EBOOK - QUYỀN NĂNG TƯ TƯỞNG
Trang 2QUYỀN NĂNG TƯ TƯỞNG
hoa bưởi
Trang 4Mục Lục
LỜI NÓI ÐẦU
PHẦN MỞ ÐẦU
HỮU NGÃ LÀ NGƯỜI-HIỂU-BIẾT
VÔ NGÃ LÀ CÁI ÐƯƠ ̣C-HIỂU-BIẾT
SƯ ̣ HIỂU BIẾT LÀ TRI
CHƯƠNG MỘT
BẢN CHẤT TƯ TƯỞNG
SỰ LIÊN QUAN GIỮA NGƯỜI-HIỂU-BIẾT, VẬT-ÐƯỢC-BIẾT VÀ BIẾT
SỰ-HIỂU-CHƯƠNG HAI
KẺ SÁNG TẠO ẢO TƯỞNG
HẠ TRÍ VÀ MANAS (MẠT NA THỨC)
RÈN LUYỆN VÀ NÂNG CAO THỂ TRÍ
CHƯƠNG BA
CHUYỂN DI TƯ TƯỞNG
CHƯƠNG BỐN
NGUỒN GỐC TƯ TƯỞNG
MỐI LIÊN QUAN GIỮA CẢM GIÁC VÀ TƯ TƯỞNG
CHƯƠNG NĂM
KÝ ỨCBẢN TÍNH CỦA TRÍ NHỚ
KÉM TRÍ NHỚ
KÝ ỨC VÀ TIÊN ÐOÁN
CHƯƠNG SÁU
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG
GIÁ TRI ̣ CỦA THUẬT QUAN SÁT
SỰ PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG TRÍ TUỆ
RÈN LUYỆN TRÍ TUỆ
CHƯƠNG BẢY
ÐI ̣NH TRÍ
NƠI NÀO CÓ ÐỐI TƯỢNG LÀ CÓ TÂM THỨC ÐÁP ỨNG
ÐI ̣NH TRÍ CÁCH NÀO ?
CHƯƠNG TÁM
NHỮNG TRỞ NGẠI CHO VIỆC ÐI ̣NH TRÍ
TRÍ XAO ÐỘNG
ÐI ̣NH TRÍ KHÔNG ÐÚNG CÁCH RẤT NGUY HẠI
THIỀN ÐI ̣NH
Trang 5CHƯƠNG CHÍN
TĂNG CƯỜNG QUYỀN NĂNG TƯ TƯỞNG
LO – LÀM SAO CHO HẾT LO
SUY TƯỞNG VÀ NGƯNG SUY TƯỞNG
BÍ QUYẾT LÀM CHO TRÍ YÊN TI ̣NH
CHƯƠNG MƯỜI
GIÚP NGƯỜI BẰNG TƯ TƯỞNG
GIÚP ÐỠ KẺ QUÁ VÃNG
DÙNG TƯ TƯỞNG HOẠT ÐỘNG TRONG GIẤC NGỦSỨC MẠNH CỦA TƯ TƯỞNG LIÊN HIỆP
LỜI KẾT
Chú Thích
Trang 6LỜI NÓI ÐẦU
Tôi soa ̣n quyển sách nhỏ này nhằm giúp ho ̣c giả tìm hiểu bản tính mình, tuy chưahoàn hảo, nhưng về phương diê ̣n trí thức, ít ra nó cũng hữu ích cho kẻ sơ cơ
Người nào thấu rõ các nguyên tắc trình bày nơi đây có thể cô ̣ng tác với thiên cơ đểmau tiến hóa, đồng thời các quan năng trí thức của mình cũng phát triển nhanh chóngnữa
Ðoa ̣n đầu quyển sách này sẽ đem la ̣i nhiều điểm khó khăn cho những đô ̣c giả chưabén duyên với mùi đa ̣o, nên những người đó có lẽ chỉ đo ̣c sơ rồi bỏ qua Thâ ̣t ra phầnnhâ ̣p đề là căn bản cần thiết cho những ai muốn tìm hiểu các mối liên quan giữa tríthức cùng các môi giới của bản tính con người và ngoa ̣i cảnh
Kẻ nào muốn thư ̣c hành câu châm ngôn: “Mình tư ̣ biết mình” thì chẳng nên giải
đãi trước sư ̣ cố gắng nhỏ nhen và cũng đừng mong thức ăn tinh thần ngẫu nhiên rơivào miê ̣ng
Dầu cho tác phẩm nhỏ này chỉ giúp đươ ̣c vài ho ̣c giả đứng đắn vươ ̣t qua mô ̣t ít trởnga ̣i trên đường hiểm trở thì cũng đủ đa ̣t mu ̣c đích rồi vâ ̣y
ANNIE BESAN
Trang 8PHẦN MỞ ÐẦU
Phải sống mô ̣t đời sống trong sa ̣ch và thanh cao mới có thể nhâ ̣n thức đươ ̣c giá tri ̣của Minh Triết Quyển sách nhỏ này ra đời nhằm mu ̣c đích nâng đỡ các ho ̣c giả chânchính muốn áp du ̣ng sư ̣ hiểu biết về lý thuyết đã lãnh hô ̣i trong khi nghiên cứu giáo lýThông Thiên Ho ̣c, ngõ hầu trau dồi bản tính mình và giúp ích nhân loa ̣i Chúng tôi hi
vo ̣ng sư ̣ thông hiểu tinh tường về bản tính trí thức sẽ hướng dẫn những kẻ ấy quyếttâm lánh dữ làm lành
Cái tính tình thúc giu ̣c chúng ta sống mô ̣t cuô ̣c đời ngay thâ ̣t sẽ giảm bớt phân nửagiá tri ̣ nếu ánh sáng của trí tuê ̣ không soi tỏ con đường lâ ̣p ha ̣nh của chúng ta Khácnào kẻ mù, càng đi xa thì càng la ̣c lối, để rồi rơi xuống hố sâu, và cũng như ChơnNhơn (Ego) bi ̣ vô minh che lấp, xa lìa đường chính, chung cuô ̣c sa đo ̣a vào vư ̣c thẳmcủa chướng ngbiê ̣p
Avidya – Vô minh – Chính là bước đầu làm cho con người xa lìa Ðơn Nhứt đểtiến đến sư ̣ chia rẽ Do đó, người đời còn vô minh thì còn chia rẽ, giảm bớt vô minhthì giảm bớt chia rẽ Chỉ khi nào con người diê ̣t tâ ̣n vô minh thì mới an vui tư ̣ ta ̣i
Trang 9HỮU NGÃ LÀ NGƯỜI-HIỂU-BIẾT
Khi nghiên cứu bản tính con người, chúng ta phải phân biê ̣t giữa con người và cácthể, giữa Chơn ngã với các lớp y phu ̣c bên ngoài
Chơn ngã thì duy nhất, mă ̣c dù Chơn ngã biểu hiê ̣n dưới nhiều hình thức bằngnhiều thể chất khác nhau Dĩ nhiên, theo nghĩa đầy đủ nhất của từ thì chỉ có cái Ta làChơn Ngã Duy Nhất Tỷ như tất cả tia sáng đều do mă ̣t trời phát quang, còn những cái
“Ta” tức là con người (Bản ngã) đều là những tia sáng của Ða ̣i Ngã, cũng go ̣i là ChơnNgã tối cao phát huy Vì vâ ̣y mỗi người trong chúng ta đều có thể tư ̣ hào: “Ta là Ða ̣iNgã”
Tuy nhiên, trong mu ̣c tiêu hiê ̣n thời, chúng ta chỉ đề câ ̣p đến mô ̣t tia sáng, songchúng ta cũng có thể xác đi ̣nh thư ̣c tính duy nhất của tia sáng riêng rẽ này, dù nó đang
bi ̣ màn sắc tướng che khuất
Tâm thức là Ðơn Nhứt, nhưng ta ̣i chúng ta thường hay phân tích nó ra nhiều cáchđể dễ biê ̣n luâ ̣n, hoă ̣c giả do những giác quan yếu đuối của chúng ta ta ̣o ra nhữngquan niê ̣m sai lầm để chúng ta ta ̣m dùng nơi cõi trần
Cái Ta là Hữu ngã, tức là Bản ngã luôn luôn biểu lô ̣ chung trong ba tra ̣ng thái:
“Nhâ ̣n thức, Ý muốn và Hành đô ̣ng” – do đó phát sanh những tư tưởng, những hammuốn và những hành đô ̣ng Vả la ̣i trong Bản ngã không có sư ̣ phân chia, cho nên toànthể cái “Ta” hiểu biết, toàn thể cái “Ta” ham muốn và toàn thể cái “Ta” hành đô ̣ng.Ngoài ra các đô ̣ng tác này tương quan, tương ứng với nhau, vì vâ ̣y, khi chúng ta hiểubiết thì chúng hành đô ̣ng và ham muốn, khi chúng ta hành đô ̣ng thì chúng ta cũnghiểu biết và ham muốn, và khi chúng ta ham muốn thì chúng ta cũng hành đô ̣ng vàhiểu biết
Khi mô ̣t chức năng nào vươ ̣t quá mức đô ̣ thì làm cho chức năng khác suy nhươ ̣c,nhưng không tiêu diê ̣t hẳn Như mô ̣t trong ba tra ̣ng thái của Bản ngã là chức năng
“nhâ ̣n thức” dù có tâ ̣p trung mãnh liê ̣t thế mấy cũng không thể diê ̣t chức năng “ýmuốn” và “hành đô ̣ng” Hai chức năng này vẫn tồn ta ̣i và tiềm tàng trong Bản ngã.Hơn nữa, nhờ nghiên cứu tỉ mỉ nên chúng ta mới phân tích đươ ̣c
Chúng ta go ̣i ba chức năng đó là “ba tra ̣ng thái của Bản ngã” Thêm vài lời giảithích, có lẽ chúng ta dễ hiểu hơn: khi cái Ta an tĩnh thì tra ̣ng thái “nhâ ̣n thức” pháthiê ̣n, nhờ đó chúng ta có thể tiếp nhâ ̣n hình dáng mo ̣i vâ ̣t trước mắt Khi cái Ta chú
đi ̣nh vào sư ̣ biến đổi của tra ̣ng thái, thì phát sanh “Ý muốn”, và khi cái Ta đứng trước
mô ̣t cảnh vâ ̣t nào, rồi phát đô ̣ng năng lư ̣c để tiếp xúc với cảnh vâ ̣t đó thì sanh ra
“Hành đô ̣ng” Như vâ ̣y, chúng ta hiểu rằng ba tra ̣ng thái này không phải là sư ̣ chia rẽcủa Bản ngã như mô ̣t chia làm ba, cũng không phải ba phối hơ ̣p làm mô ̣t, mà là cái
mô ̣t toàn thể, không chia xẻ đươ ̣c, phát hiê ̣n ra ba cách khác nhau
Thâ ̣t khó mà quan niê ̣m minh ba ̣ch về Bản ngã, chỉ có mô ̣t cách giản tiê ̣n go ̣i đích
Trang 10danh nó là Bản ngã Bản ngã là tâm thức, nha ̣y cảm và luôn luôn hiê ̣n hữu Mỗi ngườitrong chúng ta đều nhìn nhâ ̣n hiê ̣n đang “có Ta” Không mô ̣t ai phủ nhâ ̣n cái “có Ta”
hay thẳng thắn quả quyết rằng “không có Ta” Như Bhavagan Das đã nói: “Bản ngã là căn bản tro ̣ng yếu của sư ̣ sống Theo lời ông Vachaspati – Mishra trong Luâ ̣n giải (the Bhamati) về quyển Shariraka – Bhashya của Ngài Sankaracharya thì không có người nào hoài nghi mà tư ̣ hỏi: “Có Ta hay không có Ta ”?
Thừa nhâ ̣n “có Ta”, tức là chấp Ngã, đó là cái thừa nhâ ̣n đầu tiên, trước hết mo ̣i sư ̣mà không cần phải trưng bằng cớ Vì không mô ̣t thư ̣c chứng nào có thể làm cho nóvững chắc thêm và cũng không có mô ̣t phản chứng nào khác làm cho nó yếu bớtđươ ̣c Cả thư ̣c chứng và phản chứng đều căn cứ nơi “Ngã chấp” Cảm giác không thể
bắt bẻ đươ ̣c là vì chúng ta hiê ̣n đang Sống đây chỉ cảm biết hơn và kém Khi Vui thích
ta cảm thấy “Ta hơn”, nhưng đến lúc Khổ, ta la ̣i cảm thấy “Ta kém”
Nếu quan sát kỹ lưỡng, chúng ta cảm thấy “Ngã chấp” này diễn tả ba cách riêngbiê ̣t:
1 – Sự phản hưởng từ bên trong cái Vô ngã là Sư ̣ hiểu biết, nguồn gốc của tưtưởng
2 – Sự tâ ̣p trung vào nô ̣i tâm là Ý chí, nguồn gốc của ham muốn
3 – Sự phát triển ra ngoa ̣i cảnh là Năng lư ̣c, nguồn gốc của sư ̣ hoa ̣t đô ̣ng
“Ta hiểu biết hay suy tư ”, “Ta ham muốn hay ước vo ̣ng ”, “Ta phát huy năng lư ̣c hay hành đô ̣ng”, đó là ba sư ̣ xác đi ̣nh của Ngã chấp, là Bản ngã duy nhất Tất cả sư ̣
biểu hiê ̣n đều có thể gom vào mô ̣t hay của ba đề mu ̣c này Bản ngã cũng chỉ biểu lô ̣ ởcõi trần theo ba phương thế đó mà thôi, giống như các màu sắc biến đổi đều do bamàu chánh Cũng mô ̣t lẽ ấy, tất cả những biến tướng của Bản ngã đều do “Hiểu biết”,
“Ý muốn” và “Hành đô ̣ng” hơ ̣p chung la ̣i
Cái Ta ham muốn, cái Ta hiểu biết, cái Ta hành đô ̣ng, chính là cái Mô ̣t trong trườngtồn, ta ̣o thành căn bản của cá thể trong Không gian và Thời gian Ðó là Bản ngã dướihình thức tư tưởng, là tra ̣ng thái của Kẻ-hiểu-biết và cũng là đề mu ̣c của quyển sách
VÔ NGÃ LÀ CÁI ÐƯỢC-HIỂU-BIẾT
Bản ngã vốn “bản tính là hiểu biết”: tư ̣ thấy nơi nó phản chiếu nhiều sắc tướng, và
do kinh nghiê ̣m, Bản ngã nhâ ̣n biết rằng nó không thể hiểu biết, hay hành đô ̣ng, hoă ̣cham muốn xuyên qua những sắc tướng đươ ̣c Tuy nhiên, nhờ sắc tướng mà Bản ngãmới nhâ ̣n thức đươ ̣c sắc tướng không thuô ̣c pha ̣m vi kiểm soát của Bản ngã như lúcban sơ Bản ngã đã ý thức đươ ̣c sắc tướng và xem sắc tướng như nó (Mă ̣c dù quanniê ̣m này sai lầm, nhưng rất cần thiết) Vì Bản ngã hiểu biết chớ không phải sắc tướnghiểu biết hay suy tư Bản ngã ham muốn chớ tuyê ̣t nhiên sắc tướng không ham muốnhay vo ̣ng đô ̣ng chi cả Bản ngã phát huy năng lư ̣c chớ sắc tướng không mảy may xê
di ̣ch hay hành đô ̣ng gì hết Bởi vâ ̣y, Bản ngã không thể xâm nhâ ̣p vào sắc tướng để
nói: “Ta biết ”, “Ta muốn ”, “Ta làm”, và sau cùng Bản ngã hiểu rằng mỗi sắc tướng
Trang 11đều có cái “Ngã” riêng biê ̣t, đang biến chuyển dưới hình thức kim tha ̣ch, thảo mô ̣c,thú cầm, nhân loa ̣i và siêu nhân, đoa ̣n tổng hơ ̣p la ̣i bằng mô ̣t từ ngữ dễ hiểu là “KhôngTa”, tức là Vô ngã.
Vô ngã là gì?
Ðó là câu hỏi đã nêu ra từ ngàn xưa và đươ ̣c giải đáp như sau:
Vô ngã nghĩa là “Không Ta” hay là không chấp nhâ ̣n có Ta Tất cả những gì mà Takhông hiểu biết, Ta không ham muốn hay là Ta không hành đô ̣ng, đều go ̣i là Vô ngã
Lời giải đáp trên đây phù hơ ̣p với nhu cầu thư ̣c tế Tuy nhiên, sau khi lần lươ ̣t phântích các trơ ̣ duyên – ngoa ̣i trừ bản chất tế nhi ̣ cấu ta ̣o Bản ngã – thì Bản ngã hiểu rằngcác trơ ̣ duyên ấy là nhiều thành phần của Vô ngã, là đối tươ ̣ng của sư ̣ hiểu biết, kếtthành “Sư ̣-vâ ̣t-để-hiểu-biết”, chớ không phải “Người-hiểu-biết”
Thâ ̣t ra Bản ngã không khi nào tư ̣ xem nó như mô ̣t đối tươ ̣ng riêng biê ̣t, chính dobản chất tinh vi hơn hết ta ̣o cho Bản ngã mô ̣t cái Ta riêng biê ̣t, vì bản chất này rất cầnthiết để ta ̣o thành mô ̣t cá thể Nếu hiểu biết bản chất đó chỉ là Vô ngã thì chúng ta mớicó thể nhìn sâu vào Tất cả
Trang 12SỰ HIỂU BIẾT LÀ TRI
Muốn Bản ngã trở thành “Người-hiểu-biết”, còn Vô ngã thành “Cái-đươ biết” thì giữa đôi bên phải có sư ̣ tương quan rõ rê ̣t Bản ngã phải ảnh hưởng đến Vôngã và Vô ngã cũng phải ảnh hưởng đến Bản ngã thì mới sanh ra sư ̣ hiểu biết
̣c-hiểu-Sư ̣ hiểu biết phân biê ̣t là môi giới giữa Bản ngã và Vô ngã Ðă ̣c tính của sư ̣ hiểu biếtsẽ là đầu đề cho chương sau Tuy nhiên, trước hết chúng ta cần phải hiểu rõ rằng sư ̣hiểu biết là mối liên kết bao hàm nhi ̣ nguyên:
1 – Ý thức đươ ̣c có mô ̣t cái “Ta” (Bản ngã hay Hữu ngã)
2 – Thừa nhâ ̣n có mô ̣t cái “Không Ta” (Phi ngã hay Vô ngã)
Hai yếu tố này phải tương tác nhau mới sanh ra “Sư ̣ hiểu biết”
Người-hiểu-biết, Cái-hiểu-biết, Sư ̣-hiểu-biết – Ðó là Ba trong Mô ̣t, mà chúng ta cầnphải cố gắng tìm hiểu cho tường tâ ̣n, nếu chúng ta muốn dùng sức ma ̣nh tư tưởng đểlàm cứu cánh cho mình và phu ̣c vu ̣ đời
Theo thuâ ̣t ngữ Tây phương: Trí khôn hiểu biết là Chủ thể, vâ ̣t thể đươ ̣c hiểu biết làÐối tươ ̣ng, còn mối liên kết giữa Chủ thể và Ðối tươ ̣ng là Sư ̣ hiểu biết
Vả la ̣i, chúng ta cần phải hiểu về đă ̣c tính của Người-hiểu-biết và Cái-hiểu-biết, sư ̣tương quan giữa Người-hiểu-biết và Cái-hiểu-biết, sau cùng là cách phối hơ ̣p các mốitương quan ấy
Khi hiểu rõ các điều trên đây, chúng ta đã trải qua mô ̣t bước dài để đi đến chỗ Mình
tư ̣ biết Mình, là cơ cấu của Minh triết Chừng đó chúng ta mới có thể giúp đỡ nhữngngười lân câ ̣n có hiê ̣u quả và giúp đời đắc lư ̣c Ðó là tiêu chuẩn chân thâ ̣t của Minhtriết và cũng nhờ lòng Từ bi bác ái mà Minh triết cứu đô ̣ chúng sanh thoát khỏi phiềnnão, đến tâ ̣n bờ giác
Ðó cũng là đề mu ̣c cho sư ̣ nghiên cứu của chúng ta Sách Tâm lý ho ̣c Cổ truyền rấtthâm diê ̣u chép rằng: Ðối tươ ̣ng của triết lý là diê ̣t khổ Vì lẽ đó mà các thức giả phảisuy tư và cũng vì thế mà sư ̣ hiểu biết vẫn đươ ̣c theo dõi không ngừng
Trang 13CHƯƠNG MỘT
BẢN CHẤT TƯ TƯỞNG
Bản chất của tư tưởng có thể nghiên cứu về hai quan điểm:
1 – Quan điểm về Tâm thức, là khả năng hiểu biết phân biê ̣t,
2 – Quan điểm về Sắc tướng, là hình thể Nhờ có hình thể thì chúng ta mới thấybiết Hình thể thường biến đổi theo ngoa ̣i cảnh
Theo Triết ho ̣c, chúng ta nên tránh hai trường hơ ̣p sau đây kẻo bi ̣ sa vào chủ nghĩa
cư ̣c đoan
Phái cư ̣c nô ̣i (hướng nô ̣i thái quá) chủ trương va ̣n vâ ̣t, va ̣n sư ̣ do tâm ta ̣o, khôngchấp nhâ ̣n sắc tướng là điều kiê ̣n tối cần cho tâm thức Trái la ̣i, phái cư ̣c ngoa ̣i (hướngngoa ̣i thái quá) thì duy vâ ̣t, phủ nhâ ̣n sư ̣ sống trong tâm linh và cho rằng tất cả mo ̣ihình thức đều do vâ ̣t chất hóa sanh
Hình da ̣ng và sư ̣ sống, vâ ̣t chất và tinh thần, khí thể và tâm thức, đều là tra ̣ng tháiliền đôi của Cái Ðó liên kết chă ̣t chẽ và khi biểu hiê ̣n thì không khi nào tách biê ̣t ra.Cái Ðó không phải tâm thức hay khí thể mà là cô ̣i rễ của cả hai: vâ ̣t chất và tinh thần
Triết lý nào chỉ biết có vâ ̣t chất mà phủ nhâ ̣n sư ̣ sống trong tâm linh thì sẽ vấp phảinhững vấn đề nan giải Trái la ̣i, triết lý nào chỉ chú tro ̣ng về sư ̣ sống thiêng liêng,không chi ̣u hiểu biết vâ ̣t chất thì sẽ gă ̣p mô ̣t bức tường kiên cố ngăn cách, không thểvươ ̣t qua đươ ̣c
Giải pháp cuối cùng là tâm thức và khí thể, sư ̣ sống và hình da ̣ng, tinh thần và vâ ̣tchất, là biểu thi ̣ nhất thời của hai tra ̣ng thái của Hiê ̣n Hữu Duy nhất mà chúng ta khôngthể hiểu biết đươ ̣c, trừ phi tra ̣ng thái đó biểu hiê ̣n thành:
a) Tinh thần Căn nguyên (Pratyagatman) – Bản thể vô tướng – do đó phátsanh những cái Ta riêng biê ̣t,
b) Vâ ̣t chất Căn nguyên (Mulaprakriti) thì phát sanh sắc tướng, tức là nhữnghình dáng có thể trông thấy đươ ̣c
Khi biến hiê ̣n thì Tinh thần Căn nguyên sanh ra bô ̣ ba tâm thức, và Vâ ̣t chất Cănnguyên sanh ra bô ̣ ba Vâ ̣t chất, còn nền tảng của Thư ̣c ta ̣i Duy nhất thì tâm thức hữu
vi không thể nào biết rõ Như đóa hoa không bao giờ hay biết rễ cây đã làm cho nónẩy nở, mă ̣c dù rễ cây là nguồn sống của hoa; nếu không có rễ thì không khi nào cóhoa
Bản ngã là Người-hiểu-biết, có nhiê ̣m vu ̣ làm phản chiếu la ̣i nó cái Vô ngã Tỷ nhưkính ảnh thu nhâ ̣n ánh sáng do những vâ ̣t phản chiếu la ̣i và nhờ ánh sáng làm biến đổithể chất mà nó ro ̣i vào để ta ̣o thành hình ảnh của sư ̣ vâ ̣t Cũng thế đó, Bản ngã thâu
Trang 14nhâ ̣n những hình ảnh ở ngoa ̣i cảnh Nhờ tia sáng của Bản ngã Duy nhất ro ̣i vào cảnh
vâ ̣t, rồi cảnh vâ ̣t ấy phản chiếu trên nhãn cầu của Bản ngã làm phát hiê ̣n trên mă ̣t nhãncầu hình bóng cảnh vâ ̣t vô ngã Trong giai đoa ̣n hoa ̣t đô ̣ng đầu tiên của tâm thức Bảnngã không hiểu biết đươ ̣c cảnh vâ ̣t thư ̣c sư ̣, mà chỉ nhâ ̣n biết hình bóng cảnh vâ ̣t của
vô ngã phản chiếu trên lớp nha ̣y cảm của nhãn cầu, nghĩa là con người (Bản ngã) nhờ
că ̣p mắt mới nhâ ̣n biết hình bóng cảnh vâ ̣t ở ngoa ̣i giới
Bởi vâ ̣y, cái Trí là quan năng của Bản ngã, có thể ví như tấm gương soi, đă ̣t trướccảnh vâ ̣t nào thì thấy trong gương in hình bóng cảnh vâ ̣t đó Ðúng ra, chúng ta khôngkhi nào biết đươ ̣c thư ̣c thể của chính cảnh vâ ̣t, mà chỉ biết hình dung của cảnh vâ ̣tphát hiê ̣n từ trong tâm thức của chúng ta, vì cái trí của chúng ta chỉ nhâ ̣n thức đươ ̣cnhững phản ảnh của cảnh vâ ̣t chớ không phải cảnh vâ ̣t thâ ̣t sư ̣ Cũng như vâ ̣y, cái Tríchỉ hiểu biết đươ ̣c ảo ảnh của ngoa ̣i cảnh chớ không thể hiểu biết đươ ̣c thư ̣c thể củacảnh vâ ̣t Sở dĩ hình ảnh phát hiê ̣n ra đươ ̣c là do trơ ̣ duyên làm cho Bản ngã nhâ ̣n thứccảnh vâ ̣t, sư ̣ nhâ ̣n thức này chỉ phỏng ta ̣o theo cảnh vâ ̣t
Tuy nhiên, trong đoa ̣n trước, chúng tôi có dùng từ “phản chiếu” và tấm gương soi
để so sánh, thâ ̣t ra không đươ ̣c chỉnh, vì cảnh tươ ̣ng ở trong trí là phỏng ta ̣o theo cảnh vâ ̣t, chớ không phản chiếu Thể chất của cái Trí chế biến mô ̣t cảnh vâ ̣t tương tơ ̣
cảnh vâ ̣t mà cái trí đã thâu nhâ ̣n đươ ̣c, kế đó Bản ngã phóng tác và sửa đổi lần lầncảnh vâ ̣t đó cho giống cảnh vâ ̣t thâ ̣t ở bên ngoài, rồi go ̣i là Ta hiểu biết cảnh vâ ̣t Thâ ̣t
ra trong trường hơ ̣p này, những gì mà Bản ngã nhâ ̣n thức đươ ̣c chỉ là ảnh tươ ̣ng do trơ ̣duyên ta ̣o ra chớ không phải cảnh vâ ̣t thâ ̣t sư ̣ Vả la ̣i, ảnh tươ ̣ng đó không phải là mô ̣tphóng tác y hê ̣t cảnh thâ ̣t, vì lý do riêng, chúng tôi sẽ đề câ ̣p vấn đề này nơi chươngkhác
Có người hỏi: Nếu vâ ̣y thì chúng ta không thể nào biết đươ ̣c cảnh vâ ̣t thâ ̣t sư ̣ haysao ? Cái thấy sai lầm này còn kéo dài mãi không ?
Ðiều đó làm cho chúng ta nhâ ̣n thấy có sư ̣ biến chuyển khác biê ̣t giữa tâm thức và
vâ ̣t chất Sở dĩ tâm thức hoa ̣t đô ̣ng đươ ̣c là do vâ ̣t chất Có như thế mới tìm đươ ̣c lờigiải đáp cho câu chất vấn tư ̣ nhiên trên đây theo trí tuê ̣ của mo ̣i người Khi Bản ngãtiến hóa cao thì tư ̣ nhiên quyền năng phát triển, do đó Bản ngã có thể ta ̣o la ̣i trong trítất cả những gì ở ngoa ̣i giới Cái lớp vỏ vâ ̣t chất bao bo ̣c cái trí mà trước kia Bản ngãdùng hoa ̣t đô ̣ng thì bây giờ tan rã Lúc này tâm thức nhâ ̣n thấy rằng Bản ngã của nó vàcác Bản ngã khác đang cùng nhau tiến hóa vốn là đồng nhất, vì vâ ̣y Bản ngã chỉ xem
Vô ngã như vâ ̣t chất do nhiều Bản ngã riêng biê ̣t kết hơ ̣p la ̣i mà thôi Ðó là “Ða ̣i Nhâ ̣t, Hãy ở với chúng tôi” Ðó là sư ̣ hiê ̣p nhất, là sư ̣ vinh quang của cuô ̣c tiến hóa, lúc ấy
tâm thức tư ̣ biết mình và biết những tâm thức khác cũng như mình vâ ̣y Hòa đồng với
va ̣n vâ ̣t là hiểu biết thông suốt, Bản ngã nhâ ̣p vào tra ̣ng thái vi diê ̣u là đồng nhất, bấthoa ̣i, ký ức không mất, sư ̣ chia rẽ cáo chung và người-hiểu-biết, vâ ̣t-đươ ̣c-hiểu-biết,
sư ̣-hiểu-biết chỉ là Mô ̣t
Trang 15Hiê ̣n thời, trí thức là đă ̣c tính kỳ diê ̣u của Bản ngã đang tiến triển do sư ̣ hiểu biết,
vâ ̣y chúng ta cần phải nghiên cứu để nhâ ̣n thức bản tính của tư tưởng đă ̣ng thấy rõ
vo ̣ng tưởng, ngõ hầu có thể dùng vo ̣ng tưởng để đả phá vo ̣ng tưởng, Vì thế, chúng taphải ho ̣c hỏi, tìm hiểu ta ̣i sao sư ̣ liên la ̣c giữa Người-hiểu-biết và Cái-đươ ̣c-biết la ̣i sanh
ra Sư ̣-hiểu-biết Ðiều này sẽ làm cho chúng ta nhâ ̣n thấy rõ ràng hơn về bản chất của
Khi Nhất bổn biến thành Va ̣n thù thì sư ̣ vâ ̣n đô ̣ng đương nhiên xuất hiê ̣n, cái Hiê ̣ndiê ̣n khắp nơi tức Vô sở bất ta ̣i (chỗ nào cũng có) xuất hiê ̣n trong nhiều phần tử riêngbiê ̣t, sư ̣ vâ ̣n đô ̣ng không ngừng tiêu biểu cho cái Hiê ̣n diê ̣n khắp nơi Nói mô ̣t cáchkhác, cái Hiê ̣n diê ̣n khắp nơi biểu hiê ̣n ra phản ảnh hay hình ảnh trong vâ ̣t chất Bảnchất của vâ ̣t chất là phân ly, cũng như bản chất của Tinh thần là Duy nhất Khi Mô ̣tsinh Hai – như trong sữa có ván sữa – thì phản ảnh của cái Hiê ̣n diê ̣n khắp nơi là Mô ̣ttrong muôn vàn vâ ̣t chất đang sinh hóa không ngừng trong sư ̣ vâ ̣n hành vô cùng vô
tâ ̣n
Sư ̣ chuyển đô ̣ng tuyê ̣t đối – mỗi đơn vi ̣ đều vâ ̣n hành trong mô ̣t điểm hư khôngnơi mỗi sát na cũng đồng nhất với yên tĩnh, nhưng chỉ đồng nhất theo quan điểm đốivới vâ ̣t chất, chớ không đồng nhất đối với tâm linh Về phương diê ̣n tâm linh chỉ có
Mô ̣t, nhưng về phương diê ̣n vâ ̣t chất thì biến đổi thiên hình va ̣n tra ̣ng
Cái chuyển đô ̣ng vô tâ ̣n này xuất hiê ̣n dưới hình thức vâ ̣n hành, nó rung đô ̣ng nhi ̣p
nhàng trong vâ ̣t chất và biểu hiê ̣n trong mỗi “Mô ̣t đơn vi ̣ tâm thức riêng biê ̣t” go ̣i là
Jiva Jiva này phân cách với Jiva khác như bi ̣ cô lâ ̣p do mô ̣t tấm vách tường vâ ̣t chấtngăn cản Khi luân hồi, mỗi Jiva đều mặc trang phu ̣c vâ ̣t chất khác nhau Khi trangphu ̣c vâ ̣t chất này rung đô ̣ng thì nó truyền sư ̣ rung đô ̣ng đến vâ ̣t chất ở xung quanh,rồi vâ ̣t chất ấy tiếp chuyển sư ̣ rung đô ̣ng đó lan tràn ra ngoài và truyền tới trang phu ̣c
Trang 16bao bo ̣c mô ̣t Jiva khác và xung kích Jiva này như Jiva đầu tiên.
Trong loa ̣t rung đô ̣ng này – khởi đầu từ mô ̣t Jiva mang mô ̣t xác thân rung đô ̣ng vàtruyền sư ̣ rung đô ̣ng lan tràn đến Jiva khác cũng có xác thân làm thành sư ̣ rung đô ̣ngtương tu ̣c để xác thân này có thể tiếp xúc với xác thân khác Xác thân sau hiểu biếtđươ ̣c xác thân trước để rút kinh nghiê ̣m Dầu sao cũng có mô ̣t vài sư ̣ khác biê ̣t, là khiJiva thứ nhì tiếp đươ ̣c sư ̣ rung đô ̣ng của Jiva thứ nhất thì nó rung đô ̣ng, nhưng khôngphải chỉ lâ ̣p la ̣i đô ̣ng tác rung đô ̣ng đó mà nó phối hơ ̣p sư ̣ rung đô ̣ng đầu tiên của nóvới sư ̣ rung đô ̣ng bi ̣ ràng buô ̣c ở ngoa ̣i cảnh, vì thế nó không ta ̣o đươ ̣c mô ̣t hình ảnhgiống như thâ ̣t đươ ̣c, mà chỉ phóng tác mô ̣t hình ảnh tương tư ̣, càng lâu càng rõ thêm,bởi vì mô ̣t khi xác thân còn tồn ta ̣i thì con người không thể nhâ ̣n thức đươ ̣c sư ̣ gìchính xác và chân thâ ̣t cả
Những sự rung đô ̣ng liên tu ̣c này thường xảy ra luôn nơi trần thế Như mô ̣t ngo ̣n lửalà trung tâm ta ̣o tác của sức nóng trong dĩ thái go ̣i là nhiê ̣t khí, sư ̣ rung đô ̣ng nhiê ̣t khí
go ̣i là làn sóng nóng hay là nhiê ̣t ba Nhiê ̣t ba truyền qua lớp dĩ thái chung quanh, tỷnhư gần đó có mô ̣t thoi sắt thì làn sóng này rung đô ̣ng truyền sang qua những phân tử
li ti của thoi sắt làm cho thoi sắt rung đô ̣ng cùng nhi ̣p rồi thì thoi sắt trở nên nóng vàtrở nên nơi phát nguồn nhiê ̣t lư ̣c Cũng như vâ ̣y, các loa ̣i rung đô ̣ng di chuyển từ Jivanày đến Jiva khác và tất cả sinh vâ ̣t liên kết với nhau đều do ma ̣ng lưới ý thức này
Bởi đó cho nên, trong cõi hữu hình có nhiều loa ̣i rung đô ̣ng như: tia sáng, sứcnóng, điê ̣n khí, âm thanh, v.v tất cả đồng tính chất và cùng theo phương thứcchuyển đô ̣ng trong dĩ thái, nhưng đă ̣c tính và tốc đô ̣ của các làn sóng thì khác nhau
Nhâ ̣n thức, Ý muốn và Hành đô ̣ng biểu dương sư ̣ “hiểu biết, ý chí và đô ̣ng tác”xuyên qua bản thể, cả thảy cùng đồng chung mô ̣t tính, nghĩa là đều do sư ̣ rung đô ̣ngcấu ta ̣o và tùy thuô ̣c đă ̣c tính rung đô ̣ng mà phát sinh những hiê ̣n tươ ̣ng khác nhau
Vài loa ̣i rung đô ̣ng khác biê ̣t có đă ̣c tính riêng trong vâ ̣t chất như: “rung đô ̣ng tư tưởng”, “rung đô ̣ng du ̣c vo ̣ng” và “rung đô ̣ng hành vi”, những từ này dùng diễn tả
vài sư ̣ kiê ̣n của va ̣n vâ ̣t Có vài loa ̣i dĩ thái rung đô ̣ng cảm nhiễm nhãn quan, chúng ta
go ̣i là “ánh sáng”, có thứ dĩ thái khác có sư ̣ rung đô ̣ng tinh vi hơn, chỉ có cái trí mớicảm nhâ ̣n đươ ̣c go ̣i là “tư tưởng” Hiê ̣n thời chúng ta đang bi ̣ mô ̣t vâ ̣t chất có nhiều mâ ̣t
đô ̣ riêng biê ̣t, bao bo ̣c xung quanh, phát ra sư ̣ rung đô ̣ng dễ cảm nhiễm chúng ta vànhững nhãn quan khác nhau thuô ̣c về những thể xác thô trươ ̣c hay những thể xác tinhkhiết của chúng ta đáp ứng la ̣i Sư ̣ rung đô ̣ng cảm nhiễm đến mắt go ̣i là “ánh sáng”, sư ̣rung đô ̣ng cảm nhiễm đến cái trí go ̣i là “tư tưởng” Khi làn sóng “dĩ thái ánh sáng”rung đô ̣ng phát sanh từ mô ̣t cảnh vâ ̣t đến mắt chúng ta go ̣i là “nhìn thấy”, còn khi lànsóng “dĩ thái tư tưởng” rung đô ̣ng phát sanh giữa cảnh vâ ̣t và trí não của chúng ta thì
go ̣i là “ý nghĩ” Trong hai điều này không có điều nào huyền bí nhiều hay ít hơn điềukia
Bàn về cái trí, chúng ta nhâ ̣n thấy rằng sư ̣ giao tiếp của làn sóng tư tưởng làm thay
Trang 17đổi cơ cấu của những nguyên tố, còn khi nghĩ đến vâ ̣t cu ̣ thể thì chúng ta la ̣i có cảmgiác như trước kia đã kinh nghiê ̣m những ấn tươ ̣ng đó ở ngoa ̣i cảnh Bản ngã có di ̣ptác đô ̣ng sự rung chuyển và tất cả những gì có thể đáp ứng đươ ̣c, đều ta ̣o thành sư ̣ hiểubiết.
Tư tưởng là sư ̣ phóng ta ̣o trong trí của Người-hiểu-biết và những gì Ðươ ̣c-hiểu-biết.Nói theo nghĩa đen, đó là mô ̣t bức tranh do các làn sóng rung đô ̣ng phối hơ ̣p la ̣i ta ̣othành hình ảnh
Khi mô ̣t phần của Vô ngã rung đô ̣ng, thì Bản ngã tiếp nhâ ̣n sư ̣ rung đô ̣ng đó rồirung đô ̣ng trở la ̣i, thì phần Vô ngã ấy trở thành vâ ̣t Ðươ ̣c-hiểu-biết Giữa các vâ ̣t chấtcó ít nhiều sư ̣ rung cảm thì sư ̣ va cha ̣m vâ ̣t này với vâ ̣t kia đều có thể sanh ra Sư ̣-hiểu-biết Vì thế mà sư ̣ liên quan giữa Người-hiểu-biết, Vâ ̣t-đươ ̣c-hiểu-biết và Sư ̣-hiểu-biếtluôn luôn giữ vững và tồn ta ̣i mãi mãi
Trang 18CHƯƠNG HAI
KẺ SÁNG TẠO ẢO TƯỞNG
“Có thản nhiên trước cảnh vâ ̣t đã nhìn thấy thì môn sinh mới khám phá đươ ̣c Chủ tể của Giác quan, là kẻ Sáng ta ̣o Tư tưởng và làm phát hiê ̣n ảo tưởng.
Cái Trí là kẻ phá hoa ̣i lớn nhất của Thư ̣c Ta ̣i”.
Ðó là đoa ̣n văn mà Bà H.B.Blavatsky trích di ̣ch trong quyển Kim Huấn Thư, mô ̣t
áng văn kiê ̣t tác và cũng là món quà quí giá của tác giả đã lưu truyền cho hâ ̣u thế
Thâ ̣t ra không còn từ nào khác dùng để diễn tả ý nghĩa cái Trí cho rốt ráo bằng câu:
“Cái Trí là kẻ sinh ra ảo tưởng”.
Cái Trí không phải là Bản ngã hiểu biết, vì vâ ̣y chúng ta cần phải luôn luôn thâ ̣ntro ̣ng để phân biê ̣t cho rõ rê ̣t Có nhiều sư ̣ lầm lẫn chẳng những gây sư ̣ khó khăn màcòn làm cho ho ̣c giả rối trí thêm là ta ̣i có lắm người không chi ̣u để ý đến sư ̣ khác biê ̣tgiữa Bản ngả hiểu biết và cái Trí là quan năng dùng để tiếp nhâ ̣n sư ̣ hiểu biết Nhâ ̣nlầm cái Trí là Bản ngã hiểu biết thì chẳng khác nào ta lầm tưởng cái đu ̣c của ông thơ ̣cha ̣m là ông thơ ̣ cha ̣m
Mỗi Bản ngã đều có hai cái Trí căn bản, nói đúng hơn, là hai thể Trí: Mô ̣t thể Trícấu ta ̣o bằng lớp vâ ̣t chất tinh vi go ̣i là Thươ ̣ng Trí và manas , Trí trừu tươ ̣ng; và mô ̣tthể Trí khác nữa làm bằng vâ ̣t chất rất thô sơ go ̣i là Ha ̣ Trí và manas , Trí cu ̣ thể CáiTrí tư ̣ nó phản chiếu trong vâ ̣t chất nguyên tử của tra ̣ng thái Bản ngã tiêu biểu cho sư ̣Hiểu biết Cái Trí này thường hay ha ̣n chế Jiva, vì vâ ̣y khi lý trí tâm thức gia tăngchừng nào thì càng làm trở nga ̣i Jiva nhiều thêm chừng nấy theo đủ mo ̣i cách Giả như
mô ̣t người nào làm công viê ̣c gì mà bi ̣ bắt buô ̣c phải mang bao tay dày cô ̣m thì cảmthấy đôi tay bi ̣ bó ro ̣, gây trở nga ̣i mo ̣i hoa ̣t đô ̣ng Trong khi sờ mó vâ ̣t gì, đôi bàn taycủa y mất hết xúc giác, chẳng còn khéo tay và lanh le ̣ như trước, y không thể nhă ̣tmón gì nhỏ bé, chỉ cầm đươ ̣c những vâ ̣t to lớn mô ̣t cách vu ̣ng về Cũng như vâ ̣y, khiBản ngã mang thêm Ha ̣ trí, các quan năng của Bản ngã đều bi ̣ kếm chế, không tư ̣ dophát huy khả năng đươ ̣c
Trong đoa ̣n tới, chúng tôi sẽ giải thích thêm về “Cái Trí cu ̣ thể” tức là ha ̣ trí hơ ̣p vớimanas
“Trí” là kết quả do ý niê ̣m của kiếp trước và hằng bi ̣ ý niê ̣m trong kiếp này thay đổiluôn Có mô ̣t điều chắc chắn không thay đổi là, bất cứ khả năng nào, dù ma ̣nh dù yếu,thảy đều do nghiê ̣p quả của những hành vi trong tiền kiếp
Cái trí của chúng ta đã ta ̣o nên kết quả thì không thể sửa đổi đươ ̣c liền trong nhấtthời, mà phải sửa đổi lần lần, chúng ta không thể dùng ý chí cương quyết mà vươ ̣t quađươ ̣c, cũng không thể ném nó qua mô ̣t bên, mà cũng không thể cấp tốc loa ̣i trừ những
Trang 19bất hảo của kết quả Trí nào thì quả nấy Trí là thành phần của Vô ngã ta ̣o ra để chúng
ta tro ̣n quyền sử du ̣ng, và cũng nhờ Vô ngã, chúng ta mới hiểu biết, phân biê ̣t đươ ̣c
Do kết quả của kiếp trước nên ngày nay chúng ta mới có những ý niê ̣m trong trí.Mỗi cái trí đều có cách thức rung đô ̣ng riêng và rung đô ̣ng không ngừng, ta ̣o thànhbức tranh sống đô ̣ng thay đổi liên tu ̣c Mỗi ấn tươ ̣ng hoa ̣t đô ̣ng từ ngoa ̣i cảnh do nhãncầu thu nhâ ̣n và khối rung đô ̣ng đang có sẵn, sửa đổi khối rung đô ̣ng mới đến, đồngthời cũng bi ̣ khối rung đô ̣ng mới đến biến đổi nữa Vì vâ ̣y, thành quả không do nơi sư ̣phỏng ta ̣o chính xác của khối rung đô ̣ng mới, mà do sư ̣ phối hơ ̣p giữa các rung đô ̣ngmới và các rung đô ̣ng đã có sẵn
Thêm mô ̣t thí du ̣ về ánh sáng: nếu chúng ta đă ̣t mô ̣t tấm kính màu đỏ trước mắt, rồinhìn vào mô ̣t cảnh vâ ̣t có màu xanh lu ̣c, thì cảnh vâ ̣t đó trở thành đen Những rung
đô ̣ng làm cho chúng ta cảm thấy sắc đỏ bi ̣ sư ̣ rung đô ̣ng của màu xanh lu ̣c ngăn la ̣i, vìthế chúng ta thấy lầm cảnh vâ ̣t màu xanh lu ̣c là màu đen Cũng như vâ ̣y, nếu chúng tanhìn vào cảnh vâ ̣t có màu xanh da trời với kính màu vàng, thì cảnh vâ ̣t đó cũng trởnên đen Thành thử khi có hai màu sắc khác nữa, go ̣i là màu trung gian, ấn tươ ̣ng nàylàm chúng ta có cảm giác như cảnh vâ ̣t đổi màu, khác hẳn màu mà chúng ta đã thấybằng mắt thường Nhưng dầu chúng ta có thấy đươ ̣c bằng mắt thường, thì cũng chỉthấy hơi khác hơn, vì khi mắt thu cảnh vâ ̣t, tư ̣ nó sửa đổi sư ̣ rung đô ̣ng ấy với tốc đô ̣mau le ̣ quá sức tưởng tươ ̣ng Cái trí bi ̣ ảnh hưởng do sư ̣ trung gian giữa kính màu vàcảnh vâ ̣t, và đã làm cho cảnh vâ ̣t ấy thay đổi màu sắc Bản ngã không ý thức đươ ̣c ảnhhưởng của cái trí, cũng như mô ̣t người chưa hề có cơ hô ̣i thấy, cũng không ý thứcđươ ̣c cảnh vâ ̣t thay đổi màu sắc, ngoa ̣i trừ sư ̣ nhìn thấy xuyên qua kính có màu xanhhay đỏ
Khi chúng ta nói: “Cái Trí là kẻ sinh ra ảo tưởng”, theo ý nghĩa thông thường là cái
trí có thể cho chúng ta biết hình ảnh sai lê ̣ch do sư ̣ phối hơ ̣p của cái trí với ngoa ̣i cảnh
Thâ ̣t ra câu trên đây còn có ý nghĩa khác cao siêu và sâu sắc hơn nhiều Câu “Cái Trí là kẻ sinh ra ảo tưởng” có du ̣ng ý chỉ cho chúng ta hiểu biết hình ảnh sai lê ̣ch đó là
hình bóng ở ngoa ̣i cảnh chớ không phải là hình ảnh thâ ̣t, nó chỉ là hình bóng của cáibóng do trí ta ta ̣o ra Bấy nhiêu đây cũng đủ cho chúng ta nhâ ̣n thức về ảo ảnh do bảntính sáng ta ̣o
sư ̣ rung đô ̣ng về phẩm và lươ ̣ng đều tương đương, không rung đô ̣ng với rung đô ̣ng
Trang 20của kẻ bàng quan Hoă ̣c giả tâm thức tư ̣ phóng ra ngoài và làm sống đô ̣ng cảnh vâ ̣tkhách quan để nó có thể trư ̣c tiếp cảm nhâ ̣n những sự rung đô ̣ng Có hai trường hơ ̣pđể chúng ta nhâ ̣n thức đươ ̣c thâ ̣t sư ̣ của hình tướng.
1- Ý niê ̣m trong cảnh giới thư ̣c ta ̣i mà sắc tướng tiêu biểu tra ̣ng thái hữu hình có thểhiểu biết đươ ̣c bằng tâm thức hoa ̣t đô ̣ng trong Thươ ̣ng trí mà không bi ̣ cái Trí cu ̣ thểhay những thể thấp khác làm trở nga ̣i
2- Sư ̣ thâ ̣t cho chúng ta biết rằng các sư ̣ vâ ̣t đều do ấn tươ ̣ng của chúng ta, chớ tư ̣ takhông thể biết đươ ̣c thư ̣c thể của sư ̣ vâ ̣t – ngoa ̣i trừ trường hơ ̣p trên - đó là điều quantro ̣ng khi chúng ta áp du ̣ng chơn lý này vào đời sống thư ̣c tế
Chơn lý da ̣y chúng ta phải khiêm tốn, thâ ̣n tro ̣ng và lắng tai nghe những ý tưởngmới Chúng ta cần phải diê ̣t trừ tánh hay quả quyết rằng tất cả những gì chúng ta thấyđều đúng cả Chúng ta hãy tâ ̣p xét đoán chúng ta trước, rồi sẽ xét kẻ khác
Sau đây là mô ̣t thí du ̣ để làm sáng tỏ vấn đề:
Tôi gă ̣p mô ̣t người có cách thức rung đô ̣ng có thể bổ túc cho sự rung đô ̣ng của tôi.Khi gă ̣p nhau, chúng tôi không thích vì không ha ̣p nhau Giữa chúng tôi, không thấycó điều chi khác biê ̣t, nhưng cả hai chúng tôi đều nga ̣c nhiên không hiểu ta ̣i sao ông Anào đó khen người mà chúng tôi chê dốt là thông minh, bởi vì chúng tôi chê bai lẫnnhau, người này nói người kia đần đô ̣n, người kia nói người này ngu ngốc Song le,nếu tôi tư ̣ hiểu biết mình mô ̣t chút, ắt không còn thắc mắc nữa Thay vì tưởng nghĩngười ấy đần đô ̣n, tôi tư ̣ hỏi: Phải chăng tôi có điều chi sơ sót nên không thể đáp ứng
sư ̣ rung đô ̣ng của người ấy ? Cả hai chúng tôi đều rung đô ̣ng, song nếu tôi khôngnhâ ̣n thức đươ ̣c quan niê ̣m và sư ̣ hoa ̣t đô ̣ng của người ấy, là vì ta ̣i tôi không đáp ứng
la ̣i sư ̣ rung đô ̣ng của y Ta ̣i sao tôi xét đoán người ấy ? Là bởi vì tôi không hiểu ngườiấy trước khi tôi tư ̣ sửa đổi cho đầy đủ để có khả năng tiếp nhâ ̣n y
Chúng ta không thể sửa đổi kẻ khác, nhưng ít ra chúng ta có thể tư ̣ sửa đổi ta, là cốgắng không ngừng để làm phát triển khả năng cảm ứng của chúng ta Chúng ta phảitrở thành ánh sáng trong suốt, hiển lô ̣ trong các màu sắc, chẳng những không làm chomàu sắc hoen ố, mà làm cho màu sắc nổi bâ ̣t và tươi thắm thêm Chúng ta có thể đokhoảng cách giữa chúng ta và ánh sáng trắng trong suốt bằng cách dùng năng lư ̣c củachúng ta để đáp ứng la ̣i các đă ̣c tính khác nhau
Trang 21HẠ TRÍ VÀ MANAS (MẠT NA THỨC)
Bây giờ chúng ta có thể xem xét cách cấu ta ̣o thể trí hay Trí cu ̣ thể là quan năng củatâm thức theo tra ̣ng thái Người hiểu biết hầu tìm hiểu sư ̣ cấu ta ̣o này ra sao, và bằngcách nào chúng ta đã đào ta ̣o cái trí trong dĩ vãng và tìm biê ̣n pháp sửa đổi nó tronghiê ̣n ta ̣i
Xét về phương diê ̣n sư ̣ sống thì tinh thần là manas Manas là tra ̣ng thái nhâ ̣n thứccủa Bản ngã phản chiếu trong vâ ̣t chất nguyên tử của cõi thứ ba go ̣i là Cõi Trí
Xét về phương diê ̣n sắc tướng (hình da ̣ng) thì manas có hai tra ̣ng thái riêng, mỗitra ̣ng thái hoa ̣t đô ̣ng theo điều kiê ̣n khác nhau do nơi tâm thức sử du ̣ng manas ở CõiTrí Hai tra ̣ng thái này do hơ ̣p chất của vâ ̣t chất ở cõi trí bi ̣ thu hút vào chung quanhtrung tâm rung đô ̣ng thuô ̣c nguyên tử của cõi trí Vâ ̣t chất này tùy theo bản tính vàcách dùng của tâm thức go ̣i là “chất liê ̣u trí tuê ̣” hay “chất liê ̣u tư tưởng” Vâ ̣t chất ấy
ta ̣o thành mô ̣t vùng rô ̣ng lớn trong vũ tru ̣, thâm nhâ ̣p vào chất thanh khí ở cõi Trunggiới và chất Hồng trần ở thế gian Các vâ ̣t chất ấy tràn ngâ ̣p trong bảy cảnh giống nhưtra ̣ng thái vâ ̣t chất ở hồng trần Những chất này rất nha ̣y cảm đối với sư ̣ rung đô ̣ng củatra ̣ng thái Bản ngã là sư ̣ hiểu biết, và tra ̣ng thái này ấn đi ̣nh cho nó đă ̣c tính riêng
Tra ̣ng thái thứ nhất – cao hơn hết của cái trí – là Thươ ̣ng trí (Nhân thể) Thươ ̣ng trígồm có vâ ̣t chất từ cảnh thứ năm và thứ sáu của cõi Trí, tương ứng những chất dĩ tháitinh vi hơn hết ở cõi Trần Trong giai đoa ̣n tiến hóa hiê ̣n ta ̣i thể Thươ ̣ng trí này ở đa sốcó đôi chút phát triển, vì Thươ ̣ng trí không dùng để suy luâ ̣n những sư ̣ viê ̣c ở cõiTrần Vâ ̣y ngay bây giờ, chúng ta nên ta ̣m gác vấn đề Thươ ̣ng trí qua mô ̣t bên Tóm
la ̣i, Thươ ̣ng trí là quan năng của Trí trừu tươ ̣ng
Tra ̣ng thái thứ nhì, là thể trí, cũng go ̣i là Ha ̣ trí Nó gồm chất tư tưởng của bốn cảnhthấp hơn hết ở cõi trí, tương ứng với chất dĩ thái thấp nhất ở cõi Trần trong tra ̣ng tháichất hơi, chất lỏng và chất đă ̣c Nó có thể go ̣i là thể trí dày đă ̣c Thể này chia làm bảyloa ̣i căn bản lớn, mỗi loa ̣i gồm nhiều hình thức và tùy trình đô ̣ phát triển khác nhau,nhưng tất cả đều tiến hóa theo đi ̣nh luâ ̣t chung Hiểu biết và áp du ̣ng đươ ̣c những đi ̣nhluâ ̣t này, tức là ta đem sư ̣ tiến hóa châ ̣m cha ̣p của thiên nhiên để đổi lấy sư ̣ tiến hóamau le ̣ do khiếu thông của người tư ̣ quyết đi ̣nh Ðó là điểm quan tro ̣ng của sư ̣ khảocứu về thể trí
Trang 22RÈN LUYÊ ̣N VÀ NÂNG CAO THỂ TRÍ
Ðiều chúng ta cần phải hiểu là do phương pháp nào mà tâm thức rèn luyê ̣n đươ ̣cthể trí, vì trong đời sống hằng ngày hằng giờ, chúng ta đều có cơ hô ̣i áp du ̣ng phươngpháp ấy cho mu ̣c đích cao thươ ̣ng Dù trong khi thức hay ngủ, chúng ta vẫn luôn luônđào luyê ̣n thể trí của chúng ta Khi tâm thức rung đô ̣ng, thì nó cảm nhiễm chất thươ ̣ngthanh khí hay chất tư tưởng ở chung quanh, mô ̣t ý nghĩ vừa thoáng qua, cũng đủ chonó thu hút vài phân tử của chất tư tưởng, rồi phóng ra ngoài vài phân tử khác Vềphần thể xác do Bản ngã mươ ̣n dùng ta ̣m ở cõi trần cũng do sư ̣ rung đô ̣ng, nhưngđừng quên rằng yếu tính của tâm thức luôn luôn nhìn nhâ ̣n chính nó là Vô ngã Ðó là
vì tâm thức bao gồm hai chiều hướng tương phản nhau, cho nên khi thì tâm thức chấp
nhâ ̣n “Tôi là thế này”, khi la ̣i phủ nhâ ̣n “Tôi không phải là thế này” Do đó tâm thức
vâ ̣n chuyển trong vâ ̣t chất ta ̣o thành sư ̣ hút vào rồi đẩy ra mà chúng ta go ̣i là rung
đô ̣ng Khi vâ ̣t chất chung quanh bi ̣ tâm thức rung đô ̣ng, vâ ̣t chất ấy liền truyền sư ̣ rung
đô ̣ng đó ra để cảm nhiễm tâm thức khác
Thế thì các vâ ̣t chất, dù tinh khiết hay thô sơ, đều tùy thuô ̣c tính chất rung đô ̣ng dotâm thức phát sinh Các tư tưởng trong sa ̣ch và thanh cao gồm những rung đô ̣ng mau
le ̣, chỉ cảm nhiễm các chất tinh vi của thể trí, còn những chất thô trươ ̣c thì không cảmnhiễm, vì không rung đô ̣ng đồng nhi ̣p với chất tinh vi đươ ̣c Khi một ý tưởng cao đe ̣prung đô ̣ng, các chất thô trươ ̣c đều bi ̣ loa ̣i ra ngoài, đồng thời thay thế những chất tinhkhiết vào để rèn luyê ̣n thể trí trong sa ̣ch Trái la ̣i, những tư tưởng xấu xa, đê hèn rất dễthu hút các chất thô trươ ̣c vào thể trí ha ̣ tiê ̣n, đồng thời xua đuổi các chất tinh khiết rangoài
Ðă ̣c tính rung đô ̣ng của tâm thức là luôn luôn sa thải chất cũ rồi đem chất mới thayvào để rèn luyê ̣n thể trí Vì thế, mỗi hành đô ̣ng hay ý niê ̣m vừa phát khởi đều gây nên
hâ ̣u quả; như khi xưa chúng ta có những hành vi hay tư tưởng lành dữ thế nào thì ngàynay những hành vi hay tư tưởng đó đáp ứng la ̣i cho chúng ta y như thế
Nếu thể trí của chúng ta cấu ta ̣o bằng chất tinh khiết thì ý tưởng xấu xa đê hènkhông cảm ứng thể trí của chúng ta, nhươ ̣c bằng, thể trí của chúng ta cấu ta ̣o bằng chấtthô trươ ̣c, thì chất đó dễ cảm nhiễm những ý tưởng thoảng qua thấp hèn, mà khôngthể cảm nhiễm những ý tưởng tốt lành đươ ̣c
Khi chúng ta tiếp xúc với mô ̣t vi ̣ đa ̣o ha ̣nh có tư tưởng thanh cao, những rung đô ̣ng
tư tưởng của vi ̣ ấy có năng lư ̣c khêu gơ ̣i nhi ̣p rung đô ̣ng trong thể trí của chúng ta giatăng tốc đô ̣ để có thể cảm ứng sư ̣ rung đô ̣ng tư tưởng của vi ̣ đó Sư ̣ rung đô ̣ng này cócông năng bài tiết lần lần những chất ô trươ ̣c trong thể trí để sư ̣ rung đô ̣ng tư tưởngcủa chúng ta tăng thêm đến mức đô ̣ cao Những lơ ̣i ích mà chúng ta nhâ ̣n lãnh của các
vi ̣ đa ̣o đức phần lớn là do nơi ý tưởng của chúng ta đã có từ suy nghĩ đã qua Sở dĩngày nay chúng ta có mối thông cảm với các vi ̣ ấy là do nghiê ̣p quả quá khứ
Trang 23Chúng ta không thể tư tưởng dùm người này hay người kia, song ta chỉ có thể suynghĩ những tư tưởng của chính ta mà thôi Như vâ ̣y, ta ta ̣o ra sư ̣ rung đô ̣ng tương ứngtrong chất tư tưởng ở chung quanh chúng ta, sư ̣ rung đô ̣ng này có khả năng làm phátkhởi những rung đô ̣ng đồng tính trong thể trí để tiêm nhiễm tâm thức của chúng ta.
Tuy nhiên, không phải mỗi lần ở ngoa ̣i cảnh phát sinh rung đô ̣ng thì chúng ta cảmbiết và hiểu liền đươ ̣c Sư ̣ kiê ̣n này thường giống như sức nóng mă ̣t trời và nước mưathấm vào đất cát có ảnh hưởng đến ha ̣t giống vùi dưới lớp đất Ðầu tiên, không thểbiết đươ ̣c sư ̣ rung đô ̣ng cảm ứng đến ha ̣t giống, nhưng chắc chắn đã có sư ̣ sống rung
đô ̣ng yếu ớt ở bên trong ha ̣t giống Sự rung chuyển này ngày càng trở nên ma ̣nh chođến khi mầm mống đủ sức phát triển làm ha ̣t giống nứt mô ̣ng, đâm chồi và mo ̣c rễ Vềphương diê ̣n tâm linh cũng như vâ ̣y, từ bên trong tâm thức, trước khi cảm ứng, đã có
sư ̣ rung chuyển yếu ớt do sư ̣ tiếp xúc với ngoa ̣i cảnh Trong khi chúng ta chưa có thểhiểu nổi mô ̣t vi ̣ có tư tưởng cao siêu thì tiềm thức của chúng ta đã cảm ứng đươ ̣c phầnnào rồi Vì thế, khi chúng ta xa lìa ảnh hưởng của Ðấng Cao Cả, là chúng ta đã nhâ ̣nđươ ̣c mô ̣t ít sư ̣ phong phú của đời sống tâm linh nhiều hơn khi trước, để các chủng tử
tư tưởng của chúng ta nảy nở mau le ̣ và cũng để cho tinh thần chúng ta đươ ̣c tiến hóadễ dàng hơn
Bởi vâ ̣y, trong viê ̣c rèn luyê ̣n trí não, không những do hoàn cảnh bên ngoài mà cònphải tùy thuô ̣c sư ̣ hoa ̣t đô ̣ng từ trong tâm thức nữa Nếu muốn thể trí đươ ̣c ma ̣nh mẽ,minh mẫn, tích cư ̣c để có thể lãnh hô ̣i những tư tưởng cao siêu, chúng ta phải nỗ lư ̣c
ho ̣c tâ ̣p, suy tư cho đúng đắn, vì chính ta mới là kẻ rèn luyê ̣n và uốn nắn trí não của
ta mà thôi
Nhiều người nghĩ rằng hễ đo ̣c nhiều sách là có thể rèn luyê ̣n đươ ̣c trí não, sư ̣ thâ ̣tkhông phải như vâ ̣y Chỉ có tư tưởng mới rèn luyê ̣n đươ ̣c trí não mà thôi Chúng taphải xem sư ̣ đo ̣c sách như mô ̣t công viê ̣c sưu tầm tài liê ̣u để cung cấp cho tư tưởng,như thế sư ̣ đo ̣c sách mới hữu ích Người ta có thể đo ̣c nhiều sách, song trí não pháttriển chỉ tương đương với tất cả sư ̣ suy nghĩ mà ho ̣ đã dùng trong viê ̣c đo ̣c Nếu đô ̣cgiả không thu nhă ̣t đươ ̣c mô ̣t vài ý tưởng hay để trao dồi trí não mình thì giá tri ̣ về sư ̣hiểu biết của kẻ ấy rất nông ca ̣n và mau phai la ̣t
Lord Bacon nói: Ðo ̣c thì no trí Ðiều này rất đúng về phương diê ̣n tinh thần, cũng như về mă ̣t vâ ̣t chất người ta nói: Ăn thì no bu ̣ng Nếu thức ăn không ha ̣p, khó tiêu
hóa, thì ích lơ ̣i gì cho xác thân Về tinh thần cũng vâ ̣y, nếu dồn ép sư ̣ đo ̣c sách cho đầytrí óc mà không chi ̣u để tâm suy nghĩ, không đồng hóa đươ ̣c với những gì đã đo ̣c thìích lơ ̣i gì cho trí não Ý tưởng chồng chất đầy đầu óc, nhưng không tiêu thu ̣ nổi, thìchẳng những trí não không mở mang, mà còn suy giảm là khác nữa Như kẻ ăn nhiềumà không tiêu thì mang thêm bê ̣nh vì bô ̣i thư ̣c
Muốn tinh thần sáng suốt, trí não mở mang, chúng ta phải đo ̣c ít mà suy nghĩ nhiều.Nếu thâ ̣t lòng chúng ta muốn rèn luyê ̣n tinh thần, chúng ta phải dành riêng mỗi ngày
Trang 24mô ̣t giờ để nghiên cứu mô ̣t quyển sách nào đứng đắn và cao hơn trình đô ̣ ta hiểu biết
mô ̣t chút Chúng ta đo ̣c chừng năm phút, nhưng phải suy nghĩ mười phút, và nên tiếp
tu ̣c như vâ ̣y trong mô ̣t tiếng đồng hồ Theo thế thường nhiều người hay đo ̣c lia li ̣atrong mô ̣t giờ rồi de ̣p sách qua mô ̣t chỗ, đơ ̣i tới ngày sau lấy sách ra đo ̣c tiếp Như
vâ ̣y, phần nhiều quan năng tư tưởng của người ấy tiến rất châ ̣m
Mô ̣t điểm đă ̣c biê ̣t nhất là có nhiều người nhâ ̣n thấy trí não các hô ̣i viên của phongtrào Thông Thiên Ho ̣c mỗi năm đều mở mang thêm Ðiều này chứng tỏ mô ̣t phần lớncác hô ̣i viên đó đã đươ ̣c giảng giải minh ba ̣ch về bản chất của tư tưởng Nhờ vâ ̣y hô ̣iviên bắt đầu hiểu lần lần, rồi áp du ̣ng mô ̣t vài phương pháp đã lãnh hô ̣i để rèn luyê ̣nthể trí thay vì để cho thể trí phát triển châ ̣m cha ̣p theo quá trình của đi ̣nh luâ ̣t tư ̣ nhiên.Muốn mau tiến, đô ̣c giả phải cố gắng dành riêng ít nhất năm phút để đo ̣c và mườiphút suy nghĩ để tìm hiểu những điều mình đã đo ̣c và đừng bỏ qua mô ̣t ngày nàokhông đo ̣c sách
Lúc ban đầu đô ̣c giả cảm thấy sư ̣ cố gắng rất buồn chán và mê ̣t nho ̣c, la ̣i nữa sẽkhám phá ra năng lư ̣c suy nghĩ của mình cũng yếu ớt
Ðó là bước đầu và cũng thường thấy rất ít người có thể cầm trí suy tưởng lâu màkhông gián đoa ̣n đươ ̣c Kẻ nào không thể suy nghĩ mà tưởng mình có thể suy nghĩ thìkẻ ấy tiến rất châ ̣m Thà mình yếu mà tư ̣ biết mình yếu, còn hơn là mình yếu mà cứtưởng mình ma ̣nh
Sau khi cố gắng đeo đuổi khá lâu về mô ̣t ý tưởng khó khăn, sau cùng không thểchú ý đươ ̣c nữa, đô ̣c giả cảm thấy nóng bức, rối loa ̣n, đầu óc mê ̣t nho ̣c Công viê ̣c nàygiống như khi ta rán sức tâ ̣p luyê ̣n các bắp thi ̣t trong mô ̣t lúc lâu, thì ta cảm thấy thânthể bải hoải và mê ̣t mỏi vâ ̣y
Nhờ công phu luyê ̣n tâ ̣p bền bỉ và đều đă ̣n – nhưng đừng khi nào quá đô ̣ – thì sức
ma ̣nh tư tưởng phát triển y như sức lư ̣c của các bắp thi ̣t Mô ̣t khi sức ma ̣nh tư tưởngphát triển, ta càng dễ kiểm soát tư tưởng và sử du ̣ng nó trong những mu ̣c đích chơnchánh
Người không biết tư tưởng, thể trí như mất đi ̣nh hướng và vô tổ chức Nếu khôngbiết tâ ̣p trung tư tưởng – nghĩa là không biết chủ đi ̣nh sức ma ̣nh tư tưởng vào mô ̣tđiểm đã cho ̣n – thì ta không thể thi thố đươ ̣c chút nào về quyền năng tư tưởng cả
Trang 25CHƯƠNG BA
CHUYỂN DI TƯ TƯỞNG
Ngày nay, hầu hết ai cũng muốn thư ̣c hành phép chuyển di tư tưởng và ước mơđươ ̣c diễm phúc tiếp xúc với những ba ̣n thiết của mình hiê ̣n đang xa vắng mà khỏi cầnliên la ̣c bằng điê ̣n thoa ̣i, hoă ̣c điê ̣n tín hay thơ từ
Nhiều người tưởng rằng chỉ gắng công chút đỉnh là có thể biết đươ ̣c phương phápchuyển di tư tưởng, nhưng ho ̣ sẽ nga ̣c nhiên và thất ba ̣i hoàn toàn Ðiều hiển nhiên làmuốn chuyển di tư tưởng, trước hết phải biết tư tưởng Tư tưởng đó phải hô ̣i đủ năng
lư ̣c cần thiết để có thể phóng ra ngoài không gian mô ̣t làn sóng thâ ̣t ma ̣nh Những tưtưởng ba ̣c nhươ ̣c lau chau, đều là những rung đô ̣ng lu lờ và châ ̣p chờn trong bầukhông khí tư tưởng, những rung đô ̣ng đó hiê ̣n rồi tan, tan rồi hiê ̣n trong mỗi giâyphút, sắc thái lờ mờ, yếu ớt, không thành hình da ̣ng rõ ràng Thâ ̣t ra, hình thức tưtưởng phải rõ rê ̣t và sống đô ̣ng mới có thể phóng tới mô ̣t phương hướng nhất đi ̣nh, vàcần phải có đủ năng lư ̣c để giữ vững sắc thái, thì nó mới có thể tái lâ ̣p đươ ̣c hình thức
tư tưởng khi di chuyển đến nơi đến chốn
Có hai phương pháp chuyển di tư tưởng: mô ̣t là phương pháp vâ ̣t thể, hai là phươngpháp tâm linh Phương pháp vâ ̣t thể do trí và não, còn phương pháp tâm linh chỉ dotâm trí mà thôi
Ðầu tiên, tâm thức sinh ra tư tưởng, ta ̣o thành sư ̣ rung đô ̣ng trong thể trí, rồi lần đếnthể vía, kết thành làn sóng dĩ thái và trong những “phân tử đông đă ̣c” của bô ̣ óc Sư ̣rung đô ̣ng của não cảm nhiễm dĩ thái, đoa ̣n dĩ thái truyền làn sóng lan rô ̣ng ra xa dần,sao cho tới khi gă ̣p bô ̣ não khác để kết thành sư ̣ rung đô ̣ng trong dĩ thái cũng nhưtrong những “phân tử đông đă ̣c” của não Bô ̣ não sau này tiếp thu sư ̣ rung đô ̣ng rồitruyền qua thể vía, kế đến thể trí Tới phiên thể trí rung đô ̣ng để đáp ứng la ̣i, rồi rung
đô ̣ng của thể trí cảm nhiễm tâm thức Như vâ ̣y, mỗi tư tưởng đều phải trải qua nhiềugiai đoa ̣n như trên theo hình bán nguyê ̣t Những giai đoa ̣n theo chiều dài hình vòngcầu này không cần thiết, vì tâm thức có thể ta ̣o thành sư ̣ rung đô ̣ng trong thể trí rồitrư ̣c tiếp hướng dẫn sư ̣ rung đô ̣ng đó đến thể trí của tâm thức tiếp thu làn rung đô ̣ngnày, như vâ ̣y tránh đươ ̣c đường vòng cầu mô tả
Giờ đây, chúng ta thử xét qua phương pháp chuyển di tư tưởng thứ nhất
Nơi phía trước và dưới não bô ̣ có mô ̣t ha ̣ch nhỏ bằng trái tùng, go ̣i là tùng quả tuyến, các nhà sinh lý ho ̣c Tây phương chưa biết đươ ̣c tác du ̣ng của ha ̣ch này và nhà
tâm lý ho ̣c Tây phương cũng không màng quan tâm đến Tùng quả tuyến là mô ̣t bô ̣phâ ̣n phát triển châ ̣m hơn hết trong cơ thể con người, mă ̣c dù rất châ ̣m cha ̣p, nhưngnó cứ tuần tư ̣ phát triển mãi Mă ̣t khác, chúng ta có thể thúc giu ̣c bô ̣ phâ ̣n này pháttriển mau le ̣ hơn, bằng cách bắt nó thư ̣c hiê ̣n phâ ̣n sư ̣ của nó mà trong tương lai nó sẽ
Trang 26hoa ̣t đô ̣ng trong mo ̣i người Tùng quả tuyến là quan năng dùng để chuyển di tư tưởng,rất cần thiết như mắt để thấy và tai để nghe vâ ̣y.
Người nào chủ tâm suy nghĩ về mô ̣t viê ̣c gì và cứ tâ ̣p trung tư tưởng vào viê ̣c đómãi, thì sẽ cảm giác như ở trong ha ̣ch quả tùng có cái gì rung chuyển và ro ̣ ra ̣i nhưkiến bò Cái rung chuyển đó vốn ở trong dĩ thái thấm nhuần ha ̣ch này, sinh ra mô ̣tluồng từ diê ̣n rất yếu ớt và mảnh mai làm ta có cảm giác như có kiến bò trong tế bàocủa tùng quả tuyến
Nếu người nào suy tưởng ma ̣nh mẽ, đủ khả năng phát ra mô ̣t luồng từ điê ̣n ma ̣nhthì có thể truyền tư tưởng mình đi đến mô ̣t nơi khác rất rõ ràng.Sư ̣ rung đô ̣ng trong dĩthái của ha ̣ch quả tùng ta ̣o thành làn sóng ở chất dĩ thái chung quanh như làn sóng ánhsáng nhưng rất nhỏ và tốc đô ̣ mau hơn Làn sóng ấy lan tràn khắp nơi làm cho dĩ tháinày rung đô ̣ng, rồi truyền qua dĩ thái khác, và như thế mãi cho tới khi gă ̣p đươ ̣c dĩ tháicủa tùng quả tuyến trong bô ̣ não khác Từ đó, nó chuyển sang qua thể vía, rồi đến thểtrí, và tiếp tu ̣c đều đều chuyển đến tâm thức Nếu ha ̣ch quả tùng thứ hai không ta ̣o la ̣iđươ ̣c làn sóng rung đô ̣ng mà nó đã tiếp nhâ ̣n, thì tư tưởng sẽ phân tán, không sanh rađươ ̣c mô ̣t ấn tươ ̣ng nào cả, cũng như ánh sáng không làm cho người mù trông thấysáng
Phương pháp chuyển di tư tưởng thứ hai là: người tư tưởng tư ̣ ta ̣o ở cõi trí mô ̣t hình
tư tưởng, nhưng không truyền sang bô ̣ não, mà trư ̣c tiếp truyền cho mô ̣t người tưtưởng khác ở cõi trí Kẻ thư ̣c hành đươ ̣c điều này tất nhiên phải giàu nghi ̣ lư ̣c, tư tưởng
ma ̣nh mẽ và cao siêu hơn những kẻ dùng trí não chuyển di tư tưởng Bởi vì ngườidùng phương pháp này phải tỉnh thức ở cõi trí mới hành đô ̣ng đươ ̣c
Mỗi người trong chúng ta đều có dùng những quyền năng ấy mô ̣t cách gián tiếp và
vô ý thức, vì theo bản tính tư ̣ nhiên, những tư tưởng của chúng ta phát sinh từ thể trí,đều rung đô ̣ng và truyền lan đến các chất thươ ̣ng thanh khí chung quanh
Không có lý do nào khác để thu he ̣p ý nghĩa của từ chuyển di tư tưởng trong sư ̣ cốtâm và du ̣ng ý về sư ̣ chuyển di tư tưởng riêng biê ̣t của người này truyền sang chongười khác Chúng ta thường bi ̣ ảnh hưởng với nhau luôn do những làn sóng tư tưởng
ta ̣o ra không ý đi ̣nh rõ rê ̣t, và điều mà cái go ̣i là dư luâ ̣n quần chúng, mô ̣t phần lớnthành hình nhờ tư tưởng mà ra, thường quần chúng hay tưởng nghĩ mô ̣t cách nào đó,chớ không phải suy xét chu đáo mô ̣t vấn đề rồi đi đến mô ̣t kết luâ ̣n Ðó là vì đa sốdân chúng chỉ nghĩ mô ̣t viê ̣c gì rồi lôi cuốn những người khác cùng theo ho ̣
Mô ̣t tư tưởng ma ̣nh mẽ của mô ̣t nhà đa ̣i tư tưởng sở dĩ truyền bá đươ ̣c khắp cõi tưtưởng là do mô ̣t số người hấp thu ̣ tư tưởng này rồi truyền la ̣i làn sóng tư tưởng đầutiên, và khuếch đa ̣i làn sóng đó để kích đô ̣ng những kẻ chưa cảm ứng đươ ̣c làn sóng
sơ khởi Làn sóng ấy cứ tiếp tu ̣c tăng cường mãi cho đến khi cảm nhiễm đươ ̣c quảng
đa ̣i dân chúng Mô ̣t khi thành dư luâ ̣n quần chúng, thì nó có ảnh hưởng lớn lao đốivới đa ̣i chúng, ảnh hưởng này đâ ̣p ma ̣nh vào trí óc dân chúng để khêu gơ ̣i dân chúng
Trang 27đáp ứng la ̣i những làn sóng mà ho ̣ đã thu nhâ ̣n đươ ̣c Có vài tư tưởng theo đường lốiquốc gia ta ̣o thành những vâ ̣n hà sâu rô ̣ng do sư ̣ lâ ̣p đi lâ ̣p la ̣i không ngừng trongnhiều thế kỷ mô ̣t thứ tư tưởng như nhau bởi những cuô ̣c tranh đấu li ̣ch sử và những
tâ ̣p quán của mô ̣t dân tô ̣c Những tư tưởng ấy thay đổi sâu xa và tô điểm thêm sắc tháicho thể trí những gì thuô ̣c về dân tô ̣c, và mỗi tư tưởng đó, bất cứ từ đâu đến, đều bi ̣phương thức rung đô ̣ng quốc gia biến đổi
Những tư tưởng ngoa ̣i lai vào trí não chúng ta, đều bi ̣ thể trí của chúng ta thay đổivà khi chúng ta tiếp nhâ ̣n chúng là chúng đã tiếp nhâ ̣n những tư tưởng rung đô ̣ng đóvới những rung đô ̣ng bình thường của chúng ta Như thế, chúng ta thâu nhâ ̣n mô ̣t loa ̣irung đô ̣ng do sư ̣ kết hơ ̣p của hai thứ rung đô ̣ng Vì vâ ̣y, các quốc gia lân bang ghinhâ ̣n những tư tưởng ngoa ̣i lai, đều bi ̣ sư ̣ rung đô ̣ng dân tô ̣c tính của quốc gia biếnđổi
Do đó, người Anh và người Pháp, hay người Ấn Ðô ̣ và người Phi châu đều thấy rấtnhiều sư ̣ viê ̣c như nhau, nhưng mỗi dân tô ̣c đều thêm thắt những gì ho ̣ có từ lâu đời,
mă ̣c dầu thành thâ ̣t, song ho ̣ vẫn tố cáo lẫn nhau, dân này nói dân kia ngu ̣y ta ̣o, còndân kia nói dân no ̣ hành đô ̣ng phi pháp Nếu chân lý bất khả kháng này đươ ̣c thànhthâ ̣t nhìn nhâ ̣n, thì nhiều cuô ̣c tranh chấp quốc tế sẽ đươ ̣c san bằng dễ dàng, nhữngchiến tranh có thể tránh khỏi và những kẻ gây chiến rất dễ dàn xếp ổn thỏa để tránh
na ̣n khói lửa Ngoài ra, mỗi quốc gia sẽ nhìn nhâ ̣n cái mà đôi khi ho ̣ go ̣i là bình đẳngcá nhân thay vì khiển trách và đổ lỗi cho nước láng diềng của mình chỉ vì lý do bấtđồng ý kiến, mỗi quốc gia cố gắng tìm hiểu ý nghĩa quan điểm di ̣ đồng giữa đôi bênvà đừng quốc gia nào ngoan cố giữ mãi thành kiến của mình
Mô ̣t câu hỏi thiết thư ̣c đươ ̣c nêu ra: đang khi chúng ta sống trong bầu không khíhỗn loa ̣n, tràn ngâ ̣p những làn sóng tư tưởng xấu xa lẫn tốt đe ̣p, không ngớt va cha ̣mvào trí óc chúng ta, làm thế nào biết đươ ̣c có bao nhiêu điều lành ta đã hưởng và baonhiêu điều dữ ta đã tránh ? Phải đề phòng cách nào để tránh những tư tưởng xấu vàlàm sao thu nhâ ̣n những tư tưởng tốt ? Ðó là mô ̣t vấn đề tối quan tro ̣ng mà chúng tacần tìm hiểu để cho ̣n lư ̣a cho đúng
Thâ ̣t ra, mỗi người là mô ̣t cá nhân nên thể trí của chúng ta chi ̣u ảnh hưởng củachúng ta nhiều nhất, còn ảnh hưởng của kẻ khác chỉ thỉnh thoảng cảm nhiễm chútđỉnh thôi Nghe diễn thuyết hay đo ̣c sách thì thuyết trình viên hay tác giả cũng ảnhhưởng đến cái trí, nhưng đó là sư ̣ ngẫu nhiên trong cuô ̣c đời, chính chúng ta mới làyếu tố thường xuyên Ảnh hưởng của riêng chúng ta đóng góp trong sư ̣ kiến ta ̣o thể trí
ma ̣nh nhất và nhiều hơn hết, nó do chính chúng ta quyết đi ̣nh thể thức rung đô ̣ng bìnhthường cho cái trí của chúng ta mà thôi Tư tưởng nào không hơ ̣p với thể thức rung
đô ̣ng khi vừa cha ̣m đến thể trí của chúng ta thì liền bi ̣ loa ̣i ra ngoài Nếu người nàotưởng đến sư ̣ ngay thâ ̣t, thì sư ̣ dối trá không nhiễm vào tâm trí của ho ̣, người nào có tưtưởng bác ái, thì sư ̣ oán thù không làm cho ho ̣ băn khoăn, kẻ nào nghĩ đến minh triết
Trang 28thì sư ̣ ngu dốt không làm ho ̣ tê liê ̣t đươ ̣c Chỉ như thế mới đem la ̣i thư ̣c sư ̣ an toàn vàdũng mãnh Ðừng để trí ta ở không như mảnh đất hoang, mă ̣c cho những mầm giống
tư tưởng nào cũng mo ̣c lên đươ ̣c, vì như vâ ̣y trí ta cảm nhiễm tâ ̣t xấu nhiều hơn tánhtốt
Ðó là bài ho ̣c thư ̣c tâ ̣p Nếu chúng ta hành đúng, thì sẽ mau tìm thấy giá tri ̣ của tưtưởng Chúng ta hãy nhớ rằng chỉ có tư tưởng chân chính mới làm cho đời sống thanhcao, và cũng nhờ minh triết mà chúng ta dứt đươ ̣c đau khổ
Trang 29CHƯƠNG BỐN
NGUỒN GỐC TƯ TƯỞNG
Ngoa ̣i trừ giới tâm lý ho ̣c, không mấy người chi ̣u để tâm tìm hiểu vấn đề do nguồngốc nào có tư tưởng, hay tư tưởng từ đâu đến ? Vừa xuống cõi trần chúng ta phải mangtheo nhiều ý niê ̣m đã có sẵn Những ý niê ̣m mà chúng ta phải mang theo khi vừa mở
mắt chào đời go ̣i là “Tiên thiên quan niê ̣m” Ðó là những nghiê ̣p quả cô đúc hay rút
ngắn la ̣i do những tư tưởng, hành vi, kinh nghiê ̣m của chúng ta ta ̣o ra từ kiếp trước vàphải mang theo trong kiếp này Hiê ̣n nay, chúng ta đang hưởng hay đang trả nhữngnghiê ̣p quả tiền khiên ấy
Các tâm lý gia không thể quan sát trư ̣c tiếp mà hiểu đươ ̣c nguồn gốc tư tưởng Tuynhiên, các nhà chuyên môn ấy có thể hiểu đươ ̣c chút ít trong khi quan sát mô ̣t em bé.Như lúc sơ sinh, xác thân hài nhi phải trải qua mô ̣t thời kỳ phát triển vâ ̣t chất mau le ̣trong khi còn là mô ̣t bào thai, cũng như thể trí mới phải vươ ̣t qua mau chóng nhữnggiai đoa ̣n tiến triển lâu dài của tiền kiếp Thâ ̣t ra, “thể trí” không khi nào giống “tưtưởng”, dù khi nghiên cứu chính thể trí mới, chúng ta cũng chưa tìm đươ ̣c “nguồn gốc
tư tưởng” Ðiều ấy có lẽ đúng hơn nếu chúng ta xét thấy rất ít người có thể nghiên cứutrư ̣c tiếp về thể trí song ho ̣ có thể gián tiếp quan sát hành vi ta ̣o tác của xác thân bằngtrí óc và thần kinh hê ̣ “Tư tưởng” khác biê ̣t thể trí và xác thân, vì tư tưởng thuô ̣c vềtâm thức và sư ̣ sống, còn thể trí và xác thân thì thuô ̣c về hình thể và vâ ̣t chất, cả thảyđều là khí thể trung gian, những phương tiê ̣n để dùng ta ̣m nơi cõi trần
Nơi Chương Hai, chúng tôi có giải thích sư ̣ khác biê ̣t giữa Bản ngã và cái Trí, vâ ̣y
ho ̣c giả nên nhớ kỹ sư ̣ khác biê ̣t này: Bản ngã thì hiểu biết còn cái Trí là cơ năng dùngtiếp nhâ ̣n sư ̣ hiểu biết – và cũng đã đi ̣nh nghĩa: trí thức là thể trí và manas phối hơ ̣p
la ̣i
Vả la ̣i, chúng ta còn có thể nghiên cứu những ảnh hưởng của tư tưởng trên các thểmới, để suy luâ ̣n cho tương hơ ̣p với khái niê ̣m liên quan về nguồn gốc tư tưởng khiBản ngã tiếp xúc lần đầu tiên với Vô ngã Vũ tru ̣ Sư ̣ quan sát này giúp chúng ta căn cứ
theo lý đương nhiên “Thiên Ði ̣a tương đồng” Va ̣n vâ ̣t trên cõi trần đều là phản ảnh và
khi nghiên cứu những phản ảnh, chúng ta có thể hiểu biết đươ ̣c các nguyên nhân ta ̣othành va ̣n vâ ̣t
Quan sát kỹ mô ̣t đứa trẻ, ta thấy rằng cảm giác có trước trí khôn tức là những nỗicảm kích vui và khổ, nhưng đầu tiên là khổ, nghĩa là những cảm giác mơ hồ có trước
sư ̣ nhâ ̣n biết xác thư ̣c Trong lúc thai nhi còn nằm trong bu ̣ng me ̣, sư ̣ sống bào thainhờ sinh lư ̣c người me ̣ truyền sang, nhưng vừa lo ̣t lòng me ̣, hài nhi không thể nhờsinh lư ̣c của người me ̣ nữa Sư ̣ sống của hài nhi lìa sinh lư ̣c người me ̣ chưa đươ ̣c thay
Trang 30thế liền Tuy nhiên, khi thiếu sinh lư ̣c, tư ̣ nhiên nó thấy cần thiết và khi cảm thấy cầnlà thấy khổ Khi nhu cầu của đứa trẻ đươ ̣c thỏa mãn, thì nó vui vẻ và trở la ̣i tra ̣ng thái
vô ý thức Lần lần sư ̣ nghe thấy gơ ̣i cảm giác đứa trẻ, song vẫn chưa có dấu gì là hiểubiết Trẻ thơ bắt đầu mở trí khôn hiểu biết là khi nó thấy và nghe đươ ̣c tiếng nói củangười me ̣ hoă ̣c nhũ mẫu có liên quan đến sư ̣ ân cần cho nó bú đầy đủ khi nó khát sữa.Nhờ vâ ̣y, mới có sư ̣ liên la ̣c trong trí nhớ hoă ̣c do trí nhớ của ít nhiều cảm giác phátkhởi cùng chung mô ̣t cảnh vâ ̣t bên ngoài, ngoa ̣i cảnh này khác hẳn cảm giác, nhưngđươ ̣c xem như nguyên nhân phát khởi cảm giác Tư tưởng là sư ̣ nhâ ̣n thức mối liênquan giữa nhiều cảm giác và là cái mô ̣t, cái duy nhất nối chúng với nhau Ðó là sư ̣biểu lô ̣ đầu tiên của trí khôn và cũng là tư tưởng trước nhất – từ chuyên môn go ̣i là
“tri giác” Trong đoa ̣n trên, chúng tôi đã có nói: cốt yếu của tri giác là thiết lâ ̣p mốiliên kết giữa Jiva ( đơn nhất của tâm thức) với đối tươ ̣ng Bởi vâ ̣y, nơi nào có mối liênkết là có tư tưởng, tức là có sư ̣ hiểu biết
Ðiều này dễ kiểm soát và có thể dùng làm thí du ̣ tổng quát để chứng minh nguồngốc tư tưởng trong mô ̣t Bản ngã riêng biê ̣t, go ̣i là Biê ̣t ngã Ðó là bô ̣ ba Bản ngã bi ̣ mô ̣tlớp vâ ̣t chất rất tinh vi bao bo ̣c trong mô ̣t Bản ngã (cá thể), khác hẳn với Chơn ngã.Trong Biê ̣t ngã này, cảm giác có trước tư tưởng Sư ̣ chủ ý của Bản ngã đươ ̣c khêu gơ ̣ikhi có mô ̣t ấn tươ ̣ng kích thích và nó đáp ứng bằng mô ̣t cảm giác Mô ̣t đứa bé thấythiếu sinh lư ̣c như khát sữa, có cảm giác phải khóc để đòi hỏi chớ không biết suynghĩ, nhưng khi đươ ̣c no nê thì nó nín khóc Và cứ như thế mãi cho tới khi đứa trẻ bắtđầu tâ ̣p tễnh tiếp xúc với ngoa ̣i cảnh mô ̣t cách lờ mờ, rồi lần lần do cảm xúc bênngoài, đứa trẻ có xu hướng theo ngoa ̣i cảnh Nhờ dinh dưỡng đầy đủ đứa trẻ khỏe
ma ̣nh và chóng lớn, nó bắt đầu suy nghĩ đến cảnh tươ ̣ng làm cho nó có cảm giác –
mă ̣c dù rất yếu ớt Sư ̣ sửa đổi không ngừng trong thể trí của đứa trẻ kích thích Bản ngãnó tiến lần đến trình đô ̣ hiểu biết để có thể rung đô ̣ng đồng nhi ̣p Ðứa trẻ cảm biết cầnphải bồng ẵm và thích đươ ̣c vuốt ve mơn trớn Khi thấy có người tới gần nó, mắt vàmiê ̣ng của nó cảm giác lẫn lô ̣n mô ̣t lươ ̣t Nó có ba đă ̣c tính cố hữu liên kết với nhau:nhu cầu, tiếp xúc và thỏa mãn Sư ̣ liên kết này ta ̣o thành ý tưởng Nếu Bản ngã khôngcảm ứng đô ̣ng tác nào cả thì không có tư tưởng vì chính Bản ngã nhâ ̣n thức chớ không
ai khác
Tri giác này làm cho đứa trẻ biết ham muốn, có ý thức hơn, sư ̣ đòi hỏi trước kia dobản năng thúc đẩy không ý đi ̣nh, bây giờ trở thành sư ̣ ham muốn hướng về mô ̣t viê ̣cgì có chủ đi ̣nh – như muốn uống sữa Tuy nhiên, sư ̣ nhâ ̣n thức ấy cần phải sửa đổi, vìBản ngã hiểu biết liên kết ba đă ̣c tính nhưng đã đến lúc mô ̣t trong ba đă ̣c tính ấy lànhu cầu phải đươ ̣c tách riêng ra Ðiều này rất có ý nghĩa là khi đứa bé thấy người nàocho nó bú thì nó biết đòi Ðó là nó tiến đến giai đoa ̣n đầu, vì Bản ngã hiểu biết khêu
gơ ̣i cho nó nhâ ̣n đươ ̣c hình ảnh người đến gần nó Dù đứa bé không khát sữa nhưngkhi trông thấy me ̣ nó, thì nó khóc lên để đòi vú me ̣, về sau, trẻ lớn khôn thì không
Trang 31còn khóc để đòi vú nữa, trái la ̣i, nó thích gần gũi và trìu mến me ̣ nó nhiều hơn Sư ̣ trìumến của trẻ con đối với người me ̣ trở thành mô ̣t kích đô ̣ng mới cho tư tưởng.
Trang 32MỐI LIÊN QUAN GIỮA CẢM GIÁC VÀ TƯ TƯỞNG
Nhiều sách tâm lý ho ̣c Ðông và Tây phương xác nhâ ̣n rằng tất cả tư tưởng đều căncứ nơi cảm giác, mô ̣t số lớn các cảm giác đươ ̣c súc tích nhưng không ta ̣o đươ ̣c tưtưởng
Bà H P Blavatsky viết: “Như chúng ta đã biết tư tưởng có thể phân tích bằng những tra ̣ng thái của tâm thức thay đổi tùy theo thời gian tính, cường đô ̣, sư ̣ phức
ta ̣p, v.v nhưng chung qui tất cả đều căn cứ trên cảm giác” Vài tâm lý gia đi xa hơn,
cho rằng chẳng những cảm giác là nguyên liê ̣u dùng kiến ta ̣o tư tưởng mà còn ta ̣o nên
tư tưởng nữa, như vâ ̣y có nghĩa không chấp nhâ ̣n có Người suy tưởng và cũng phủnhâ ̣n Bản ngã hiểu biết Phái đối lâ ̣p cư ̣c đoan thì xem tư tưởng như kết quả do ý niê ̣mcủa bản thân phát khởi từ nô ̣i tâm, chớ không do ngoa ̣i cảnh, còn cảm giác là nguyênliê ̣u để Bản ngã sử du ̣ng theo đă ̣c tính tư ̣ nhiên, chớ Bản ngã không do hành đô ̣ng theođiều kiê ̣n nào cả
Mô ̣t đàng cho rằng tư tưởng do cảm giác phát sinh, đàng khác bảo rằng tư tưởng doBản ngã sáng ta ̣o Theo kiến giải của hai đàng thì đàng nào cũng chỉ chứa đư ̣ng mô ̣tphần chân lý, còn đúng chân lý, la ̣i ở giữa hai quan điểm đó Cần phải khêu gơ ̣i Bảnngã để cảm giác nương theo đó mà hành đô ̣ng ở ngoa ̣i cảnh, và nếu tư tưởng đầu tiênphát khởi là do hâ ̣u quả của cảm giác thúc đẩy thì cần phải có cảm giác từ trước,nhưng nếu Bản ngã không có khả năng cố hữu liên kết sư ̣ vâ ̣t la ̣i với nhau và nếu Bảnngã không có tính hiểu biết phân biê ̣t, dù cảm giác luôn luôn tru ̣ vào Bản ngã, thìcũng không phát sinh mô ̣t tư tưởng nào cả Vâ ̣y khi nói tư tưởng phát nguồn từ cảmgiác thì chỉ đúng phân nửa chân lý Thâ ̣t ra phải ta ̣o cho cảm giác mô ̣t cơ cấu vững
chắc và thiết lâ ̣p mối liên quan giữa cảm giác với cảm giác, giữa cảm giác với Bản ngã, và liên kết chă ̣t chẽ giữa cảm giác và Bản ngã với ngoa ̣i cảnh Cũng như Người tưởng nghĩ là cha, cảm giác là me ̣, còn tư tưởng là con vâ ̣y.
Nếu tư tưởng phát nguồn từ cảm giác, mà sở dĩ những cảm giác ấy phát sinh là do
sư ̣ tiếp xúc với ngoa ̣i cảnh và điều tối quan tro ̣ng là khi cảm giác phát khởi, các đă ̣ctính và sư ̣ bành trướng của cảm giác phải đươ ̣c xem xét cho xác đáng Phâ ̣n sư ̣ đầutiên của Người hiểu biết là quan sát, nếu không có gì để quan sát thì nó luôn luôn bất
đô ̣ng, nhưng khi đối tươ ̣ng phát hiê ̣n, Bản ngã tiếp xúc đối tươ ̣ng với tư cách Ngườihiểu biết thì nó chủ ý xem xét phân biê ̣t Sở dĩ có sư ̣ quan sát đúng là do tư tưởng củaBản ngã hiểu biết tâ ̣p trung mô ̣t số lớn quan sát tương tư ̣ ấy la ̣i Nếu Bản ngã hiểu biếtquan sát không đúng, và nếu có sư ̣ sai lầm giữa chủ thể hiểu biết và đối tươ ̣ng để hiểubiết thì sau này những hành đô ̣ng sai lầm ấy sẽ sinh ra không biết bao nhiêu sư ̣ sai lầmkhác nữa, vô phương sửa đổi, trừ phi bắt đầu làm la ̣i tất cả
Giờ đây, chúng ta hãy xem xét cái then chốt của cảm giác và tri giác trong mô ̣ttrường hơ ̣p đă ̣c biê ̣t Giả sử bàn tay ta va cha ̣m nhe ̣ vào vâ ̣t gì, ta có cảm giác bi ̣ đu ̣ng
Trang 33cha ̣m Sư ̣ nhâ ̣n biết sư ̣ vâ ̣t bằng xúc giác đã ta ̣o ra cảm giác mô ̣t ý tưởng Khi ta cảmthấy bi ̣ đu ̣ng nhe ̣, là ta chỉ cảm giác suông mà thôi Nhưng nếu khi ta thấy đối tươ ̣ngmà sinh ra tình cảm, thì tri giác là mô ̣t tư tưởng Còn về phần Người hiểu biết, nơi đâytri giác có nghĩa là ta nhìn nhâ ̣n hiê ̣n đang có mô ̣t mối liên quan giữa ta với đối tươ ̣ng,và đối tươ ̣ng ta ̣o cho ta mô ̣t cảm giác Tuy nhiên, không phải tất cả sư ̣ kiê ̣n này xảy rađều như thế cả Bởi lẽ, ngoài ra ta còn nhâ ̣n thấy nhiều cảm giác về màu sắc, hìnhdáng, êm di ̣u, ấm áp, kết cấu Những cảm giác đó, ta nhâ ̣n thấy với tư cách Người hiểubiết, do sư ̣ trơ ̣ giúp của các kỷ niê ̣m và ấn tươ ̣ng mà ta đã ghi nhâ ̣n từ trước – nghĩa là
ta so sánh sư ̣ vâ ̣t cũ với sư ̣ vâ ̣t mới mà ta cảm xúc – thì ta mới phân đi ̣nh đươ ̣c tínhchất của đối tươ ̣ng
Viê ̣c hiểu biết sư ̣ vâ ̣t này đem la ̣i cho ta mô ̣t tình cảm đã chứa sẵn mầm mống tưtưởng Theo ngôn ngữ siêu hình: Khi nhâ ̣n thức đươ ̣c Vô ngã như là nguyên nhân củavài cảm giác trong Bản ngã, thì ta bắt đầu hiểu biết Cảm giác mô ̣t mình là cảm giácsuông, điều này thường xảy ra, không đủ sức làm cho ta nhâ ̣n thức đươ ̣c Vô ngã, màchỉ khêu gơ ̣i sư ̣ vui buồn trong Bản ngã, là sư ̣ nở rô ̣ng hay co thắt la ̣i trong tâm hồn
Nếu người nào chỉ biết cảm giác suông thì không tiến hóa cao đươ ̣c Khi chúng tathấy đối tươ ̣ng mà sinh tình cảm, đó là ta hiểu biết đươ ̣c đối tươ ̣ng mang la ̣i cho ta sư ̣vui hay sư ̣ buồn, là ta bắt đầu mở trí khôn Mối liên kết chă ̣t chẽ có ý thức giữa Bảnngã và Vô ngã là nền tảng cho mo ̣i tiến hóa sau này, và mô ̣t phần lớn sư ̣ tiến hóa ấylàm cho mối liên kết của Người hiểu biết ngày càng trở nên rõ ràng và chắc chắnthêm Khi tâm thức vo ̣ng đô ̣ng, Người hiểu biết liền tiếp xúc với ngoa ̣i cảnh thấy đốitươ ̣ng sinh ra tình cảm vui hay khổ, rồi ngoảnh la ̣i thế gian mà nói: “Ðối tươ ̣ng ấy làmtôi vui, đối tươ ̣ng ấy làm tôi khổ.”
Cần phải có nhiều kinh nghiê ̣m về cảm giác trước, rồi sau này Bản ngã mới đáp ứng
la ̣i với ngoa ̣i cảnh Do lòng ước ao muốn hưởng la ̣c thú lâ ̣p la ̣i làm Bản ngã phải lầndò trong tối tăm để tìm cho đươ ̣c thú vui Và đấy là mô ̣t thí du ̣ rất hay về sư ̣ kiê ̣n đã kểtrên để chứng minh không có sư ̣ viê ̣c nào go ̣i là cảm giác thuần túy hay tư tưởngthuần túy, bởi vì “sư ̣ mong mỏi thú vui đươ ̣c tái diễn” hàm súc ý nghĩa rằng hình ảnh
la ̣c thú vẫn luôn luôn còn tiêm nhiễm trong tâm thức, dù cho hình ảnh ấy có yếu ớtchăng nữa, thì đó cũng là công viê ̣c của ý niê ̣m thuô ̣c pha ̣m vi tư tưởng Phải mất mô ̣tthời gian lâu, Bản ngã mới tỉnh thức đươ ̣c phân nửa song còn buông trôi từ sư ̣ vâ ̣t nàyđến sư ̣ vâ ̣t khác, rồi ngẩu nhiên va cha ̣m nhằm Vô ngã chớ không do tâm thức hướngdẫn, Bản ngã cảm biết vui khổ, nhưng không rõ ta ̣i sao vui và ta ̣i sao khổ Sau khi trảiqua mô ̣t thời gian lâu trong tình tra ̣ng như vâ ̣y, Bản ngã mới nhâ ̣n thức đươ ̣c sư ̣ vuikhổ và từ đây bắt đầu thiết lâ ̣p mối liên kết giữa Người hiểu biết và Vâ ̣t đươ ̣c biết
Trang 34CHƯƠNG NĂM
KÝ ỨCBẢN TÍNH CỦA TRÍ NHỚ
Khi chúng ta đươ ̣c vui thích với đối tươ ̣ng nào thì tâm la ̣i khởi ý niê ̣m muốn gă ̣p la ̣iđối tươ ̣ng đó nữa để vui thêm Hoă ̣c có đối tươ ̣ng nào làm chúng ta đau khổ mà muốn
xa lìa đối tươ ̣ng ấy thì thể trí cũng tái ta ̣o những hình ảnh đối tươ ̣ng đó trở la ̣i chúng tanữa Vì theo đi ̣nh luâ ̣t chung, năng lư ̣c di chuyển theo chiều hướng ít trở nga ̣i để vâ ̣tchất thể trí tiê ̣n viê ̣c cho ̣n lư ̣a theo sở thích với hình thức thường dùng, chờ khi năng
lư ̣c mới này hoa ̣t đô ̣ng, thì nó ta ̣o la ̣i những sư ̣ rung đô ̣ng đã phát khởi từ trước.Khuynh hướng này do Tamas (ti ̣nh chất) là mầm mống của trí nhớ và cũng là chủngtử của Ký ức Các phân tử vâ ̣t chất của thể trí kết tu ̣, rồi phân tán lần lần khi gă ̣p năng
lư ̣c khác xung kích, tuy nhiên chúng vẫn giữ đươ ̣c khuynh hướng kết tu ̣ với nhautrong mô ̣t thời gian lâu Nhưng nếu các phân tử ấy gă ̣p sư ̣ kích đô ̣ng giống như lầntrước, chúng liền trở về vi ̣ trí cũ Hơn nữa, khi Người hiểu biết rung đô ̣ng theo đườnglối riêng biê ̣t thì năng lư ̣c rung đô ̣ng ấy vẫn tồn ta ̣i trong Người hiểu biết chớ khôngmất, và sư ̣ ham muốn đươ ̣c gần gũi với cảnh vui, xa lánh cảnh buồn đươ ̣c Người hiểubiết phóng năng lư ̣c rung đô ̣ng ra ngoa ̣i cảnh để kích đô ̣ng sư ̣ vui buồn theo nhu cầucủa thể trí
Người hiểu biết thâu nhâ ̣n và phát xuất đươ ̣c hình ảnh là do hai nguyên nhân:
1- Sư ̣ vui thích hấp dẫn tái ta ̣o nên hình ảnh vui thích
2- Sư ̣ đau khổ vì ganh ti ̣ cũng ta ̣o ra hình ảnh đau khổ
Do kinh nghiê ̣m, sư ̣ vui và sư ̣ buồn hổn hơ ̣p la ̣i thành mô ̣t loa ̣t rung đô ̣ng ta ̣o nênhình ảnh đối tươ ̣ng, rồi sư ̣ vui thích hay đau buồn đồng tái hiê ̣n la ̣i, làm ta cảm giác
đươ ̣c sư ̣ vui hay buồn ấy thêm mô ̣t lần nữa, nhưng lần sau này không có đối tươ ̣ng trước mắt Vì đó chỉ là trí nhớ dưới hình thức đơn giản nhất, là sư ̣ rung đô ̣ng sẵn có tư ̣
nhiên và đồng bản chất với sư ̣ rung đô ̣ng đã gây nên nỗi vui hay buồn, hầu khêu gơ ̣imối thiê ̣n cảm hay ác cảm Ðối với Người hiểu biết, hình ảnh ấy lu mờ, ít rõ ràng, ítsống đô ̣ng hơn những hình ảnh đã tiếp xúc thẳng với ngoa ̣i cảnh Tuy nhiên, sư ̣ rung
đô ̣ng nă ̣ng nề của vâ ̣t chất giúp nhiều năng lư ̣c cho những hình ảnh của ý tưởng và
du ̣c vo ̣ng, thâ ̣t ra các rung đô ̣ng đều giống hê ̣t nhau và ký ức chỉ là sư ̣ tái ta ̣o trong vâ ̣tchất trí tuê ̣ những đối tươ ̣ng do Người hiểu biết trước kia đã cảm nhiễm Hình ảnh nàycó thể và đang đươ ̣c tái diễn nhiều lần trong vâ ̣t chất rất tinh vi, ngoài sư ̣ nhâ ̣n thứccủa Người hiểu biết riêng biê ̣t, tất cả những hình ảnh tái ta ̣o ấy đều gom la ̣i và làm ra
mô ̣t thành phần nhỏ mo ̣n của ký ức Ðức Thươ ̣ng Ðế, Chủ tể Vũ tru ̣ Bất cứ Người hiểubiết nào cũng có thể thâu tiếp các hình ảnh của những hình ảnh ấy miễn là Người hiểubiết có đủ “năng lư ̣c rung đô ̣ng” như đươ ̣c kể ở trên Cũng giống đài phát thanh truyền
Trang 35tin tức trên băng tần 1000 chu kỳ, thì các máy thu thanh còn tốt, bắt đúng tần số đóđều nghe đươ ̣c tin tức của đài Như thế, năng lư ̣c rung đô ̣ng tiềm tàng trong Ngườihiểu biết có thể hoa ̣t đô ̣ng do mô ̣t sư ̣ rung đô ̣ng tương tư ̣ trong những hình ảnh vũ tru ̣.Hình ảnh ấy đươ ̣c tái ta ̣o đầy đủ chi tiết về hình tướng và âm thanh trong cảnh Akashatức là cõi Thái hư mà giới Thông Thiên Ho ̣c thường go ̣i là Thái hư ký ảnh hay là Tiênthiên ký ảnh, nghĩa là hình ảnh ghi trên không gian.
Trang 36KÉM TRÍ NHỚ
Nếu muốn hiểu ta ̣i sao chúng ta “kém trí nhớ”, chúng ta phải xét qua những quátrình của trí não, vì rất cần thiết cho sư ̣ phát sinh trí nhớ Nhiều sách tâm lý ho ̣c chorằng ký ức như là quan năng đă ̣c biê ̣t của trí não Thâ ̣t ra sư ̣ nhớ dai mô ̣t hình ảnh
trong trí óc không do quan năng đă ̣c biê ̣t nào cả, mà do phẩm chất chung của cái trí.
Hễ trí nhu nhươ ̣c thì mau quên – tỉ như mô ̣t chất lỏng đổ vào khuôn nào thì nó theohình thức của khuôn ấy, nhưng khi tách rời khỏi khuôn, chất lỏng không còn ở y nhưhình thức của khuôn ấy nữa – thể trí nào kém tổ chức thì hơ ̣p chất của phân tử ở thểtrí rời ra ̣c và tản mác như mô ̣t vầng mây thưa thớt, như thế trí nhớ sẽ rất kém cỏi Tuynhiên, kém trí nhớ là sư ̣ thông thường của người đời, không đáng phiền nga ̣i, vì chúng
ta hiê ̣n nay đang sống trong giai đoa ̣n chưa tiến hóa cao, thì ai nấy cũng đều kém trínhớ cả
Khi những năng lư ̣c của Jiva hoa ̣t đô ̣ng trong thể trí và có tổ chức trâ ̣t tư ̣, chúng tacũng còn thấy cái mà chúng ta go ̣i là “kém trí nhớ”, nhưng nếu xét kỹ, chúng ta thấyrằng không phải phương diê ̣n nào chúng ta cũng đều kém trí nhớ cả Dĩ nhiên, có vàiviê ̣c dù ta không mấy để ý, nhưng cũng có thể nhớ đươ ̣c rõ ràng và chắc chắn nữa.Nếu chi ̣u khó xét la ̣i các sư ̣ kiê ̣n ấy, ta thấy rằng những viê ̣c mà ta nhớ dai thảy đềukích đô ̣ng tâm trí của ta nhiều nhất Tóm la ̣i, phàm những gì làm chúng ta ưa thíchhoă ̣c đau khổ thái quá thì càng làm cho chúng ta nhớ dai
Tôi biết mô ̣t bà thường phàn nàn về tánh mau quên của bà trong viê ̣c ho ̣c hành.Tuy nhiên, tôi nhâ ̣n thấy có nhiều viê ̣c bà ta nhớ rất giỏi, như nhớ từ chi tiết mô ̣t bô ̣ yphu ̣c mà bà ta thường trầm trồ Nhâ ̣n xét chung, trí nhớ của bà không có gì là kém cỏi,khi bà chủ ý quan sát mô ̣t điều gì kỹ lưỡng thì trong trí bà phát hiê ̣n ra hình ảnh rõràng và hình ảnh ấy giữ đươ ̣c mô ̣t thời gian khá lâu rồi mới tan Viê ̣c này là mô ̣t bíquyết giúp ích chúng ta hiểu biết về viê ̣c “kém trí nhớ”
Người kém trí nhớ là ta ̣i vì ho ̣ thiếu chủ ý và quan sát kỹ, người như vâ ̣y về sau haycó những tư tưởng lô ̣n xô ̣n Tư tưởng lô ̣n xô ̣n đó là ấn tươ ̣ng không rõ rê ̣t do sư ̣ quansát thiếu cẩn thâ ̣n, chú ý Trái la ̣i, những tư tưởng minh ba ̣ch là những ấn tươ ̣ng sắcbén do mô ̣t chủ tâm quan sát cẩn thâ ̣n và chính xác La ̣i nữa, những gì mà ta thích thúvà chủ ý nhiều thì thường hay nhớ dai
Làm cách nào để sửa chữa đươ ̣c viê ̣c “kém trí nhớ”?
Trước hết, chúng ta phải ghi những viê ̣c gì mau quên và những viê ̣c gì hay nhớ đểtiê ̣n viê ̣c phân tách khả năng chung, rồi nghiên cứu tỉ mỉ những điều chúng ta chóngquên, xem xét la ̣i các viê ̣c ấy thử coi có đáng nhớ hay không Nếu thấy chẳng ích lơ ̣i
bao nhiêu, nhưng lắm khi chúng ta thấy cần chăm lo thì phải tư ̣ nhủ: “Tôi muốn chủ ý đến viê ̣c này, tôi muốn xem xét viê ̣c này cho rành ma ̣ch, tôi muốn nghĩ đến viê ̣c này
mô ̣t cách chu đáo” Làm như thế chúng ta cảm thấy trí nhớ của chúng ta ngày càng
Trang 37mở mang thêm Như đã giải rõ nơi đoa ̣n trước, trí nhớ tùy thuô ̣c sư ̣ chú ý cẩn thâ ̣n,quan sát chín chắn và suy nghĩ kỹ càng Muốn chú ý cần phải có sư ̣ hấp dẫn, nếuthiếu sư ̣ hấp dẫn thì phải có ý chí để thay thế yếu tố quan tro ̣ng ấy.
Ðây chính là khởi điểm gây nên sư ̣ trở nga ̣i mà chúng ta thường thấy Làm cách nàođể ý chí có thể thay thế sư ̣ hấp dẫn ? Cái gì làm phát đô ̣ng ý chí ? Hấp dẫn khêu gơ ̣iham muốn, sư ̣ ham muốn thúc đẩy con người cha ̣y theo đối tươ ̣ng hấp dẫn Nhưng giảsử trong trường hơ ̣p không có sư ̣ ham muốn thì làm sao ý chí có thể thay thế hammuốn đươ ̣c ? Ý chí là sức ma ̣nh thúc đẩy sư ̣ hành đô ̣ng theo đường lối do Lý trí xétđoán kỹ càng và chỉ đi ̣nh chớ không do sư ̣ hấp dẫn ở ngoa ̣i cảnh Hành đô ̣ng bi ̣ thúcđẩy do sư ̣ quyến rủ ở ngoa ̣i cảnh – thường go ̣i là Bản ngã phát huy năng lư ̣c – đó là
du ̣c vo ̣ng (ham muốn), còn hành đô ̣ng do Lý trí Thuần túy hướng dẫn, go ̣i là ý chí.Khi nào ngoa ̣i cảnh không còn sức quyến rủ nữa thì nô ̣i tâm thông suốt Sư ̣ thamcứu sâu rô ̣ng của trí thức là nguyên nhân làm cho ý chí đươ ̣c thành tư ̣u, và nhờ sư ̣luyê ̣n tâ ̣p phán đoán là mu ̣c tiêu của mo ̣i nỗ lư ̣c để đi đến tâ ̣n thiê ̣n Ðó là điều mà Lýtrí cho ̣n làm phương tiê ̣n đưa Bản ngã đến chỗ tuyê ̣t mỹ ngõ hầu ta ̣o thành nguyênnhân cho ý chí Mô ̣t khi đã quyết đi ̣nh thư ̣c hành, sau này dù chúng ta có mỏi mê ̣t hayđau ốm, sư ̣ huấn luyê ̣n tư tưởng ấy không quên nhắc nhở ta cần phải thâ ̣n tro ̣ng vàkhích lê ̣ thêm ý chí Nếu viê ̣c gì cũng đắn đo, cân nhắc cẩn thâ ̣n, thì mo ̣i viê ̣c đều trởnên hấp dẫn, nghĩa là khi chúng ta ta ̣o trong trí mô ̣t hình ảnh có đức tính cao quí vàvui tươi để áp du ̣ng vào công viê ̣c hữu ích, thì hình ảnh ấy trở nên hấp dẫn Theo thếthường, người nào ham muốn mô ̣t vâ ̣t gì đều ước mong có đủ phương thế để đa ̣t đươ ̣c
vâ ̣t ấy đă ̣ng làm của riêng, tuy nhiên nhờ sư ̣ cố gắng giữ đúng kỷ luâ ̣t khắc khe trong
sư ̣ rèn luyê ̣n ý chí, chúng ta có thể thắng đươ ̣c tính ích kỷ này
Có vài mu ̣c đích cao cả đáng cho chúng ta ham muốm để đươ ̣c dẫn dắt đến ha ̣nhphúc viên mãn, vì vâ ̣y chúng ta cần phải tâ ̣n du ̣ng ý chí hoa ̣t đô ̣ng ma ̣nh mẽ hầu điđến cứu cánh Viê ̣c gì cũng vâ ̣y, nhất là trong viê ̣c trau giồi năng lư ̣c quan sát, sư ̣ luyê ̣n
tâ ̣p thường xuyên, mỗi ngày mô ̣t ít, có hiê ̣u quả hơn là cố gắng thâ ̣t nhiều trong mô ̣tlúc rồi gián đoa ̣n Mỗi ngày chúng ta bắt buô ̣c phải tâ ̣p quan sát tỉ mỉ mô ̣t vâ ̣t gì thông
thường, tưởng tươ ̣ng trong trí hình dáng vâ ̣t đó cho đầy đủ chi tiết, rán sức chủ ý và
giữ hình ảnh ấy trong trí mô ̣t thời gian ngắn như chính mắt ta đã trông thấy Qua ngàysau, chúng ta cố gắng nhớ la ̣i, tái ta ̣o trong trí hình ảnh vâ ̣t đó cho thâ ̣t đúng, đúngnhiều càng tốt, rồi so sánh, xem xét, bổ túc những thiếu sót và sửa chữa chỗ sai lầm
Nếu mỗi ngày chúng ta dành năm phút để luyê ̣n tâ ̣p quan sát, lần lươ ̣t mỗi lần xemxét tỉ mỉ mô ̣t vâ ̣t, hình dung vâ ̣t ấy trong trí, qua ngày sau rán sức nhớ la ̣i hình ảnh vâ ̣tấy rồi so sánh với vâ ̣t trước, nhờ vâ ̣y trí óc của chúng ta chóng phát triển và nhữngnăng lư ̣c quan sát, chủ ý, suy tưởng, đi ̣nh trí cũng tiến triển khả quan Thâ ̣t ra chúng tarèn luyê ̣n thể trí để tiến mau le ̣, hầu có đủ tư cách xứng đáng làm tròn nhiê ̣m vu ̣ giúpđời hữu hiê ̣u, hơn là để thể trí phát triển châ ̣m cha ̣p theo đi ̣nh luâ ̣t tư ̣ nhiên
Trang 38Không mô ̣t người nào luyê ̣n tâ ̣p theo phương pháp trên đây mà không thâu thâ ̣pđươ ̣c kết quả Hành giả sẽ đươ ̣c hài lòng khi nhâ ̣n thấy năng lư ̣c trí thức của mình ngàycàng gia tăng và sư ̣ kiểm soát ý chí cũng dễ dàng hơn.
Có nhiều phương pháp nhân ta ̣o tâ ̣p mở trí bằng cách trình bày sư ̣ vâ ̣t có sắc tháihấp dẫn qua các giác quan, hoă ̣c tom góp các sư ̣ vâ ̣t la ̣i làm thành mô ̣t hình thức đă ̣ngghi nhớ Nếu người có năng khiếu về mắt (tức là có trông thấy mới dễ nhớ), nên dùnghình ảnh hoă ̣c viết hay vẽ vời trên bảng những hình thức muốn nhớ, để mắt trông thấymới nhớ đươ ̣c Người khác, thính giác trô ̣i hơn, thì những âm thanh dễ ghi vào trí não,như khi nghe lo ̣t vào tai mô ̣t bài ho ̣c hay những vần thơ, hoă ̣c mô ̣t bản nha ̣c du dươngthì nhớ rất le ̣ Những người này ho ̣c bài thường hay đo ̣c to tiếng để cho tai nghe thìmới mau thuô ̣c Tuy nhiên, phương pháp hay nhất và hơ ̣p lý nhất dùng cách rèn luyê ̣nthể trí cho có căn bản vững chắc là phương pháp mà chúng tôi đã trình bày nơi đoa ̣ntrên
Trang 39KÝ ỨC VÀ TIÊN ÐOÁN
Bây giờ chúng ta trở la ̣i với Người hiểu biết kém mở mang của chúng ta
Khi ký ức vừa hoa ̣t đô ̣ng thì tiên đoán theo liền rất mau le ̣, vì tiên đoán chỉ là trínhớ đươ ̣c đưa ra trước
La ̣c thú xưa kia chúng ta đươ ̣c hưởng, nay nhớ la ̣i muốn có thú vui ấy để hưởng nữathì go ̣i là ký ức, còn khi trí tưởng nghĩ thấy đươ ̣c đối tươ ̣ng ở ngoa ̣i giới và sư ̣ vui thíchliền theo, thì đó là tiên đoán Hình ảnh của đối tươ ̣ng và hình ảnh của vui thích liên la ̣cvới nhau, cả thảy đều tru ̣ vào Người hiểu biết, nếu gia thêm vào sư ̣ chiêm niê ̣m yếu tốthời gian quá khứ và tương lai thì sư ̣ chiêm niê ̣m này thành ra có hai tên go ̣i Ðó là kýức và tiên đoán:
1- Ký ức là sư ̣ chiêm niê ̣m có thêm ý tưởng quá khứ
2- Tiên đoán là sư ̣ chiêm niê ̣m có thêm ý tưởng tương lai
Có nghiên cứu các sư ̣ kiê ̣n này, chúng ta mới hiểu đươ ̣c câu châm ngôn sâu sắc của
Ða ̣i sư Patanjali, mà các đê ̣ tử theo pháp môn Yoga đều phải châ ̣n đứng “ sư ̣ biến đổi của tư tưởng” Xét theo quan điểm của Huyền bí ho ̣c, mỗi lần tiếp xúc với Vô ngã, thì cái trí đều thay đổi Mô ̣t phần chất liê ̣u của thể trí đươ ̣c dùng để ta ̣o thành viê ̣c bố trí
la ̣i hình ảnh ấy, chúng ta có tư tưởng về phương diê ̣n “hình thể” Tương ứng với điều
này, sư ̣ rung đô ̣ng phát sinh từ chính Người hiểu biết và những sư ̣ biến đổi ấy xảy đến
trong nó ta ̣o thành tư tưởng về phương diê ̣n “sư ̣ sống”
Chúng ta nên nhớ rằng mối liên kết ấy do công viê ̣c riêng biê ̣t của Người hiểu biếtcó phu ̣ thêm vào hình ảnh, và sư ̣ bổ túc này biến đổi hình ảnh thành tư tưởng Những
hình ảnh trong thể trí rất giống đă ̣c tính các ấn tươ ̣ng ta ̣o trên kính ảnh do làn sóng dĩ
thái từ bên ngoài quang phổ đến, có tác du ̣ng hóa ho ̣c trong chất muối ba ̣c biến đổitính chất làm cho hình ảnh đối tươ ̣ng hiê ̣n lên trên kính ảnh Thể trí cũng mườngtươ ̣ng như kính ảnh, các chất của thể trí sắp đă ̣t để kiến ta ̣o la ̣i các hình ảnh đối tươ ̣ngmà nó tiếp xúc đươ ̣c Khi Người hiểu biết nhâ ̣n thấy những hình ảnh ấy do nhữngrung đô ̣ng khêu gơ ̣i từ tâm thức, chúng liền xem xét các hình ảnh ấy trong chốc lát rồibắt đầu kiến ta ̣o và sửa đổi những hình ảnh đó bằng những rung đô ̣ng của y phát ra.Theo đi ̣nh luâ ̣t đã diễn giải ở giai đoa ̣n trước, năng lư ̣c thường hướng theo con đườngít trở nga ̣i để Người hiểu biết uốn nắn các hình dáng ấy và sửa đi đổi la ̣i mãi, để ta ̣othành những hình ảnh của hình ảnh và tàng trữ cho đến khi gă ̣p đươ ̣c yếu tố thời gianlàm tái hiê ̣n hình ảnh ấy tùy dĩ vãng hay tương lai mà chúng ta go ̣i là “ký ức” hay “tiênđoán”
Sau hết, tư tưởng cu ̣ thể chỉ là sư ̣ lâ ̣p la ̣i các kinh nghiê ̣m hằng ngày trong vâ ̣t chấttinh vi hơn, với sư ̣ khác biê ̣t này, Người hiểu biết có thể ngưng hoă ̣c thay đổi sư ̣ liên
tu ̣c các hình ảnh ấy, hoă ̣c lâ ̣p la ̣i nhanh châ ̣m tùy ý Y có thể giữ la ̣i bất kỳ mô ̣t hìnhảnh để mơ tưởng hay xem xét lúc nào tùy thích, mă ̣c dù có nhiều viê ̣c y đã kinh
Trang 40nghiê ̣m rồi, nhưng la ̣i quên phứt, vì bi ̣ lôi cuốn theo bánh xe thời gian vâ ̣n chuyểnkhông ngừng với mô ̣t tốc đô ̣ không tăng, không giảm Y cũng có thể làm cho thờigian trôi qua mau hay châ ̣m tùy ý, nhưng chỉ hoa ̣t đô ̣ng trong lãnh vư ̣c riêng biê ̣t của
y, cũng như Thươ ̣ng Ðế hoa ̣t đô ̣ng cho thế giới của Ngài Tuy nhiên, y không tránhkhỏi sư ̣ liên tu ̣c là bản chất của thời gian, nếu y còn bi ̣ chướng nga ̣i vâ ̣t chất ràng buô ̣c,thì không thể hiê ̣p nhất với tâm thức của Thươ ̣ng Ðế