Phát triển bền vững của ViệtNam đã trở thành quan điểm của Đảng lãnh đạo và được khẳngđịnh trong nghị quyết Đại hội đảng toàn quốc lần thứ 9, trongchiến lược phát triển kinh tế –xã hội 1
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Là một trong những quốc gia cam kết thực hiện phát triển bềnvững , Việt Nam đã tích cực thực hiện những công việc nhằm tạotiền đề cho phát triển bền vững Phát triển bền vững của ViệtNam đã trở thành quan điểm của Đảng lãnh đạo và được khẳngđịnh trong nghị quyết Đại hội đảng toàn quốc lần thứ 9, trongchiến lược phát triển kinh tế –xã hội 10 năm 2001- 2010 và trong
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2001-2005 là: “ pháttriển nhanh , hiệu quả và bền vững , tăng trưởng kinh tế đi đôivới tién bộ , công bằng xã hội và bảo vệ môi trường “ và “ pháttriển kinh tế xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường ,bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo và môi trường thiênnhiên , giữ gìn đa dạng sinh học “
Để đưa nước ta đi lên về kinh tế, Đại Hội VIII Đảng đã đặt ranhiệm vụ cấp bách nhất, cốt lõi nhất là chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng CNH – HĐH Trong đó lĩnh vực nông nghiệp vànông thôn được quan tâm đặc biệt Phát triển kinh tế phi nôngnghiệp dựa trên những điều kiện sẵn có là cách làm đúng đắnnhất, và phát triển kinh tế làng nghề đã được Nhà Nước xem làcon đường hữu hiệu để nâng cao đời sống xã hội nông thôn dựatrên những nguồn lực không tốn kém
Tuy nhiên, nếu các làng nghề được coi là đi đầu trong côngcuộc phát triển nông thôn thì vấn đề bảo vệ môi trường ở các làngnghề cũng cần được coi là một nhiệm vụ quan trọng
Với đặc điểm hoạt động nghề thủ công diễn ra ngay trên khuvực sinh sống, người dân các làng nghề vừa là người gây ônhiễm, vừa là người chịu ô nhiễm Và tình trạng ô nhiễm đã vàđang diễn ra với diễn biến khá phức tạp đòi hỏi cần phải có
Trang 2những phương hướng và giải pháp thích hợp để cải thiện tìnhtrạng này nhằm đưa Việt Nam hướng tới sự phát triển bền vững.
Đó chính là lý do vì sao em chọn đề tài “ Bước đầu nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm môi trường ở làng sắt thép Đa Hội – Bắc Ninh Đề xuất việc xây dựng một mô hình phát triển bền vững cho làng nghề Đa Hội”.
Trong quá trình thực tập em luôn nhận được sự chỉ bảo và hướngdẫn tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế Môi trườngcũng như của tập thể các cán bộ Viện Sinh thái và Môi trường :Thầy giáo: PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, trưởng khoa Kinh tế vàquản lý Môi trường
PGS.TS Nguyễn Đắc Hy, Viện trưởng Viện Sinh thái và Môitrường
Cô giáo: Nguyễn Thị Hoài Thu
Thầy giáo: Đinh Đức Trường
Nhân dịp này em xin gửi lời cảm ơn chân thành của mình đến cácThầy, các Cô, PGS.TS Nguyễn Đắc Hy và toàn bộ những cán bộ
đã hướng dẫn em trong quá trình thực tập để em có thể hoànthành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này
Từ mục đích thực hiện đề tài cũng và dựa trên những cơ sở lýluận và thực tiễn tôi đã đưa ra những nội dung chính của đề tài
Trang 3M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
CHƯƠNG I TIẾP CẬN MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG ĐỐI VỚI MỘT LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG
7
I Khái niệm cơ bản về phát triển bền vững 7
II Những nội dung cơ bản của phát triển bền vững 10
II.1 Tính bền vững của quá trình phát triển 10
III Phát triển bền vững cho một làng nghề truyền
thống
24
III.1 Phát triển kinh tế làng nghề 24
III.2Phát triển bền vững làng nghề 27
CHƯƠNG II HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VÀ VẤN ĐỀ
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở LÀNG NGHỀ SẮT
THÉP ĐA HỘI
30
I Tổng quan tình hình kinh tế xã hội làng sắt thép đa hội 30
II.2 Nhu cầu nguyên nhiên liệu 34
Trang 4II.3 Nguồn lao động 36
III.1 Môi trường không khí 37
III.1.1 Môi trường không khí khu vực hộ sản xuất 37
III.1.2 Môi trường không khí khu vực dân cư 39
III.2 Hiện trạng môi trường nước 42
III.2.2 Đánh giá chất lượng môi trường nước 43
III.2.2.3 Nước thải từ quá trình sản xuất 46
CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT VIỆC XÂY DỰNG MỘT
MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO LÀNG
NGHỀ ĐA HỘI
61
I.1.1.2 Xây dựng mô hình công nghệ xử lý nước thải 64
I.1.2 Chất thải ở khu vực các lò nấu thép và nung
thép
66
Trang 5I.1.2.1 Xử lý chất thải rắn 66
I.2 Mô hình quản lý về văn hoá và xã hội 69
I.2.1 Các hoạt động nâng cao ý thức bảo vệ môi
Trang 6CHƯƠNG I TIẾP CẬN MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐỐI VỚI MỘT LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
I KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG :
Phát triển bền vững là sự phát triển đem lại lợi ích lâu dài vềmặt kinh tế, xã hội và môi trường mà đảm bảo đáp ứng được nhucầu của những thế hệ tương lai Uỷ ban môi trường và phát triểnthế giới đã định nghĩa “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằmthoả mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổnthương đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng các nhucầu của bản thân họ” Như vậy việc làm thoả mãn các nhu cầu vàước vọng của con người là mục tiêu chính của sự phát triển Pháttriển bền vững quan tâm đến tài nguyên thiên nhiên, quan tâmđến việc bảo vệ và chọn lựa kế hoạch hành động thoả mãn nhucầu cho mọi đối tượng Nó cho phép sử dụng theo một cách tốtnhất những nguồn tài nguyên có thể bị suy thoái, và chú ý đếnviệc dùng thay thế bằng một nguồn tài nguyên khác đúng lúc Sựphát triển bền vững kêu gọi cần nhấn mạnh hơn nữa việc bảo vệcác hệ thống thiên nhiên và nguồn tài nguyên cơ sở mà tất cả mọi
sự phát triển đều phải dựa vào đó, cần quan tâm hơn nữa đếncông bằng xã hội hiện nay giữa những nước giàu và nước nghèo,cần đặc biệt quan tâm đến tầng lớp người nghèo trên Thế giới vàcần thiết phải đặt một kế hoạch về tầm nhận thức sao cho có thểđáp ứng được những nhu cầu và ước vọng của nhân loại ngàynay Điều đó đòi hỏi phải có một sự kết hợp chặt chẽ những vấn
đề về môi trường, xã hội và kinh tế khi làm quyết định
Trang 7Quan điểm sinh thái nhân văn (Human ecology) đặt con
người là tác nhân quyết định, là chủ thể của hành động và cũng làkhách thể chịu hệ quả của hành động do chính mình gây ra Conngười vốn có tập quán canh tác, sinh sống và tổ chức xã hội riêngcủa dân tộc mình sao cho thích hợp với điều kiện tự nhiên do đóquản lý môi trường trước hết là giải quyết các chính sách kinh tế
- xã hội, các cơ chế kích thích sự phát triển tổng hợp dân trí, dânsinh, dân chủ với đặc điểm dân tộc của mình
Quan điểm sinh thái phát triển (Eco - development) cho rằng
sự phát triển phải trên cơ sở các điều kiện sinh thái và hệ thốngphát triển luôn ở trạng thái cân bằng trong quan hệ giữa tự nhiên
và xã hội
Quan điểm phát triển bền vững (Sustainable development)
đòi hỏi sự phát triển trước mắt và lâu dài là không mâu thuẫn,phát triển trước mắt phải tạo cơ sở cho phát triển lâu dài Pháttriển là sự biến đổi theo thời gian, theo nhịp điệu và luỹ tiến Cácgiai đoạn của quá trình phát triển đều được biểu thị bởi vectơđịnh hướng về bền vững, hài hoà giữa các mục tiêu sinh thái vớimục tiêu kinh tế, vectơ định hướng đó được đo bằng chỉ tiêu tổnghợp GDP, các tiêu chuẩn chất lượng cuộc sống và tiêu chuẩn môitrường Tuy nhiên mọi sự phát triển đều có tính chất mâu thuẫn,
nó diễn ra trong đấu tranh giữa các xu thế đối lập Trong sinhthái học, đó là mâu thuẫn giữa sinh vật thích nghi với môitrường, giữa phát triển với bảo vệ môi trường Quan hệ giữa môitrường và phát triển trong quá trình sinh thái - kinh tế hoá luônluôn biến đổi thích ứng nhằm bảo đảm cân bằng động thông quađiều khiển của con người “Phát triển bền vững” (Sustainabledevelopment) đang là mục tiêu, là phương châm cho các hoạtđộng phát triển xã hội
Trang 8Phát triển bền vững là quan hệ tổng hợp giữa xã hội, kinh tế
và môi trường Sơ đồ về mối quan hệ này như sau:
XH: Xã hộiKT: Kinh tếMT: Môi trường
Sơ đồ 1: Mối quan hệ tổng hợp của phát triển bền vững
Tài nguyên thiên nhiên và môi trường đóng vai trò cơ sở đốivới tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào trình
độ công nghệ sản xuất, vào tổ chức, thể chế quản lý và nguồn lựctrong xã hội
Một xã hội phát triển bền vững là một xã hội phát triển vềkinh tế với một nền môi trường trong lành và xã hội văn minh
Xã hội phát triển bền vững dựa trên một hệ thống cấu trúc quan
hệ biện chứng giữa kinh tế - xã hội - môi trường Hệ thống hoạtđộng theo các nguyên tắc, các chu trình, các quy luật vận độngcủa tự nhiên, kinh tế và xã hội
XH
Trang 9Phát triển bền vững của hệ thống động trong hệ thống động
mà vai trò cụ thể là con người là phát triển theo nhịp điệu quanhtrục phát triển luỹ tiến theo thời gian, biên độ dao động phản ánhdao động ổn định hay mất ổn định Khi biên độ dao động vượtqúa giới hạn cân bằng hay ngưỡng cân bằng khi đó xảy ra mấtcân bằng, hay mất cân đối, và dẫn đến khủng hoảng Đương nhiêncác vấn đề về mất cân bằng hay mất ổn định còn phụ thuộc vàocác yếu tố ngoại cảnh của hệ thống
Trang 10II NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
II.1 Tính bền vững của quá trình phát triển
Xét một cách cụ thể, trong từng thời đoạn nhất định thì sựphát triển của các xã hội loài người không phải luôn luôn diễn ratheo chiều hướng đi lên Tuy nhiên trong quá trình lịch sử lâu dàinhiều xã hội đã phải đối mặt với những khủng hoảng trầm trọng
về tài nguyên và môi trường và đi đến lụi bại, thậm chí tiêu vong
Sự phát triển kỹ thuật sản xuất tạo nên khả năng cải thiện chấtlượng môi trường cho con người, nhưng tới một mức độ nhấtđịnh, chính sự phát triển này lại là nguyên nhân làm suy thoáimôi trường Quá trình này đã diễn đi diễn lại liên tục từ thờithượng cổ tới nay Chăn nuôi đã đem lại cho con người nhữngđiều kiện sống an toàn, ưu việt hơn nhiều lần so với săn bắt vàhái lượm, nhưng chính chăn nuôi phát triển tới quy mô quá lớn đãtàn phá hàng triệu ha rừng, biến rừng nguyên thuỷ tại các nướcchâu Phi ven Địa Trung Hải thành vùng cây bụi, trảng cỏ xơ xác,rồi tiếp đó là sa mạc hoá
Trang 11Các công trình thuỷ lợi thời thượng cổ và trung cổ đã tạo nênnhững xã hội phồn vinh, nhưng rồi sự sử dụng nguồn nước vượtngưỡng cho phép của thiên nhiên đã tạo nên sự sụp đổ và hoangtàn của các xã hội này Một thí dụ cụ thể hơn thường được nhắctới là sự tàn lụi của nền văn minh Maya Trong thời gian khoảng
6 thế kỷ từ năm 150 đến năm 800 người Maya đã thiết lập tạivùng Trung Mỹ một xã hội rất phát triển theo tiêu chuẩn đươngthời Họ đã xây dựng hàng trăm đô thị với những đền đài, cungđiện nguy nga, tráng lệ tại nhiều nơi ở Mexico, Guatamala,Honduras, Salvador Để xây khối lượng nhà cửa khổng lồ này họphải nung rất nhiều vôi và đã dùng gỗ làm nguyên liệu Hàngchục vạn ha rừng đã bị triệt hạ Đất đai bị xói mòn, cát lấp đầycác thửa ruộng màu mỡ, lương thực thiếu hụt, đói kém rồi chiếntranh nội bộ trong thời gian khoảng vài chục năm đã dẫn tới sựtiêu diệt nền văn minh Maya (Roberto Furlani, 1995) Cũng trongthời kỳ này tại châu Âu, đế chế La Mã, kinh thành Roma, trungtâm văn hoá rực rỡ một thời của nhân loại, đã bị huỷ hoại vào thế
kỷ thứ 5 vì chiến tranh
Tuy nhiên theo một số nhà nghiên cứu thì những nguyên nhân
đó chỉ là những biểu hiện cuối cùng Lý do sâu sắc của sự tàn lụinày là sự mất cân bằng giữa tham vọng vô cùng của con người vềphát triển và sự có hạn của tài nguyên thiên nhiên
Trang 12Trong cố gắng phát triển kinh tế - xã hội ở các thập kỷ 1970,
1980 theo hướng công nghiệp hoá, con người đã thấy rõ hơn đedoạ mới về sự bền vững của phát triển đối với từng quốc gia cũngnhư của toàn nhân loại Trong các xã hội công nghiệp, với sựphát hiện những dạng năng lượng mới, vật liệu mới và công nghệsản xuất tiến bộ, con người đã tác động mạnh mẽ vào tài nguyênthiên nhiên và môi trường, can thiệp một cách trực tiếp, nhiều khithô bạo vào các hệ thiên nhiên, tạo nên những mâu thuẫn sâu sắcgiữa mục tiêu phát triển của xã hội loài người với các quá trìnhdiễn biến của tự nhiên
Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới tất cảcác nước, kể cả nước phát triển, đang phát triển và kém phát triểnđều phải đi theo con đường công nghiệp hoá Tiến bộ khoa học vàcông nghệ, bùng nổ dân số, phân hoá về thu nhập đã tạo nênnhiều nhu cầu và khả năng mới về khai thác tài nguyên thiênnhiên và can thiệp vào môi trường Trật tự bất hợp lý trong nềnkinh tế thế giới đã tạo nên hai loại ô nhiễm: “ô nhiễm do thừathãi” gây ra bởi những người giàu có, có lối sống hướng về tiêudùng xa xỉ tại các nước công nghiệp phát triển và một bộ phậnngười giàu có trong các nước đang phát triển, và “ô nhiễm do đóinghèo” gây ra chủ yếu bởi những cộng đồng dân có thu nhập quáthấp tại các nước nghèo
Trang 13Có thể nói rằng mọi vấn đề môi trường đều bắt nguồn từ pháttriển Nhưng con người cũng như mọi sinh vật khác sống trênTrái đất không thể chống lại quy luật tiến hoá và ngừng sự pháttriển của mình Đó là quy luật của cuộc sống, của tạo hoá mà vạnvật đều phải tuân theo một cách tự giác hoặc không tự giác Conđường để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển làphải chấp nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển không tácđộng tiêu cực tới môi trường Phát triển đương nhiên sẽ làm biếnđổi môi trường, vấn đề là phải làm sao cho môi trường tuy biếnđổi nhưng vẫn làm đầy đủ được ba chức năng cơ bản của nó là:tạo cho con người một không gian sống với phạm vi và chấtlượng tiện nghi cần thiết; cung cấp cho con người các tài nguyêncần thiết để sản xuất, sinh sống; xử lý, đồng hoá các phế thải sảnxuất và sinh hoạt, đảm bảo phế thải không gây ô nhiễm môitrường Đó chính là phát triển bền vững.
II.2 Các chỉ số về phát triển bền vững
Xã hội bền vững là xã hội mà con người có cuộc sống chấtlượng cao trên nền sinh thái bền vững Xã hội bền vững đượcđánh giá bằng việc xác định các chỉ số phát triển bền vững
Các tiêu chí bền vững được xác định trên quan điểm mụctiêu Trong hệ thống mục tiêu có mục tiêu của hệ thống, có nhómmục tiêu và mục tiêu theo yếu tố Logic tương tự, hệ thống pháttriển bền vững có tiêu chí bền vững hệ thống, tiêu chí bền vữngtheo nhóm và tiêu chí bền vững yếu tố Các chỉ số bền vững đượcđịnh lượng và có các tiêu chí được quy thành tiền Các tiêu chíbằng tiền giúp cho việc phân tích và đánh giá trong hệ thống hạchtoán quốc gia
Trang 14Để đánh giá bền vững cần phải có các tiêu chí bền vững Songcho đến nay việc xây dựng các tiêu chí bền vững là rất quantrọng, đòi hỏi những nghiên cứu khoa học về phương pháp luậnxây dựng hệ thống chỉ tiêu bền vững Nghiên cứu phương phápluận về quan hệ giữa tiêu chí tổng hợp của hệ thống với tiêu chícác nhóm gồm các yếu tố liên quan và tiêu chí cho mỗi yếu tố.Tiêu chí thể hiện tính bền vững của hệ thống trong đó tìm rabiên độ dao động của hệ thống và giới hạn cân bằng của hệ thốngtheo các chu kỳ dao động, nhịp điệu luỹ tiến của hệ thống, trongquan hệ giữa các thành phần của hệ thống như GDP - Dân số -Chất lượng môi trường, chỉ số quan hệ giữa GDP với các GDPtheo các ngành kinh tế, theo các yếu tố môi trường và các yếu tố
xã hội
Trang 15Sơ đồ 2: Quan hệ giữa các yếu tố kinh tế – dân số – môi trường
DÂN SỐ
Năng lượng Dịch vụ
Không khí Nước Đất
Đa dạng sinh học Các hệ sinh thái Xây dựng
Trang 16Xây dựng một xã hội phát triển bền vững được xác định trongtác phẩm “Cứu lấy Trái Đất” gồm 9 nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc 1 Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng Nguyên tắc 2 Nâng cao chất lượng cuộc sống của con người Nguyên tắc 3 Bảo vệ sức sống và tính đa dạng sinh học của
Trái Đất
Nguyên tắc 4 Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm
các nguồn tài nguyên không tái tạo
Nguyên tắc 5 Giữ vững trong khả năng chịu đựng được của
Trái Đất
Nguyên tắc 6 Thay đổi thái độ và hành vi của con người.
Nguyên tắc 7 Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường
của mình
Nguyên tắc 8 Xây dựng một khuôn mẫu quốc gia thống nhất,
thuận lợi cho sự phát triển và bảo vệ
Nguyên tắc 9 Xây dựng một khối liên minh toàn cầu trong
việc bảo vệ môi trường
II.3 Bền vững về kinh tế
Tính bền vững về kinh tế có thể được thể hiện qua các chỉ tiêu
về phát triển kinh tế quen thuộc như:
Tổng sản phẩm trong nước: GDP (Gross DomesticProduct)
Tổng sản phẩm quốc gia: GNP (Gross NationalProduct)
Tổng sản phẩm bình quân đầu người: GDP/capita
Tăng trưởng của GDP (GDP growth)
Cơ cấu GDP
Trang 17GDP hoặc GNP khái quát hoá toàn bộ khả năng sản xuất vàdịch vụ của một quốc gia vào một chỉ tiêu định lượng Chỉ tiêunày cho phép ta so sánh mức độ phát triển kinh tế của các quốcgia với nhau, cũng như để so sánh sự phát triển của một quốc giatrong những thời kỳ khác nhau GDP thường được điều chỉnhbằng sức mua thực của GDP, gọi là PPP (Purchase Parity Power).GDP/người biểu thị giá trị trung bình về sản xuất, dịch vụ màmột người dân trong quốc gia đó có thể làm ra, nói lên quan hệgiữa tăng trưởng kinh tế và gia tăng dân số Căn cứ vàoGNP/người các tổ chức quốc tế thường phân các quốc gia thànhcác nhóm: thu nhập thấp; thu nhập trung bình thấp; thu nhậptrung bình cao; và thu nhập cao Tăng trưởng GDP thể hiện lượngtăng của GDP trong một năm cụ thể so với GDP năm trước tínhbằng % của GDP năm trước Cơ cấu GDP là tỷ lệ đóng góp vàoGDP của 3 lĩnh vực lớn của nền kinh tế của một quốc gia: nôngnghiệp, công nghiệp và dịch vụ Mỗi lĩnh vực có khả năng sinhlợi khác nhau Thông thường dịch vụ và công nghiệp sinh lợinhiều hơn nông nghiệp Cùng một GDP bằng nhau, nền kinh tếnào có tỷ lệ dịch vụ và công nghiệp cao thì sẽ có khả năng tăngtrưởng nhanh chóng hơn.
Một quốc gia bền vững kinh tế phải đạt những yêu cầu sau:
- Tăng trưởng GDP và GDP/người cao Các nước thu nhậpthấp có mức tăng trưởng GDP vào khoảng 5% Nếu có tăngtrưởng GDP cao nhưng mức GDP/người thấp thì vẫn xem là chưađạt tới mức bền vững
- Cơ cấu GDP hợp lý đảm bảo cho tăng trưởng GDP ổn định
II.4 Bền vững về xã hội
Trang 18Tính bền vững về phát triển xã hội của các quốc gia cũngthường được đánh giá qua một số độ đo như: chỉ số phát triển conngười; chỉ số bình đẳng thu nhập; chỉ số về giáo dục, dịch vụ y
tế, hoạt động văn hoá
• Chỉ số phát triển con người (Human Development Indicator, HDI)
Sự không thành công của các chiến lược phát triển trong các thập kỷ cuốithế kỷ 20 đã đem lại một nhận thức mới về phát triển Các nhà chiến lượccho rằng mục đích cơ bản của phát triển là nâng cao chất lượng cuộc sốngvật chất và tinh thần của con người Con người vừa là mục tiêu phục vụ, vừa
là động lực của phát triển, vì vậy muốn phát triển thành công, điều cơ bảncần làm trước hết là phát triển con người Nền kinh tế của thế giới đã pháttriển tới mức cao và rất đa dạng Nền kinh tế của từng quốc gia là bộ phận tổthành hữu cơ của hệ thống hết sức phức tạp này Những mô hình chung cho
sự phát triển của các nước đang phát triển như “thay thế hàng ngoại nhập”,
“hướng về xuất khẩu” trong các thập kỷ 1960, 1970 không còn hiệu nghiệmnữa Từng quốc gia phải căn cứ điều kiện ban đầu đã có của mình và bốicảnh luôn luôn biến động của thế giới để tìm con đường đi và xác định chiếnlược thích hợp của mình Trong từng quốc gia thì từng ngành, từng địaphương, từng xí nghiệp cũng phải xác định chiến lược riêng của mình mộtcách tương tự Đặc điểm này phù hợp với các hoạt động kinh tế cũng nhưhoạt động xã hội Để làm được những việc đó chiến lược khái quát chung làphải phát triển khả năng và phẩm chất của con người, thành tố cơ bản củamọi xã hội Quan điểm phát triển con người đã được xây dựng từ nhận thứctrên Xuất phát từ quan điểm nêu trên, năm 1990 Chương trình Phát triển củaLiên Hiệp Quốc đã đưa ra “Chỉ số phát triển về con người” (HumanDevelopment Index, HDI) Chỉ số HDI tập hợp 3 độ đo về mức độ phát triểncủa con người vào một số đo chung 3 độ đo hợp thành HDI của một xã hộilà: (1) độ đo về kinh tế thể hiện qua PPP/người, (2) độ đo về sức khoẻ của
Trang 19con người thể hiện qua tuổi thọ trung bình l, (3) độ đo về trình độ học vấntrung bình của người dân e.
Khái niệm về HDI cho rằng phát triển con người thực chất là
sự mở rộng khả năng lựa chọn điều cần thiết và thích thú của conngười Sự lựa chọn này là vô hạn và luôn luôn thay đổi với thờigian Tuy nhiên cho dù ở mức độ phát triển nào thì con ngườicũng mong muốn 3 điều quan trọng nhất là: có sức khoẻ, đượcsống lâu (1); có kiến thức (e); có nguồn lực tài chính để có thể cómột mức sống vật chất thích hợp (PPP) Phát triển con người cóhai mặt Một là sự tạo nên khả năng của con người như tăng sứckhỏe, kiến thức, kỹ năng Mặt khác việc sử dụng các khả năngnày vào các hoạt động sản xuất, công tác, hưởng thụ các giá trịcủa thiên nhiên, xã hội và cuộc sống Sự bền vững về xã hội củamột quốc gia hoặc một địa phương trong quốc gia thể hiện ở: (1)HDI tăng trưởng, (2) HDI đạt tới mức trên trung bình
HDI có ưu điểm là đã tập hợp nhiều độ đo khác nhau vào mộtchỉ số chung giúp cho sự so sánh mức tổ hợp phát triển trên nhiềumặt Tuy nhiên HDI có những nhược điểm nhất định Cách tínhHDI tương đối phức tạp, chưa ổn định Từ 1990 đến nay các tácgiả đã nhiều lần thêm bớt các thành tố được đem ra xem xét trongHDI Một vài giả định đưa ra trong tính toán như xem mức GDP/người từ 5.300 USD trở lên xem không khác gì nhau, nghĩa là sựkhác nhau giữa GDP thí dụ của Thuỵ Điển (22.100 USD) và củaColumbia (5.300 USD) có thể không cần xét đến, là điều khôngphù hợp với thực tế /TLTK2, Gillis, 1996/
• Chỉ số bình đẳng thu nhập (Hệ số GINI)
Trang 20Muốn bền vững một quốc gia hoặc một địa phương trong quốcgia, phải tránh được những bất ổn xã hội Nguyên nhân cơ bảncủa bất ổn này là sự mất cân bằng trong phân phối thu nhập Vìvậy chỉ số bình đẳng về thu nhập, thường gọi là chỉ số GINI, theotên của người đề xuất chỉ số, được xem là một chỉ số về tínhvững bền xã hội Tình trạng phân phối thu nhập của các hộ dântrong một xã hội nhất định được mô tả trên sơ đồ đường congLorenz.
• Chỉ số giáo dục, đào tạo, thường được cụ thể hoá thành những số liệu
Trang 21Chỉ tiêu về giáo dục, đào tạo được cụ thể hoá thành : tỷ lệngười biết chữ trong nhân dân ở một độ tuổi nhất định; tỷ lệngười được đi học các bậc tiểu học, trung học, đại học trongnhững lứa tuổi nhất định, số sinh viên trên 10.000 dân, trong đó
% sinh viên trong các ngành công nghệ; số học sinh / giáo viên;ngân sách nhà nước chi cho giáo dục bằng % tổng ngân sách,hoặc % tổng GDP
Chỉ tiêu về dịch vụ xã hội y tế thường được cụ thể hoá thành;
số trẻ sơ sinh bị chết/1000; tuổi thọ trung bình; số bác sĩ cho
1000 dân; số giường bệnh cho 1000 dân; tỷ lệ % dân được hưởngdịch vụ y tế xã hội, tỷ lệ % dân có nước sạch để dùng; tỷ lệ trẻ
em dưới 12 tháng được tiêm phòng dịch bệnh; ngân sách nhànước chi cho dịch vụ y tế bằng % tổng ngân sách hoặc % tổngGDP
Chỉ tiêu về hoạt động văn hoá, thường được cụ thể hoá bằng:
số tờ báo, ấn phẩm thông tin được phát hành cho 1000 dân ; sốngười ứng với 1 máy thu thanh, thu hình, số thư viện/ 10.000 dân(Xã hội bền vững về giáo dục, y tế, văn hoá phải có sự tăngtrưởng của các chỉ số nói trên)
II.5 Bền vững về môi trường
Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiệnvật lý, hoá học, sinh học, xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới
sự sống và phát triển của các cá nhân và cộng đồng con người.Môi trường sống của con người là vũ trụ bao la Trong đó có tháidương hệ, trong Thái dương hệ có Trái Đất, với khí quyển, thuỷquyển, thạch quyển, sinh quyển và trí quyển Đối với từng cá thểcon người cũng như cả loài người, môi trường sống có ý nghĩa vôcùng quan trọng do có ba chức năng:
Trang 221.Môi trường là không gian sinh tồn của con người Cũng nhưmọi sinh vật để tồn tại và phát triển, về mặt sinh lý, tâm lý vàtinh thần con người cần có một không gian sống với những đặcđiểm nhất định về lượng và chất Môi trường trước hết là khônggian sống.
2.Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên, kể cả vật liệu,năng lượng và thông tin cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sảnxuất của con người
3.Môi trường là nơi chứa đựng, xử lý, tái chế các phế thải docon người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình.Môi trường luôn luôn biến động dưới tác động của tiến hoácủa tự nhiên và hoạt động của các sinh vật, trong đó con ngườiđang có những tác động mạnh mẽ nhất Con người không thể bảotoàn giữ môi trường nguyên dạng nhưng phải bảo vệ ba chứcnăng nói trên của môi trường Môi trường bền vững là môi trườngluôn luôn thay đổi nhưng đảm bảo thực hiện cả ba chức năng nóitrên
Bền vững về không gian sống của con người tại một khu vựclãnh thổ nhất định thể hiện ở mật độ dân số, mật độ hoạt độngcủa con người không vượt quá khả năng chịu tải của khu vực đó
Về các yếu tố chất lượng môi trường sống của con người như sựtrong sạch của không khí, nước, đất, không gian vật lý, cảnhquan, quá trình sử dụng không được làm giảm chất lượng của cácyếu tố này xuống dưới giới hạn cho phép theo các quy định củatừng vùng, Quốc gia và các tổ chức quốc tế
Bền vững về tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là các tài nguyêntái tạo như : nước, một số dạng năng lượng, tài nguyên sinh vậtđược sử dụng tái tạo về số lượng và chất lượng
Trang 23B ng I.1: T ng h p các ch tiêu phát tri n b n v ngảng I.1: Tổng hợp các chỉ tiêu phát triển bền vững ổng hợp các chỉ tiêu phát triển bền vững ợp các chỉ tiêu phát triển bền vững ỉ tiêu phát triển bền vững ển bền vững ền vững ững
Loại chỉ tiêu Chỉ tiêu
I Một số chỉ tiêu
chủ yếu về phát
triển bền vững
kinh tế
1 Mức tăng GDP trên đầu người
2 Tỷ trọng của các ngành kinh tế trong GDP,đặc biệt là các ngành liên quan đến khai tháctài nguyên
3 Tỷ trọng chi phí cho bảo vệ môi trườngtrong GDP
4 Nguồn tài chính cho phát triển bền vững từcác nguồn: ODA, FDI,
5 Thu nhập quốc dân và thu nhập quốcdân/người
6 Cơ cấu thu nhập quốc dân theo công, nôngnghiệp, dịch vụ (%)
II Một số chỉ tiêu
chủ yếu về phát
triển bền vững xã
hội
1 Tổng dân số và tốc độ tăng dân số
2 Tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo đói
3 Tỷ trọng chi phí cho giáo dục trong GDP
4 Tỷ trọng chi phí cho y tế, chăm sóc sứckhoẻ trong GDP
5 Tỷ lệ người lớn biết chữ
6 Tuổi thọ trung bình của người dân
7 Tỷ lệ dân số đô thị
8 Diện tích nhà ở/đầu người
9 Tỷ lệ dân cư được sử dụng nước sạch
10 Số dân di cư (người/năm)
11 Số người bị nhiễm các bệnh xã hội
Trang 244 Diện tích đất canh tác được tưới, tiêu bằngcông trình (thuỷ lợi hoá)
5 Diện tích đất được trồng rừng phủ xanhtrong năm
6 Diện tích đất đã bị thoái hoá
7 Hoá chất nông nghiệp: phân bón vô cơ, hoáchất bảo vệ thực vật sử dụng hàng năm(tấn/năm; tấn/ha đất canh tác)
b Nhóm các chỉ
tiêu về nước lục địa
1 Tỷ lệ dân số được dùng nước sạch
2 Tỷ lệ nước thải được xử lý
3 Lượng nước thải đô thị và khu công nghiệp
đổ vào nguồn nước mặt hàng năm
4 Lượng nước mặt sử dụng hàng năm
Trang 25d Nhóm các chỉ
tiêu về tài nguyên
thiên nhiên
1 Tiêu thụ năng lượng tính trên đầu người
2 Tỷ lệ sử dụng năng lượng từ các nguồn táitạo trong tổng năng lượng tiêu thụ
e Nhóm các chỉ
tiêu về không khí
1 Chất lượng không khí ở đô thị
2 Tổng lượng xả thải chất ô nhiễm vào khíquyển hàng năm
3 Tổng lượng xả thải chất ô nhiễm vào khíquyển theo một số lĩnh vực hoạt động
4 Độ ồn giao thông
5 Độ ồn trong sản xuất
6 Số lượng xe có động cơ
7 Diện tích cây xanh đô thị
8 Diện tích mặt nước, ao hồ ở đô thị
f Nhóm các chỉ
tiêu về chất thải rắn
1 Lượng chất thải rắn hàng năm
2 Lượng chất thải độc hại
3 Khối lượng và tỉ lệ rác thải khu dân cư
g Nhóm các chỉ
tiêu về môi trường
sinh thái, đa dạng
sinh học
1 Tổng số loài
2 Tỷ lệ các loài bị đe doạ trong tổng số cácloài
3 Tỷ lệ diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên
so với tổng diện tích đất liền và biển
9 Khu bảo tồn biển
10 Tổng số các loài sinh vật đã được kiểm kê
11 Số loài sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng
h Nhóm các chỉ 1 Lũ lụt, nước dâng
Trang 264 Các văn bản pháp quy về bảo vệ môitrường đã ban hành
5 Các bộ tiêu chuẩn về môi trường đã banhành
6 Số cán bộ trong biên chế Nhà nước về quản
9 Ngân sách Nhà nước về bảo vệ môi trường
10 Chi cho bảo vệ môi trường theo mục đích
11 Số vụ phạt vi phạm về môi trường và tổng
số tiền phạt
Trang 27III PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO MỘT LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
III.1 Quan điểm phát triển kinh tế làng nghề
Để đưa nước ta đi lên về kinh tế, Đại Hội VIII Đảng đã đặt ranhiệm vụ cấp bách nhất, cốt lõi nhất là chuyển dịch cơ cấu kinh
1996 : 29.028.000 người – chiếm 80,94% lao động cả nước
1997 : 28.963.800 người – chiếm 79.80% lao động cả nước
1998 : 29.757.600 người – chiếm 79.55% lao động cả nước
Vì vậy đây là tiềm lực to lớn trong quá trình CNH – HĐH đấtnước
- Lao động nông thôn có thời gian nhàn rỗi lớn:
Tỷ lệ thời gian lao động chỉ chiếm 70.88% Trong đó tỷ lệthời gian lao động cho các hoạt động chính (trồng trọt, chăn nuôi
…) mới đạt ở mức thấp: 61.37% Riêng vùng đồng bằng sôngHồng chỉ đạt 52,42%, thấp nhất trong toàn quốc
Tình trạng nhàn rỗi này xuất phát từ sự thiếu việc làm ở nôngthôn Những hạn chế về đất đai, thời vụ sản xuất, tốc độ tăng dân
số cao, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế (2,3%/năm) đã khiếnlao động nông thôn thiếu việc làm
Theo số liệu năm 1998, ở nông thôn có 8.219.498 người thiếuviệc làm chiếm 28,19% tổng số lao động hoạt động kinh tếthường xuyên trong khu vực nông nghiệp Số lao động thiếu việclàm ở nông thôn hàng năm tăng thêm khoảng 2,72% Trong 8
Trang 28vùng lãnh thổ, nông thôn ở đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ thiếuviệc làm cao nhất là 37,7%.
Sử dụng thời gian nhàn rỗi lớn này của lao động nông thôn làcách duy nhất đem lại thu nhập và mức sống cao hơn cho họ
- Tiêu dùng của người dân sống ở nông thôn là một thị trườngrộng lớn Nâng cao đời sống nông thôn chính là tăng thêmthu nhập, tăng sức mua trên thị trường nông thôn, tạo cơ sởcho thị trường đầu ra của công nghiệp phát triển với nhịp độnhanh trong cơ cấu nghành kinh tế
Chủ trương của Đảng ta là “phát triển mạnh các loại hình dịch
vụ, mở rộng thêm nhiều loại hình kinh tế mới đáp ứng nhu cầu đadạng của sản xuất kinh doanhvà đời sống dân cư” “Phát triểnnghành nghề, làng nghề và dịch vụ, tổ chức lại lao động theohướng “ly nông bất ly hương” nhằm giảm sức ép về việc làm củanông thôn đối với các đô thị lớn”
Phát triển kinh tế phi nông nghiệp dựa trên những điều kiện sẵn
có là cách làm đúng đắn nhất, và phát triển kinh tế làng nghề đãđược Nhà Nước xem là con đường hữu hiệu để nâng cao đời sống
xã hội nông thôn dựa trên những nguồn lực không tốn kém: laođộng dồi dào, nguyên liệu sẵn có, công nghệ đơn giản, kinhnghiệm lâu đời
Nhà Nước đã chú trọng tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tếnông thôn, trong đó có kinh tế làng nghề, thể hiện qua cácchương trình cho vay vốn (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam), các chương trìnhxây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn
Chương trình nghị sự của Chính Phủ vạch ra gồm:
Phát triển làng nghề thủ công truyền thống Sản xuất hàngtiêu dùng cho thị trường trong và ngoài nước
Trang 29 Mở rộng quy mô và số lượng các làng nghề thủ công vàtiểu thủ công nghiệp Trong giai đoạn 2005 – 2010, khoảng
1000 làng tiểu thủ công nghiệp sẽ được thành lập
Khuyến khích phát triển các nghành công nghiệp có sửdụng nhân lực và nguyên liệu địa phương, tạo việc làm vàthu nhập cho dân số nông thôn
Phát triển các hoạt động như cung cấp điện, vận tải, cungcấp nước sạch, cơ giới hoá nông nghiệp, dịch vụ thương mại,dịch vụ tài chính, cố vấn kinh doanh, cố vấn pháp lý, chuyểngiao kĩ thuật và đào tạo
III.2 Quan điểm phát triển bền vững làng nghề:
Theo quy luật chung, tăng trưởng kinh tế ở nông thôn dẫnđến tăng lượng chất thải Các làng nghề thường xuyên chuyênbiệt về một loại sản phẩm nên chất thải cũng mang tính đặc thùcao Chính điều đó làm giảm khả năng đồng hoá của thiên nhiênđối với chất thải
Hầu hết các làng nghề ở đồng bằng sông Hồng từ xưa đã cócác hương ước quy định các nguyên tắc để điều hoà các giá trị xãhội và tác động môi trường Nhưng các nguyên tắc đó còn đơngiản, chủ yếu quy định sử dụng đất trong làng, đảm bảo nguồnnước vệ sinh, cung cấp và duy trỳ cơ sở hạ tầng như đường, ngõ,chợ… Không hề có một hương ước của làng nào quy định cáchthức xử lý và thu gom rác thải Phương pháp thường áp dụng làvứt rác xuống ao, xuống bờ sông trong hoặc xung quanh làng.Các biện pháp đó đã không còn phù hợp với lượng rác thải giatăng nhanh chóng cùng với quy mô sản xuất hiện nay cũng nhưtrong tương lai gần đây
Trang 30Phát triển bền vững làng nghề là một bộ phận của phát triểnbền vững nền kinh tế xã hội Nghị quyết Đại hội Đảng VIII khẳngđịnh “lấy việc phát huy nhân tố con người làm yếu tố cơ bản cho
sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững, gắn tăng trưởng kinh tếvới đổi mới cơ cấu kinh tế, cải thiện được đời sống nhân dân,phát triển văn hoá, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xãhội, bảo vệ môi trường sinh thái”
Do đó, nếu các làng nghề được coi là đi đầu trong công cuộcphát triển nông thôn thì vấn đề bảo vệ môi trường ở các làngnghề cũng cần được coi là một nhiệm vụ quan trọng
Với đặc điểm hoạt động nghề thủ công diễn ra ngay trên khuvực sinh sống, người dân các làng nghề vừa là người gây ônhiễm, vừa là người chịu ô nhiễm Chính vì vậy, bảo vệ môitrường ở các làng nghề trước hết sẽ mang lại lợi ích cho sức khoẻngười dân trong làng nghề
Trang 31GÓP Ý CÙA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN :
Trang 32CHƯƠNG II HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VÀ VẤN ĐỀ
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở LÀNG NGHỀ SẮT
Đa Hội là nơi có truyền thống sản xuất sắt thép, truyền thốngnày có từ cách đây hơn 400 năm và gắn liền với với người dân ĐaHội qua nhiều thế hệ Do có vị trí địa lý khá thuận lợi, truyềnthống lâu đời cũng như kinh nghiệm và quyết tâm học hỏi để pháttriển nghề nên sản xuất sắt thép ở Đa Hội ngày càng phát triển Trước đây, chỉ có 20% số hộ làm nghề sản xuất sắt thép theophương pháp nguội với các sản phẩm đơn giản là các đồ dùng nhưdao, quốc, bản lề, then cửa…thì nay có đến gần 95% số hộ làmnghề (với khoảng 6000 người), Đa Hội đã trở thành một trungtâm tiểu thủ công nghiệp chuyên sản xuất các loại hàng cơ khí,xây dựng và dân dụng Sản phẩm phong phú và đa dạng về chủngloại cũng như số lượng đã tạo điều kiện cho Đa Hội bình quânđầu người ngày càng phát triển , thu nhập đạt 4 triệu đồng/năm Với nghề truyền thống của mình, Đa Hội đã có những đónggóp không nhỏ như: tạo sản phẩm cho xã hội, góp phần tăng thêm
Trang 33tổng sản phẩm quốc nội và đáp ứng một phần không nhỏ nhu cầusắt xây dựng của thị trường trong nước.
II HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT
II.1 Quy trình sản xuất:
Theo số liệu cung cấp của UBND xã Châu Khê, toàn làng ĐaHội có gần 500 hộ sản xuất (150 hộ sản xuất với năng suất trungbình 100 tấn /tháng và 350 hộ sản xuất nhỏ với năng suất trungbình 10 tấn/ tháng) Sản phẩm của làng nghề đa dạng:
Phôi (đúc): 12000 – 15000 T/năm
Sắt cán (tấm): 450 – 500.000 T/năm
Đinh các loại: 500 T/năm
Lưới, dây thép các loại: 500 T/năm
Công nghệ sản xuất ở Đa Hội – cũng như các làng nghề tiểuthủ công nghiệp khác – là sự kết hợp giữa kinh nghiệm, sự họchỏi và sự sáng tạo của con người với các loại máy cơ khí Đi từnguyên liệu chính là sắt thép phế liệu các loại và phôi thép củaNga, qua quá trình gia công và xử lý bề mặt, các sản phẩm đã đạtđược một số yêu cầu về chất lượng và được thị trường trong nướcchấp nhận
Thép phế liệu được thu mua từ Hải Phòng và Thái Nguyêngồm chủ yếu là vỏ tàu biển và vỏ ô tô; các phế thải khác như đồgia dụng bằng sắt thép cũ hỏng, các chi tiết của máy móc thiết bịhỏng, … được thu mua từ những vùng lân cận và trong cả nướcthông qua mạng lưới những người buôn bán sắt vụn Các phế liệubằng sắt thép này sau khi qua phân loại thủ công được chia làm
ba loại:
Thép phế liệu kích thước lớn: chiều ngang lớn hơn
20 cm (thường từ 1 – 2 m), chủ yếu là vỏ tàu biển
Trang 34 Thép phế liệu kích thước trung bình: Kích thước từ
3 – 5 cm (chiều ngang), phần này chỉ có một lượng nhỏ và phôi Nga
Thép phế liệu kích thước nhỏ: Chiều ngang nhỏ hơn 3 cm, phần này gồm các đồ gia dụng, các chi tiết máy móc,…
Các loại thép phế liệu kích thước lớn được đưa đến bãi tập trung rồi cắt bằng mỏ cắt hơi tới kích thước khoảng
20 cm (chiều ngang) xuống còn 3 – 5 cm chiều ngang phù hợp để đưa vào các máy cán
Thép phế liệu kích thước nhỏ sau phân loại được đưa tới các lò luyện thép, tại đây chúng được nấu chảy bằng các
lò điện Thép nấu chảy đạt yêu cầu được cho vào các khuân bằng gang, sau khi để nguội tự nhiên tạo ra các sản phẩm là các phôi thép có nhiều dài đạt khoảng 1,2m , đường kính trong 5cm
Thép phế liệu có kích thước phù hợp với phôi théptiếp tục được đưa qua các lò nung, tạo điều kiện cho các quá trìnhcán được dễ dàng Tuỳ theo loại sản phẩm tạo ra các loại thép xây dựng hay các sản phẩm dân dụng mà có thể nung ở các mức
độ khác nhau
Đối với sản phẩm thép xây dựng, thép vằn, thép trơn, thép chữ V…) và thép dẹt thì nguyên liệu được ủ mềm 30% - 70%
Đối với sản phẩm thép cuộn thì nguyên liệu được nungchính 100%
Trang 35 Thép sau nung được đưa tới các máy cán, tuỳ theo loại sản phẩm mà kích thước và hình dạng lỗ cán phù hợp Ở đây thép được tạo hình dạng theo yêu cầu.
Qua các bước gia công này, sản phẩm thép xây dựng và thép dẹt đã đạt yêu cầu về hình dáng và chất lượng, có thể đem đi bán để sử dụng
Thép cuộn sau khi cán được đưa tới các hộ rút théplàm dây buộc Trước khi rút thép, thép cuộn được hàn chập với nhau tạo độ dài yêu cầu
Sản phẩm thép dây buộc có thể được đưa tới các hộ sản xuất đinh Ở đây, thép dây được đ qua các máy cắt đinh để tạo và cắt mũi nhọn Để tạo đinh có chất lượng như trên thị
trường, đinh từ náy cắt được đưa vào các thùng có acid HNO3 và trấu tạo bền mặt trơn và bóng sáng
Sản phẩm dây dạng cuộn mạ kẽm được tạo ra sau khi
mạ kẽm dây thép buộc, sản phẩm này phần lớn được sử dụng để đan rào chắn B40 hay dây thép gai, phần còn lại được sử dụng làm dây buộc chất lượng cao
Quy trình mạ kẽm thép dây buộc bao gồm các bước sau:
Thép dây buộc được đưa vào lò nung để gia công nhiệt
Sau khi nung thép dây buộc cứng trở nên mềm hơn và được đưa vào hệ thống mạ Ở đây, thép được đưa qua bể chứa acid H2SO4 để tẩy sạch rỉ sắt theo phản ứng:
Trang 36 Fe3SO4 + 4H2SO4 FeSO4 + Fe2(SO4)3 + 4H2O
Thép sau khi tẩy được đưa qua bể nước + xút nguội đểrửa acid rồi tiếp tục đưa qua bể mạ, bằng quá trình mạ điện, kẽm trong bể mạ phủ lên bề mặt thép theo yêu cầu
Từ bể mạ, thép được đưa tới các bể nguội và cuối cùng
là bể nước nóng (50 – 700C) để cố định bề mặt kẽm và tạo bề mặtnhẵn cho dây thép
Như vậy, quá trình sản xuất ở làng nghề Đa Hội có những đặc điểm: sản xuất mang tính thủ công nhỏ ( sản xuất theo
hộ gia đình ) Chính vì vậy, sự phát triển sản xuất còn bị hạn chế:năng suất, chất lượng và giá thành sản phẩm đôi khi còn chưa hợp lý, và chưa sản xuất được nhiều mặt hàng có chất lượng cao
Ngoài ra, do khả năng kinh tế của hộ còn nhiều hạn chế nên trong sản xuất sử dụng nhiều máy móc thiết bị thế hệ cũ, chưa chú ý đến vấn đề tối ưu hoá trong sản xuất
Hơn nữa, sự phân bổ sản xuất trong các xóm còn chưa đông đều Quy hoạch sản xuất còn mang nặng tính tự phát, chưa được quản lý
Tất cả những dặc điểm trên làm tăng khả năng gây ô nhiễm môi trường của các chất thải từ quá trình sản xuất Đặc biệt, do khu sản xuất nằm ngay trong các hộ gia đình nên môi trường sinh sống của nhân dân chịu ảnh hưởng trực tiếp của sản xuất
II.2 Nhu cầu nguyên nhiên liệu
Trang 37 Là một làng nghề nhưng Đa Hội có một tiềm năng sản xuất rất lớn Để đáp ứng cho quá trình sản xuất, Đa Hội sử dụng một lượng lớn nguyên nhiên liệu.
Trang thiết bị chính sử dụng trong sản xuất :
Như đã trình bày trong bảng, quá trình sản xuất ở Đa Hội mang tính thủ công với công nghệ chưa được hiện đại và bán
cơ giới Trang thiết bị thuộc thế hệ cũ được nâng cấp sửa chữa
Ngoài ra, một số trang thiết bị trong dây truyền sản xuất là gia công chế tạo
Một số trang thiết bị chính sử dụng trong sản xuất tại làng nghề có thể được liệt kê như sau:
Nhu c u nguyên nhiên li u ph c v s n xu t c a l ng ngh ầu nguyên nhiên liệu phục vụ sản xuất của làng nghề ệu phục vụ sản xuất của làng nghề ục vụ sản xuất của làng nghề ục vụ sản xuất của làng nghề ảng I.1: Tổng hợp các chỉ tiêu phát triển bền vững ất của làng nghề ủa làng nghề ào M ền vững
Trang 38 Lò đúc thép: Các hộ đúc thép ở Đa Hội đều sử dụng lòđiện loại trung tần của Trung Quốc có công suất tiêu thụ điện 250KWh và đạt nhiệt độ lò 16000C với số lượng 20 lò Thời gian cho mỗi mẻ đúc là 2 giờ với công suất lò trung bình là 500
kg/mẻ
Dao cắt thép: 150 chiếc được đặt cố định, thuộc loại trung bình và lớn được sử dụng để cắt các loại thép phế liệu nhằm đảm bảo yêu cầu kĩ thuật của các công đoạn sau
Lò nung: tổng số lò nung ở Đa Hội khoảng 90 chiếc thuộc loại lò nung dạng hộp có kích thước 1,5 x 1,7 x 1m, nhiên liệu tiêu thụ là than kiple dạng cục, nhiệt độ trong lò đạt khoảng
1000 - 13000C Thép được nung trong lò đến nhiệt độ từ 500 -
9000C (theo kinh nghiệm sản xuất ) trước khi chuyển sang công đoạn cán định hình sản phẩm
Trang 39 Bên cạnh các dạng trang thiết bị chính này, Đa Hội còn sử dụng một số thiết bị phụ trợ khác như hàn hơi, hàn điện, các bể mạ tự tạo
Nghề tái chế sắt thép Đa Hội đã phát triển và mở rộng không những chỉ trong phạm vi xã Châu Khê mà còn lan rộng sang các khu lân cận khác như Dục Tú, Đình Bảng với công đoạn tái chế chủ yếu là đúc thép
II.3 Nhu cầu lao động:
Đến năm 2001, xã Châu Khê có 1.358 hộ sản xuấtcông nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (chiếm 48%), trong đó tậptrung chủ yếu ở làng nghề Đa Hội với 97 hộ sản xuất thép (chiếm71%) Các sản phẩm của làng nghề đã và đang đáp ứng một phầnđáng kể nhu cầu của thị trường, tạo công ăn việc làm cho khoảng
3000 lao động địa phương và 1000 – 1500 lao động nông nhàn ởcác vùng khác tới
Vị trí làm việc của công nhân là tại các xưởng sảnxuất Trên thực tế các xưởng này được xây dựng không có quyhoạch và khong theo một tiêu chuẩn nào, phần lớn là tạm bợ, máilợp bằng tôn hoặc tấm amiang Hệ thống chiếu sáng kém, các loạimáy, phương tiện vận tải phát ta tiếng ồn, lượng bụi và khí thảilớn, thường xuyên trong cả khu vực làng nghề Công nhân thườnglàm việc theo nhu cầu sản xuất , thời gian làm việc trung bình từ
10 đến 12 tiếng trong ngày nên sau giờ làm việc công nhânthường cảm thấy mệt mỏi, nhất là hầu hết công nhân làm việc ởnguyên trong một tư thế hoặc yêu cầu độ tập trung cao như trongcác xưởng: nấu thép, cán thép, rút thép, máy cắt…
Trang 40 Mặc dù môi trường làm việc bị ô nhiễm và điều kiệnlàm việc khắc nghiệt, nhưng cũng chỉ có gần 50% số công nhântrong làng nghề dùng các thiết bị bảo hộ lao động Trong cácxưởng mạ, nhiều công nhân không sử dụng gang tay, ủng, khẩutrang chống hoá chất Công nhân trong các xưởng nấu, cán, và rútthép cũng chỉ dùng các loại gang tay thô sơ Không có thói quendùng bảo hộ lao động cùng với môi trường làm việc khắc nghiệt
và thời gian làm việc keó dài là những nguyên nhân gây nên tỷ lệcác bệnh nghề nghiệp và các tai nạn lao động trong làng nghề
III HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG:
III.1 Môi trường không khí:
III.1.1 Môi trường không khí khu vực các hộ gia đình sản xuất:
Môi trường không khí tại các khu vực này đã bị ô nhiễm bụi, tiếng ồn, CO, và ô nhiễm nhiệt
a) Ô nhiễm bụi:
Nguồn gây ra bụi chủ yếu là do các hoạt động sản xuất Tuy nhiên ở các công đoạn khác nhau thì mức độ ô nhiễm phát sinh khác nhau, trong đó công đoạn đáng chú ý nhất là tại các cơ
sở cắt, cán, và các cơ sở rút sắt cuộn
Bên cạnh đó, cần chú ý rằng bụi tại tất cả các cơ sở sản xuất nàylà loại bụi sắt và do tiêu chuẩn chưa quy định cụ thể đối với loại bụi này nên phải áp dụng tiêu chuẩn cho phép đối vớibụi lơ lửng để so sánh định lượng, như vậy ảnh hưởng thực tế củaloại bụi này đối với con người có thể lớn hơn rất nhiều