1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Quyết định giám đốc về kinh doanh thương mại

49 609 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyết định Giám Đốc Về Kinh Doanh Thương Mại
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh Doanh
Thể loại Quyết định
Năm xuất bản 2002
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 245 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyết định giám đốc về kinh doanh thương mại

Trang 2

Ngời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1 Ngân hàng Thơng mại cổ phần Sài Gòn công thơng, có trụ sở tại số 18 - 19 - 20 Tôn Đức Thắng,

đóng trong bao HDPE đợc vận chuyển từ cảng Bom Bay (ấn Độ) về cảng thành phố Hồ Chí Minhvới số lợng 12.500 MT  5%, trị giá CIF của lô hàng + 10% là 3.486.656,6USD Điều kiện bảohiểm theo INSTITUTE CARGO CLAUSES (A) 1.1.82 của Hội bảo hiểm Luân Đôn, trách nhiệmbảo hiểm đợc chấm dứt khi hàng đợc dỡ khỏi lan can tàu biển tại cảng đến

Do ký hợp đồng mua lô hàng bột mỳ với BANFUS FOUNDATION -LTD (sau đây viết tắt làBFL) nên ngày 22- 11- l995 SADACO đã ký hợp đồng số 06/95-HĐĐLVT với Công ty trách nhiệmhữu hạn đại lý và dịch vụ vận tải Sài Gòn (sau đây viết tắt là TRANCOSI) để thuê Công ty này vậnchuyển lô hàng về Việt Nam Ngày 15-02-1996, SADACO và TRANCOSI ký tiếp phụ lục hợp

đồng, trong đó xác định hiệu lực của hợp đồng vận chuyển trên đợc kết thúc khi tàu Romashka (tàuchở lô hàng bột mỳ) dỡ hàng xong tại cảng thành phố Hồ Chí Minh; SADACO phải chuyển trớc 1/3tiền cớc là 100.000 USD để chủ tàu thanh toán các chi phí trớc khi tàu rời cảng Bom Bay (Số tiềnnày là nằm ngoài hợp đồng vận chuyển, lý do chuyển trớc là do tàu neo đậu quá lâu tại cảng BomBay) Để thanh toán tiền mua hàng cho BFL, theo yêu cầu của SADACO ngày 17-02-1996 Sài GònBank đã mở L/C (tín dụng th) không huỷ ngang với trị giá 1.755.480 USD

Theo thông báo của SADACO về tên tàu, trọng lợng hàng, vận đơn , ngày 01-03-1996 BảoMinh cấp tiếp Giấy sửa đổi bổ sung số BO 106/96 AAH với nội dung chủ yếu sau: Trọng lợng cả bì là9.125,706 tấn; trị giá hàng đợc bảo hiểm là 24.764.441.994 đồng Việt Nam (CIF + 10%); tổng phíbảo hiểm là 284.791.000 đồng gồm phí bảo hiểm hàng hoá 173.351.000 đồng do SADACO nộp vàphụ phí bảo hiểm tàu là 111.434.000 đồng do TRANCOSI nộp Các điều khoản khác của Giấy chứngnhận bảo hiểm số A1164/95 AAH không thay đổi Theo yêu cầu của SADACO tại công văn số

194/CV ngày 04-03-1996, ngày 04-03-1996 Ngân hàng thơng mại cổ phần Sài Gòn công thơng (sau

đây viết tắt là Sài Gòn Bank - Ngân hàng mở L/C để SADACO thanh toán tiền hàng) có văn bản xác

định trách nhiệm bảo hiểm lô hàng bột mỳ 9.125,706 tấn của SADACO với trị giá bảo hiểm CIF +10% là 2.243.969,01 USD và cam kết: ''Nếu lô hàng bị tổn thất toàn bộ hoặc tàu chở hàng bị mất tích,khi ngời đợc bảo hiểm hội đủ các chứng từ liên quan gồm cả bản chính vận đơn thì trách nhiệm nàythuộc ngời bảo hiểm bồi thờng và Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh thanh toán tiền bồi thờng

u tiên pháp định thứ nhất, nếu có, cho Sài Gòn Bank đền số tiền mà Sài gòn Bank đã cho Công tySADACO vay, cộng tiền lãi do Sài Gòn Bank xác định bằng văn bản''

Theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trên, SADACO và TRANCOSI đã nộp phí bảo hiểm Ngày08-03-1996 SADACO đã vay 100.000 USD của Sài Gòn Bank và chuyển cho TRANCOSI Vềthanh toán tiền hàng, ngày 06-03-1996, Ngân hàng RAJAS THAN LTD (ấn Độ - Ngân hàng thôngbáo) đã cnuyển L/C do Sài Gòn Bank mở cho Ngân hàng STANDARD CHATTERED (sau đây viếttắt là SCB - ngân hàng xác nhận và chiết khấu) Qua trao đổi giữa các ngân hàng, ngày 14-03-1996

Trang 3

SCB đã chiết khấu chứng từ và chuyển cho BFL số tiền 1.742.246,4 USD (tơng đơng 58 triệu RuPi), đồng thời phát hành hối phiếu số CBN 852/965953 trị giá là 1.742.246,4 USD kèm theo bộchứng từ gửi đến Sài Gòn Bank yêu cầu thanh toán theo hối phiếu Do bộ chứng từ thanh toán có 3

điểm bất hợp lệ (hối phiếu ký phát sai ngời trả tiền; vận đơn ghi không đúng với L/C; giấy chứngnhận kiểm định thực vật không ghi ngày phát hành) nên SADACO và Sài Gòn Bank đã từ chốithanh toán Sau nhiều lần thơng lợng về sửa đổi các điểm bất hợp lệ không thành, ngày 30-05-l996,SCB yêu cầu Sài Gòn Bank chuyển lại bộ chứng từ Ngày 31 -05- 1996 Sài Gòn Bank đã chuyển bộchứng từ nêu trên cho SCB

Sau sự việc trên, ngày 05-06-1996, SADACO có công văn số 598/CV gửi TRANCOSI thôngbáo huỷ hợp đồng vận chuyển, xác nhận không còn là chủ sở hữu lô hàng đã xếp trên tàuRomashka Ngày 06-06-1996 TRANCOSI có công văn số 64/CV gửi SADACO với nội dung: xácnhận quan hệ vận tải về thuê tàu của SADACO buộc phải chấm dứt, đồng thời cho rằng số tiền cớc100.000 USD do SADACO đã thanh toán sẽ do các bên liên quan về quyền và nghĩa vụ bàn bạc giảiquyết trong quá trình thanh lý để chấm dứt hiệu lực của hợp đồng thuê tàu Trong thời gian các bên1iên quan tiếp tục thơng lợng thì ngày 23-07-1996, sau khi gặp bão, tàu Romashka bị mắc cạn vàchìm tại vùng biển Bom Bay (ấn Độ) dẫn đến lô hàng bột mỳ xếp trên tàu bị tổn thất toàn bộ Ngày31-07-1996, SADACO có Công văn số 747/TB thông báo sự kiện trên cho Bảo Minh Ngày 03-08-

1996, Bảo Minh có công văn số 741/HH96 gửi SADACO, từ chối bồi thờng tổn thất với lý doSADACO không còn là chủ sở hữu lô hàng bột mỳ xếp trên tàu Romashka và hợp đồng bảo hiểmgiữa hai bên đã mặc nhiên chấm dứt theo Điều 48 Luật bảo hiểm Anh năm 1906

Ngày 19091996, SADACO gửi công văn số 891/KNBTSDC yêu cầu Bảo Minh phải bồi th ờng tổn thất của lô hàng theo quy định về bảo hiểm.Ngày 01-10- l996, Bảo Minh có công văn số608/BT 96 từ chối trách nhiệm bảo hiểm đối với lô hàng với lý do SADACO không còn là chủ sởhữu lô hàng

-Do không tự giải quyết đợc tranh chấp trên, nên ngày 22-02-1997, SADACO có đơn khởi kiệntại Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh với yêu cầu buộc Bảo Minh phải bồi thờng tổn thấttoàn bộ lô hàng bột mỳ là 24.776.441.994 đồng Việt Nam Tại các phiên toà sơ thẩm ngày 01-10-

1999 và ngày 26-10-1999, SADACO yêu cầu Bảo Minh phải bồi thờng tổn thất lô hàng trên là

2.246.338,31 USD

Tại Bản án kinh tế sơ thẩm số 36/KTST ngày 26-10-1999, Toà án nhân dân thành phố Hồ ChíMinh đã quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu của SADACO, buộc Bảo Minh phải bồi th ờngcho SADACO số tiền là 22.554.820.497 đồng, ngoài ra còn quyết định về mức án phí kinh tế sơthẩm và quyền kháng cáo của các đơng sự theo quy định của pháp luật

Ngày 01-11-1999, Bảo Minh có đơn kháng cáo với nội dung: Toà án cấp sơ thẩm áp dụng Quy

tắc chung 1990 (A) (Ban hành kèm theo Quyết định số 305/TC/BH ngày 09-08-l990 của Bộ Tàichính) để giải quyết vụ án là không phù hợp với thoả thuận của các bên theo hợp đồng bảo hiểm và

từ chối trách nhiệm bảo hiểm với lý do SADACO không bị tổn thất và nếu có thì phải chứng minh

đợc ở thời điểm xảy ra tổn thất họ phải có quyền lợi trên đối t ợng bảo hiểm; Hợp đồng bảo hiểm đãhết hiệu lực; hàng hoá bị tổn thất tự nhiên và do chậm trễ trong vận chuyển; chủ tàu thiếu thốn vềkhả năng tài chính; và có hành vi xấu của ngời đợc bảo hiểm

Ngày 05-11-1999, SADACO có đơn kháng cáo với yêu cầu đợc tính số tiền bồi thờng theo tỷ

giá USD/ĐVN tại thời điểm xét xử sơ thẩm

Trang 4

Tại Bản án kinh tế phúc thẩm số 20/PTKT ngày 11-07-2001 , Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Giữ nguyên Bản án kinh tế sơ thẩm nêu trên của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và buộc SADACO, BảO MINH phải chịu án phí kinh tế phúc thẩm.

Sau khi vụ án đợc xét xử phúc thẩm, Bảo Minh có đơn khiếu nại giám đốc thẩm đối với Bản án kinh tế phúc thẩm nêu trên.

Tại Bản kháng nghị số 03/2002/TK-KT ngày 05-4-2002, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đãkháng nghị Bản án kinh tế phúc thẩm số 20/PTKT ngày 11-07-2001 của Toà phúc thẩm Toà ánnhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh với các lý do:

– Về quyền sở hữu lô hàng của SADACO: Việc Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩmcăn cứ Công văn số 598/CV ngày 05-06-l996 của SADACO và Công văn số 64/CV ngày 06-06-

1996 của TRANCOSI về việc chấm dứt hợp đồng vận chuyển để đa TRANCOSI vào tham gia trong

vụ án này là đúng, nhng cha làm rõ trách nhiệm của TRANCOSI sau khi đã chấm dứt hợp đồng vậnchuyển với SADACO nh: Có thông báo cho BFL biết việc chấm dứt hợp đồng vận chuyển? Nếu cóthì BFL có ý kiến nh thế nào?

– Về việc SADACO từ chối thanh toán tiền hàng do bộ chứng từ có những sai sót: Theo vănbản ngày 24-08-1998 của SCB và văn bản ngày 25-10- 1999 của Luật s đại diện cho SCB thì giữaSCB và BFL, COMODITIES ECHENGE CORPRATION LIMITED (Sau đây viết tắt là CECL - bênthụ hởng của bên BFL) đã có thoả thuận về việc giao lại bộ chứng từ thanh toán và nhận lại số tiền

đã chiết khấu SCB đã giao bộ chứng từ nhng mới nhận đợc 14.000.000 Ru Pi từ BFL và CECL Khigiải quyết tranh chấp hợp đồng bảo hiểm hàng hoá, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩmkhông đa BFL và SCB vào tham gia tố tụng với t cách là ngời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quannên đã không làm rõ đợc các nội dung:

+ Vì sao BFL đã giao hàng, CECL đã nhận tiền bán hàng, nay lại thoả thuận trả lại tiền bánhàng để nhận bộ chứng từ thanh toán?

+ Cha xác minh đợc những nội dung nêu trong văn bản ngày 24-08-1998 và văn bản ngày 10-1999 của SCB để từ đó làm rõ BFL đã chấp nhận lấy lại hàng, chấm dứt hợp đồng mua bán vớiSADACO

25-+ Vì sao SADACO lại có công văn số 598/CV ngày 05-06-1996 từ chối không còn là chủ sởhữu lô hàng đã xếp lên tàu?

+ Vì sao ngày 11-10-1996 SADACO lại có thoả thuận với CECL nhận lại bộ vận đơn đ ờngbiển bản chính để khởi kiện yêu cầu Bảo Minh phải bồi thờng thiệt hại do lô hàng bị tổn thất?– Về tổn thất, mất mát và tranh chấp của SADACO theo hợp đồng mua bán đã ký với BFL thìcha có căn cứ nào chứng minh SADACO đã phải chịu tổn thất, mất mát hay tranh chấp với BFL vềhợp đồng mua bán bột mỳ, cũng nh tranh chấp về thanh toán tiền hàng với BFL trong khi tổn thất

đã xảy ra từ tháng 7-1996

Bản Kháng nghị còn cho rằng nếu có căn cứ xác định SADACO là chủ sở hữu lô hàng thì phảixem xét các điều kiện Bảo Minh đợc miễn, giảm trách nhiệm bảo hiểm theo Điều khoản bảo hiểm màSADACO và Bảo Minh đã thoả thuận nếu SADACO là bên có lỗi

Từ các lý do trên, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhândân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tuyên huỷ Bản án kinh tế sơ thẩm số 36/KTST ngày26-10-1999 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Bản án kinh tế phúc thẩm số 20/PTKT

Trang 5

ngày 11-07-2001 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, giao hồsơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung có sựtham gia của SCB và BFL với t cách là ngời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Tại Kết luận số 12/KL-AKT ngày 30-05-2002, Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã nhấttrí với kháng nghị nêu trên của Chánh án Toà án nhân dân tối cao

XéT THấY

Để xem xét trách nhiệm bảo hiểm của Bảo Minh đối với lô hàng bột mỳ bị tổn thất toàn bộ,cần xác định đợc tại thời điểm xảy ra tổn thất ai là ngời có quyền lợi trên đối tợng bảo hiểm Theocác tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì đối tợng của hợp đồng bảo hiểm đợc ký kết giữa Bảo Minh vớiSADACO đợc hình thành từ hợp đồng mua bán hàng hoá ký giữa BFL với SADACO, tiền hàng đợcthanh toán theo L/C (tín dụng th) không huỷ ngang thông qua Sài Gòn Bank (Ngân hàng mở L/C)

và SCB (Ngân hàng xác nhận) SCB đã chiết khấu hối phiếu (trả tiền hàng) cho BFL và nhận bộchứng từ, đồng thời đã chuyển bộ chứng từ đã chiết khấu cho Sài Gòn Bank để yêu cầu thanh toán,nhng Sài Gòn Bank đã phát hiện thấy bộ chứng từ đó có nhiều sai sót, có sai sót rất nghiêm trọngnên chủ động lấy ý kiến của SADACO - là ngời mua hàng SADACO đã trả lời bằng văn bản choSài Gòn Bank với nội dung không chấp nhận bộ chứng từ (không thanh toán) Sau thời gian thơng l-ợng giữa hai ngân hàng trên không thành, Sài Gòn Bank đã trả lại bộ chứng từ trên cho SCB và đợcSCB chấp nhận Vào thời điểm tàu Romashka bị chìm thì SCB đang nắm giữ bộ chứng từ đã chiếtkhấu Theo thông lệ quốc tế thì ngời nắm giữ bộ vận đơn là ngời có quyền định đoạt lô hàng Hơnnữa, SADACO không những chỉ từ chối thanh toán bộ chứng từ mà còn có Công văn số 598/CV ngày05-06-1996 gửi TRANCOSI (chủ tàu) thông báo không còn là chủ sở hữu lô hàng xếp trên tàuRomashka và yêu cầu TRANCOSI chấm dứt hợp đồng vận chuyển TRANCOSI cũng đã có Công văn

số 64/CV ngày 06-06-1996 gửi SADACO đồng ý chấm dứt hợp đồng vận chuyển

Nh vậy, vào thời điểm tàu Romashka bị chìm, SADACO hay SCB là ngời có quyền lợi trên đốitợng bảo hiểm Toà án các cấp chỉ căn cứ vào việc SADACO là chủ hàng, lại mua bảo hiểm lô hàngtheo điều kiện bảo hiểm đã thoả thuận với Bảo Minh để xác định SADACO là ng ời có quyền lợitrên đối tợng bảo hiểm là cha thoả đáng, cần phải đợc xác minh làm rõ hơn vấn đề này

Theo Điều 213 Bộ luật Hàng hải Việt Nam thì ''các quyền theo hợp đồng bảo hiểm hàng hảichỉ đợc chuyển cho ngời đã đợc chuyển nhợng đối tợng bảo hiểm; nếu các quyền đó không đợcchuyển cho ngời đợc chuyển nhợng đối tợng bảo hiểm, thì hợp đồng mặc nhiên chấm dứt và ngờibảo hiểm vẫn có nghĩa vụ bồi thờng các tổn thất liên quan, xảy ra trớc khi đối tợng bảo hiểm đợcchuyển nhợng'' Trong vụ án cụ thể này SCB đã chiết khấu trả tiền hàng và đã nắm giữ bộ chứng từ

có giá trị chuyển nhợng sau khi SADACO và Sài Gòn Bank từ chối thanh toán Theo thông lệ quốc

tế thì SCB có toàn quyền đợc định đoạt lô hàng bột mỳ nêu trên và thực tế, SCB, sau khi nhận lại bộchứng từ, đã thơng lợng với BFL bằng một hợp đồng, theo đó BFL nhận lại bộ chứng từ sau khi SCB

đã ký hậu ô trống để chuyển nhợng và BFL đã trả lại cho SCB đợc 14 triệu/58 triệu Ru Pi mà SCB

đã chiết khấu cho BFL Vậy trong trờng hợp này, đối tợng bảo hiểm (lô hàng bột mỳ và cũng là bộ

vận đơn) đã đợc chuyển từ SADACO cho SCB và từ SCB cho BFL có phải là đối tợng bảo hiểm đã

đợc chuyển nhợng hay không? Nội dung này cha đợc Toà án các cấp làm rõ Mặt khác, cần làm rõ

Trang 6

việc tại sao BFL đã nắm giữ bộ vận đơn gốc, tức là chủ của lô hàng lại không kiện Bảo Minh để đòibồi thờng? lý do có phải là vì BFL không đợc SADACO chuyển giao quyền bảo hiểm nên phải nhờ

đến SADACO?

Trong quan hệ mua bán, thanh toán bằng tín dụng th (L/C) thì ngời mua hàng chỉ có bộ vận

đơn sau khi đã thanh toán tiền mua hàng SADACO đã từ chối thanh toán nên bộ chứng từ đã đợctrả lại cho SCB, SCB đã chuyển cho BFL nhng nay SADACO lại có bộ chứng từ gốc để với t cách làngời định đoạt (sở hữu) lô hàng (mà trớc đây đã từ chối t cách chủ sở hữu ngay từ khi lô hàng cha bịtổn thất toàn bộ do tàu Romashka bị chìm) kiện Bảo Minh yêu cầu bồi thờng tổn thất Vậy việcSADACO có đợc bộ chứng từ đó có phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc

tế hay không? Tại nhiều văn bản, Bảo MINH cho rằng đã có sự móc ngoặc giữa SADACO và BFL

để làm thiệt hại cho Bảo Minh Tất cả những nội dung trên cha đợc Toà án các cấp làm rõ

Với các lý do nh đã phân tích ở trên, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thấy cầnphải huỷ Bản án kinh tế sơ thẩm số 36/KTST ngày 26-10- 1999 của Toà án nhân dân thành phố HồChí Minh và Bản án kinh tế phúc thẩm số 20/PTKT ngày 11-07-2001 của Toà phúc thẩm Toà ánnhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố HồChí Minh điều tra, giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung Trong quá trình điều tra, xác minh cầnxác định rõ t cách tham gia tố tụng của BFL, SCB theo quy định của pháp luật, bảo đảm việc giảiquyết vụ án đúng pháp luật

Bởi các lẽ nêu trên và căn cứ vào khoản 3 Điều 80 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinhtế,

Quyết định

Huỷ Bản án kinh tế sơ thẩm số 36/KTST ngày 26-10-1999 của Toà án nhân dân thành phố HồChí Minh và Bản án kinh tế phúc thẩm số 20/PTKT ngày 11-07-2001 của Toà phúc thẩm Toà ánnhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố HồChí Minh giải quyết lại vụ án theo đúng qui định của pháp luật

Một số lý do cơ bản mà các Bản án sơ thẩm và phúc thẩm bị huỷ:

1 Cơ sở pháp lý để xác định ngời có quyền lợi trên đối tợng đợc bảo hiểm là cha thoả đáng;

2 Xác định việc chuyển đối tợng đợc bảo hiểm cha rõ ràng;

3 Xác định cơ sở pháp lý để SADACO có đợc bộ chứng từ là cần đợc làm rõ

Quyết định số 02/2002/HĐTP-KT Ngày 26-12-2002 Về vụ ántranh chấp hợp đồng cho thuê tài chínhhội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Tại phiên toà ngày 26 - 12 - 2002 xét xử giám đốc thẩm vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồngcho thuê tài chính giữa các đơng sự:

Nguyên đơn: Công ty cho thuê tài chính KEXIM Việt Nam, có trụ sở tại tầng 9, Toà nhà

DIAMOND PLAZA, số 34 Lê Duẩn, quận I, thành phố Hồ Chí Minh;

44

Trang 7

Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn thơng mại Chí Đạt, có trụ sở tại số 394 Trần Hng Đạo B,

quận 5, thành phố Hồ Chí Minh

Ngời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1- Công ty dịch vụ du lịch Phú Thọ, có trụ sở tại số 2/15 c xá Lữ Gia, quận 11, thành phố HồChí Minh

2- Ông Trơng Quốc Huê, thờng trú tại 394 Trần Hng Đạo B, quận 5 thành phố Hồ Chí Minh.3- Ông Trơng Chí Đạt, thờng trú tại số 394 Trần Hng Đạo B, quận 5 thành phố Hồ Chí Minh

Nhận thấy

Ngày 16-02-1998, Công ty cho thuê tài chính KEXIM Việt Nam (sau đây viết tắt là Công tyKEXIM- bên cho thuê) và Công ty trách nhiệm hữu hạn thơng mại Chí Đạt (sau đây viết tắt làCông ty Chí Đạt- bên thuê) đã ký hai hợp đồng cho thuê tài chính với nội dung nh sau:

– Hợp đồng số K97006:

+ Tài sản cho thuê: Hệ thống thiết bị chơi Bowling hoàn chỉnh và hệ thống máy phát điện củaTrung tâm Bowling Đầm Sen

+ Tổng giá trị tài sản cho thuê: 1.584.000 USD và 2.000.000.000 đồng Việt Nam

+ Thời hạn thuê: 36 tháng, với mức phí thuê là 51.494,23 USD/tháng đối với khoản tiền USD

và 71.468.900 đồng/tháng đối với khoản tiền Việt Nam đồng

– Hợp đồng số K98002:

+ Tài sản cho thuê: Hệ thống máy điều hoà nhiệt độ của Trung tâm Bowling Đầm Sen

+ Giá trị tài sản thuê: 405.100 USD

+ Thời hạn thuê: 36 tháng với mức phí thuê là 13.169,39 USD/tháng

Bên thuê phải thanh toán tiền thuê tài sản hàng tháng theo từng hợp đồng Quyền sở hữu tài sản chothuê thuộc về bên cho thuê và chỉ đợc chuyển cho bên thuê khi bên thuê thanh toán toàn bộ các khoản tiềnthuê, lãi suất, các khoản phải thanh toán khác quy định trong hợp đồng và thanh toán hết giá trị còn lại củatài sản cho thuê

Để bảo đảm thực hiện hai hợp đồng cho thuê tài chính trên, Công ty Chí Đạt phải nộp tiền bảochứng bằng 10% của tổng chi phí mua tài sản cho thuê, có thế chấp toà nhà Trung tâm Bowling

Đầm Sen, đồng thời có th bảo lãnh của ông Trơng Quốc Huê và ông Trơng Chí Đạt Kèm theo haihợp đồng này là các điều khoản và điều kiện chung quy định chi tiết việc thực hiện hợp đồng.Thực hiện hai hợp đồng cho thuê tài chính nêu trên, ngày 18-02-1998, ông Trơng Quốc Huê và

ông Trơng Chí Đạt đã ký các giấy cam kết bảo lãnh cho hệ thống thiết bị Bowling và hệ thống điềuhoà nhiệt độ nhằm bảo đảm việc thanh toán nợ theo hai hợp đồng của Công ty Chí Đạt Các giấycam kết bảo lãnh trên đều không ghi giá trị tài sản cụ thể để bảo lãnh và không đợc xác nhận của cơquan công chứng Nhà nớc Ngày 24-02-1998, Công ty dịch vụ du lịch Phú Thọ (sau đây viết tắt làCông ty Phú Thọ) ký văn bản cam kết sẽ thế chấp Toà nhà Trung tâm Bowling Đầm Sen cho Công

ty KEXIM sau khi hoàn tất việc xây dựng Công ty Chí Đạt đã nộp tiền bảo chứng 10% tơng đơng208.200,84 USD trong đó cho hợp đồng số K97006 là 1.378.711.000 đồng Việt Nam và 69.000USD; cho hợp đồng số K98002 là 216.674.000 đồng Việt Nam và 25.000 USD

Về việc bàn giao và lắp đặt các hệ thống thiết bị: Ngày 20-02-1998 Công ty KEXIM, Công tyPhú Thọ và Công ty Chí Đạt có ký biên bản cam kết với nội dung: Công ty Phú Thọ nhập khẩu thiết

Trang 8

bị Bowling, việc thanh toán tiền hàng và chi phí liên quan do Công ty KEXIM chịu trách nhiệm,quyền sở hữu tài sản vẫn thuộc Công ty KEXIM Ngày 21-02-1998, Công ty Phú Thọ đã ký hợp

đồng nhập khẩu uỷ thác số K97006 với Công ty thuỷ sản Chiến Thắng để Công ty này nhập khẩu hệthống thiết bị Bowling Sau khi hệ thống thiết bị trên đợc nhập khẩu vào Việt Nam, ông Trơng ChíTrọng - Phó giám đốc Trung tâm Bowling Đầm Sen (do Giám đốc Công ty Phú Thọ bổ nhiệm) đãnhận, Công ty Phú Thọ tổ chức lắp đặt thiết bị tại Trung tâm Bowling Đầm Sen

Về hệ thống máy điều hoà nhiệt độ và máy phát điện: Thông qua các hợp đồng nhập khẩu uỷthác ký với Công ty du lịch Bình Dơng và Công ty thông tin điện tử 7, Công ty KEXIM đã nhậpkhẩu, bàn giao và đợc Công ty Phú Thọ tổ chức lắp đặt tại Trung tâm Bowling Đầm Sen Sau khihoàn tất việc lắp đặt các hệ thống thiết bị nêu trên, các bên liên quan đến hai hợp đồng cho thuê tàichính thoả thuận ngày 27-02-1999 là ngày bắt đầu thuê, Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công

ty Chí Đạt đã thanh toán cho Công ty KEXIM tổng số tiền thuê là 834.520.000 đồng Việt Nam (t

-ơng đ-ơng 59.925,675 USD) Số tiền trên thực chất là do Trung tâm Bowling Đầm Sen - Đơn vị trựcthuộc Công ty Phú Thọ thanh toán, trong đó khoản 368.000.000 đồng Công ty Phú Thọ cho Trungtâm vay, số còn lại lấy từ hoạt động kinh doanh của Trung tâm

Do Công ty Chí Đạt không thanh toán tiếp tiền thuê nên ngày 18-08-1999 Công ty KEXIM có

đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh với yêu cầu buộc Công ty Chí Đạt phảithanh toán tổng số tiền là 2.740.266,93 USD, gồm giá trị tài sản thuê (có lãi) là 2.576.135,27 USD

và tiền phạt do vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 164.131,66 USD, đồng thời buộc Công ty Phú Thọ,

ông Trơng Chí Đạt và ông Trơng Quốc Huê phải chịu trách nhiệm do đã thế chấp, bảo lãnh

Tại Bản án kinh tế sơ thẩm số 114/KTST ngày 22-5-2000, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

1- Hợp đồng cho thuê tài chính số K97006 và số K98002 ký ngày 16-02-1998 giữa Công ty KEXIM với Công ty Chí Đạt bị vô hiệu toàn bộ Các bên phải chấm dứt ngay việc tiếp tục thực hiện hợp đồng.

2- Việc xử lý tài sản đối với hợp đồng bị vô hiệu toàn bộ nh sau:

a- Công ty Chí Đạt phải hoàn trả lại cho Công ty KEXIM các hệ thống: Thiết bị chơi Bowling, máy phát điện, máy điều hoà nhiệt độ đang lắp đặt tại Trung tâm Bowling Đầm Sen.

b- Công ty KEXIM phải hoàn trả lại cho Công ty Chí Đạt số tiền là 1.595.385.700 đồng Việt Nam và 94.000 USD.

c- Công ty Phú Thọ phải bàn giao các hệ thống thiết bị nêu trên cho Công ty Chí Đạt để hoàn trả lại cho Công ty KEXIM

d- Bác yêu cầu của Công ty KEXIM về trách nhiệm bảo lãnh đối với hai hợp đồng số K97006

và số K98002 của Công ty Phú Thọ, của ông Trơng Quốc Huê và của ông Trơng Chí Đạt.

3- Tranh chấp về tài sản và phân chia lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh tại Trung tâm Bowling Đầm Sen giữa Công ty Chí Đạt, Công ty Phú Thọ và Công ty KEXIM đợc giải quyết bằng một vụ kiện khác.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về mức án phí kinh tế sơ thẩm Công ty Chí Đạt vàCông ty KEXIM phải nộp và quyền kháng cáo của đơng sự theo quy định của pháp luật

Ngày 30-05-2002, Công ty KEXIM có đơn kháng cáo đối với Bản án kinh tế sơ thẩm nêu trên

Trang 9

Tại Bản án kinh tế phúc thẩm số 59/KTPT ngày 16-10-2000, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Sửa Bản án sơ thẩm, và xử:

1- Công nhận các hợp đồng số K97006 và số K98002 ký ngày 16-02-1998 giữa Công ty KEXIM và Công ty Chí Đạt là các hợp đồng có hiệu lực pháp luật.

– Công ty KEXIM đợc chấm dứt hợp đồng thuê số K97006 và số K98002 đã ký với Công ty

Chí Đạt ngày 16-02-1998 trớc khi kết thúc thời hạn cho thuê Thời điểm chấm dứt hai hợp đồng số K97006 và số K98002 là ngày 16-10-2000.

– Buộc Công ty Chí Đạt có nhiệm vụ thanh toán cho Công ty KEXIM số tiền 2.412.364,88

USD

– Công ty Chí Đạt có quyền sở hữu dây chuyền thiết bị hệ thống Bowling và các thiết bị kèm

theo đặt tại Trung tâm Bowling Đầm Sen

2- Buộc ông Trơng Chí Đạt, ông Trơng Quốc Huê thực hiện việc thanh toán thay các khoản

nợ của Công ty Chí Đạt cho Công ty KEXIM trong trờng hợp Công ty Chí Đạt không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán tiền nợ cho Công ty KEXIM.

3- Bác kháng cáo của Công ty KEXIM trong việc đòi Công ty Chí Đạt phải trả tiền lãi tích luỹ tính từ ngày giải ngân đến ngày thông báo bắt đầu thuê: 161.821,78 USD và khoản tiền chi phí đòi nợ: 7.580.000 USD.

Bác yêu cầu kháng cáo của Công ty KEXIM về việc buộc Công ty Phú Thọ phải thế chấp toà nhà Trung tâm Bow1ing Đầm Sen cho Công ty KEXIM để bảo lãnh cho hai hợp đồng thuê số K97006 và số K98002,

Ngoài ra, Bản án phúc thẩm còn quyết định về mức án phí kinh tế sơ thẩm và án phí kinh tế phúc thẩm các đơng sự phải nộp.

Sau khi vụ án đợc xét xử phúc thẩm, Công ty Chí Đạt có đơn khiếu nại giám đốc thẩm đối vớiBản án kinh tế phúc thẩm nêu trên

Tại Quyết định số 19/KN ngày 13-07-2001, Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã

kháng nghị Bản án kinh tế phúc thẩm số 59/KTPT ngày 16-10-2000 của Toà phúc thẩm Toà án

nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh với lý do: Hai hợp đồng cho thuê tài chính số K97006

và số K98002 ký ngày 16-02-1998 giữa Công ty KEXIM với Công ty Chí Đạt bị vô hiệu toàn bộ vìCông ty Chí Đạt không đăng ký ngành nghề kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí và không trực tiếp

sử dụng hệ thống thiết bị Bow1ing và các thiết bị khác kèm theo để kinh doanh, vi phạm điểm bkhoản 1 Điều 8 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế; khoản 2 Điều 1 và Điều 4 Nghị định số 64-CP ngày09- 10- 1995 của Chính phủ Mặt khác, hợp đồng thành lập Công ty liên doanh ký ngày 12-10-1996giữa Công ty Phú Thọ với Công ty Chí Đạt đã vi phạm Điều 4 Quyết định số 38-HĐBT ngày 10-04-

1989 của Chính phủ quy định về liên kết kinh tế Từ đó đề nghị Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhândân tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hớng sửa toàn bộ Bản án kinh tế phúc thẩm nêu trên, kếtluận hai hợp đồng cho thuê tài chính số K97006 và số K98002 ký ngày 16-02-1998 giữa Công tyKEXIM với Công ty Chí Đạt bị vô hiệu toàn bộ và xử lý tài sản theo khoản 1, khoản 2 Điều 39Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế

Xét thấy

Theo quy định tại khoản 11 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 1 Quy chế tạm thời về

tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định số

Trang 10

64-CP ngày 09-10-1995 của Chính phủ thì cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung, dàihạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị và các động sản khác Cũng theo khoản 2 Điều 2 Quychế nêu trên thì bên thuê tài sản phải là ''Doanh nghiệp đợc thành lập theo pháp luật Việt Nam, trựctiếp sử dụng tài sản thuê trong thời hạn thuê theo mục đích kinh doanh hợp pháp của mình'' tại thời

điểm ký kết Hai hợp đồng cho thuê tài chính số K97006 và số K98002 với Công ty KEXIM, trongGiấy phép thành lập số 1921/GP-UB ngày 07-11-1994 do Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ ChíMinh cấp và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 041327 ngày 11-11- 1994 do Sở kế hoạch và

đầu t thành phố Hồ Chí Minh cấp, thì Công ty Chí Đạt đều ch a đăng ký ngành nghề kinh doanhdịch vụ vui chơi giải trí để có thể trực tiếp sử dụng các tài sản cho thuê trong thời hạn thuê theo haihợp đồng cho thuê tài chính số K97006 và số K98002 đúng với những quy định nêu trên, đồng thờikhông thực hiện đúng nghĩa vụ của công ty đợc quy định tại Điều 13 của Luật Công ty là: ''Kinhdoanh theo ngành nghề ghi trong giấy phép'' Do đó, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Pháplệnh Hợp đồng kinh tế thì hai hợp đồng cho thuê tài chính số K97006 và số K98002 ký ngày 16-02-

1998 giữa Công ty KEXIM với Công ty Chí Đạt là hợp đồng kinh tế bị vô hiệu toàn bộ Toà án cấpphúc thẩm viện dẫn hợp đồng số 07/HĐ về việc góp vốn hợp tác kinh doanh tại Trung tâm Bow1ing

Đầm Sen ký ngày 01-06-1997 giữa Công ty Phú Thọ với Công ty Chí Đạt là hợp đồng hợp pháp nênviệc kinh doanh dịch vụ Bow1ing của Công ty Chí Đạt phù hợp với khoản 2 Điều 2 Quy chế nêu trên

và công nhận hiệu lực của hai hợp đồng cho thuê tài chính số K97006 và số K98002 là không đúng.Mặt khác, nếu theo quy định tại Điều 1 , Điều 2 và Điều 4 của Quyết định số 38-HĐBT ngày10-04-

1989 của Chính phủ về liên kết kinh tế thì những thoả thuận tại hợp đồng số 07/HĐ không phù hợpvới công việc sản xuất kinh doanh của Công ty Chí Đạt và cha đợc cơ quan Nhà nớc có thẩm quyềncho phép thực hiện

Về xử lý tài sản đối với hai hợp đồng cho thuê tài chính bị vô hiệu toàn bộ nêu trên, theo điểm

a khoản 2 Điều 39 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế, về nguyên tắc thì: ''Các bên có nghĩa vụ hoàn trảcho nhau tất cả những tài sản đã nhận đợc từ việc thực hiện hợp đồng, trong trờng hợp không thểhoàn trả đợc bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền, nếu tài sản đó không bị tịch thu theo quy định củapháp luật'' Nh vậy, nếu áp dụng nguyên tắc hoàn trả bằng hiện vật thì Công ty Chí Đạt sẽ phải hoàntrả lại toàn bộ những tài sản đã nhận cho Công ty KEXIM và Công ty KEXIM phải hoàn trả lại choCông ty Chí Đạt số tiền đã nhận từ Công ty Chí Đạt Tuy nhiên, trong tranh chấp hợp đồng kinh tế

cụ thể này, căn cứ vào hồ sơ vụ án cho thấy, dây chuyền thiết bị đồng bộ phục vụ kinh doanhBowling đã đợc lắp đặt và khai thác tại Trung tâm Bow1ing Đầm Sen thuộc Công ty Phú Thọ Dâychuyền này hoạt động có hiệu quả từ năm 1999 đến nay, tạo việc làm cho hơn 400 cán bộ côngnhân viên Do đó, nếu xử lý tài sản theo hớng hoàn trả bằng hiện vật thì sẽ phá vỡ hoạt động sảnxuất kinh doanh, ảnh hởng đến đời sống, việc làm của ngời lao động và làm giảm giá trị thiết bịmáy móc nếu bị tháo dỡ khỏi công trình Vì vậy, cần xác định đây là trờng hợp không thể hoàn trảtài sản bằng hiện vật

Theo hai hợp đồng cho thuê tài chính thì Công ty Phú Thọ không có quan hệ hợp đồng trựctiếp với Công ty KEXIM, nhng căn cứ vào hồ sơ dự án đầu t Trung tâm Bow1ing do Uỷ ban nhândân thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Kế hoạch và Đầu t, Bộ Thơng mại cho phép Công ty Phú Thọ triểnkhai thực hiện dự án thì nguồn vốn thực hiện dự án này là nguồn vốn tín dụng, không có hình thứcliên kết góp vốn Hơn nữa hồ sơ vụ án thể hiện hệ thống thiết bị Bowling đợc nhập khẩu theo giấyphép miễn thuế của Công ty Phú Thọ, toàn bộ hệ thống thiết bị đồng bộ đã đợc lắp đặt và đợc Công

ty Phú Thọ quản lý, vận hành, khai thác và hởng lợi từ trớc tới nay Mặt khác, Công ty Phú Thọ

Trang 11

cũng có liên quan đến việc hình thành hai hợp đồng cho thuê tài chính số K97006 và số K98002 kýgiữa Công ty KEXIM với Công ty Chí Đạt, thể hiện tại Biên bản cam kết tay ba số K97006 ngày20-02-1998 giữa Công ty KEXIM, Công ty Phú Thọ và Công ty Chí Đạt, Bản cam kết ngày 24-02-

1998 của Công ty Phú Thọ về việc sẽ thế chấp toà nhà Trung tâm Bowling sau khi hoàn tất việc xâydựng Việc không xem xét trách nhiệm của Công ty Phú Thọ không những là thiếu sót về mặt tốtụng của Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm, mà về nội dung cũng cha phản ánh đúng cácmối quan hệ pháp lý phát sinh giữa các bên liên quan đến dây chuyền thiết bị toàn bộ này, cha đánhgiá đợc mức độ hao mòn, giảm giá trị của hệ thống thiết bị sau một thời gian dài đợc Công ty PhúThọ khai thác, sử dụng

Vì vậy, trong vụ án cụ thể này cần xử lý tài sản đối với hai hợp đồng cho thuê tài chính bị vôhiệu toàn bộ nêu trên theo hớng hoàn trả bằng tiền theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 39 Pháplệnh Hợp đồng kinh tế, và cần thiết phải làm rõ trách nhiệm liên đới về tài sản của Công ty Phú Thọ

và Công ty Chí Đạt trong việc nhập khẩu, giao nhận và sử dụng toàn bộ hệ thống thiết bị Cụ thể,cần xác định giá trị hoàn trả là giá gốc của hệ thống thiết bị kinh doanh Bow1ing đã đợc lắp đặt tạiTrung tâm Bowling Đầm Sen theo giá Công ty KEXIM đã mua theo từng thời điểm; xác định t cáchtrách nhiệm của các bên liên quan trong việc giao nhận tài sản thuê, qua đó làm rõ và cụ thể hoátrách nhiệm của Công ty Phú Thọ và Công ty Chí Đạt đối với Công ty KEXIM, cũng nh tráchnhiệm của Công ty KEXIM đối với các công ty này Ngoài ra, cũng cần xác định rõ số lợng cũng

nh giá trị các tài sản khác mà Công ty Chí Đạt và Công ty Phú Thọ đã góp để đầu t tại Trung tâmBowling Đầm Sen theo hợp đồng số 07/HĐ ký ngày 01-06-1997 giữa hai bên, làm cơ sở cho việc

thực hiện nghĩa vụ của mỗi công ty đối với việc hoàn trả giá trị gốc của toàn bộ hệ thống thiết bị

cho Công ty KEXIM

Về trách nhiệm bảo lãnh của ông Trơng Chí Đạt và ông Trơng Quốc Huê, Toà án cấp phúcthẩm buộc hai ông này phải chịu trách nhiệm thực hiện thanh toán thay các khoản nợ của Công tyChí Đạt cho Công ty KEXIM trong trờng hợp Công ty Chí Đạt không thực hiện hoặc thực hiệnkhông đúng nghĩa vụ thanh toán tiền nợ cho Công ty KEXIM cũng cần đợc xem xét lại vì các giấycam kết bảo lãnh này cha hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật

Căn cứ vào các nhận định nêu trên và tài liệu chứng cứ hiện đang có trong hồ sơ vụ án thì cầnphải huỷ Bản án kinh tế sơ thẩm số 114/KTST ngày 22-05-2000 của Toà án nhân dân thành phố HồChí Minh và Bản án kinh tế phúc thẩm số 59/KTPT ngày 16-10-2000 của Toà phúc thẩm Toà ánnhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố HồChí Minh giải quyết lại theo hớng điều tra, xác minh, thu thập thêm chứng cứ nhằm xác định vàphân chia cụ thể trách nhiệm liên đới về tài sản giữa Công ty Chí Đạt và Công ty Phú Thọ đối vớiCông ty KEXIM, cũng nh trách nhiệm của Công ty KEXIM đối với hai công ty này trong việc hoàntrả cho nhau bằng tiền những tài sản đã nhận đợc của nhau trên cơ sở quy định của pháp luật.Bởi các lẽ trên, và căn cứ vào khoản 3 Điều 80 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế,

Trang 12

2- Huỷ Bản án kinh tế sơ thẩm số 114/KTST ngày 22-05-2000 của Toà án nhân dân thành phố HồChí Minh và Bản án kinh tế phúc thẩm số 59/KTPT ngày 16-10-2000 của Toà phúc thẩm Toà ánnhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo đúngquy định của pháp luật

Lý do cơ bản các Bản án sơ thẩm và phúc thẩm bị huỷ:

1 Cần xử lý tài sản đối với hợp đồng vô hiệu toàn bộ theo hớng hoàn trả bằng tiền;

2 Sai sót về thủ tục tố tụng khi không xem xét trách nhiệm của Công ty Phú Thọ;

3 Nội dung Bản án cha phản ánh đúng mối quan hệ pháp lý phát sinh giữa các bên tranh chấp;

4 Cần làm rõ trách nhiệm liên đới về tài sản của Công ty Phú Thọ và Công ty Chí Đạt trongviệc nhập khẩu, giao nhận và sử dụng toàn bộ hệ thống thiết bị

Quyết định số 03/2003/HĐTP- KT Ngày 24-02-2003 Về vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán xe ô tô trả chậm

Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Tại phiên toà ngày 24-02-2003 xét xử giám đốc thẩm vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồngmua bán xe ô tô trả chậm giữa:

Nguyên đơn: Công ty liên doanh ô tô Việt Nam Daewoo (tên giao dịch là VIDAMCO); có trụ

sở tại xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội;

Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng giao thông thơng mại Tân á (tên giao dịch là

TANACO); có trụ sở tại số 576A Lê Quang Định, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh;

Ngời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan : Ngân hàng Thơng mại cổ phần các doanh nghiệp

ngoài quốc doanh (sau đây viết tắt là VP.Bank); có trụ sở tại số 18B Lê Thánh Tông, thành phố HàNội

NHậN THấY

Ngày 07-07-1995, Công ty liên doanh ô tô Việt Nam Daewoo (sau đây viết tắt là Công tyVIDAMCO) đại diện là ông Chong Gi Lee Tổng giám đốc đã ký hợp đồng mua bán sốVID-TNC/95702 bán xe ô tô theo phơng thức trả chậm cho Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựnggiao thông thơng mại Tân á (sau đây viết tắt là Công ty TANACO) với nội dung chủ yếu nh sau:– Tên hàng : Xe tô Daewoo mới

– Số lợng : 100 xe

– Đơn giá: 18.200 USD/chiếc

– Tổng giá trị hợp đồng: 1.820.000 USD (cha tính lãi)

Ngời mua (Công ty TANACO) có thể thanh toán bằng tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra củaUSD do Ngân hàng nhà nớc ấn định vào ngày thanh toán tới hạn

Điều kiện thanh toán:

45

Trang 13

Trong trờng hợp ngời mua lấy đợc th bảo đảm cho số tiền còn lại 1.638.000 Mỹ kim cùng vớitiền lãi có liên quan từ VP Bank (Ngân hàng Thơng mại Cổ phần các Doanh nghiệp ngoài quốc

doanh Việt Nam) hoặc EXIMBANK trong vòng 10 ngày kể từ ngày ký hợp đồng và th bảo đảm đó

phải đợc tổng giám đốc của VP Bank tại Hà Nội hoặc EXIMBANK tại thành phố Hồ Chí Minh kýnhận thì điều kiện thanh toán nh sau:

+ 10% trả trớc (182.000 USD): Trong vòng 10 ngày kể từ ngày ký hợp đồng

+ 90% (1.638.000 USD): Ngời mua thanh toán 6 tháng/lần kể từ năm đầu tiên đợc trả chậmcùng với tiền lãi có liên quan theo phụ kiện số 01

+ Tiền phạt: Lãi phạt do không thực hiện việc thanh toán đúng hạn là 2%/tháng cho mỗi kỳ trễhạn

Cùng ngày 07-07-1995 hai bên ký phụ kiện số 01, quy định số tiền và ngày thanh toán Tiềnlãi (trả chậm) sẽ đợc thanh toán cùng với số tiền gốc vào ngày thanh toán tới hạn

Để bảo đảm cho việc thanh toán số tiền 1.638.000 USD theo hợp đồng và phụ kiện nêu trên,

VP Bank đã phát hành Giấy bảo lãnh số 165/VPB-TTQT ngày 25-09-1995

Theo tiến độ thực hiện của hợp đồng, Công ty VIDAMCO đã giao đủ 100 xe cho Công tyTANACO theo Biên bản bàn giao xe ngày 31- 01-1997 Hai bên không có tranh chấp khiếu nại gì

về chủng loại, số lợng, chất lợng, thời gian và địa điểm giao hàng, nhng tranh chấp về việc thanhtoán Theo biên bản đối chiếu xác định nợ ngày 06-07-1998 thì Công ty TANACO đã thanh toán

cho Công ty VIDAMCO tổng số tiền mua xe ô tô theo hợp đồng số VID-TNC/961146 ngày

09-11-1996 và hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 là: 12.256.856.100 đồng, số tiền còn nợcủa hai hợp đồng: Theo Công ty TANACO nợ gốc và lãi trả chậm còn 1.966.313,62 USD; TheoCông ty VIDAMCO nợ gốc và lãi trả chậm còn 1.967.266,37 USD (trong đó nợ quá hạn là1.301.017,37 USD);

Do hai bên không thống nhất đợc với nhau về số liệu công nợ, cách áp dụng tỷ giá thanh toán(giữa USD/ĐVN) và số tiền lãi phạt của hợp đồng nêu trên, nên từ đó phát sinh tranh chấp

Ngày 21-09-1998 Công ty VIDAMCO có đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân thành phố HồChí Minh với yêu cầu buộc Công ty TANACO thanh toán toàn bộ số tiền bao gồm tiền nợ gốc, lãichậm trả và tiền phạt do vi phạm nghĩa vụ thanh toán là l.267.738,39 USD (Tính đến ngày 15-09-1998); và yêu cầu VP.Bank phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả thay cho Công ty TANACO nếuCông ty TANACO không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình

Tại các buổi hoà giải không thành, hai bên vẫn không thoả thuận đợc với nhau về tỷ giá quy

đổi giữa đồng USD/ĐVN và số tiền nợ, lãi phạt của hợp đồng, sau đó hai bên nhất trí tr ng cầu giám

định các số liệu mà hai bên đa ra Tuy nhiên, đến ngày 14-09-2000 hai bên đã thống nhất lấy tỷ giáUSD/ĐVN do Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh công bố (tại Côngvăn số 889/NHTP 99 ngày 02-12-1999)

Tại Kết luận giám định số 134/KLGĐ-KTTC ngày 20-10-2000 và kết luận bổ sung số77/KLGĐ-KTTC ngày 05-07-2001 của Tổ chức giám định kế toán- tài chính thành phố Hồ ChíMinh xác định công nợ giữa Công ty VIDAMCO và Công ty TANACO tính đến ngày 05-07-2001

cụ thể là:

– Tổng số tiền Công ty TANACO phải thanh toán là: 2.127.425,30 USD,

– Số tiền Công ty TANACO đã thanh toán là: 1.508.316,95 USD,

Trang 14

– Số tiền Công ty TANACO còn phải thanh toán là: 619.108,35 USD.

Tại Bản án kinh tế sơ thẩm số 116/KTST ngày 06-07-2001, Toà án nhân dân thành phố Hồ ChíMinh đã nhận định hợp đồng mua bán số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 ký giữa Công tyVIDAMCO và Công ty TANACO là hợp đồng hợp pháp

Công ty TANACO thanh toán cho Công ty VIDAMCO tổng số tiền là: 1.063.787,03 USD bao

gồm:

– Tiền hàng (kể cả lãi trả chậm): 619.108,35 USD;

– Tiền phạt do chậm thanh toán: 444.678,68 USD

Việc thanh toán thực hiện bằng tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra của Ngân hàng ngoạithơng thành phố Hồ Chí Minh vào thời điểm thanh toán

Nếu Công ty TANACO không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán thì VP.Bank vớitrách nhiệm ngời bảo lãnh phải trả thay trong phạm vi giá trị số tiền bảo lãnh là 1.638.000 USD.Chi phí giám định là: 5.000.000 đồng, Công ty TANACO và Công ty VIDAMCO đều phảichịu mỗi bên 50%, thành tiền là 2.500.000 đồng, nộp cho Tổ chức giám định kế toán, tài chínhthành phố Hồ Chí Minh

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về mức án phí kinh tế sơ thẩm các đ ơng sự phảinộp và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Ngày 11-07-2001 Công ty TANACO có đơn kháng cáo với nội dung: Hợp đồng số VID-TNC/

95702 ký ngày 07-07-1995 giữa Công ty VIDAMCO và Công ty TANACO là hợp đồng bị vô hiệutoàn bộ vì đại diện của Công ty VIDAMCO khi ký hợp đồng nêu trên cha có thẩm quyền; Công tyTANACO khi ký hợp đồng cha có chức năng kinh doanh vận tải hành khách và kết quả giám địnhcủa Tổ chức giám định kế toán - tài chính thành phố Hồ Chí Minh là không khách quan, thiếu chínhxác

Ngày 17-07-2001 VP.Bank có đơn kháng cáo với nội dung: Không phải chịu trách nhiệm bảolãnh vì thời hạn bảo lãnh đã hết hiệu lực và số tiền Công ty TANACO đã thanh toán vợt quá số tiềnbảo lãnh của Ngân hàng

Tại Bản án kinh tế phúc thẩm số 02/KTPT ngày 10- 01- 2002 Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TANACO và sửa Bản án kinh tế sơ thẩm số 116/KTST ngày 06-07-2001 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nh sau:

– Vô hiệu toàn bộ hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 giữa Công ty TANACO

với Công ty VIDAMCO.

– Các bên ký kết hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 phải chấm dứt việc tiếp tục

thực hiện hợp đồng này.

– Xử lý tài sản đối với hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 nh sau:

+ Công ty TANACO phải giao trả cho Công ty VIDAMCO 100 xe ô tô du lịch 4 chỗ ngồi hiệu DAEWOO CEILO xuất xứ Hàn Quốc (giao đúng loại xe mà Công ty TANACO đã nhận của Công

ty VIDAMCO).

+ Công ty VIDAMCO phải thanh toán trả lại cho Công ty TANACO số tiền 1à 728 137,99 USD Việc thanh toán thực hiện bằng tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra của Ngân hàng ngoại thơng thành phố Hồ Chí Minh vào thời điểm thanh toán.

Trang 15

Chi phí giám định là: 5.000.000 đồng, Công ty TANACO và Công ty VIDAMCO mỗi bên phải chịu 50%, thành tiền là 2.500.000 đồng, nộp cho Tổ chức giám định kế toán - tài chính thành phố

Hồ Chí Minh.

– Hủy Giấy bảo lãnh số 165/VPB-TTQT của VP.Bank đối với hợp đồng số VID-TNC/95702

ngày 07-07-1995 giữa Công ty TANACO và Công ty VIDAMCO.

– Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định sửa mức án phí kinh tế sơ thẩm các đơng

sự phải nộp; Công ty TANACO không phải chịu án phí phúc thẩm nên đợc nhận lại tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp là 200.000 đồng

Sau khi xét xử phúc thẩm, Công ty VIDAMCO và Công ty TANACO đều có đơn khiếu nại đốivới Bản án kinh tế phúc thẩm nêu trên

Tại Kháng nghị số 10/2002/TK-KT ngày 08-10-2002 đối với Bản án kinh tế phúc thẩm số 02/KTPT ngày 10-01-2002 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh,Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xửtheo thủ tục giám đốc thẩm, sửa Bản án kinh tế phúc thẩm nêu trên, với lý do: “Việc Toà án cấpphúc thẩm tuyên bố hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 giữa Công ty VIDAMCO vớiCông ty TANACO là hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu là không có căn cứ”.Tại Kết luận số 03/KL-AKT ngày 17/01/2003, Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối caonhất trí với kháng nghị số 10/2002/TK-KT ngày 08-10-2002 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao đốivới Bản án kinh tế phúc thẩm số 02/KTPT ngày 10-01-2002 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối caotại thành phố Hồ Chí Minh

XéT THấY

Toà án cấp phúc thẩm vì cho rằng việc bổ nhiệm ông Chong Gi Lee làm Tổng Giám đốc củaCông ty VIDAMCO đã không đảm bảo trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật Việt Nam(không đúng về thủ tục họp Hội đồng quản trị, cha hoàn tất thủ tục có xác nhận của cơ quan cóthẩm quyền về t cách ngời đứng đầu pháp nhân để hoạt động đúng pháp luật) và vì cho rằng: Vàothời điểm hai bên ký hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 thì Công ty TANACO cha cóchức năng mua bán xe ô tô, ngày 08-07-1995 mới bổ sung chức năng mua bán xe ô tô, ngày 17-10-

1995 mới bổ sung chức năng vận chuyển hành khách bằng xe taxi Nh vậy, đến ngày ký hợp đồngthì Công ty TANACO cha đăng ký kinh doanh vận chuyển hành khách bằng xe taxi thì việc muabán xe này là cha hợp pháp, nên đã kết luận hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 giữaCông ty TANACO với Công ty VIDAMCO là hợp đồng bị vô hiệu toàn bộ theo điểm c khoản 1

Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (do ngời ký hợp đồng không đúng thẩm quyền, và cha đăng kýkinh doanh theo pháp luật đối với mặt hàng mà các bên thực hiện mua bán) và xử lý hợp đồng vôhiệu là không đúng và cha phù hợp với quy định của pháp luật Bởi vì:

– Về lý do đại diện của Công ty VIDAMCO khi ký hợp đồng cha có đầy đủ thẩm quyền.

Ngày 31-03-1995, với t cách là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty VIDAMCO, ông KyungHoon Lee gửi ông Ngô Đình Vấn - Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, văn bản với nội dung “Nên

triệu tập một phiên họp chính thức của Hội đồng quản trị nh là kỳ họp đột xuất để phê chuẩn việc

bổ nhiệm đối với ông Chong Gi Lee làm Tổng Giám đốc và cử ông W Lee làm Phó Tổng Giám đốc

(trớc đó ông W Lee đã là Tổng Giám đốc Công ty VIDAMCO) Tuy nhiên, để tiết kiệm thời gian và

triển khai sớm, đề nghị Hội đồng quản trị quyết định việc cải tổ này bằng một văn bản có hiệu lực

nh là sự phê chuẩn của một phiên họp Hội đồng quản trị” Thực hiện đề nghị trên, Hội đồng quản

Trang 16

trị Công ty VIDAMCO có văn bản ngày 10-04-1995 theo đó cả 5 thành viên Hội đồng quản trị đã

ký đồng ý cử ông Chong Gi Lee làm Tổng Giám đốc Công ty VIDAMCO Toà án cấp phúc thẩmviện dẫn Điều 7 điều lệ của Công ty VIDAMCO là: “Các cuộc họp của Hội đồng quản trị vềnguyên tắc đợc tổ chức tại trụ sở của Công ty liên doanh Trong trờng hợp đặc biệt có thể tổ chức ởnhững địa điểm khác nhau nhng phải đợc các bên thoả thuận” Và quy định tại phần I khoản 2Thông t số 238-HTĐT-VP ngày 17-05-1992 của Uỷ ban Nhà nớc về hợp tác và đầu t: “Biên bản

phiên họp Hội đồng quản trị đầu tiên phải đợc gửi đến Uỷ ban Nhà nớc về hợp tác đầu t" (trong đó

có vấn đề cử Giám đốc), để cho là việc bổ nhiệm ông Chong Gi Lee làm Tổng giám đốc của Công

ty VIDAMCO đã không bảo đảm trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật Việt Nam Nhận địnhnày của Toà án cấp phúc thẩm cha đánh giá một cách toàn diện và hiểu một cách cứng nhắc quy

định tại Điều 7 (và không tham khảo Điều 8) điều lệ của Công ty VIDAMCO; ch a hiểu đúng tinhthần quy định tại phần I khoản 2 Thông t số 238-HTĐT-VP nói trên Mặt khác, tham khảo Côngvăn số 8136/BKH-QLDA ngày 29-11-2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu t , thì Bộ Kế hoạch và Đầu

t, (cơ quan quản lý nhà nớc trong lĩnh vực này) đã xác nhận ông Chong Gi Lee là Tổng Giám

đốc Công ty VIDAMCO trong thời gian từ ngày 10-04-1995 đến ngày 25-01-1999 Nh vậy, vàothời điểm ký hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 ông Chong Gi Lee đã là TổngGiám đốc hợp pháp của Công ty VIDAMCO, và việc ông Chong Gi Lee đại diện cho Công tyVIDAMCO ký hợp đồng nêu trên là đúng thẩm quyền

Về lý do Công ty TANACO khi ký hợp đồng cha có đăng ký kinh doanh về ngành nghề kinh doanh vận tải hành khách.

Trớc khi ký hợp đồng nêu trên, Công ty TANACO là doanh nghiệp đợc thành lập hợp pháp đã

có đăng ký kinh doanh cấp ngày 09-11-1994 (xây dựng công nghiệp , sửa chữa ph ơng tiện vậntải , đại lý ký gửi hàng hoá cho các doanh nghiệp trong nớc) Hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày07-07-1995 là hợp đồng mua bán xe ô tô nhằm chuẩn bị cho việc kinh doanh tắc xi vận tải hànhkhách Công ty TANACO mua xe để sử dụng chứ không phải là mua xe để bán (kinh doanh xenguyên chiếc) Mặt khác, ngay sau ngày ký hợp đồng, ngày 08-07-1995 Công ty TANACO đã có

đăng ký bổ sung ngành nghề: “Mua bán hàng nông lâm sản, xe tải, ô tô, xe gắn máy, phân bón” và

ngày 17- 10- 1995 TANACO đã đăng ký bổ sung ngành nghề vận chuyển hành khách bằng taxi.Hơn nữa, sau khi ký hợp đồng, ngày 07-08-1995 hai bên còn ký phụ kiện và bản sửa đổi hợp đồng.Bản sửa đổi này có hiệu lực từ ngày 24-01-1996 Nh vậy, vào thời điểm có hiệu lực của bản sửa đổiphụ lục hợp đồng Công ty TANACO không những đã có đăng ký bổ sung ngành nghề mua bán xe ôtô, mà còn có đăng ký bổ sung ngành nghề vận chuyển hành khách bằng taxi Vì vậy, hợp đồng sốVID-TNC/95702 Ngày 07-07-1995 cũng không bị vô hiệu vì lý do nêu trên

Ngoài ra, yêu cầu kháng cáo của công ty TANACO đối với Kết luận giám định của Tổ chứcgiám định kế toán - tài chính thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu kháng cáo của VP.Bank (khôngphải chịu trách nhiệm bảo lãnh ) cũng cha đợc Toà án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết cũng làkhông đúng pháp luật

Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 3 Điều 80 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế,

QUYếT ĐịNH

Trang 17

Huỷ toàn bộ Bản án kinh tế phúc thẩm số 02/KTPT ngày 10-01-2002 của Toà Phúc thẩm Toà

án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh Giao hồ sơ vụ án về Toà Phúc thẩm Toà án nhândân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật

Lý do cơ bản mà Bản án phúc thẩm bị huỷ:

- Toà án cấp phúc thẩm cho rằng hợp đồng số VID–TNC/95702 ngày 07-07-1995 giữa Công

ty TANACO với Công ty VIDAMCO là hợp đồng vô hiệu toàn bộ là không phù hợp với quy địnhcủa pháp luật Bởi vì đại diện của Công ty VIDAMCO có đủ thẩm quyền ký kết hợp đồng, đồngthời Công ty TANACO khi ký hợp đồng đã bổ sung đăng ký ngành nghề phù hợp với quy định củapháp luật

Quyết định số 04/2003/HĐTP-KT Ngày 24-02-2003

về vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán

xe ô tô trả chậm hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Tại phiên toà ngày 24-02-2003 xét xử Giám đốc thẩm vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồngmua bán xe ô tô trả chậm giữa:

Nguyên đơn : Công ty liên doanh ô tô Việt Nam Daewoo (tên giao dịch là VIDAMCO); có trụ

sở tại xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội;

Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng giao thông thơng mại Tân á (tên giao dịch là

TANACO); có trụ sở tại số 576A Lê Quang Định, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh;

NHậN THấY

Ngày 09-11-1996 Công ty liên doanh ô tô Việt Nam Daewoo (sau đây viết tắt là Công ty VIDAMCO), đại diện ông Chong Gi Lee, Tổng giám đốc đã ký hợp đồng kinh tế số VID-TNC/961146 bán xe ô tô theo phơng thức trả chậm cho Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng giao thông thơng mại Tân á (sau đây viết tắt là Công ty TANACO) với nội dung nh sau:

– Số lợng là 50 xe ô tô Daewoo, Model CIELO GL, giá 16.500 USD/chiếc, tổng giá trị hợp

đồng: 825.000 USD (cha tính lãi) Ngời mua Công ty TANACO có thể thanh toán bằng tiền đồngViệt Nam theo tỷ giá bán ra của USD do Ngân hàng Nhà nớc ấn định vào ngày thanh toán tới hạn.– Điều kiện thanh toán nh sau:

+ 15 % trả trớc (123.750 USD)

+ 85% còn lại (701.250 USD): Ngời mua thanh toán 6 tháng/lần kèm lãi xuất, trong 3 năm có

liên quan đến bản phụ lục kèm theo

– Tiền phạt: Lãi phạt do không thực hiện việc thanh toán đúng hạn là 2%/tháng cho mỗi kỳtrễ hạn

Để bảo đảm cho việc thanh toán số tiền 701.250 USD theo hợp đồng và phụ lục nêutrên, Công ty VIDAMCO và Công ty TANACO ký hợp đồng cầm cố số

VID-TNC/91146/PLEDG với nội dung cầm cố (50 xe ô tô nhận từ hợp đồng VID-TNC/961146

ngày 09-11-1996) hợp đồng cầm cố này có xác nhận của Phòng công chứng nhà nớc

46

Trang 18

Theo tiến độ thực hiện của hợp đồng, Công ty VIDAMCO đã giao đủ 50 xe cho Công tyTANACO theo giấy biên nhận ngày 16-11-1996 Hai bên không có tranh chấp khiếu nại gì về chủngloại, số lợng, chất lợng, thời gian và địa điểm giao hàng, nhng tranh chấp về việc thanh toán Theo biênbản đối chiếu xác định nợ ngày 06-07-1998 thì Công ty TANACO đã thanh toán cho Công ty

VIDAMCO tổng số tiền mua xe ô tô theo hợp đồng số VID-TNC/961146 ngày 09-11-1996 và

hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 là: 12.256.856.100 đồng, số tiền còn nợ của haihợp đồng: Theo Công ty TANACO nợ gốc và lãi trả chậm còn 1.966 313,62 USD; Theo công tyVIDAMCO nợ gốc và lãi trả chậm còn 1.967.266,37 USD (trong đó nợ quá hạn là 1.301.017,37USD);

Do hai bên không thống nhất đợc với nhau về số liệu công nợ, cách áp dụng tỷ giá thanh toán(giữa USD/ĐVN) và số tiền lãi phạt của hợp đồng nêu trên, nên từ đó phát sinh tranh chấp

Ngày 21-09-1998 Công ty VIDAMCO có đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân thành phố HồChí Minh với yêu cầu buộc Công ty TANACO thanh toán toàn bộ số tiền là 313.430,75 USD (tính

đến ngày 15-09-1998) Trờng hợp Công ty TANACO không thanh toán thì đề nghị Toà xử lý tài sảntheo hợp đồng cầm cố nêu trên

Tại các buổi hoà giải không thành, hai bên vẫn không thoả thuận đợc với nhau về tỷ giá quy

đổi giữa đồng USD/ĐVN và số tiền nợ, lãi phạt của hợp đồng, sau đó hai bên nhất trí tr ng cầu giám

định các số liệu mà các bên đa ra Tuy nhiên đến ngày 14-09-2000 hai bên đã thống nhất lấy tỷ giáUSD/ĐVN do Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh công bố (tại Côngvăn số 889/NHTP 99 ngày 02-12-1999)

Tại Kết luận giám định số 134/KLGĐ-KTTC ngày 20-10-2000 và Kết luận bổ sung số77/KLGĐ-KTTC ngày 05-07-2001 của Tổ chức giám định kế toán - tài chính thành phố Hồ ChíMinh xác định công nợ giữa Công ty VIDAMCO và Công ty TANACO, tính đến ngày 05-07-2001,

cụ thể là:

– Tổng số tiền Công ty TANACO phải thanh toán: 932.080,32 USD;

– Số tiền Công ty TANACO đã thanh toán: 415.102,02 USD;

– Số tiền Công ty TANACO còn phải thanh toán: 516.978,31 USD

Tại Bản án kinh tế sơ thẩm số 117/KTST ngày 06-07-2001, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định hợp đồng mua bán số VID-TNC/961146 ngày 09- 11-1996 giữa Công ty VIDAMCO và Công ty TANACO là hợp đồng hợp pháp.

Công ty TANACO phải thanh toán cho Công ty VIDAMCO (tính đến ngày 05-07-2001) tổng số tiền là: 732.185,77 USD bao gồm:

– Tiền hàng (kể cả lãi trả chậm): 516.978,31 USD.

– Tiền phạt do chậm thanh toán: 215.207,46 USD.

Việc thanh toán thực hiện bằng tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra của Ngân hàng ngoại thơng thành phố Hồ Chí Minh vào thời điểm thanh toán.

Nếu Công ty TANACO không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán thì phát mãi tài sản cầm cố là lô xe 50 chiếc theo hợp đồng cầm cố số VID-TNC/961146/PLEDG ngày 09-11-1996 theo chứng nhận số 04231 ngày 27-01-1997 của Phòng công chứng nhà nớc số 2 thành phố Hồ Chí Minh Nếu phát mãi tài sản cầm cố vẫn không đủ thanh toán nợ thì Công ty TANACO vẫn có trách nhiệm thanh toán cho đến khi thanh toán xong số nợ.

Trang 19

Chi phí giám định là 5.000.000 đồng Công ty TANACO và Công ty VIDAMCO đều phải chịu mỗi bên 50%, thành tiền là 2.500.000 đồng, nộp cho Tổ chức giám định kế toán - tài chính thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, Bản án kinh tế sơ thẩm còn quyết định về số tiền án phí kinh tế sơ thẩm các đ ơng sự phải nộp và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11-07-2001 Công ty TANACO có đơn kháng cáo với nội dung: Hợp đồng số VID-TNC/

961146 ngày 09-11-1996 bị vô hiệu toàn bộ vì đại diện của Công ty VIDAMCO khi ký hợp đồng nêu trên cha có thẩm quyền và kết quả giám định của Tổ chức giám định kế toán - tài chính thành phố Hồ Chí Minh là không khách quan, thiếu chính xác

Tại Bản án kinh tế phúc thẩm số 01/KTPT ngày 10-01-2002 Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TANACO và sửa Bản án kinh tế sơ thẩm số 117/KTST ngày 06-07-2001 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nh sau:

– Vô hiệu toàn bộ hợp đồng số VID-TNC/961146 ngày 09- 11-1996 giữa Công ty TANACO

với Công ty VIDAMCO.

– Các bên ký kết hợp đồng số VID-TNC/961146 ngày 09-11-1996 phải chấm dứt việc tiếp

tục thực hiện hợp đồng này.

Xử lý tài sản đối với hợp đồng số VID-TNC/961146 ngày 09-11-1996 nh sau:

+ Công ty TANACO phải giao trả cho Công ty VIDAMCO 50 xe ô tô du lịch 4 chỗ ngồi hiệu DAEWOO CEILO xuất xứ Hàn Quốc (giao đúng loại xe mà Công ty TANACO đã nhận của Công

ty VIDAMCO).

+ Công ty VIDAMCO phải thanh toán trả lại cho Công ty TANACO số tiền là 59.048,02 USD Việc thanh toán thực hiện bằng tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra của Ngân hàng ngoại thơng thành phố Hồ Chí Minh vào thời điểm thanh toán.

– Chi phí giám định là 5.000.000 đồng Công ty TANACO và Công ty VIDAMCO mỗi bên

phải chịu 50%, thành tiền là 2.500.000 đồng, nộp cho Tổ chức giám định kế toán- tài chính thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, Bản án kinh tế phúc thẩm nêu trên còn quyết định sửa mức án phí kinh tế sơ thẩm các đơng sự phải nộp; Công ty TANACO không phải chịu án phí phúc thẩm nên đợc nhận lại số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp là 200.000 đồng

Sau khi xét xử phúc thẩm, các đơng sự đều có đơn khiếu nại đối với Bản án kinh tế phúc thẩmnêu trên

Tại Kháng nghị số 09/2002/TK-KT ngày 08-10-2002 đối với Bản án kinh tế phúc thẩm số 01/KTPT ngày 10-0l-2002 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh,Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xửtheo thủ tục giám đốc thẩm, sửa Bản án kinh tế phúc thẩm nêu trên, với lý do: “Việc Toà án cấpphúc thẩm tuyên bố hợp đồng số VID-TNC/961146 ngày 09-11-1996 giữa Công ty VIDAMCO vớiCông ty TANACO là hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu là không có căn cứ”.Tại Kết luận số 04/KL-AKT ngày 17/02/2003, Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhấttrí với kháng nghị số 09/2002 /TK-KT ngày 08-10-2002 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao đối

Trang 20

với Bản án kinh phúc thẩm số 01/KTPT ngày 10-01-2002 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tốicao tại thành phố Hồ Chí Minh

XéT THấY

Tại Bản án kinh tế phúc thẩm số 01/KTPT ngày 10-01-2002, Toà án cấp phúc thẩm vì chorằng việc bổ nhiệm ông Chong Gi Lee làm Tổng Giám đốc của Công ty VIDAMCO đã không đảmbảo trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật Việt Nam (không đúng về thủ tục họp Hội đồngquản trị, cha hoàn tất thủ tục có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về t cách ngời đứng đầu phápnhân để hoạt động đúng pháp luật) nên đã kết luận hợp đồng VID- TNC/961146 bị vô hiệu toàn bộtheo điểm c khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (do ngời ký hợp đồng không đúng thẩmquyền) và xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu là không đúng và cha phù hợp với quy định của phápluật Bởi vì:

Ngày 31-03-1995, với t cách là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty VIDAMCO, ông KyungHoon Lee gửi ông Ngô Đình Vấn - Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, văn bản với nội dung “nên triệu

tập một phiên họp chính thức của Hội đồng quản trị nh là kỳ họp đột xuất để phê chuẩn việc bổ nhiệm đối với ông Chong Gi Lee làm Tổng giám đốc và cử ông W Lee làm Phó Tổng giám đốc (tr-

ớc đó ông W.Lee đã là Tổng giám đốc Công ty VIDAMCO) Tuy nhiên, để tiết kiệm thời gian và

triển khai sớm, đề nghị Hội đồng quản trị quyết định việc cải tổ này bằng một văn bản có hiệu lực

nh là sự phê chuẩn của một phiên họp Hội đồng quản trị” Thực hiện đề nghị trên, Hội đồng quảntrị Công ty VIDAMCO có văn bản ngày 10-04-1995 theo đó cả 5 thành viên Hội đồng quản trị đã

ký đồng ý cử ông Chong Gi Lee làm Tổng giám đốc Công ty VIDAMCO Toà án cấp phúc thẩmviện dẫn Điều 7 điều lệ của Công ty VIDAMCO là: “Các cuộc họp của Hội đồng quản trị vềnguyên tắc đợc tổ chức tại trụ sở của Công ty liên doanh Trong trờng hợp đặc biệt có thể tổ chức ởnhững địa điểm khác nhau nhng phải đợc các bên thoả thuận” Và quy định tại phần I khoản 2Thông t số 238-HTĐT-VP ngày 17-05-1992 của Uỷ ban Nhà nớc về hợp tác và đầu t: “Biên bản

phiên họp Hội đồng quản trị đầu tiên phải đợc gửi đến Uỷ ban Nhà nớc về hợp tác đầu t" (trong đó

có vấn đề cử giám đốc), để cho là việc bổ nhiệm ông Chong Gi Lee làm Tổng giám đốc của

Công ty VIDAMCo đã không bảo đảm trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật Việt Nam.Nhận định này của Toà án cấp phúc thẩm cha đánh giá một cách toàn diện và hiểu một cáchcứng nhắc quy định tại Điều 7 (và không tham khảo Điều 8) điều lệ của Công ty VIDAMCO;cha hiểu đúng tinh thần quy định tại phần I khoản 2 Thông t số 238-HTĐT-VP nói trên Mặt khác,tham khảo Công văn số 8136/BKH-QLDA ngày 29-11-2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu t, thì Bộ kếhoạch và Đầu t (cơ quan quản lý nhà nớc trong lĩnh vực này) đã xác nhận ông Chong Gi Lee làTổng giám đốc Công ty VIDAMCO trong thời gian từ ngày 10-04-1995 đến ngày 25- 01-1999

Nh vậy, vào thời điểm ký hợp đồng số VID-TNC/961146 ngày 09-11-1996 ông Chong Gi Lee

đã là Tổng giám đốc hợp pháp của Công ty VIDAMCO, và việc ông Chong Gi Lee đại diện choCông ty VIDAMCO ký hợp đồng nêu trên là đúng thẩm quyền

Ngoài ra, yêu cầu kháng cáo của công ty TANACO đối với Kết luận giám định của Tổ chứcgiám định kế toán - tài chính thành phố Hồ Chí Minh cũng cha đợc Toà án cấp phúc thẩm xem xétgiải quyết cũng là không đúng pháp luật

Trang 21

Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 3 Điều 80 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế,

QUYếT ĐịNH

Huỷ toàn bộ Bản án kinh tế phúc thẩm số 01/KTPT ngày 10-01-2002 của Toà Phúc thẩm Toà

án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh Giao hồ sơ vụ án về Toà Phúc thẩm Toà án nhândân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật

Lý do huỷ toàn bộ Bản án phúc thẩm:

– Toà án cấp phúc thẩm đã kết luận hợp đồng số VID-TNC/961146 ngày 09-11-1996 bị vô hiệutoàn bộ và xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu là không đúng và cha phù hợp với quy định của phápluật

– Yêu cầu kháng cáo của Công ty TANACO đối với Kết luận giám định của tổ chức giám

định kế toán - tài chính thành phố Hồ Chí Minh cha đợc Toà án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết

là không đúng pháp luật

Quyết định số 05/2003/HĐTP-KT Ngày 24-02-2003

Về vụ án tranh chấp hợp đồng sơn bảo vệ

thiết bị thuỷ điện hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Tại phiên toà ngày 24-02-2003, đã xét xử vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồng cung cấp và thicông sơn bảo vệ thiết bị công trình thuỷ điện Yaly giữa:

Nguyên đơn:Tổng Công ty Điện lực Việt Nam

Trụ sở tại: số 18 Trần Nguyên Hãn, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Bị đơn:Công ty TNHH PREZIOSO (Việt Nam)

Trụ sở tại: Khu công nghiệp Bình Chiểu, phờng Bình Chiểu, Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.

Nhận thấy

Ngày 19-12-1997, Ban Quản lý dự án nhà máy thuỷ điện Yaly (bên A) và Công ty TNHHPrezioso Việt Nam (bên B) ký kết với nhau Hợp đồng kinh tế Giao nhận thầu cung cấp sơn và thicông sơn cho công trình thuỷ điện Yaly số 785 ĐVN/TĐIL- 2 và hai bản phụ lục số 1 và số 2 Ngày14-01-1998, hai bên ký Phụ lục 3 (Điều chỉnh hợp đồng số 785 ĐVN/TĐIL- 2 ngày 19-12-1997).Ngày 04-07-1998, ký tiếp phụ lục 4 (Điều chỉnh hợp đồng số 785 ĐVN/TĐIL- 2 ngày 19-12-1997).Ngày 06-01-1998 và ngày 20-05-1998, Ngân hàng BNP Việt Nam (chi nhánh thành phố Hồ ChíMinh) đã ký và gửi cho Ban Quản lý dự án nhà máy thuỷ điện Yaly giấy bảo lãnh thực hiện hợp đồng số

600237 với số tiền là 200.520 USD (10% giá trị hợp đồng) và giấy bảo lãnh tiền tạm ứng số 600203 với

số tiền là 300.780 USD (15% giá trị hợp đồng) để bảo lãnh cho khoản tiền tạm ứng của bên A là 15%giá trị hợp đồng theo Điều 6.3 của hợp đồng Các bảo lãnh này có hiệu lực đến hết ngày 06-01-1999.Trong các ngày 21-01-1998, 22-05-1998 và 02-06-1998, bằng các uỷ nhiệm chi số 52/1, 38/5

và 6/6, Ban Quản lý dự án nhà máy thuỷ điện Yaly đã chuyển cho Prezioso số tiền tạm ứng tổngcộng là 5.081.949.580 đồng

47

Trang 22

Ngày 31-08-1998, Ban Quản lý dự án nhà máy thuỷ điện Yaly và Công ty TNHH PreziosoViệt Nam ký với nhau hợp đồng số 634 để vận chuyển các thiết bị cần sơn theo quy định tại Điều 5hợp đồng số 785 trên.

Thực hiện hợp đồng, từ ngày 06-01-1998 đến hết ngày 05-05-1999 bên B đã thi công đợc27.221,98m2, trong đó có 24.075,6m2 đã nghiệm thu và 3.146,38m2 cha nghiệm thu Thực hiện hợp

đồng vận chuyển số 634 ngày 31-08-1998, bên B đã vận chuyển đợc 5.024,423 tấn thiết bị Bên A

đã thanh toán 3.672,056 tấn, cha thanh toán là 1.352,367 tấn, trị giá là 217.253.000 đồng

Ngày 05-05-1999, bằng Công văn số 0101/99/PVN/CT Prezioso thông báo chấm dứt hoạt

động tại xởng sơn cùng mọi hoạt động khác tại công trờng Yaly kể từ ngày 06-05-1999 và bắt

đầu tháo dỡ xởng, thu dọn tất cả vật t, thiết bị kể từ ngày 17-05-1999

Ngày 16-09-1999, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam khởi kiện vụ án ra Toà án nhân dân tỉnhGia Lai

Tại Bản án kinh tế sơ thẩm số 01/KTST ngày 14-12-2000, Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai đã xử:

– Buộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cho Công ty

TNHH Prezioso Việt Nam khối lợng công việc đã hoàn thành cha đợc thanh toán là 1.370.719.922,8 đồng và trả khoản tiền lãi do chậm thanh toán theo hợp đồng là: 41.856.065 đồng Tổng cộng hai khoản là: 1.412.575.987,8 đồng.

– Bác yêu cầu của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam đòi Công ty TNHH Prezioso Việt Nam

bồi thờng thiệt hại do tiến độ thi công chậm là 1.339.101.434 đồng.

– Buộc Công ty TNHH Prezioso Việt Nam phải hoàn lại tiền tạm ứng cho Tổng Công ty Điện

lực Việt Nam là: 2.898.540.098 đồng, bồi thờng thiệt hại do không tiếp tục thực hiện hợp đồng là 4.091.668.000 đồng và chịu khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng là 135.010.350 đồng Tổng cộng ba khoản là 7.125.218.448 đồng.

– Tổng Công ty Điện lực Việt Nam đợc quyền khởi kiện Công ty TNHH Prezioso Việt Nam

yêu cầu bồi thờng thiệt hại tiếp đối với khối lợng thi công thực tế còn lại theo đúng quy định của pháp luật.

– Bác yêu cầu của Công ty TNHH Prezioso Việt Nam đòi Tổng Công ty Điện lực Việt Nam

bồi thờng thiệt hại do phải ngừng thi công, bị tổn thất về tài chính là 20.049.808.224 đồng.

– Tổng Công ty Điện lực Việt Nam có nghĩa vụ chuyển khoản tiền thuế giá trị gia tăng là

63.105.260 đồng cho Công ty TNHH Prezioso Việt Nam để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nớc theo quy định.

– Căn cứ đoạn 3 khoản 1 Điều 41 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế xử: Tiếp

tục kê biên tài sản của Công ty TNHH Prezioso Việt Nam hiện có trên công trờng thuỷ điện Yaly

để đảm bảo cho công tác thi hành án sau này.

– Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế xử: Tổng Công

ty Điện lực Việt Nam và Công ty TNHH Prezioso Việt Nam, mỗi bên phải chịu chi phí phiên dịch

là 800.000 đồng, nộp tiền tại Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.

– Căn cứ Điều 29, khoản 3 Điều 30 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế xử:

+ Tổng Công ty Điện lực Việt Nam phải chịu tiền án phí kinh tế sơ thẩm là 56.751.677 đồng + Công ty TNHH Prezioso Việt Nam phải chịu tiền án phí kinh tế sơ thẩm là 81.175.026

đồng.

Trang 23

Ngày 22-12-2000, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam và Công ty TNHH Prezioso Việt Nam có

đơn kháng cáo đề nghị xét xử lại toàn bộ vụ án.

Tại Bản án kinh tế phúc thẩm số 01/2002/KTPT ngày 13-04-2002, Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã xử:

1/ Bác yêu cầu của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam đòi Công ty TNHH Prezioso Việt Nam phải bồi thờng thiệt hại do chậm tiến độ thi công và một phần bồi thờng thiệt hại do không tiếp tục thực hiện hợp đồng với tổng số tiền là 7.116.222.900 đồng.

2/ Bác yêu cầu của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam khoản tiền phạt do bên B chậm thi công

và một phần khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng với tổng số tiền 1.114.145.184 đồng.

3/ Bác yêu cầu của Công ty TNHH Prezioso Việt Nam đòi Tổng Công ty Điện lực Việt Nam khoản bồi thờng là 20.049.808.224 đồng.

4/ Buộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam phải thanh toán tiền cho Công ty TNHH Prezioso Việt Nam khối lợng công việc đã hoàn thành nhng cha đợc thanh toán là 1.370.719.922,8 đồng và khoản tiền lãi do chậm thanh toán là 41.856.065 đồng Tổng hai khoản là 1.412.575.987,8 đồng 5/ Buộc Công ty TNHH Prezioso Việt Nam phải hoàn lại tiền tạm ứng cho Tổng Công ty Điện lực Việt Nam 2.898.540.098 đồng; bồi thờng thiệt hại do ngừng thi công gây ra là 3.891.668.000

đồng; phạt do vi phạm hợp đồng là 225.017.250 đồng Tổng ba khoản là 7.015.225.348 đồng 6/ Tổng Công ty Điện lực Việt Nam có nghĩa vụ chuyển khoản tiền thuế giá trị gia tăng là 63.105.260 đồng cho Công ty TNHH Prezioso Việt Nam để Công ty thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nớc.

7/ Tổng Công ty Điện lực Việt Nam có quyền khởi kiện Công ty TNHH Prezioso Việt Nam đòi bồi thờng tiếp đối với khối lợng mới thi công thực tế còn lại.

Tổng Công ty Điện lực Việt Nam phải chịu tiền án phí kinh tế sơ thẩm là 36.642.944 đồng Công ty TNHH Prezioso Việt Nam phải chịu tiền án phí kinh tế sơ thẩm là 54.065.033 đồng.

Ngày 20-06-2002, Prezioso có đơn số 87/02/PVN/ADM khiếu nại Bản án kinh tế phúc thẩm

số 01/2002/KTPT ngày 13-04-2002 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.Tại Quyết định kháng nghị số 13/KN- AKT ngày 28-10-2002, Viện trởng Viện Kiểm sát nhândân tối cao cho rằng bản Hợp đồng số 785/ĐVN/TĐIL-2 ngày 19-12-1997 bị vô hiệu toàn bộ doBan Quản lý dự án nhà máy thuỷ điện Yaly không phải là pháp nhân và ng ời ký hợp đồng không

đúng thẩm quyền, vi phạm tiết c khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế, đề nghị Hội đồngThẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, căn cứ vào khoản 3 Điều 80 Pháp lệnhThủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, huỷ Bản án sơ thẩm và phúc thẩm để giao về xét xử sơ thẩmlại theo hớng xử lý hợp đồng vô hiệu toàn bộ đối với hợp đồng kinh tế số 785 ĐVN/TĐIL-2 ngày19-12-1997 và kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với ngời ký kết Hợp đồng số 785 ĐVN/TĐIL-2 bịvô hiệu toàn bộ gây thiệt hại lớn đến tài sản Nhà nớc theo khoản 3 Điều 39 Pháp lệnh Hợp đồngkinh tế

Xét thấy

1/ Kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng quyết định 365/ĐVN/TCCB-LĐngày 27-05-1995 của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam là quyết định thành lập ra ban Quản lý dự

án nhà máy thuỷ điện Yaly và do đó đã vi phạm quy định tại Điều 25 bản điều lệ tổ chức và hoạt

động của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định số 14/CP ngày

27-01-1995 của Chính phủ Vì vậy, Ban Quản lý dự án nhà máy thuỷ điện Yaly đợc thành lập không hợp

Trang 24

pháp, không thể là một pháp nhân và do đó không thể là chủ thể của hợp đồng kinh tế Nhận địnhtrên là cha chính xác, vì tiền thân của Ban Quản lý dự án nhà máy thuỷ điện Yaly là Ban Quản lýcông trình nhà máy thuỷ điện Yaly đã đợc thành lập bằng Quyết định số 71/NL/TCCB- LĐ ngày03-02-1989 của Bộ Năng lợng Quyết định thành lập này đã quy định rõ “Ban Quản lý công trìnhnhà máy thuỷ điện Yaly có t cách pháp nhân, ” Quyết định số 365/ĐVN/TCCB- LĐ của TổngCông ty Điện lực Việt Nam chỉ đổi tên pháp nhân và đa nó về trực thuộc Tổng Công ty Điện lựcViệt Nam mà thôi Do quyết định số 365/ĐVN/TCCB- LĐ của Tổng Công ty Điện lực Việt Namkhông phải là quyết định thành lập nên Ban Quản lý dự án nhà máy thuỷ điện Yaly không thể là tổchức đợc “thành lập cha hợp pháp” Do Ban Quản lý dự án nhà máy thuỷ điện Yaly chỉ là tên mớicủa pháp nhân Ban Quản lý công trình nhà máy thuỷ điện Yaly nên nó vẫn là một pháp nhân.Theo quy định tại Điều 2, Điều 9 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế thì Pháp nhân là chủ thể của hợp

đồng kinh tế, ngời đại diện hợp pháp của pháp nhân có thể uỷ quyền bằng văn bản cho ngời khácthay mình ký hợp đồng kinh tế Hợp đồng kinh tế Giao nhận thầu cung cấp sơn và thi công sơn chocông trình thuỷ điện Yaly số 785 ĐVN/TĐIL- 2 và bốn bản phụ lục của nó có chủ thể là pháp nhânBan Quản lý dự án nhà máy thuỷ điện Yaly và ngời đại diện ký kết là ông Trần Quý Hảo, phó chủnhiệm điều hành dự án đợc đại diện hợp pháp của pháp nhân là ông Đỗ Đông Xuyên, chủ nhiệm

điều hành dự án uỷ quyền bằng văn bản ký ngày 18-12-1997 Đối chiếu với quy định trên của phápluật, bản hợp đồng kinh tế giao nhận thầu cung cấp sơn và thi công sơn cho công trình thuỷ điệnYaly số 785 ĐVN/TĐIL-2 và bốn bản phụ lục của nó là hoàn toàn hợp pháp, không có căn cứ đểxác định bản hợp đồng này bị vô hiệu toàn bộ do vi phạm tiết c khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh Hợp đồngkinh tế (ngời ký hợp đồng kinh tế không đúng thẩm quyền)

2/ Đối với các nội dung khác của vụ án:

Điều 5 của hợp đồng số 785 ĐVN/TĐIL- 2 có quy định:

Phụ lục 2 Kèm theo hợp đồng số 785 ĐVN/TĐIL-2 ngày 19-12-1997 (đặc tính kỹ thuật thi

công) (BL 24-27) có quy định rõ:

"I - Chuẩn bị nhà xởng:

Bên B nghiên cứu thực hiện thi công nh sau:

 Xử lý trong xởng phun thổi rỉ (bằng hạt mài mòn) và sơn phủ

Ngày đăng: 12/11/2012, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w