Nhưng hiện nay các tài liệu và công trìnhnghiên cứu về cấu trúc tổ, đặc điểm phân bố cũng như tỉ lệ các đẳng cấptrong loài mối này chưa nhiều và chưa được làm rõ.. Vì vậy chúng tôi đãchọ
Trang 1Côn trùng bộ cánh đều có các đặc điểm như có hai cánh mỏng, cấutạo hai cánh giống nhau và kích thước gần bằng nhau Cánh mối chỉ có ởcác cá thể sinh sản trước khi giao hoan, sau giao hoan đôi cánh đó rụngmất.Còn các cá thể ở các đẳng cấp khác như mối lính, mối thợ đều không
có cánh Cơ quan miệng của chúng có dạng kiểu nghiền Sâu bọ thuộc bộcánh đều phát triển theo kiểu biến thái không hoàn toàn Trong tổ mối xuấthiện các đẳng cấp khác nhau bao gồm mối vua, mối chúa, mối lính, mốithợ, mối cánh Tuy nhiên trong đặc điểm phân loại hình thái của mối người
ta xác định hình thái phân loại của mối lính
Mối lính có hàm với hệ thống răng phức tạp, có mắt đơn và tấmlưng ngực trước chỉ có một thuỳ, túi tinh chúng còn số lượng nhiều vàphân nhánh, chưa có sự phân hoá cao, sự phân công chưa rõ rệt
Trong tự nhiên, mối tham gia vào các quá trình phân huỷ các chấthữu cơ có nguồn gốc Xenlulo để tạo thành các đường và các hợp chất đơngiản trong chu trình chuyển hoá vật chất, chúng được ví như đội quân làm
vệ sinh khổng lồ trong các khu rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm chủ yếu phát triểnkinh tế nông nghiệp, nhưng những năm gần đây hiệu quả sản xuất nôngnghiệp bị giảm sút mà nguyên nhân chủ yếu là do côn trùng có hại gây ra.Mối được xếp vào một trong những loại gây hại mạnh nhất, chúng làm phá
Trang 2Lợi và thuỷ điện đang xây dựng ngày càng nhiều Ở những nơi đó giồng
mối nguy hiểm Microtermes rất nguy hiểm [3, 5,10,13].
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhiều côngtrình xây dựng công nghiệp, công trình thể thao đựợc xây dựng ngày càngnhiều; những dự án phát triển cây công nghiệp có giá trị kinh tế lớn đang
xúc tiến mạnh mẽ, trong đó giống mối Microtermes gây hại rất lớn
Microtemes pakistanicus là một loài thuộc giống Microtermes, được
đánh giá là một trong năm loài gây hại lớn nhất cho nông nghiệp và côngnghiệp Việt Nam hiện nay Để phòng trừ mối nói chung và loài mối nàynói riêng một cách có hiệu quả, có cơ sở khoa học vững chắc, cần phải cócác dẫn liệu điều tra cơ bản Nhưng hiện nay các tài liệu và công trìnhnghiên cứu về cấu trúc tổ, đặc điểm phân bố cũng như tỉ lệ các đẳng cấptrong loài mối này chưa nhiều và chưa được làm rõ Vì vậy chúng tôi đãchọn đề tài này:
“Bước đầu nghiên cứu cấu trúc tổ, hình thái phân loại, đặc điểm
phân bố và cấu trúc tỉ lệ các đẳng cấp loài mối loài Microtermes Pakistanicus (Isoptera; Macrotermitinae)”
1.2 Mục đích của đề tài:
1 Nghiên cứu khảo sát một số tổ mối về đặc điểm cấu trúc tổ, đặc
điểm phân bố và tỉ lệ các đẳng cấp ở tổ mối loài Microtermes pakistanicus
làm cơ sở phòng trừ giảm thiểu tác hại do chúng gây ra
2.Qua đó học tập phương pháp nghiên cứu khoa học, cụ thể làphưong pháp quan sát thực hành, khả năng phân tích và tổng hợp tài liệu.Phát huy tinh thần độc lập sáng tạo trong học tập và nghiên cứu khoa học
Trang 31.3 Nội dung nghiên cứu đề tài.
1 Khảo sát nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ mối loài Microtermes
pakistanicus.
2 Phân tích đặc điểm hình thái phân loại của loài mối nghiên cứu
3 Nghiên cứu đặc điểm phân bố và tỉ lệ các loại hình các đẳng cấp ở
tổ mối loài nghiên cứu
II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trên thế giới việc nghiên cứu bộ cánh đều đã được tiến hành từ lâu.Smaethman, 1781 công bố công trình nghiên cứu phân loại mối Linnacusvào năm 1785 đã sắp xếp mối vào lớp phụ không cánh (Apterygota) thuộcgiống Termes Holmgreen (1911,1912) người đầu tiên nghiên cứu có hệthống và đặt nền móng cho phân loại học về mối Trên cơ sở này các nhàphân loại học như Light,1921;Grasse,1949… đã hiệu đính và xác lập bộcánh đều tương đối ổn định (trích theo [1; 9] )
Snyder, 1949 đã xuất bản cuốn sách danh mục về mối trên thế giới,ông đã lập được một danh sách các loài thuộc 5 họ, trong đó có họ
Termitinae Ông có đưa ra những mô tả sơ bộ về hình thái loài M.
pakistanicus là cơ sở để nhận biết loài này trong tự nhiên (trích theo [3,6] )
Trong các công trình nghiên cứu về khu hệ mối các tác giả đã thành lậpnhiều khoá định loại các taxon trong bộ cánh đều, như khoá định loại củaAhmad (1955) khi nghiên cứu mối ở Thái Lan, của Roonwal (1962) khinghiên cứu mối ở Ấn Độ… Các khoá định loại của các tác giả đã đặt tên,
vẽ và mô tả chi tiết đặc điểm cấu tạo hình thái đầu, hàm, môi, râu và các
tấm lưng ngực của mối lính lớn của loài Microtermes pakistanicus…nhưng
các đặc điểm về cấu trúc tổ, đặc điểm phân bố và phân hoá các đẳng cấpcủa loài lúc đó chưa có tác giả nào đề cập [18,25]
Trang 4của mình các đặc điểm sinh học, sinh thái của loài M pakistanicus,góp
phần rất lớn trong việc phát hiện và phòng trừ loại mối gây hại này
Những tu chỉnh bổ sung về thành phần loài mối và những đềxuất cải tiến về thành lập họ, giống mới vẫn được nhiều tác giả quantâm nghiên cứu
Trước đòi hỏi phải thống nhất cách đo đạc để phân loại, Roonwal đãđưa ra bản thống nhất cách đo đạc mối vào năm 1969 [20] Hầu như tất cả
các khoá định loại hiện nay nói chung, đối với loài mối M pakistanicus nói
riêng đều dựa trên cơ sở so sánh về hình thái ngoài của mối Tuy nhiên sựkhác biệt về hình thái giữa các loài nhiều khi không rõ rang dẫn đến sựnhầm lẫn khi phân loại Oshima (1914), Light (1921), Kemner (1930, 1933,
1934) nhầm lẫn loài M Pakistanicus ở các vùng khác nhau nên đã cho
nhiều tên khác nhau Về sau chính các tác giả này đã kiểm tra và đính chính
lại chuyển thành synonym Microtermes pakistanicus Để khắc phục tình
trạng đó, đã có một số công trình nghiên cứu cấu trúc lớp biểu bì, cấu trúcADN của loài mối này Nhưng những kết quả này chỉ cho phép tách rađược các nhóm loài chứ chưa tách ra được từng loài (Kaib, Richard, 1994).Trích theo Nguyễn Tân Vương, [3]
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, có sự khác biệt lớn vềkhí hậu và địa hình với các vùng lân cận nên thành phần loài mối cũng kháphong phú Công trình nghiên cứu đầu tiên về mối ở Việt Nam là của tácgiả J>Batheller, 1927 Khi nghiên cứu khu hệ mối Đông Dương, ông đã mô
tả hình thái, sinh thái của 9 loài trong đó Việt Nam có 17 loài Tuy nhiên
loài Microtermes pakistannicus cũng chỉ được nghiên cứu về các đặc điểm
hình thái, sinh học và phân bố trong tự nhiên [19]
Công trình có giá trị nhất về phòng trừ mối mà đến nay chúng ta vẫn
áp dụng là của tác giả Allurad vào năm 1947
Trang 5Từ những năm 60 của thế kỉ XX trở về đây, nhóm côn trùng này đãgây chú ý nhiều hơn và thu hút nhiều cán bộ của Việt Nam tham gia nghiêncứu như Bùi Huy Dưỡng, Nguyễn Xuân Khu, Vũ Văn Tuyển…tuy nhiên,mặt mạnh vẫn chỉ là những kinh nghiệm về phòng chống mối và đặc điểmsinh thái sinh học của một số loài gây hại chính Những dẫn liệu về cấu trúc
tổ mối loài M pakistanicus trong các nghiên cứu của Vũ Văn Tuyển cho
rằng loài có cấu trúc tổ nổi giống với cấu trúc tổ của một số loài thuộc
giống Macrotermes [11, 12]
Công trình nghiên cứu đáng chú ý nhất là của Nguyễn Đức Khảm,
1975 về mối miền bắc Việt Nam, tác giả mô tả về tập tính, cấu trúc tổ,
vùng phân bố của 61 loài mối ở miền bắc, trong đó loài mối M.
pakistanicus được bổ sung thêm các dẫn liệu về thời kì giao hoan của mối
cánh, đặc điểm xây dựng tổ và vai trò của các đẳng cấp trong tổ mối
Những nghiên cứu về khu hệ mối, sinh học, sinh thái mối cũng bắtđầu được các cơ quan nghiên cứu khoa học chú ý như các trường đại học,viện nghiên cứu của nhà nước, trong đó Trung tâm nghiên cứu phòng trừmối- Viện Khoa Học Thuỷ Lợi đã có được những kết quả nghiên cứu đángkhích lệ
Công trình được nghiên cứu gần đây như: Nghiên cứu đặc điểm sinhhọc, sinh thái của các loài mối hại cây (2007) [17] đã đưa ra những dẫn liệumới về cấu trúc tổng quan và chi tiết của tổ mối, tập tính kiếm ăn và xây
dựng tổ của loài mối M Pakistanicus làm cơ sở cho việc phòng trừ giảm
thiểu tác hại do chúng gây ra cho sản xuất nông, lâm nghiệp đối với cáctỉnh Tây Nguyên Công trình này cho rằng cấu trúc tổ của loài có nhữngkhác biệt về hình thái so với những nhận định của Vũ Văn Tuyển trước đó.Song song với những nghiên cứu ở Miền Nam, cũng có những nghiên cứu
sơ bộ về loài mối này trải dài khắp các địa phương của Miền Bắc, MiềnTrung
Trang 6thêm nhiều tư liệu về tỉ lệ các loại đẳng cấp trong tổ mối các loài hại câycông nghiệp, cây rừng, và nhiều cây trồng khác [24]
Hiện nay Viện Khoa Học Thuỷ Lợi đang có những dự án kéo dàinghiên cứu về loài mối này với số lượng lớn các thí nghiệm được bố trí,thực địa ở rất nhiều địa bàn trên toàn quốc và đã ghi nhận được những kếtquả bước đầu và có ý nghĩa về đặc điểm sinh học, cấu trúc tổ và đặc biệt làloại thức ăn ưa thích của loài làm cơ sở ban đầu để nghiên cứu ra các chếphẩm phòng chống loài đạt hiệu quả
Công việc điều tra phân bố phân loại mối và các nghiên cứu sinh tháisinh học và các kĩ thuật phòng trừ của các tác giả từ trước đến nay đã thuđược những kết quả nhất định làm cơ sở ban đầu cho việc phòng trừ vàgiảm thiểu các tác hại do mối gây ra, nhưng cùng với sự phát triển của nềnkinh tế xã hội, các loài mối gây hại ngày càng phát triển mạnh mẽ, phổrộng khắp mọi nơi, gây thiệt hại to lớn đến nền kinh tế quốc dân của tất cảcác quốc gia trên thế giới, vì vậy các nghiên cứu về mối mới nhất trong lúcnày không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi một quốc gia mà có ý nghĩa trêntoàn thế giới, cần phải phát triển mở rộng nhiều nghiên cứu mới về mối
Trang 7PHẦN II:
ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong đề tài này là loài mối
Microtermes pakistanicus Ahmad, 1955, thuộc giống Microtermes, phân
họ Macrotermitinae, bộ cánh đều (Isoptera).
Luận văn tập trung nghiên cứu loài mối M Pakistanicus ở các đặc
điểm hình thái phân loại, tỉ lệ các đẳng cấp cũng như cấu trúc tổ của loàimối nghiên cứu
2.2 Thời gian nghiên cứu
Các nghiên cứu của chúng tôi kéo dài từ tháng 6 năm 2007 đếntháng 4 năm 2008
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực địa và thu mẫu trong 3 đợt thựcđịa 3 đợt thực cụ thể như sau:
Ngoài ra chúng tôi đã xử lý và phân tích bộ sưu tập mẫu thu được trongkhuôn khổ đề tài hợp tác giữa trung tâm Đa dạng sinh học trường đại học
Sư Phạm Hà Nội và Trung tâm nghiên cứu phòng trừ mối- Viện Khoa HọcThuỷ Lợi
Trang 8Chúng tôi đã tiến hành khảo sát cấu trúc tổ loài mối nghiên cứu tại huyệnLương Sơn, tỉnh Hoà Bình.
Mẫu mối nghiên cứu được chúng tôi thu tại huyện Lương Sơn, tỉnh HoàBình và một số điểm thuộc các tỉnh khu vực Tây Nguyên
Chúng tôi tiến hành thu mẫu mối theo 3 loại hình sinh cảnh: Rừng trồng,đất canh tác, đất vườn quanh nhà (ĐV) với số lượng như bảng 1
Bảng 1: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
Tt Thời gian
Sinh cảnh
Năm2006
Năm 2007 Năm
số
Tháng10*
Tháng6*
Tháng10
Chú thích:* - Số lượng mẫu thu được từ 2 đợt thực địa của cán bộ
Trung Tâm Phòng Trừ Mối- Viện Khoa Học Thuỷ Lợi
2.4 Vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
Trang 9Địa điểm chúng tôi thực địa là huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình.Huyện Luơng Sơn có một số đặc điểm như sau:
Huyện Lương Sơn là một huyên nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Hoà Bình.Lương Sơn là một huyện miền núi, nằm ở phần phía nam của dãy núi Ba Vì.Trên địa bàn huyện có ngọn núi Viên Nam cao 1031m, một trong ba đỉnh củadãy Ba Vì và có một phần vườn quốc gia Ba Vì ở đây Vì vậy rừng ở LươngSơn có phong phú về các loài động vật, thực vật, có nhiều loài quí hiếm tre,nứa là hai loài phổ biến thường gặp ở rừng Lương Sơn Huyện Lương Sơn cóphía Tây giáp với huyện Kỳ Sơn, phía Nam giáp huyện Kim Bôi thuộc tỉnhHoà Bình Phía Đông và phía Bắc giáp với các huyện của tỉnh Hà Tây gồm :
Mỹ Đức, Chương Mỹ, Quốc Oai, Thạch Thất, Ba Vì
Diện tích tự nhiên của huyện là 347,7 km2 Rừng Lương Sơn có độ che phủcao khoảng 40,1% (năm 2005), bao gồm cả rừng trồng và rừng tự nhiên, ngoài cáckhu rừng phòng hộ, phần lớn rừng trồng đều thuộc dự án trồng rừng kinh tế hiệnnay Đất đai ở Lương Sơn gồm có 3 loại chính: Nhóm Feralit phát triển trên đá trầmtích và biến chất kết cấu hạt thô trên các loại đá chủ yếu là sa thạch Pocfirit Spilit.Nhóm đất phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn trên các loại đáphiến thạch sét Nhóm Feralit phát triển trên đá vôi và biến chất của đá vôi
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Thu và xử lý tổ mối tại thực địa và phòng thí nghiệm
Trang 10nghiên cứu phòng trừ mối- Viện Khoa Học Thuỷ Lợi.
Khi xác định được tổ mối, chúng tôi thực hiện các lát cắt thẳng đứng
song song từ ngoài vào trong tổ mối; sau khi cắt xong lát cắt thứ nhất bênngoài thành tổ, chúng tôi tiến hành cắt lát cắt thứ hai, mỗi lát cắt cách nhau50cm, cứ cắt như vậy khi tiến vào bên trong tổ, chúng tôi thực hiện các látcắt tiếp theo, lát sau cách lát trước 20cm, mỗi lát cắt có độ sâu là 2m, cóchiều rộng là 2m Cấu tạo chi tiết của tổ mối được chúng tôi ghi lại bằngmáy ảnh và các hình vẽ mô tả tại hiện trường
Chúng tôi sử dụng phương pháp giải phẫu tổ mối theo các lát cắt đểghi nhận cấu trúc và số đo của các khoang trong tổ mối loài nghiêncứu.Chúng tôi tiến hành tạo các lát cắt với chiều dài 6m, sâu 100cm bắt đầu
từ vị trí cách nơi có dấu hiệu tổ mối 50cm Các lát cắt cách nhau 10cm, tiếndần vào vị trí có dấu hiệu tổ mối Sau mỗi lát cắt đó chúng tôi ghi lại vị trícác khoang tổ, đường giao thông theo hệ trục tọa độ ba chiều (xyz) kèmtheo các thông tin như đặc điểm khoang tổ (có vườn nấm hay không, sốlượng cá thể mối trong khoang, hình dạng khoang) hình dạng và kích thướckhoang tổ (chiều ngang, chiều dọc, chiều sâu nếu có nhận định chính xác
Hình 2:Giải phẫu tổ mối ngoài thực địa
Trang 112.5.2 Thu và xử lý mẫu mối tại thực địa và phòng thí nghiệm
Trong khuôn khổ nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi thực hiện thu mẫu địnhtính và thu mẫu định lượng
Thu mẫu định tính: Mẫu định tính được thu bằng các dụng cụ đơn giản nhưcuốc, xẻng, vợt, kẹp ở bất kì nơi nào thấy mối như: thảm lá cây, mặt đất,trong tổ, trong gỗ mục, mối cánh đang bay
Thu mẫu định lượng: Mẫu được thu trong các ô tiêu chuẩn, mỗi ô cókích thước 10 x 10m Các ô này được đặt theo nguyên tắc xác xuất, các ôtối thiểu là 100m, thu cùng địa điểm với mẫu định tính hoặc thu rải rácxung quanh tổ mối
Chúng tôi thu mẫu mối ở bất kì nơi nào bắt gặp trong khu vực điềutra, như ở các đường mui, lỗ vũ hoá, nắp phòng đợi bay, gốc cây, cành câykhe đá có mối… và thu tại tổ mối
+ Thu tại ở tổ mối
Việc phát hiện ra tổ mối của loài Microtermes pakistanicus sẽ gặp rất
nhiều khó khăn nếu như chúng ta không có những dấu hiệu như lỗ vũ hoá,nắp phòng đợi bay Những dấu hiệu này thường chỉ xuất hiện vào thời gianmối cánh chuẩn bị bay giao hoan phân đàn, thời gian thường vào tháng 3
và tháng 7 đối với loài mối này
Chúng tôi có thể thu mẫu tại tổ mối bằng nhiều hình thức; chúng tôi
có thể vừa thực hiện việc giải phẫu tổ qua các lát cắt để nghiên cứu cấu trúc
tổ vừa thu mẫu mối tại các khoang, các đường giao thông của tổ đó, khiviệc thu mẫu và giải phẫu tổ diễn ra độc lập nhau, chúng tôi sử dụng cuốc
và bay đào 1 hốc sâu khoảng 20 – 30cm vào trong khoang tổ Lúc này cóthể gặp khoang phụ và hang giao thông Nếu thấy có nhiều mẫu có thể thumẫu ngay, nếu có ít mẫu thì có thể đặt những viên đất nhỏ vào trong hốc.Sau khi mối ra đắp lại tổ thì gắp những viên đất đó ra khay và thu mẫu.Nếu muốn giữ tổ để lần sau tiếp tục lấy mẫu thì cần phải lấp lại tổ như cũ
Trang 12mối…Nếu mối nằm trong cành cây, gốc cây hoặc gỗ mục ta gõ nhẹ chomối rơi ra khay rồi mới gắp mẫu Nếu mẫu ở trong khe đá hoặc đường muithì có thể dung chổi lông quét mẫu vào trong khay, rồi gắp mẫu cho vào lọ.Những thao tác trên cần làm nhanh vì mối khi thấy động sẽ tản mát vì vậy
Mẫu mối thu được trong các túi polyetylen được đổ ra các đĩa Petri khác nhau
có ghi nhãn tương ứng với các túi mẫu, sau đó được đưa vào tủ lạnh đặt ở nhiệt
độ -4oc để cố định hình dạng mối không thay đổi
Công việc tách mẫu và đếm mẫu được chúng tôi tiến hành đồng thời Chúng tôidung pank gạt đất và rác sang một bên, gắp và đếm mối, ghi lại số liệu, sau đócho mối đã sạch vào dung dịch cồn 70o để bảo quản mẫu bảo quản trong dungdịch cồn 70o ghi nhãn đầy đủ và nút bông lại cho vào lọ to chứa cồn 70o đểbảo quản Ngoài lọ to cũng phải ghi nhãn đầy đủ để tiện theo dõi các mẫu
Trang 132.4.5 Phương pháp định loại mối:
Mối được định loại theo tài liệu của Nguyễn Đức Khảm và ctv.(2006) Ngoài ra còn sử dụng các tài liệu của Ahmad (1958,1965), Vũ VănTuyển(1993) [72,34], Thapa(81)
2.4.6 Phân tích cấu trúc hình thái và số đo:
Mối được phân tích cấu trúc hình thái và số đo theo tài liệu Động vật chí Việt Nam [1; 21]
Mối-Hình 3: Cấu tạo cơ thể mối lính
Hình A: 1 Hàm trên; 2 Xúc biện hàm; 3 Râu; 4 Tấm lưng ngựctrước; 5 Bụng; 6 Gai đuôi; 7 Châm đuôi; 8.Thóp; 9 Môi
Hình B: 1 Hàm trên; 2 Xúc biện hàm; 3 Râu; 4 Cằm; 5 Lỗ chẩm;Hình C: 1 Đỉnh mỡ; 2 Lông môi
Trang 14Đốt bàn chân; 6 Gai chân.
Để nghiên cứu hình thái đầu tiên chúng tôi nhận dạng và phân biệtgiữa con trưởng thành và con non.Qua các chỉ tiêu về kích thước, chiều dài,chiều rộng cơ thể
Khi nghiên cứu trên cá thể trưởng thành chúng tôi tiến hành phânbiệt mối lính và mối thợ thông qua đặc điểm: mối lính có hàm cong, hàmtrái dài hơn hàm phải màu đầu của mối thợ nhạt hơn đầu mối lính
Mẫu mối được phân tích cấu trúc nhờ sự trợ giúp của kính lúp cógắn máy ảnh chụp hình, sau đó vẽ mô tả các đặc điểm hình thái phân loại
Hình 4 : Phân tích mẫu nghiên cứu tại phòng thí nghiệm.
Kích thước cơ thể và từng bộ phận của mối được đo bằng thước kẹpdưới kính lúp hai mắt:
- Chiều dài được đo cụ thể như sau:
Trang 15+ Chiều dài cơ thể
+ Chiều dài đầu đến gốc hàm
+ Chiều dài của hàm trái
+ Chiều dài của tấm lưng ngực trước
- Chiều rộng được đo cụ thể như sau:
+ Chiều rộng đầu tại gốc hàm
+ Chiều rộng đầu sau hốc râu
+ Chiều rộng cực đại của đầu
+ Chiều rộng của tấm ngực trước
Hình 5 : Cách đo kích thước hàm trên, cằm, các tấm lưng ngực
DD’ chiều dài từ đỉnh răng đến đỉnh hàm; KK’ chiều dài cực đạicủa hàm; LL’ chiều dài của hàm trái (theo trục cơ thể); MM’ chiều dàihàm trái (thường dùng); NN’ chiều dài cực đại của cằm; OO’ chiều dàicủa cằm; QQ’ chiều rộng cực đại của cằm; RR’ chiều rộng cực tiểu củacằm; SS’ chiều rộng của tấm lưng ngực trước; UU’ chiều rộng của tấm
Trang 17cao đầu không kể cằm; VV’: Chiều cao đầu kể cả cằm; WW’: Chiều dàiđầu đến thóp; XX’: Đường kính dài của thóp hoặc của mắt kép; YY’:Đường kính ngắn của thóp hoặc mắt kép.
2.4.7 Xử lý số liệu.
Sau khi đo mẫu và đếm số lượng mẫu thu được chúng tôi tiến hành
xử lý mẫu bằng phương pháp thống kê như sau:
X : Trung bình cộng của mẫu
n: Số cá thể ở mẫu nghiên cứu
Xi: Giá trị thứ i của đại lượng X
- Độ lệch chuẩn (S X
)
- 1
2 (
S
1 X
)
n i i
X n
Trang 18Bản đồ khu vực Hà Nội
Huyện Lương Sơn
Trang 19PHẦN III:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I:
ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC TỔ CỦA LOÀI
MICROTERMES PAKISTANICUS, AHMAD, 1955
1.1 Đặc điểm cấu trúc của hoàng cung và của vườn nấm của tổ
mối.
Tại khu vực Lương Sơn, chúng tôi nhận thấy hình dạng khu vực tổ
mối Microtermes pakistanicus gần như không có các dấu hiệu khác biệt so với bình thường Tổ mối Microtermes pakistanicus là tổ chìm, dấu hiệu
duy nhất để dự đoán khu vực có tổ mối là các biểu hiện hoạt động kiếm ăncủa mối chẳng hạn như vị trí cây mục, khu vực nhiều đường kiếm ăn…
Trong rất nhiều trường hợp tổ mối Microtermes pakistanicus có thể làm tổ
ở các ụ đất nổi tự nhiên và trong thành tổ của các loài Macrotermes,
Odontotermes, thậm chí chúng có thể có khoang nhỏ ở giữa khoang chính
của Macrotermes annandalei, nhưng đặc điểm này không thể coi là điển
hình của một tổ mối riêng biệt
Trang 20Hình 6: Tổ mối loài Microtermes pakistanicus làm trên thành tổ
của loài mối khác (A, B).
Các đặc điểm ngoài của tổ mối mà chúng tôi đưa ra là khác biệt so vớinhận xét của Nguyễn Đức Khảm (1976) [1],cho rằng đa số trường hợp M
pakistanicus (synonym M dimorphus) làm tổ nổi với cấu trúc giống với Macrotermes Với đặc điểm tổ chìm và khoang tổ quá nhỏ như vậy, việc
phát hiện chính xác các khoang tổ M pakistanicus bằng các biện pháp sinh
học, sinh thái là rất khó khăn, gần như không thể thực hiện được Vì vậy
nhóm phương pháp duy nhất để diệt M pakistanicus là dùng các phương
pháp gián tiếp (bả độc, diệt đại trà theo khu vực)
Khi xác định chính xác vị trí của tổ mối loài nghiên cứu, chúng tôi đãtiến hành các lát cắt, thu lượm đo kích cỡ ghi nhận đặc điểm của nămhoàng cung và 5 vườn nấm
1.1.1 Hoàng cung
Tiến hành khảo sát 5 hoàng cung thu được của 3 tổ mối loài nghiên
A
Trang 21cứu chúng tôi ghi nhận được kết quả theo bảng sau:
Bảng 2: Đặc điểm hoàng cung của tổ mối
1.1.2 Cấu trúc tổng quan bên trong của tổ mối
Qua hai đợt thực địa, chúng tôi đã tiến hành giải phẫu ba địa điểm tổ
Microtermes pakistanicus với 25 lát cắt, thống kê 226 khoang tổ và các cấu
trúc hang thông khí, đường giao thông… Chúng tôi cũng tiến hành thống
kê chi tiết vị trí và kích thước 30 đường giao thông trên 2 lát cắt với chiềudài 3m.Cấu trúc tổng quan của tổ mối loài này như sau:
Hình 7 : Sơ đồ 2D mô tả cấu trúc tổng quan tổ mối loài
Microtermes pakistanicus
Trang 22có hệ thống các khoang và hang dày đặc, phân bố tập trung và có mối liên
hệ với nhau Hệ thống khoang phân hoá thành các khoang tổ, bao gồm cáckhoang chính và khoang phụ, các khoang chứa vườn nấm hoặc không chứavườn nấm, giữa các khoang có các hang giao thông phân bố chằng chịt nốivới nhau, là đường liên hệ giữa các đẳng cấp mối làm nhiệm vụ kiếm ăn,bảo vệ tổ, đảm bảo sự thống nhất trong toàn bộ tổ mối
1.2 Đặc điểm cấu trúc của hoàng cung và vườn nấm:
1.2.1 Hoàng cung
Chúng tôi tiến hành giải phẫu tổ
Hoàng cung của tổ mối loài Microtermes pakistanicus nằm trong khu
vực có chứa các khoang nhỏ khác Hoàng cung của loài này là một khe hẹptrong đất và rỗng bên trong, khoang bên trong có dạng thấu kính Chiềurộng nhất của đáy thấu kính hoàng cung thay đổi từ 1,5-1,7 cm, chiều dàicủa khe hẹp hoàng cung dao động từ 3-4 cm.Với kích thước này,
Microtermes pakistanicus được đánh giá là một trong những loài có hoàng
cung nhỏ trong họ Microtermes Các hoàng cung này được tạo nên từ
những hạt sét, cát nhỏ nên dễ bị vỡ nát trong quá trình phẫu tổ Trong mộthoàng cung chúng tôi thấy có 1 hoặc nhiều chúa.Trong khi khảo sát diệntích 1m2thấy có thể có 3 hoàng cung , chúng tôi cho rằng đây có thể là 3 tổkhác nhau, nhưng đều không thấy chúa trong các tổ nên còn nhiều nghivấn Hoàng cung của loài có mối liên hệ với bên ngoài bằng các đường ravào, số đường ra vào ở một hoàng cung thay đổi từ 2-5
Trang 23B: Vườn Nấm
A: Hoàng Cung
Hình 8: Hoàng cung của tổ mối loài Microtermes pakistanicus
B A
Trang 24Tiến hành quan sát và đo 5 vườn nấm, chúng tôi thấy rằng:Vườn nấmcủa loài có màu xám trắng đến xám đen, từ trên xuống dưới, từ trong rangoài, kích thước vườn nấm thay đổi từ 3-5 cm,lỗ của vườn nấm nhỏ cóđường kính lớn nhất khoảng 5mm Vườn nấm của loài có dạng hình tròn,các lỗ vườn nấm có nhiều hình dạng: hình elip, hình tròn, có lỗ hình vuông,xếp chồng lên nhau quan sát xa các lỗ vườn nấm thành dạng lượn sóng, mô
tả này giống như cấu trúc vườn nấm của loài M.annandalei [2; 86] Kích
thước lỗ vườn nấm rất nhỏ, lỗ lớn nhất có đường kính khoảng 5mm Vườnnấm được cấu tạo từ các hạt sét hoặc hạt cát rất nhỏ, dễ nát
Quan sát bằng mắt thường chúng tôi thấy phía trên vườn nấm có các sợinấm mốc màu trắng đục Hình dạng vườn nấm giống với mô tả của NguyễnĐức Khảm,( 1976), [1] khi nghiên cứu loài này ở miền bắc Việt Nam
Trong vườn nấm có chứa rất nhiều mối non Trong tổ mối, vườn nấmphân bố rải rác và chiếm số lượng lớn, qua khảo sát thấy vườn nấm tậptrung nhiều gần các khoang chính, các hang giao thông, điều này khẳngđịnh vai trò của vườn nấm trong mối quan hệ dinh dưỡng với tổ mối.Loạiđất cấu tạo nên vườn nấm là đất cát pha, hạt sét nhỏ như đất cấu tạo hoàngcung.Vì kích thước hoàng cung và vườn nấm của loài nhỏ, lại cấu tạo từloại đất có tính chất tương tự nhau, nên rất dễ nhận diện nhầm và làm náthoàng cung trong khi thu vườn nấm
Trang 25Hình 8: Vườn nấm của tổ mối loài Microtermes pakistanicus (C)
1.3 Đặc điểm cấu trúc của khoang chính,khoang phụ và của hang giao thông
Qua các lát giải phẫu tổ chúng tôi nhận thấy các khoang tổ của loài M
Pakistanicus bao gồm các khoang chính, khoang phụ, và hang giao thông
Các khoang tổ này có các đặc điểm về hình thái, phân bố và số đo đã đượcchúng tôi ghi nhận như sau:
1.3.1 Đặc điểm về hình thái
Khoang chính và khoang phụ của tổ mối loài M Pakistanicus có đặc
điểm hình dạng ngoài giống nhau chỉ có sự sai khác về kích thước, vàthành phần đẳng cấp trong đó Các khoang đều có hình dạng gần giốnghình tròn, phân bố rải rác trong lòng đất, trong các khoang phụ có chứanhiều mối non, đây là đặc điểm để phân biệt với các khoang chính, số đocác khoang phụ nhỏ hơn các khoang chính Khoang chính và khoang phụcủa loài đều được cấu tạo từ loại đất đặc trưng cấu tạo chung của tổ, đặc
điểm này không giống như các loài thuộc giống Macrotermes: các khoang
tổ được cấu tạo từ loại đất khác so với đất cấu tạo lên thành tổ
C
Trang 26Hình 9: Khoang chính và khoang phụ của loài mối M Pakistanicus
D: Khoang chính
E: Khoang phụ
Hang giao thông của loài xuất phát từ đáy của các khoang chính vàkhoang phụ để thực hiện vai trò chính là tạo mối liên lạc thường xuyêngiữa các thành viên trong tổ mối Các hang đi ra từ xung quanh đáy khoangthường là các hang đi song song với mặt đất, các hang đi ra từ giữa đáy củakhoang có hướng đi xuống sâu Kích thước các hang thay đổi, phân rathành hang lớn, hang nhỏ Từ các hang lớn sẽ phân ra thành nhiều nhánhnhỏ khi đi xa và xuống sâu Trên các hang đi song song với mặt đất có cáchang xiên lên trên mặt đất tới các nguồn thức ăn
D E
Trang 27Hình 10 : các hang giao thông trong tổ mối loài M Pakistanicus 1.3.3.vị trí các khoang tổ.
Chiều sâu khoang tổ
Qua 2 đợt thực địa chúng tôi đã tiến hành khảo sát và phân tích các látcắt theo các chiều khi khảo sát chiều sâu các khoang tổ chúng tôi thực hiện
xử lý 224 khoang tổ ở các độ sâu khác nhau, kết quả được chúng tôi ghinhận và tổng kết ở bảng và biểu đồ
Bảng 2: Số lượng và cấu trúc các khoang tổ mối theo độ sâu Đặc điểm
Độ sâu các khoang tổ
Trang 28Biểu đồ 1:Phân bố các khoang tổ theo độ sâu
Dựa trên các số liệu thống kê ở Bảng 3 và biểu đồ 1 chúng tôi nhận thấy:Các khoang tổ phân bố ở tất cả các độ sâu của các lát cắt, từ các khoangcách mặt đất 0- 5 cm đến các khoang cách mắt đất 60cm Mỗi khoang chiếmmột tỉ lê Sự phân bố các khoang tổ theo chiều sâu trên các địa điểm khảo sáttuân theo quy luật phân bố chuẩn Các khoang tổ tập trung nhiều nhất tại độsâu từ trên 10cm đến 35cm (chiếm 51,57% tỷ lệ các khoang), trong đónhiều nhất là vị trí sâu trên 25- 30cm (14,80%)
Trang 29Biểu đồ 1 cho thấy phân bố của các khoang tổ theo độ sâu là tươngđối rải rác Độ sâu tập trung nhiều khoang tổ nhất chỉ chiếm 14,80% sốkhoang tổ Số lượng các khoang tổ ở độ sâu trên 60cm (được coi là nằmngoài đường cong phân bố chuẩn) chiếm 16,59%, rải đều cho đến độ sâu 95cm.
Phân bố khoang tổ theo chiều ngang
Khảo sát sự phân bố khoang tổ theo chiều ngang, chúng tôi nhận thấy:Khoang tổ M pakistanicus tập trung thành các cụm Một tổ mối baogồm nhiều cụm khoang tổ phân bố rải rác, trong đó có một cụm khoang lớnnhất có thể là cụm chính Cụm khoang tổ chính gồm khoảng 30- 40 khoang
tổ, phân bố trên khoảng dày 3-4 lát cắt (30-40cm), có nhiều khoang có connon và chứa hoàng cung tổ mối Cụm khoang phụ chứa ít khoang hơn (10-15 khoang tổ), phân bố trên bề dày khoảng 2-3 lát cắt (20-30cm) Haicụm khoang tổ có các đường giao thông kết nối với nhau Một số cơ sở đểchúng tôi đưa ra nhận xét này bao gồm:
Các đường giao thông hình thành sau khi tạo các lát cắt khoảng 1-2tiếng cho thấy mối liên hệ giữa hai cụm khoang tổ
Dùng phương pháp của Nguyễn Đức Khảm (1976) bắt và đặt chungcác cá thể của hai cụm khoang tổ, chúng tôi không thấy các cá thể này xungđột với nhau, như vậy có thể kết luận các khoang tổ của hai cụm khoang làthuộc cùng một tổ mối
Trong điều kiện thực nghiệm, việc xác định số lượng chính xác cáccụm khoang tổ của một tổ mối và vị trí cụm xa nhất so với khoang trungtâm là không thể thực hiện được do khối lượng và thời gian thí nghiệm quálớn Dẫn liệu đầu tiên cho thấy trong một lát cắt (6m) có thể có 2- 3 cụmkhoang tổ, khoảng cách xa nhất giữa cụm khoang chính và cụm vệ tinh ghinhận được là 2m Nếu mở rộng lát cắt, theo chúng tôi có thể còn phát hiệnthêm khá nhiều cụm khoang tổ ở khoảng cách xa hơn Nếu ước lượng
Trang 30lên đến 8m Dẫn liệu này cho thấy mức độ rải rác của các khoang tổ mối.
Trang 31Hình 11: Mặt cắt điển hình thể hiện phân bố khoang tổ theo chiều
ngang (tổ số 1, lát cắt 3)- mặt cắt chỉ biểu thị vị trí mà chưa bao gồm
thông số kích thước khoang tổ.
1.3.4.Về kích thước các khoang tổ
Kết quả thống kê kích thước khoang tổ trên 209 khoang có dẫn liệu
chính xác được thể hiện ở Bảng 2 và Hình 3 Thông số chính dùng để phân
loại là kích thước khoang theo chiều ngang đo được
Bảng 3 Thống kê kích thước các khoang tổ.
Kích thước Từ 0-2cm 2 – 3 cm 3 - 4cm 4 - 5cm 5 - 6 cm trên 6cm Tổng số
Trang 32Từ 4 đến 5cm
Từ 5 đến 6 cm
Biểu đồ 2: Tỷ lệ các khoang tổ tương ứng với khoảng kích thước ghi nhận
Về sự phân bố kích thước các khoang tổ, chúng tôi có một số nhận xétnhư sau: Kích thước của các khoang tổ mối M pakistanicus là rất nhỏ so
với các tổ mối Macrotermes, Odontotermes, phổ biến nhất là từ 2 đến 3cm
(chiếm 29,67%) Với kích thước này việc sử dụng các biện pháp bơm thuốchay dò tìm là không khả thi và không thực tế
Các khoang tổ có kích thước khá đều nhau, có tới 73,21% số khoang
tổ có kích thước nằm vào khoảng từ 2 đến 5cm Số khoang tổ lớn hơn 5cm
chỉ chiếm 8,62% Đây có thể coi là đặc điểm điển hình của tổ mối M.
pakistanicus.
1.3.5.Vị trí và kích thước các đường giao thông.
Mật độ đường giao thông: Để tính mật độ đường giao thông, chúng tôiước lượng bằng cách tạo một lát cắt với diện tích 3m, sau đó để khoảng 2tiếng không can thiệp và đếm số điểm đầu và điểm cuối của các đường giaothông Kết quả có tính chất ước lượng tuy nhiên có thể tham khảo khi làmcác hàng rào ngăn mối trong các thí nghiệm
Trang 33Biểu đồ 3: Phân bố độ sâu các đường giao thông
Kết quả thể hiện ở Bảng 4 và biểu đồ 3 cho thấy độ sâu phổ biến nhất
của các đường giao thông ở M pakistanicus là từ 21 đến 30cm (36,67%).
Độ sâu từ 0 đến 50 cm chiếm 83,33% số điểm đếm được, độ sâu trên 50cm
chiếm 16,67% Kết quả này cũng phù hợp với tỷ lệ thống kê độ sâu khoang
tổ mối Tuy nhiên với số lượng thống kê chưa nhiều (30 điểm),cho nên
những dẫn liệu chúng tôi đưa ra ở đây cần được kiểm chứng thêm để có
những kết luận chính xác nhất
Về kích thước các đường giao thông, tiến hành đo kích thước các
đường giao thông phát hiện được chúng tôi nhận thấy kích thước trung bình
chỉ khoảng 1mm Các đường mui đắp trên lát cắt có kích thước chiều
ngang lớn hơn (khoảng 0,7-0,8cm) Với kích thước này việc phát hiện các
Trang 34cắt điển hình với các thông số khoang sau:
Kích thước chiều ngang- x
Kích thước dọc –y
Độ sâu ước lượng- z
Các khoang không nằm trong lát cắt được bổ sung từ các lát cắt kế cận
và đưa vào hình vẽ 2D