tại Úc: Án lệ (Common Law – trong dòng họ pháp luật Anh – Mỹ, án lệ chính là một loại nguồn được coi trọng hàng đầu vì thế “Common Law” được dùng để gọi tên cho dòng họ này), Luật của Nghị viện (Statute Law), Luật quy định chi tiết Luật của Nghị viện (Subordinate Legislation) và Tập quán (Custom).
Án lệ - nguyên lý mới trong xét xử chứ không phải là bản thân phán quyết
Án lệ chính là hệ thống quy định pháp lý được hình thành, phát triển thông qua các phán quyết của thẩm phán trong hàng loạt vụ việc xảy ra từ trước đó rất lâu Tuy đôi khi những tư tưởng trong các phán quyết mới được tuyên cũng có thể trở thành án lệ, thường án lệ phải được hình thành trong hàng thế kỷ Điều tạo nên án lệ không phải là phán quyết cho một vụ việc cụ thể nào đó mà là những nguyên lý, tư tưởng mà từ đó hình thành phán quyết Với các vụ việc kiện tụng cực kỳ nổi trội thì thông thường sẽ tạo nên án lệ cho các vụ việc tương tự Mỗi vụ việc tương tự ấy sẽ góp phần nhỏ trong việc phát triển hơn nữa tư tưởng của phán quyết đầu tiên Vì
lẽ đó, Pháp quan Donaldson trong vụ án Parker kiện British Airway Board [1982] tuyên bố rằng
thẩm phán “có quyền và cũng là bổn phận để mở rộng và phỏng theo án lệ - những nguyên tắc
xét xử đã được thiết lập trước đó và nhu cầu hiện tại của xã hội Điều đó không có nghĩa là thẩm phán xét xử chỉ với tờ giấy trắng Để có thể xét xử, thẩm phán phải rút ra từ kinh nghiệm của quá khứ thông qua các phán quyết được tuyên trước đó”.
Có thể thấy rõ sự khác biệt giữa một phán quyết với các nguyên lý rút ra từ phán quyết thông qua một vụ việc mà trong đó một người đi xe máy bị kiện vì việc lái xe gây ra thiệt hại.
Trang 4Quan tòa đã tuyên người lái xe phải đền bù một khoản tiền cho các thiệt hại Phán quyết này không thiết lập nên bất kỳ nguyên tắc xét xử nào nên nó không thể cấu thành án lệ Tuy nhiên, nếu quan tòa nhận định rằng đối với vụ việc này một hoặc cả hai bên có sự bất cẩn và đánh giá
sự bất cẩn đó bằng việc áp dụng một nguyên lý, cách thức nào đó thì nguyên lý, cách thức đánh giá ấy sẽ tạo nên án lệ Ví dụ, về cùng vụ việc như vậy, thẩm phán Wells của tòa tối cao Bang
Nam Úc đã nhận định: “Để hoàn thành vai trò của tòa án đối với vụ việc, thẩm phán, trong sự
hiểu biết tốt nhất của mình, phải thể hiện được quyết định của mình về các chuẩn mực hành xử phù hợp được hình thành và thường được duy trì bởi cộng đồng Theo cách đó việc điều hành pháp luật được thực hiện một cách đúng đắn và đáp ứng được sự kì vọng chính đáng của cộng đồng 3 hay 4 thập niên trước, thông thường sẽ là phù hợp khi cho rằng lái xe phải xử lý tình huống khẩn cấp của xe và việc đi lại của người đi bộ khi họ xuất hiện, nhưng người lái xe không bắt buộc phải nhìn quá xa về phía trước và phát hiện ra tình huống có thể xảy ra Ngày nay, tôi cho rằng nhận định trên đã thay đổi cơ bản Dân số tăng cao, một bộ phận lớn các gia đình có ít nhất một ô tô và thường là hai, tai nạn ngày càng nhiều và chết do tai nạn giao thông trở nên phổ biến Trong bối cảnh ấy, tôi cho rằng, tòa án, khi thực hiện vai trò xét xử, có quyền yêu cầu những người lái xe máy tiêu chuẩn về cái được gọi là lái xe mang tính chất phòng bị, hay sự cẩn thận mà không chỉ nhìn thấy ngay lập tức các nguy hiểm mà còn phải nhìn rõ phía trước và tính trước các nguy hiểm tiềm ẩn” Phán quyết này rõ ràng là một ví dụ điển hình về cách hình thành
án lệ khi đã đưa ra một nguyên lý mới về việc đánh giá vụ việc.
Chỉ tòa cấp cao mới có thể tạo nên án lệ
Để xác định phán quyết nào hình thành nên án lệ thì còn phải tính đến việc tòa án đã tuyên là tòa án nào Ở Úc, tòa thấp nhất là Tòa hành chính địa phương (Magistrates’ Court) – do một quan chức hành chính địa phương hoặc những hòa giải viên hoặc cả hai điều khiển Trên tòa này là một loạt các tòa ở các cấp bậc khác Một vài loại tòa trong đó có thể tạo nên các phán quyết mang tính chất án lệ Sự khác biệt giữa tòa án có thể và tòa án không thể tạo ra án lệ thậm chí không phụ thuộc vào việc người điều khiển tòa có phải là thẩm phán hay không Ví dụ, tòa án Hạt – tương đương Tỉnh (County Court), ở Anh và bang Victoria – Úc, được điều khiển bởi một thẩm phán, nhưng các nguyên lý tạo ra bởi phán quyết của thẩm phán đó lại không được coi là tạo nên án lệ Lý do là chỉ có tòa cấp trên mới có thể tạo ra án lệ Ở Úc, các tòa cấp cao là tòa tối cao của mỗi Bang, tòa tối cao của Lãnh thổ Thủ đô Úc và tòa tối cao của Lãnh thổ phía Bắc (Úc
có 6 Bang - New South Wales, Queensland, Nam Úc, Tasmania, Victoria và Tây Úc và 2 vùng lãnh thổ chính là Lãnh thổ phía Bắc và Lãnh thổ Thủ đô Úc), tòa án Liên Bang (the Federal Court), tòa án gia đình (the Family Court), tòa lao động (the Industrial Relations Court) và tòa án cao cấp thẩm quyền chung Úc (the High Court of Australia)
Tuy thế, án lệ không chỉ giới hạn đối với các phán quyết của tòa án cấp cao trong nước
Úc Các phán quyết bởi các tòa tương đương của Anh và của New Zealand thường được viện dẫn bởi các luật sư như là các tài liệu từ đó án lệ được phát hiện Phán quyết của tòa án cấp cao của Canada, tòa án cấp cao của Mỹ cũng có thể được sử dụng như là án lệ
Không phải tất cả phán quyết của tòa cấp cao đều tạo nên án lệ Có rất nhiều phán quyết dựa vào bản thân các tình huống thực tế và không hàm chứa các nguyên lý mới và cũng không
có sự phát triển bất kỳ nguyên lý xét xử nào Những phán quyết như thế dĩ nhiên không tạo nên
Trang 5án lệ Phán quyết của tòa cấp cao được xem xét bởi các chuyên gia pháp lý nhiều kinh nghiệm
để xác định liệu nó có nên xuất bản để góp phần phát triển án lệ hay không Những phán quyết này sẽ được ấn hành trong hàng loạt cuốn sách với tên gọi “Hồ sơ tòa án” (Law Reports) “Hồ sơ tòa án” đã tồn tại trong rất nhiều thế kỷ, sớm nhất đó là “Sách thường niên” (the Year Books) dưới thời Vua Edward II (năm 1290) Tuy thế, với một người ngoại đạo về luật thì khi vào thư viện công cộng hay thư viện luật để tìm kiếm thì có thể sẽ bị lầm đường lạc lối bởi sự thật là có hàng loạt hồ sơ tòa án không phải của tòa cấp cao – nghĩa là không hàm chứa án lệ.
Án lệ - sự thú vị nằm ở chỗ “không phải là một đạo luật thành văn”!
Người ta vẫn nói về Án lệ với tính ưu việt trong việc áp dụng linh hoạt trong xét xử Thật
dễ dàng cho tòa án trong việc chấp nhận một cách tiếp cận có giới hạn đối với các đóng góp của mỗi phán quyết đối với sự phát triển của Án lệ Chính sự mềm dẻo của án lệ và khả năng của các thẩm phán áp dụng các nguyên lý vào tình huống thay đổi đã tạo nên sức mạnh của nó Án
lệ có thể thay đổi và thích ứng để thỏa mãn nhu cầu thay đổi của cuộc sống biến chuyển nhanh
chóng Lẽ dĩ nhiên, Án lệ không phải là một đạo luật Nhưng sự thú vị lại nằm ở đó - sức mạnh
mà Án lệ có được là vì nó không phải là một đạo luật, bởi đạo luật thì luôn hàm chứa tính không linh động!
Được đăng bởi NguyenBaBinh vào lúc 5:46 AM
Phản ứng:
Từ khóa bài viết "Công nhận án lệ: Quyết định giám đốc thẩm là án mẫu?": án lệ , bản án , công
NGUỒN GỐC ÁN LỆ VÀ THỰC CHẤT VẤN ĐỀ ÁN
Posted on 14/06/2008 by Civillawinfor
NGUYỄN TẤN DŨNG – Lớp HC29A – Đại học Luật TPHCM
Trang 61 Án lệ có từ bao giờ: Có thể nói một án lệ ra đời từ bao giờ là một câu hỏi mà câu trả lời không có một đoạn kết chính xác và làm hài lòng cho tất cả
Với người Anh, họ sẽ cho rằng nước Anh là “quê hương”, là nơi ra đời của án lệ Điều này cò thể được các luật gia, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật
ở Anh, và các nứơc theo truyền thống Thông luật (Common law) giải thích với lý do:
Thứ nhất, truyền thống pháp luật Anh là truyền thống của Thông luật – pháp luật đựơc
hình thành chủ yếu bằng con đường xét xử;
Thứ hai, Thông luật ở Anh đựơc hình thành từ rất sớm, từ năm 1066;
Thứ ba, pháp luật Anh đã đựơc lan truyền khắp thế giới chủ yếu bằng con đưòng mở rộng
thuộc địa của Đế quốc Anh, và bằng con đường tự tiếp nhận, từ đó đã hình thành trên thế giới hệ thống pháp luật Common Law ( Thông luật);
Và lý do quan trọng nữa là, nước Anh là nước sử dụng án lệ điển hình nhất
Đó chỉ là lập luận của những “ngưòi Anh”, hay một số học giả khác Nếu chúng ta nghiên cưú chính trong pháp luật Anh, và xem đến tận cùng của vấn đề, chúng ta sẽ thấy có một điều mà ngưòi Anh đã tự công nhận nguồn gốc của án lệ Ta có thể thấy rằng, án lệ đã ra đời trước đó (trứơc năm 1066), án lệ có nguồn gốc từ trong pháp luật La mã_tức nó đã có
từ thời kỳ La MÃ cổ đại Điều này đựoc minh chứng rõ và không thể phủ nhận đựơc trong việc áp dụng học thuyết án lệ ở Anh, với quy tắc bất thành văn Stare Decisis-tức là quy tắc tôn trọng tiền lệ Nếu không có án lệ thì làm sao có sự tôn trọng tiền lệ, để rồi ra đời học thuyến về quy tắc án lệ trong pháp luật La Mã cổ đại Và có thể thấy một ví dụ cho việc ra đời một nguyện tắc, trở thành một khuôn mẫu trong xét xử đối với các vụ án
tử hình đã có từ thời kỳ La Mã cổ đại Đó là nguyện tắc:” trong khi xét xử vụ án tử hình, nếu tất cả các thành viên phán xét ( ngày nay, có thể là hội đồng xét xử, hay là Hội đồng thẩm phán) ngay lập tức bỏ phiếu đồng ý với bản cáo trạng thì bị cáo sẽ đựoc tuyên vô tội (trắng án) Chỉ khi có ngưòi đau ra một lập luận ủng hộ ngưòi bị xét xử đó (bị cáo) và lập luận đó bị tất cả các thành viên còn lại đồng ý với bảo cáo trạng xử tử hình, thì bị cáo mới
bị xử tử hình”- nguyên tắc không nhất trí trong páhp luật La Mã xưa
Vấn đề này được tuyên và hình thành một nguyên tắc xét xử ở thời kỳ cổ đại là do:
Nguyên tắc trên đã đựoc đảm bảo rằng, các bị cáo khi bị xét xử sẽ đựoc thực hiện theo một quy trình nhất định, tức là, sau khi các thành viên xét xử tranh tụng và trứoc khi đưa
ra phán quyết nào, các thành viên sẽ pahỉ dành một đêm tiếp tục tranh luận theo từng cặp
để tìm ra lí lẻ bào chữa cho ngưòi bị xem là có tôi Điuề này có nghĩa, là páhp luật đã coi trong việc một bị cáo có cơ hội được tha tội;
Nguyên tắc này là một cách để các thành viên xét xử phỉa đưa ra ít nhất một lập luận để bảo vệ ngưòi bị xét xử Nếu tất cả đều vội vàng kết tôi thì sẽ nảy sinh vấn đề không biết liệu cả hai mặt lập luận có được xem xét nghiêm túc hay không, điều này sẽ dảm bảo cho
Trang 7một thủ tục được tiến hành để đảm bảo rằng sẽ có tranh cõi – tức là hai mặt lập luận đã được pâhn tích và tất cả mọi dữ kiện điều đã được trình bày
Vấn đề còn lại của việc tuyên tử hình để đảm bảo chính xác và công lý là cần có một ngưòi-thành viên xét xử phải pảhn đối kịch liệt lại những lập lập chống án tử hình đối với ngưòi bị xét xử Do đo, mà trong khi xét xử ở La Ma thời kỷ cổ đại đã hình thành nên một ngưòi pảhn biện, gọi là ngưòi chống đối trung thành
2 Lịch sử án lệ ở Việt Nam:
Câu hỏi ở Việt Nam đã có án lệ chưa? Và rất nhiều câu trả lời là chưa? Và tắc giả viết bài này xin nói rằng, Việt Nam đã từng có Án lệ, nhưng hiện hại trong hệ thống pháp luật, thì
án lệ không được công nhận trên lý luận, cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật ở Việt Nam
Xin khẳng định rẳng, trên đất nước Việt Nam, trong lịch sử, từ thời kỳ sau năm 1858- năm thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và bắt đầu chiếm đống đô hộ, đến trước năm
1975 – năm Việt Nam hoàn toản giải phóng khỏi ách thống trị của những nước xâm lược, thì đã từng có án lệ Điều này được viết với sự khách quan, và tìm hiểu vấn đề không dựa trên một ý muốn gì, mà chỉ dựa trên quan điểm khoa học,và những gì đã có trong lịch sự cảu nước Việt Nam Điều này sẽ được minh chứng, đó là với những lý do:
Thứ nhất, Việt Nam đã là thuộc địa cụa Pháp trong hơn 80 năm, và ở minề Nam Việt
Nam đã từng có một “ nhà nước thân Mỹ” trong một thời gian dài Mà những điều này đả ảnh hưởng rất lớn đến xã hội, chính trị, và cả nên pháp luật của Việt Nam;
Thứ hai, Pháp và đặc biệt là Mỹ, đã là những quốc gia mà án lệ dù thế nào cũng đã có,
được thừa nhận với những giá trị bắt buộc riêng Vậy trong thời gian dô hộ đó, thử hỏi, Việt Nam có thể không chịu ảnh hưởng của ít nhất là về mặt tư tưởng về vấn đề án lệ trong pháp luật không?
Thứ ba, xin đưa ra hai ví dụ về án lệ ở Việt Nam thời kỳ đó, để chứng tỏ là Việt Nam đã
từng có án lệ: Ví dụ thứ nhất, được minh chứng trong một án lệ hành chính: đây có thể nói là một án lệ thể hiện cho sự tiếp thu và quá trình “phap luật hoá” của thực dân Pháp sau khi đô hộ Viêt Nam, việc này vừa để thống trị, vừa để cho thấy tính thích nghi của
mộ hình án lệ hành chính của Pháp
Án lệ của Tham Chính viện , phiên toà ngày 11 tháng 6 năm 1956 về vụ Công ty xe điện Autobus ( CFTI ) k/ Toà đại biểu Chính phủ tại Việt Nam
Trong án văn hành chính này, Tham chính viện đã căn cứ vào:
- Chiếu dụ sô 5 ngày 18/10/1949 tổ chức tối cao pháp viện;
- Chiếu dụ số 38 ngày 9/11/1954 tổ chức tham chính viện thay thế ban hành chi\ánh tối cao páhp viện;
Trang 8- Chiếu dụ sô 2 ngày 3/1/1960 tổ chức toà hành chình;
- Chiếu dụ số 26 ngày 8/11/1954 sửa đổi dụ số 2 ngày 5/11/1950 nói thêm;
- Chiêu dụ hợp đồng lý kết ngày 18/10/1935 giữa thủ hiến Nam Viết và công ty xe điện
và Ô tô buyt ở Sài Gòn, Chợ lớn;
- Chiếu bản phán quyết của uỷ ban trọng tài ngày 9/7/1954;
- Chiếu án lệnh ngày 21/8/1954 của ông Chánh án dự khuyết toà án hành chính hỗn hợp
Đà Lạt Cho thi hành bản phán quyết cùa Uỷ ban trọng tài ngày 9/7/1954 vô giá trị và phải huỷ bỏ;
- Chiếu chi công ty xe điện và ô tô buyt thỉnh cầu trong đơn khuyến cáo xin tạm hoãn thi hành bản án ngày 20/1/1956 của toà án Hành chính đã tuyên xử huỷ bỏ phán quyết cvủa
uỷ ban trọng tài ngày 9/7/1954;
- Chiếu chi theo nguyên tắc, sự kháng cáo không đình chỉ hiệu lực của bản án hành chính;
- Chiếu chi theo cuộc thẩm cứu và các tài liệu dệ nạp trong hồ sơ thì dầu có cjho rằng sự thi hành ngay bản án sơ thẩm có thể gây cho công ty nguyên kháng sự thiệt hại đi chăng nữa , sự thiệt hại này , xét ra không phải là không đền bù được
Từ những căn cứ trên, Tham chính viện đã ra quyết định:” Bác lời thỉnh cầu của công ty nguyên kháng xin tạm hoãn thi hành bản án lọnh kháng cáo”
Sau khi phán quyết này ra đời, đã khẳng định lại nguyên tắc cơ bản của Luật hành chính thời đó là:” những bản án của toà hành chính có hiệu lực chấp hành đương nhiên, trừ trường hợp ngoại lệ là bản án của Toà hành chính bị tuyên hoãn thi hành khi buộc có 2 điều kiện:
Thứ nhất, đơn khiếu nại (kháng cáo) phải căn cứ vào các lý do đúng đắn; và
Thứ hai, sự thi hành bản án bị chỉ trích có thể gây ra một sự thiệt hại không thể đền bù
được
Trong vụ án do Tham Chính viện giải quyết trên, bên nguyên đơn đã có đủ điều kiện thứ nhất, nhưng về điều kiện thứ hai, tham chính viện đã cho rằng mặc dầu bản án của Toà đại biểu chính phủ tai Viet Nam có thể gây ra cho công ty Autobus(CFTI) một sự thiệt hại chăng nữa, thì sự thiệt hại ấy có thể đền bù bằng một số tiền bồi thường, nên đã bác đơn thỉnh cầu xin tạm hoãn thi hành bản án của toà hành chính trên
Chính quyết định này của Tham chính viện đã tạo thành một tiền lệ cho các vụ án tương
tự về sau
Trang 9Trên đây là vì dụ về một vụ án hành chính, đã hình thành nên một án lệ hành chính trong thực tiễn pháp luật ở Việt Nam thời kỳ đó Dưới đây là một vì dụ điển hình cho một án lệ trong lĩnh vực hôn nhận gia đình thời xưa ớ Việt Nam
Trong những tranh chấp về lĩnh vực hôn nhân gia đình, do đây là một quan hệ dân sự, có
sự đa dạng , diến đổi, và rất phong phú, nên để co một án lệ chính thức, đã pahỉ trải qua một thời gian dài xét xử nhiều vụ án khác nhau, với nhiều án văn khác nhau Trong phần
vì dụ này, người viết đề cập đến án lệ của Toà thượng thẩm Sài Gòn về vấn đề tài sản riêng cùa người vợ, trong vụ Diệp Thuận PHong k/ Thái Thị Liên, trong án văn cuối cùng
ra ngày 30 tháng 11 năm 1961 đã ra quyết định dứt khoát một án lệ cộng nhận rằng
“người đàn bà có chồng được quyền có sản nghiệp riêng”
Để có được án lệ trên, từ trước đã có các bản án hay án lệ đối nghịch nhau về quyền tài sản riêng của người vợ trong thời kỳ hôn nhận Việc có các án văn đối nghịch nhau về cùng một vấn đề tương tự này là do xuất phát từ hai học thuyết và vào một thời kỳ khác nhau, mà mỗi học thuyết lại tác động tạo ra các bản án khác nhau cụ thể là:
Học thuyết thứ nhất, theo nguyên tắc người chồng là chúa tể tuyệt đối của tất cả tài sản
vọ chồng , bất kể là của ai, hay ở đâu, hay được có như thế nào Đó là hậu quả của tổ chức gia đình Việt Nam chịu ành hưởng của tư tưởng páhp lậut và “văn hoá” phong kinế, trong đo người phụ nữ nói chúng, và người vợ nói riêng có địe vị thấp kém hơn người dàn ông, hay người chồng Điều này đã được khẳng định trong Bộ luật Gia Long:” người chồng có quyền tự ý sử dụng của cải của người vợ, dù người vợ không đồng ý “ vì luật pháp cấm không cho người vợ đi kinệ người chồng
Học thuyết này được thể hiện trong cac án văn, án văn của Toà thượng thẩm Sài Gòn ngay 8/9/1891, đặc biết là một bản án đáng chú ý là án văn nggày 17/7/1938 trong vụ thạch Long k/ Thị Lý của Toà Thượng thẩm Sài Gòn, đã khẳng định vững chắc là người
vợ không có quyền có tài sản riêng
Học thuyết thứ hai, cũng đã song song tồn tại với học thuyết thứ nhất, có quan niệm rằng,
người vợ trong gia đình Việt Nam có của cải riêng Lập luận này được đưa ra là do, không một ai dám mua tài sản riêng của vợ nếu người vợ không đồng ý, dù người vợ không có quyền đi khởi tố người chồng, thì có thể họ hang của người vợ sẽ khởi tố thay
Và tòa an theo tục lệ sẽ huỷ bỏ hợp đồng trên nếu không có lý do chính đáng từ phía người chồng; ngoài ra, theo luật tuc thì người vợ được ghi tên vào sổ thuế đối với những của cải riêng của mình, đó là một cách khẳng định quyền sỡ hữu của người vợ, và ý nghĩa đảm bảo của páhp luật đối với quyền đó
Học thuyềt này được thể hiện trong các bản án: án văn CS ngày 24/3/1921 ( J.J 1921 trang 388, vụ Nguyễn Văn Lung k/ Đinh Thị Lợi)- đây là án văn đánh đâu sự chuyện hướng về thuyết người vợ có tài sản riêng; Án văn Cs ngày 6/6/1939 – J.J 1929- 3/78 Trần Thị Vi, Nguyễn Văn Huê k/ Maya pachatty, nói tài sản mà vợ thừa hưởng từ thừa kế riêng không thể là tài sản chung của vợ chồng, vì thế không thể dung để trả nợ thay cho chồng
Trang 10Đó là hai học thuyết đã cũng tồn tại trong một thời gian dài, nhưng từ sau bản án được tuyên ngày 30/11/1961 về vũ Diệp thuận Phong k/ Thái Thị Liên của Toà Thượng thẩm Sài Gòn đã khẳng định quyền có tài sản riêng của người vợ trong thời kỳ hôn nhận Điều này đã tạo ra một án lệ, mà về sau các vụ án tương tự tranh chap về tài sản vợ chồng, và quyền có tài sản của người vợ Nhưng, để ra một án lệ như trên, toà Thượng Thẩm Sài Gòn đã pahỉ tuyên, dự trên một loạt các lý do:
- Thứ nhất, chiếư chi Luật Gia Long theo sự khảo cứu của nhiều luật gia đã ghi chép lại
gần như nguyên văn Bộ luật Mãn Thanh của Trung Quốc, như vậy chưa cắc đã là phản ảnh thực sự phong tực Việt Nam;
- Tiếp theo là lý do, dù sao phong tục xã hội đã thay đổi và quan niệm do đó người đàn bà chỉ được hưởng một tình trạng pháp lý thua kếm người đàn ông là một thành kinế lỗi thời, không còn thích hợp với sự tiến hoá đã thực hiện;
- Chiếu chi vào hai bộ Dan luật Bắc Va Dan luật trung- là hai bộ luật giải quyết những vần đề về hôn nhân gai đình đã căn cứ vào phong tục chắc chắn của Việt Nam, và nay hai
bộ luật ấy không còn ý do gì mà không thể áp dụng cho việc giaỉa quyết các vụ việc ở Nam phàn khi mà vấn đề chính trị , Nam phần không còn là thuộc địa của Pháp nữa;
- Lý do khác, trào lưu tiến hoá trong xã hội Việt Nam đã đẵt người dàn bà vào địa vị ngang hàng với người dàn ông, luật ngày 2/1/1959, điều 43 công nhận cho người đàn bà
có chồng cũng có năng lcự pháp lý đầy đủ; điều 5 Hiến páhp công nhận sự bình đẳng giữa các công dân không phân biệt Nam Nữ theo như đúng tinh thần Hiến chương Liên Hợp Quốc;
Với những lý do chính đáng trên , mà không thể áp dụng luật Gia Long cho thân thế người vợ, và phaỉ công nhận rằng người đàn bà có chồng cũng có quyền có tài sản riêng Tài sản này chỉ tạm thời hợp nhập vào khối tài sản công cộng, nhưng không thể biến thể
để hợp nhất với tài sản của người chồng thuộc quyền sỡ hữu duy nhất của người này
Từ đây một án lệ đã được hình thnàh trong lĩnh vực hôn nhân gia đình ở Việt Nam Như vậy, với các minh chứng trên, có thể khẳng định rằng, trong suốt một thời kỳ dài, Việt Nam đã từng có án lệ và công nhận án lệ là một nguồn của páhp luật Nhưng từ sau năm
1975, đất nước thống nhất, nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, thì án lệ không được xem là một nguồn trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, vì lúc này khẳng định, chỉ có lập páhp mới làm luật, và văn bản quy phạm páhp luật được thừa nhận là nguồn duy nhất của páhp luật Việt Nam
3 Những vấn đề thực tiễn trong việc giải thích pháp luật và công khai các bản án ở Việt Nam hiện nay:
3.1.Giải thích pháp luật và thực trạng giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay:
Nước ta có một hệ thồng pháp luật mà trong đó, chỉ công nhận văn bản quy phạm páhp luật là hình thức duy nhất của pháp luật, do đó, để đảm bảo đưa các quy phạm mang tính