MỞ ĐẦU Quyền sở hữu là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng được pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo vệ. Nó là một trong những tiền đề vật chất cho sự phát triển kinh tế, vì quyền sở hữu chính là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chính mình. Trong các văn bản pháp luật, quyền sở hữu đóng vai trò chủ đạo là cơ sở định hướng và mục đích của nhiều quan hệ pháp luật dân sự khác. Trong số các vụ án tranh chấp về dân sự thì chủ yếu là tranh chấp về tài sản và quyền sở hữu. Trong khi đó việc thừa nhận án lệ là một nguồn của pháp luật chưa được chính thức công nhận thì việc áp dụng những quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật để giải quyết tranh chấp về vấn đề này còn gặp những khó khăn nhất định. Trên cơ sở đó, nhóm chúng em chọn nghiên cứu Tình huống số 1: Quyết định giám đốc thẩm về Vụ án: Tranh chấp quyền sở hữu, sử dụng nhà và đất nhằm hiểu rõ hơn về những vấn đề liên quan đến việc tranh chấp trong vụ án, đồng thời cũng tự có một cách nhìn khách quan về cách giải quyết của Toà án và đưa ra được những hướng giải quyết .
Trang 1MỞ ĐẦU
Quyền sở hữu là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng được pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo vệ Nó là một trong những tiền đề vật chất cho sự phát triển kinh tế, vì quyền sở hữu chính là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chính mình Trong các văn bản pháp luật, quyền sở hữu đóng vai trò chủ đạo là cơ sở định hướng và mục đích của nhiều quan hệ pháp luật dân sự khác Trong số các vụ án tranh chấp về dân sự thì chủ yếu
là tranh chấp về tài sản và quyền sở hữu Trong khi đó việc thừa nhận án lệ là một nguồn của pháp luật chưa được chính thức công nhận thì việc áp dụng những quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật để giải quyết tranh chấp về vấn
đề này còn gặp những khó khăn nhất định Trên cơ sở đó, nhóm chúng em chọn
nghiên cứu Tình huống số 1: Quyết định giám đốc thẩm về Vụ án: Tranh chấp quyền sở hữu, sử dụng nhà và đất nhằm hiểu rõ hơn về những vấn đề liên quan đến
việc tranh chấp trong vụ án, đồng thời cũng tự có một cách nhìn khách quan về cách giải quyết của Toà án và đưa ra được những hướng giải quyết
Trang 2NỘI DUNG
I Tóm tắt vụ án
Họp phiên tòa ngày 22/02/2011 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự giữa:
Nguyên đơn: Ông Lương Văn Hùng (1930); Ông Lương Văn Tệt (1947); Bà
Lương Thị Liễu (1950);
Bị đơn: Ông Lương Kim Lốn (1957)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn Trung (1923); Ông
Lương Văn Ứng (1950); Ông Nguyễn Đổng Tứ (Tư) (1964)
Theo kháng nghị số 693/2010/KN-DS ngày 31/8/2010 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 196/2007/DSPT ngày 04/9/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/11/2005 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lương Văn Hùng, ông Lương Văn Tiệt và bà Lương Thị Liễu thống nhất trình bày: Cha mẹ ông là cụ Lương Văn Cửu (chết năm 1987)
và cụ Nguyễn Thị Mỹ (chết năm 1999) đều không để lại di chúc Cha mẹ ông sinh được 6 anh em là các ông, bà : Lương Văn Hùng, Lương Văn Tệt, Lương Thị Liễu, Lương Văn Ứng, Lương Văn Lốn, Lương Văn Ủ (chết không có vợ con) và ông Lương Văn Trung (con riêng của cụ Mỹ)
Sinh thời, cha mẹ ông để lại 2 căn nhà chính và đất Năm 1988, ông đứng ra phân nhà đất cho các anh em, ông Lốn được sử dụng 01 căn nhà trên diện tích 66m2 đất - là phủ thờ nên không được quyền chuyển nhượng Việc phân chia nhà đất chỉ bằng miệng không được lập thành văn bản
Năm 2001, ông Lốn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế
Trang 3Tại bản án dân sự phúc thẩm số 70/2001/DSPT ngày 26/9/2001, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã quyết định giao cho ông Lốn được quyền sở hữu và sử dụng căn nhà trên diện tích 66m2 đất
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 14/GĐT-DS ngày 30/01/2005 Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định hủy bản án phúc thẩm nêu trên
Ngày 10/6/2005, ông Lốn rút đơn khởi kiện Tại Quyết định số 02/QĐ-ĐC ngày 21/6/2005, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
Ngày 29/6/2005, các ông có đơn kháng cáo Tại Quyết định số 406/2005/DSPT ngày 25/10/2005, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao quyết định không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định sơ thẩm
Ngày 11/11/2001, ông Lốn đã chuyển nhượng toàn bộ nhà đất trên cho ông Nguyễn Đổng Tứ Ông Hùng, ông Tệt và bà Liễu xác định nhà, đất mà ông Lốn được chia là phủ thờ do đó đề nghị Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất
Sau khi bản án dân sự phúc thẩm số 70/DSPT ngày 21/9/2001 có hiệu lực,
cơ quan Thi hành án dân sự huyện đã bàn giao nhà đất cho ông
Ngày 09/11/2001, ông Lốn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân huyện Phước Long cấp giấy
Ngày 11/11/2001, ông chuyển nhượng nhà đất cho ông Nguyễn Đổng Tứ và ông Tứ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, không đồng ý hủy hợp đồng
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn Trung, ông Lương Văn Ứng cho rằng nhà đất của cụ Cử và cụ Mỹ nên đề nghị chia lại thừa kế đối với
di sản của các cụ để lại
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 60/2007/DSST ngày 04/4/2007, Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu quyết định:
Trang 4Bác yêu cầu của các ông bà Lương Văn Hùng, Lương Văn Tệt, Lương Thị Liễu kiện đòi lại nhà gắn liền với quyền sử dụng đất có diện tích 66m2 tại ấp Nội
Ô, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu mà ông Lương Kim Lốn
đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đổng Tứ
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật
Ngày 18/4/2007, ông Lương Văn Hùng kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của ông
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 196/2007/DSPT ngày 04/9/2007, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu quyết định giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 60/2007/ DSST ngày 04/4/2007 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long
Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Lương Văn Tệt và bà Lương Thị Liễu khiếu nại
Tại Quyết định số 693/2010/KN-DS ngày 31/8/2010 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 196/2007/DSPT ngày 04/9/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, với nhận xét:
Phải xem xét 2 yêu cầu của đương sự ( hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và chia lại thừa kế), đồng thời xác định thời hiệu khởi kiện và điều kiện chuyển nhượng nhà đất giữa ông Lốn với ông Tứ để giải quyết vụ án theo thủ tục chung mới đúng
QUYẾT ĐỊNH:
- Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 196/2007/DSPT ngày 04/9/2007 của Tòa
án nhân dân tỉnh Bạc Liêu và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 60/2007/DSST ngày 04/4/2007 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu về vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu, sử dụng nhà và đất” giữa nguyên đơn là các ông bà Lương Văn Hùng, Lương Văn Tệt, Lương Thị Liễu với bị đơn là ông Lương Kim Lốn
Trang 5- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật
II Nội dung vấn đề tranh chấp
1 Vấn đề tranh chấp trong vụ việc
Vấn đề tranh chấp trong bản án đó là “Tranh chấp quyền sở hữu, sử dụng nhà và đất” giữa nguyên đơn là các ông bà Lương Văn Hùng, Lương Văn Tệt, Lương Thị Liễu với bị đơn là ông Lương Kim Lốn
Đối tượng tranh chấp đó là căn nhà cấp 4 trên diện tích 66m2 đất tại ấp Nội
Ô, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu có nguồn gốc của cha
mẹ nguyên đơn và bị đơn Đây vốn là phủ thờ của gia đình Vào năm 1988, ông Lốn được chia sử sụng căn nhà trên nhưng bằng miệng
Năm 2001, ông Lốn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, tại bản án dân sự phúc thẩm số 70/2001/DSPT ngày 26/9/2001, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã quyết định giao cho ông Lốn được quyền sở hữu và sử dụng căn nhà trên diện tích 66m2
đất Sau khi bản án dân sự phúc thẩm số 70/DSPT ngày 21/9/2001 có hiệu lực, cơ quan Thi hành án dân sự huyện đã bàn giao nhà đất cho ông; ông đã đăng ký và ngày 09/11/2001 đã được Ủy ban nhân dân huyện Phước Long cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ngày 11/11/2001, ông chuyển nhượng nhà đất cho ông Nguyễn Đổng Tứ và ông Tứ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Bên nguyên đơn kiện ông Lốn phải hủy việc mua bán nhà đất với ông Tứ Các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn Trung và ông Lương Văn Ứng yêu cầu phải chia lại thừa kế đối với căn nhà
2 Nội dung lý thuyết
Trang 6Bởi vì việc xét xử vụ án tranh chấp khởi kiện quyền thừa kế của ông Lốn được tiến hành vào năm 2001, nghĩa là trước khi Bộ Luật Dân sự 2005 ra đời và hiện tại khi đó Bộ Luật Dân sự 1995 vẫn cong hiệu lực, vì vậy, ta áp dụng các quy định tại Bộ Luật năm 1995 Đồng thời áp dụng những quy định của những pháp lệnh từ ngày 26/09/2001 trở về trước
2.1 Sở hữu chung
Đầu tiên, ta tìm hiểu quy định về Sở hữu chung của vợ chồng, bởi di sản mà ông Cửu và bà Mỹ để lại là sở hữu chung của vợ chồng, điều đó được quy định tại:
“Điều 233 Sở hữu chung của vợ chồng
1- Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất
2- Vợ, chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
3- Vợ chồng cùng bàn bạc, thoả thuận hoặc uỷ quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
4- Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thoả thuận hoặc theo quyết định của Toà án.”
Như vậy, hai căn nhà và mảnh đất của ông Cửu và bà Mỹ sau khi chết để lại khi phân chia thừa kế sẽ được xem là di sản của một người mà phân chia
2.2 Thừa kế
Vì đây là trường hợp thừa kế không có di chúc, bởi vậy di sản sẽ được chia theo pháp luật.:
“Điều 678.
Trang 7Những trường hợp thừa kế theo pháp luật
1- Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;”
Những người được hưởng thừa kế theo pháp luật đó là:
“Điều 679.
Người thừa kế theo pháp luật
1- Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con
đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột
2- Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau
3- Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng thừa kế hoặc từ chối nhận di sản.”
Vì vậy, các ông/ bà: Lương Văn Hùng, Lương Văn Tệt, Lương Thị Liễu, Lương Văn Ứng, Lương Văn Lốn, và ông Lương Văn Trung (con riêng của cụ Mỹ) là cùng hàng thừa kế và sẽ được hưởng thừa kế như nhau
Nhưng, ông Cửu mất năm 1987, còn bà Mỹ mất năm 1999, theo:
"Khoản 2, Điều 2, Luật Hôn nhân và gia đình 2000:
Trang 82 Khi vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.”
Vậy nên, từ năm 1987 đến năm 1999 – trước khi bà Mỹ chết, bà vẫn là người quản
lý tài sản chung hợp pháp, vì vậy, việc anh em ông Lốn tự phân chia tài sản năm
1988 mà không có ý chí của mẹ là không hợp pháp
Mặt khác, nếu bà Mỹ có đồng ý cho anh em phân chia thì:
Theo khoản 1, Điều 35: Phân chia di sản, Pháp lệnh về Thừa kế năm 1990:
1 Trong trường hợp những người thừa kế theo pháp luật không thỏa thuận được với nhau về phân chia di sản thì những người thừa kế cùng hàng được chia phần di sản ngang nhau”
Nghĩa là luật có ưu tiên cho sự thỏa việc phân chia di sản của các đồng thừa
kế nhưng không hề đề cập đến hình thức hợp pháp của sự thỏa thuận ấy như thế nào Trong trường hợp của bản án, anh em ông Lốn đã thỏa thuận bằng miệng và
sự thỏa thuận này không có căn cứ có được xem là hợp pháp hay không
2.3 Di sản thờ cúng
Trong bản án, nguyên đơn ông Lương Văn Hùng, ông Lương Văn Tiệt và bà Lương Thị Liễu thống nhất trình bày: “nhà của ông Lốn được chia là phủ thờ nên không được quyền chuyển nhượng”
Tuy nhiên, trước khi có Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 thì trong các văn bản pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không có một văn bản chính thức nào đề cập tới vấn đề thờ cúng và di sản dùng vào việc thờ cúng
Trang 9Trong Thông tư số 81của Tòa án nhân dân tối cao chỉ có một quy định về
“Nhà thờ họ”:
“- Nhà thờ có từ lâu đời hoặc do các thành viên trong họ đóng góp công sức và tiền của xây dựng nên là tài sản thuộc quyền sở hữu chung của những người trong họ nếu có tranh chấp giải quyết theo nguyện vọng chung của các thành viên trong họ;
- Nhà thờ do người trưởng họ bỏ tiền ra xây dựng rồi cho họ mượn làm nơi thờ cúng hoặc nhà của người trưởng họ được dành ra một phần diện tích để làm nơi thờ cúng vẫn thuộc quyền sở hữu của người trưởng họ Nếu người trưởng họ chết, thì nhà này là di sản thừa kế”
Quy định trên dường như chỉ mang ý nghĩa trong việc hướng dẫn về đường lối xét xử loại tài sản là nhà thờ họ chứ không phải là đưa ra một khái niệm về di sản thờ cúng
Điều 21 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 quy định di sản dùng vào việc thờ cúng
như sau: "Nếu người lập di chúc có để di sản dùng vào việc thờ cúng thì di sản đó được coi như di sản chưa chia Khi việc thờ cúng không được thực hiện theo di chúc thì những người thừa kế của người để lại di sản dùng vào việc thờ cúng có quyền hưởng di sản đó Nếu những người thừa kế đó đều đã chết, thì di sản thuộc
về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thừa kế theo pháp luật quy định tại Điều 25 và Điều 26 Pháp lệnh này"
Phân tích điều luật trên cho ta thấy: Nhà làm luật đã không tách biệt giữa di sản thừa kế và di sản dùng vào việc thờ cúng Điều này thể hiện rất rõ ở chỗ người
để thừa kế có thể để toàn bộ di sản của mình dùng vào việc thờ cúng mà không chia cho bất kỳ người thừa kế nào Trong trường hợp có người thừa kế không phụ thuộc vào di chúc thì việc tính kỷ phần của người này sẽ phải đem di sản thờ cúng
ra chia Về bản chất pháp lý thì di sản dùng vào việc thờ cúng lại được coi là di sản
Trang 10chưa chia nên di sản thờ cúng hay di sản thừa kế chỉ là một, lúc nào nó cũng trong tình trạng chờ được chia
Áp dụng vào trong trường hợp của ông Lố, dù căn nhà của ông có là phủ thờ
đi chăng nữa thì vẫn được xem là di sản thừa kế và có quyền được chia
2.4 Hợp đồng mua bán nhà
Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Lốn đã bán nhà cho ông Tứ và giao dịch này bị kiện Ta xét đến tính hợp pháp của giao dịch
“Điều 443.
Hình thức hợp đồng mua bán nhà ở
Hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền
Điều 444.
Thủ tục mua bán nhà ở
Các bên phải đăng ký trước bạ sang tên nhà ở tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu
Điều 447.
Nghĩa vụ của bên bán nhà ở
Bên bán nhà ở có các nghĩa vụ sau đây:
1- Thông báo cho bên mua về các hạn chế quyền sở hữu đối với nhà mua bán, nếu có;
2- Bảo quản nhà ở đã bán trong thời gian chưa giao nhà ở cho bên mua;
Trang 113- Giao nhà ở đúng tình trạng đã ghi trong hợp đồng kèm theo hồ sơ về nhà cho bên mua;
4- Thực hiện đúng các thủ tục mua bán nhà ở theo quy định tại Điều 444 của Bộ luật này;
5- Nộp thuế theo quy định của pháp luật
Điều 448.
Quyền của bên bán nhà ở
Bên bán nhà ở có các quyền sau đây:
1- Yêu cầu bên mua nhận nhà đúng thời hạn đã thoả thuận;
2- Yêu cầu bên mua trả tiền đúng thời hạn theo phương thức đã thoả thuận;
3- Yêu cầu bên mua hoàn thành các thủ tục mua bán nhà ở trong thời hạn thoả thuận;
4- Không giao nhà khi chưa nhận đủ tiền nhà như đã thoả thuận
Điều 449.
Nghĩa vụ của bên mua nhà ở
Bên mua nhà ở có các nghĩa vụ sau đây:
1- Trả đủ tiền mua nhà đúng thời hạn, theo phương thức đã thoả thuận; nếu hợp đồng không quy định thời hạn và địa điểm trả tiền, thì bên mua phải trả vào thời điểm bên bán giao nhà và tại nơi có nhà đem bán;
2- Nhận nhà đúng thời hạn đã thoả thuận;
3- Trong trường hợp mua nhà đang cho thuê, thì phải bảo đảm quyền, lợi ích của người thuê như thoả thuận trong hợp đồng thuê khi thời hạn thuê còn hiệu lực;