luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp i
-
hoàng mạnh hùng
Bước đầu nghiên cứu phát triển nông nghiệp
ở ngoại thành Hà Nội theo hướng
nông nghiệp sinh thái
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Hoàng Mạnh Hùng
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu, khoa Sau đại học, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, các thầy giáo, cô giáo trong bộ môn Quản trị kinh doanh trường Đại học Nông nghiệp I đã giúp tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới thầy giáo TS Đỗ Văn Viện đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Rau quả Gia Lâm, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, Sở
Kế hoạch và đầu tư Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Nông nghiệp các huyện ngoại thành Hà Nội, UBND và nông dân các xã nghiên cứu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn bè và tất cả những người đã
động viên khích lệ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng là tấm lòng biết ơn sâu sắc đến cha, mẹ, gia đình đã giúp đỡ,
động viên, khích lệ để tôi hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Hoàng Mạnh Hùng
Trang 4Mục lục
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp theo hướng
2.1 Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp các vùng ngoại thành theo hướng
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm nông nghiệp sinh thái 42.1.2 Nội dung của phát triển nông nghiệp bền vững và nông nghiệp bền vững ở ven đô 212.1.3 Tiêu chí của nông nghiệp bền vững và nông nghiệp bền vững ở ven
đô 262.1.4 Điều kiện của nông nghiệp bền vững và nông nghiệp bền vững ở ven đô 282.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững 292.2.1 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững trong nước 292.2.2 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững và bền vững ven đô
ở nước ngoài 35
3 Đối tượng, địa điểm và phương pháp nghiên cứu 39
Trang 53.3 Phương pháp nghiên cứu 393.3.1 Phương pháp chung 393.3.2 Phương pháp chuyên môn 40
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 414.1.1 Những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sự phát
triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh
thái 414.1.2 Đánh giá chung về sự tác động của các điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội đến việc phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo
hướng nông nghiệp sinh thái 464.1.3 Thuận lợi và khó khăn trong phát triển nông nghiệp theo hướng
sinh thái 494.2 Thực trạng phát triển nông nghiệp ở ngoại thành hà nội theo hướng nông
4.2.1 Khái quát kết quả phát triển nông nghiệp ngoại thành 504.2.2 Thực trạng phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng
nông nghiệp sinh thái 524.3 Phương hướng và giải pháp cơ bản phát triển nông nghiệp ngoại thành
Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái 824.3.1 Phương hướng và mục tiêu chung phát triển nông nghiệp ngoại
thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái 824.3.2 Một số giải pháp cơ bản để phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà
Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái ở trình độ cao 100
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
§VT §¬n vÞ tÝnh HTX Hîp t¸c x·
VAC V−ên ao chuång
Trang 7Danh mục các biểu
Biểu 1: Tình hình đất đai, dân số và lao động ngoại thành Hà Nội 43Biểu 2: Dân số trung bình ngoại thành Hà nội qua các năm 44Biểu 3: Kết quả phát triển SXNN ngoại thành giai đoạn 2000 – 2004 54Biểu 4: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông lâm thuỷ sản 54Biểu 5: Tỷ trọng diện tích trồng cây thực phẩm và hoa ở một số xã 55Biểu 6: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt 56Biểu 7: Diện tích lúa hàng năm 57Biểu 8: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi 58Biểu 9: Biến động diện tích trồng hoa ở ngoại thành 59Biểu10: Giá trị sản l−ợng trồng hoa 60Biểu 11: Phát triển diện tích rau qua các năm 61Biểu 12: Năng suất rau các loại 62Biểu 13: Cơ cấu sản l−ợng rau giữa các vùng 63Biểu 14: Tỷ trọng diện tích sản xuất rau an toàn 64Biểu 15: Mô hình sản xuất của nhóm hộ trồng cây ăn quả 74Biểu 16: Mô hình sản xuất của nhóm hộ trồng rau 75Biểu 17: Mô hình sản xuất của nhóm hộ trồng hoa, cây cảnh 75Biểu 18: Mô hình sản xuất của nhóm hộ nuôi thuỷ sản 76Biểu 19: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp 120Biểu 20: Dự kiến tỷ lệ thực phẩm sản xuất tại Hà nội cung cấp cho nhu cầu
Biểu 21: Khối l−ợng và giá trị sản phẩm nông nghiệp chính 121Biểu 22: Quy mô các lọai sản phẩm chính 122Biểu 23: Quy mô các loại sản phẩm chính 123Biểu 24: Quy mô các loại sản phẩm chính 124Biểu 25: Quy mô các loại sản phẩm chính 125Biểu 26: Quy mô các loại sản phẩm chính 127
Trang 81 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị – hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước Với vị trí quan trọng như vậy, Hà Nội có nhiều thuận lợi, nhưng cũng có nhiều thách thức trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và xây dựng cơ sở hạ tầng Hà Nội có nhiều tiềm năng để phát triển thành phố sinh thái gắn liền với các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp như sự phát triển lâu đời của các làng hoa Ngọc Hà, cá cảnh Yên Phụ, vùng hoa Nhật Tân và sự phát triển của các vùng hoa mới Vĩnh Tuy – Thanh Trì, Tây Tựu – Từ Liêm, vùng lâm nghiệp sinh thái Sóc Sơn và các hoạt
động canh ngư trên hệ thống đầm hồ có ở khắp mọi nơi trên địa bàn Thành phố
Hiện nay, quá trình đô thị hóa và phát triển thành phố Hà Nội đang mở rộng Sự phát triển của Thành phố một mặt đang tạo ra điều kiện và là cơ hội cho nhiều hoạt động kinh tế vươn ra phát triển mạnh ở ngoại thành như dịch vụ đời sống, du lịch sinh thái, nghỉ ngơi giải trí cuối ngày, cuối tuần Mặt khác theo đà phát triển kinh tế, thu nhập và đời sống mọi tầng lớp nhân dân Thủ đô sẽ ngày càng tăng, đòi hỏi chất lượng cuộc sống phải được nâng lên và đáp ứng kịp thời Với vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước, Hà Nội phải có
sự phát triển trên tất cả các mặt tương xứng với vị trí của Thủ đô ngang tầm với các nước phát triển trong khu vực
Trong bối cảnh trên, các hoạt động sản xuất nông nghiệp cần được đầu tư phát triển theo những yêu cầu và nội dung mới Nó không chỉ là vành đai cung cấp lương thực, thực phẩm mà cần hướng tới những yêu cầu phát triển của vùng đô thị hiện đại – nền nông nghiệp sinh thái Vậy phát triển theo hướng nông nghiệp sinh thái là gì? Căn cứ và các tiêu chí để phát triển nông nghiệp ngoại thành theo hướng nông nghiệp sinh thái? Hà nội có những thuận lợi, tiềm năng và khó khăn gì trong
Trang 9việc phát triển nông nghiệp sinh thái? Làm thế nào để thúc đẩy phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái?
Một trong những nhiệm vụ luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm đó là phát triển nông nghiệp và kinh tế ngoại thành theo hướng nông nghiệp đô thị – sinh thái, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp – nông thôn; ưu tiên phát triển nông nghiệp sạch, các nghề, làng nghề truyền thống, làng nông nghiệp du lịch sinh thái
Từ những vấn đề trên, tôi lựa chọn đề tài: “Bước đầu nghiên cứu phát triển nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái”
làm luận văn thạc sĩ
1.2 Mục tiêu
* Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng và quá trình đổi mới nông nghiệp nông thôn Hà Nội
20 năm qua Đặc biệt từ năm 2001 – 2004 một cách khách quan khoa học và tổng quát, từ đó xác định những mặt được và chưa được, làm rõ nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân phát triển KTXH
* Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa những lý luận cơ bản nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp sinh thái của ngoại thành nói chung và ngoại thành Hà Nội nói riêng
- Bước đầu đánh giá thực trạng phát triển Nông nghiệp ở ngoại thành Hà
Nội theo hướng Nông nghiệp sinh thái Phát hiện những nguyên nhân ảnh hưởng làm hạn chế phát triển nông nghiệp theo hướng sinh thái ở nông thôn Hà Nội
- Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển Nông nghiệp ở ngoại
thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái trong thời gian tới
Trang 101.3 §èi t−îng vµ ph¹m vi nghiªn cøu
- §èi t−îng: §Ò tµi tËp trung nghiªn cøu vÒ thùc tr¹ng ph¸t triÓn n«ng nghiÖp ë ngo¹i thµnh Hµ Néi theo h−íng n«ng nghiÖp sinh th¸i
Trang 112 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển
nông nghiệp theo hướng sinh thái
2.1 Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp các vùng ngoại thành theo hướng nông nghiệp sinh thái
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm nông nghiệp sinh thái
2.1.1.1 Khái quát về các nền nông nghiệp trong lịch sử
Hiện nay, trên thế giới đã và đang tồn tại nhiều mô hình nông nghiệp
điển hình Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà có những tiêu chí khác nhau để phân loại mô hình nông nghiệp Nghiên cứu về nông nghiệp sinh thái dựa vào phương thức canh tác chủ yếu có thể phân loại nền nông nghiệp thế giới theo những mô hình phát triển điển hình sau đây:
- Mô hình sản xuất nông nghiệp nguyên thuỷ
Loài người sau khi ra đời phải qua trên nửa triệu năm săn bắn, hái lượm
để sinh tồn mới biết làm nông nghiệp
Phương thức du canh, sơ canh chọc trỉa và du mục thả rông xuất hiện cách đây 12.000 năm đã đánh dấu sự thoát thai hoàn toàn của loài người khỏi con vật, biết tìm kiếm, nhận biết, chủ động tiến hành lao động để tạo ra nguồn lương thực đủ sống cho bộ tộc, gia đình Phương thức sản xuất này là mô hình sản xuất nông nghiệp đầu tiên của loài người Nó đánh dấu bước ngoặt trong quá trình tiến hoá của loài người – chuyển hẳn từ hái lượm sản phẩm có sẵn trong tự nhiên sang phương thức tự sản xuất ra sản phẩm cho nhu cầu của con người Mô hình sản xuất nông nghiệp đầu tiên của loài người ra đời cách đây hàng chục vạn năm, song đến nay nó vẫn còn tồn tại ở một số vùng núi của các nước chậm và đang phát triển Trong mô hình sản xuất nông nghiệp nguyên thuỷ, động lực của sản xuất là sức người, hầu như không dùng động lực súc vật, không dùng phân bón
Trang 12các loại, không dùng thuốc trừ sâu bệnh Địa bàn tiến hành sản xuất là trên các triền đồi, núi cao nên năng suất cây trồng ở mô hình này là rất thấp và bị giảm sút nhanh chóng do đất bị sói mòn Vì vậy, đi đôi với phương thức canh tác này
là nạn du canh, du cư để khai thác các vùng đất mới Mô hình sản xuất nông nghiệp này đã tàn phá môi trường về nhiều mặt Tuy nhiên, ở thời kỳ cách đây hàng chục ngàn năm – khi mà dân số trên thế giới còn ít và sống rải rác thì môi trường vẫn có thể phục hồi một cách tự nhiên sau một thời gian dài
Xét trong thời kỳ lịch sử dài, mô hình sản xuất nông nghiệp nguyên thuỷ không thể thoả mãn được nhu cầu nông sản ngày càng tăng cao Đồng thời, các yếu
tố của môi trường cũng ngày càng không thể phục hồi kịp với tốc độ bị huỷ hoại bởi phương thức canh tác phát, đốt, trọc, tỉa Vì vậy, cần có sự thay đổi trong phương thức sản xuất nông nghiệp Mô hình sản xuất hữu cơ cổ truyền vì thế ra đời
- Mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ cổ truyền
Sau mô hình nông nghiệp nguyên thuỷ đi đôi với nạn du canh du cư là nền nông nghiệp hữu cơ cổ truyền Mô hình này còn tồn tại ở nhiều vùng của các nước chậm và đang phát triển Đặc trưng của mô hình này là sử dụng động lực gia súc, công cụ sản xuất thủ công, sử dụng phân hữu cơ, không dùng phân hoá học, sử dụng các giống cây và con được chọn lọc theo kinh nghiệm
Mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ cổ truyền được tiến hành ở các vùng đồng bằng là phổ biến Kết quả của mô hình này là đã giảm được mức độ thiếu hụt trầm trọng về nông sản Môi trường tự nhiên ít bị tàn phế, song môi trường vệ sinh của chính người sản xuất nông nghiệp lại không được bảo đảm Một số bệnh tật lây truyền nhiều khi thành dịch do cách thức sản xuất không sạch của mô hình này Đồng thời, do năng suất cây trồng, năng suất lao động thấp, nên con người vẫn phải không ngừng khai hoang mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp Vì vậy, tài nguyên rừng, tài nguyên sinh học ngày càng bị giảm sút Trong nhiều trường hợp, việc bố trí sản xuất không phù hợp so với điều kiện
tự nhiên đã làm suy giảm các tài nguyên tự nhiên của nông nghiệp Đây là
Trang 13những nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ cải tiến
- Mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ cải tiến
Đây cũng là mô hình sản xuất nông nghiệp ở những nơi đã định canh,
định cư với cách thức sản xuất gần giống mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ
cổ truyền, nhưng đã sử dụng ngày càng nhiều động lực cơ giới, công cụ sản xuất hiện đại; phân bón hoá học và các chế phẩm phòng trừ dịch bệnh bằng hoá chất
được sử dụng ngày càng nhiều; một số giống cây trồng và vật nuôi được lai tạo theo công nghệ tiên tiến…
Kết quả của mô hình sản xuất nông nghiệp này là, về cơ bản đã sản xuất
đủ thực phẩm cho con người nhờ tăng năng suất lao động, cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên, mô hình này còn bộc lộc những hạn chế căn bản: môi trường đất và nước ngày càng bị suy thoái do sử dụng phân hoá học và thuốc trừ sâu bệnh hoá học; người sản xuất bị ảnh hưởng của việc sử dụng các hoá chất; người tiêu dùng thực phẩm cũng bị ảnh hưởng do tồn dư các chất độc trong thực phẩm; đa dạng sinh học tiếp tục bị giảm sút
- Mô hình sản xuất nông nghiệp công nghiệp hoá cao độ
Đây là mô hình sản xuất tương đối phổ biến ở các nước công nghiệp phát triển: trong nông nghiệp, các công cụ, các nguyên vật liệu có nguồn gốc từ công nghiệp được sử dụng ở mức rất cao, sản xuất nông nghiệp mang sắc thái của sản xuất công nghiệp, các thành tựu của công nghệ sinh học cũng được sử dụng nhiều trong sản xuất nông nghiệp Kết quả của mô hình này là năng suất ruộng
đất, năng suất cây trồng, năng suất lao động tăng vọt Nhờ đó, mức tiêu dùng nông sản của dân cư ở những nước này đã đạt tới mức không chỉ nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể mà còn để thoả mãn nhu cầu năng cao đời sống Tuy nhiên, ở chính các nền nông nghiệp hoá cao độ đã bộc lộ một cách gay gắt mâu thuẫn sự thoả mãn cao nhu cầu thực phẩm của thế hệ hiện nay với khả năng thoả mãn nhu cầu đó cho các thế hệ tương lai Các yếu tố như đất đai, nguồn nước, đa
Trang 14dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng Cũng chính từ các nền nông nghiệp công nghiệp hoá cao độ, nhu cầu phát triển nền nông nghiệp sinh thái đã xuất hiện
- Mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái – nông nghiệp bền vững
Tại các nước có nền nông nghiệp công nghiệp hoá cao độ đã xuất hiện
xu hướng giảm sử dụng phân hoá học, giảm sử dụng thuốc trừ sâu hoá học, tăng
sử dụng các loại phân bón hữu cơ, phân bón vi sinh cũng như các chế phẩm vi sinh để phòng trừ sâu bệnh Các loại giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất cao được tạo ra và đưa vào sản xuất đại trà Trong kỹ thuật canh tác, người ta chú trọng hơn đến mối quan hệ tổng hoà giữa sinh vật và môi trường Đó là nông nghiệp theo hướng nông nhiệp sinh thái và được gọi là nông nghiệp bền vững
Điểm nổi bật trong nông nghiệp bền vững là các thành tựu của công nghệ sinh học ngày càng được sử dụng phổ biến, trong đó có công nghệ gen và công nghệ
vi sinh Các giống cây trồng, vật nuôi biến đổi gen đang tạo ra những biến đổi cách mạng trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên cũng còn nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề giống cây trồng, giống vật nuôi biến đổi gen Có thể coi đó là thách thức của nông nghiệp bền vững hiện nay.(NXB Nông Nghiệp (2004), Phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội –trang 5 -9)
2.1.1.2 Sự cần thiết phải phát triển nông nghiệp bền vững
Trong quá trình công nghiệp hoá và thị trường hoá, nông nghiệp các nước chuyển dần từ chế độ thâm canh truyền thống lên thâm canh hiện đại Với
áp lực về dân số tăng quá nhanh 2 - 3%/ năm với động lực lợi nhuận trong cơ chế thị trường, nhất là động lực lợi nhuận tối đa của chủ nghĩa tư bản, nông nghiệp
đã phát triển theo kiểu khai thác tước đoạt thiên nhiên dẫn tới những hiện tượng phổ biến: nông nghiệp ‘’ hầm mỏ’’ bóc lột đất, tốc độ phá rừng lấy đất trồng trọt vượt quá tốc độ tái sinh của nó Việc áp dụng cơ giới hoá, hoá học hoá và thuỷ lợi hoá chưa lấy công nghệ sinh học và cải thiện tầng thổ nhưỡng làm trung tâm Những hành động khai thác mang tính tước đoạt thiên nhiên trong nông nghiệp
Trang 15cùng với quy mô và tốc độ khai thác tài nguyên quá lớn, quá nhanh và lượng chất thải quá nhiều trong công nghiệp hoá đang làm cạn kiệt tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng Cụ thể là:
- Theo báo cáo của FAO ngày 3 – 10 – 2001: Hàng năm trong những năm
90, diện tích rừng trên thế giới bị giảm 16,1 triệu ha, trong đó rừng nhiệt đới giảm 15,2 triệu ha và trồng mới 3,1 triệu ha, trong đó vùng nhiệt đới trồng 1,9 triệu ha… Diện tích rừng giảm mạnh và nhanh đã gây lũ lớn, làm lở đất và xói mòn nghiêm trọng, làm suy yếu khả năng chắn gió, bão và năng lực thanh lọc khí
- Các tài nguyên biển bị khai thác bừa bãi với những biện pháp tiêu cực như đánh bắt hải sản quá mức cho phép, bắt những hải sản bị cấm, khai thác tài nguyên môi trường biển quá tuỳ tiện không đi đôi với bảo vệ môi trường biển Mặt khác, hàng năm biển tiếp nhận 650 triệu tấn chất thải làm ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng, nhiều dẫy san hô bị lụi đi, nhiều loài hải sản bị biến mất, trữ lượng cá và các loại hải sản khác đang bị giảm dần
- Đất đai nông nghiệp bị sa mạc hoá, bán sa mạc và ô nhiễm nghiêm trọng, 10% diện tích đất trên thế giới có khả năng trồng trọt đã bị sa mạc hoá và còn khoảng 25% đang bị đe doạ Hàng năm có 8,5 triệu ha và 20 tỷ tấn đất trồng trọt bị mất do xói mòn Việc sử dụng quá nhiều các vật tư hoá học như các loại phân N, P, K, các chất diệt cỏ, trừ sâu làm cho dư lượng chất hoá học đọng lại trong đất ngày càng nhiều Chất thải công nghiệp thải bừa bãi ra sông, ra đầm cũng góp phần làm ô nhiễm đất và nước nghiêm trọng Ô nhiễm đất làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng, đe doạ sự sống của các sinh vật và cây trồng trong khu vực ô nhiễm
- Đa dạng sinh học đang bị suy giảm nhanh chóng, nhiều loài đang ở mức báo động Do kết quả tiến hoá hàng tỷ năm trong thiên nhiên có 5 – 10 triệu loài đang được phân bố theo quần thể loài đặc trưng trong hệ sinh thái Sự dịch chuyển sinh loài thường do biến đổi của môi trường mà môi trường thay đổi lại chịu sự tác động của hiện tượng bất thường trong thiên nhiên như động đất, bão
Trang 16lụt, biến đổi khí hậu và sự khai thác tàn bạo của con người Nếu không có các biến động lớn của các yếu tố tự nhiên thì tốc độ diệt chủng các loài do con người gây ra cao gấp 1.000 lần so với thiên nhiên Chỉ trong thế kỷ 20 đã có 75% giống cây trồng bị tuyệt chủng và khoảg 30% trong số 4.500 loài gia súc và gia cầm đã biết trên quả đất có nguy cơ bị biến mất Sự mất đi các loài, sự suy giảm đa dạng sinh học đã làm mất đi sự cân bằng sinh thái của nhiều vùng, mất đi các nguồn gen quý giá và tính đa dạng của gen - vốn quý nhất của sự sống
- Nguồn nước ngọt sạch ngày càng khan hiếm Nước là nguồn tài nguyên
có hạn lại phân bố không đều Khoảng 96% nước trên quả đất là nước mặn được chứa trong các đại dương, chỉ có 2,5% nguồn nước là nước ngọt có thể dùng cho trồng trọt, chăn nuôi, công nghiệp và sinh hoạt cho con người Thế nhưng, dân số tăng nhanh, công nghiệp và nông nghiệp phát triển và quy mô ngày càng lớn đòi hỏi cần có nhiều nước sạch thì diện tích bị nước bị ô nhiễm lại ngày càng tăng lên Hiện nay khoảng 40% lưu lượng các sông trên thế giới bị ô nhiễm và theo
ước tính của Liên hiệp quốc mức độ ô nhiễm nguồn nước trên thế giới có thể tăng lên 10 lần trong vòng 25 năm tới Nạn thiếu nước hiện nay xảy ra trên diện lớn, hơn 100 nước trong số 213 nước bị thiếu nước với mức độ khác nhau, trong đó có
43 nước thiếu nước nghiêm trọng Hiện tượng mua nước ở những vùng khô cằn, hạn hán là chuyện thường, giá nước có nơi còn cao hơn giá dầu hoả Thậm chí tranh nhau nguồn nước đã trở thành nguyên nhân gây ra một số cuộc chiến tranh giữa một số nước
- Nguy cơ cạn kiệt các loài khoáng sản, loại tài nguyên không phục hồi
được ngày càng tăng cùng với tốc độ khai thác chúng một cách chóng mặt hiện nay So với năm 1970 các loại khoáng sản bị khai thác tăng gấp 3 - đặc biệt là dầu lửa trữ lượng còn lại rất ít và chỉ sử dụng trong khoảng thời gian ngắn Vấn
đề sử dụng các năng lượng sạch, tìm kiếm các vật liệu mới để thay thế các loại năng lượng và vật liệu truyền thống đang đặt ra cấp thiết trước nhân loại và với từng quốc gia
Trang 17- Ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn và ô nhiễm phóng xạ đã tăng lên tới mức báo động trên nhiều vùng, nhiều nước nhất là trong các thành phố đô thị Hiện có tới trên 50% dân số thành thị trên thế giới sống trong không khí có mức khí CO2 vượt quá tiêu chuẩn, hơn một tỷ người sống trong môi trường có bụi than, bụi phấn vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nhiều vùng trên thế giới thường xảy ra các trận mưa axit (80% hồ ở nam NaUy bị axít hoá)
Ô nhiễm tiếng ồn tồn tại thường xuyên trong hầu hết các thành phố nhất
là các nước đang phát triển - nơi mà máy móc thiết bị phần nhiều là thuộc thế hệ
cũ chưa có hệ thống xử lý tiếng động, tiếng ồn Tiếng ồn trực tiếp làm tổn hại hệ thần kinh, sức khoẻ, trí tuệ, tính tình và năng lực làm việc của con người Sự tác hại của nó đối với con người mang tính day dứt từng ngày nhiều hơn so với bụi
và các ô nhiễm không khí khác
Với sự mỏng đi của tầng ôzôn lượng bức xạ vũ trụ và bức xạ mặt trời chiếu xuống mặt đất với cường độ ngày càng mạnh Mặt khác do công nghiệp hạt nhân phát triển cũng làm cho lượng phóng xạ rơi rớt và bay lơ lửng trong khí quyển ngày càng nhiều Nguy cơ sinh vật và loài người bị huỷ diệt bởi bức xạ và phóng xạ không thể không cảnh giác và phải chủ động tìm cách loại trừ chúng
Sự suy giảm tầng ôzôn làm tăng hiệu ứng nhà kính, tăng nhiệt độ khí quyển dẫn tới sự mất ổn định khí hậu và gia tăng các tai hoạ thiên nhiên Hàng năm nghành công nghiệp và giao thông vận tải thải ra hàng trăm triệu tấn khí gây
ô nhiễm bầu khí quyển, đặc biệt trong đó các chất khí gây hiệu ứng nhà kính chiếm tỷ trọng không nhỏ, chúng làm mỏng tầng ôzôn
Nồng độ ôzôn tầng bình lưu trong những năm 1994 – 1996 đã giảm đi 6 -7% so với những năm 60-70 của thế kỷ 20 Lỗ thủng ô zôn Nam cực ngày càng
mở rông; từ 10 triệu ha trong những năm 80 đến 20 triệu ha năm 1996 và được kéo dài thời gian tương ứng từ 40 – 50 ngày lên 75 – 80 ngày Sự suy giảm tầng
ôzôn làm suy giảm tầng vũ trụ, nhất là tia tử ngoại xuyên qua các lớp khí quyển xuống tận mặt đất, trực tiếp uy hiếp sức khoẻ và sự sống của con người và mọi
Trang 18loài sinh vật, đồng thời nó là nguyên chính làm cho nhiệt độ trái đất ngày càng cao Trong khoảng 130 năm qua, nhiệt độ trung bình/ năm toàn cầu đã tăng 0,6
độ C phần lớn giá trị đó là kết quả sự tăng nhiệt độ 20 năm gần đây Theo dự báo nhiệt độ trái đất sẽ tăng từ 1,5 - 4,5 độ C vào năm 2030
Việc tăng dần nhiệt độ làm tan băng ở 2 cực, từ đó dâng cao mực nước
và nhiệt lượng nước ở đại dương Trong 100 năm qua (từ 1996 trở về trước) mực nước biển dâng cao 21cm Nhưng với tốc độ tăng gia tốc như hiện nay của nhiệt
độ thì mực nước biển năm 2020 – 2030 sẽ dâng cao lên trên 1m làm ngập chìm khoảng trăm triệu ha các vùng ven biển, thu hẹp hàng chục triệu ha đất nông nghiệp tốt, huỷ hoại hàng trăm đô thị lớn, uy hiếp cuộc sống của hàng trăm triệu người những khu vực ven biển trù phú hiện nay
Nhiệt độ không khí nước biển tăng lên làm đảo lộn khí quyển quả đất Các dòng khí lưu biến động thất thường Các dòng hải lưu vận động chệch hướng
và đổi hướng Do đó khí hậu trở nên thất thườngvà đỏng đảnh, gây ra những thiên tai lớn và thường xuyên trên toàn cầu Các hiện tượng Enninô và Laninô xảy ra với tần xuất ngày càng nhiều hơn, với phạm vi ngày càng rộng hơn và với sức công phá ngày càng lớn hơn Những thiên tai trên thế giới trong những năm gần
đây đã gây ra những tổn thất rất lớn cho loài người Năm 1998 các thiên tai trên thế giới đã gây ra tổn thất chung về vật thất lên tới 93 tỷ USD, so với 60 tỷ USD năm 1996 tăng lên gấp rưỡi Số người chết hàng năm do thiên tai thường trên hàng chục ngàn người Tốc độ tăng số người chết và thương vong do thiên tai trong 30 năm qua là 6%/ năm, gấp 3 lần tốc độ tăng dân số
Tóm lại, sự ô nhiễm môi trường, sự cạn kiệt tài nguyên do con người gây
ra vượt quá sự chịu đựng và khả năng tái sinh cử quả đất đang làm cho thiên nhiên nổi giận và trừng phạt uy hiếp sự sống trên trái đất, trong đó có loài người người
Trước thực trạng đáng lo ngại đó, từ tháng 06 năm 1972, hội nghị Liên hiệp quốc về môi trường ở Stokhom đã ra tuyên bố kêu gọi : ‘’ Bảo vệ và cải
Trang 19thiện môi trường của con người’’ là một vấn đề lớn có ảnh hưởng tới phúc lợi của
các dân tộc và phát triển kinh tế trên toàn thế giới Đó là khát khao khẩn cấp của
các dân tộc trên thế giới và là nhiệm vụ của mọi chính phủ Hai mươi năm sau,
Hội nghị Rio 92 ở Braxin đã ra tuyên bố mang tính đòi hỏi và thông qua
‘’Chương trình hành động 21” đối với mọi quốc gia và chính phủ Với những
quan điểm chủ yếu sau đây:
+ Các quốc gia có chủ quyền khai thác tài nguyên trên đất nước mình song
phải có trách nhiệm đảm bảo không gây tác hại đến môi trường ở các nước và
khu vực xung quanh Sự phát triển bền vững không chỉ cho thế hệ ngày nay mà
cho cả thế hệ mai sau
+ Xoá bỏ đói nghèo và giảm chênh lệch về mức sống giữa nhân dân nước
giàu và nước nghèo Coi đó là điều kiện và biện pháp của phát triển bền vững
+ Các nước phát triển công nhận trách nhiệm của họ trong sự mưu cầu
quốc tế và sự phát triển lâu bền do những áp lực mà xã hội của họ gây ra cho
môi trường toàn cầu
+ Cần ưu tiên đặc biệt cho những nhu cầu của các nước đang phát triển
+ Các quốc gia cần giảm dần và loại trừ những lối sản xuất và tiêu dùng
không bền vững bằng cách nâng cao hiểu biết khoa học và chuyển giao công
nghệ kể cả những công nghệ mới
+ Các nước cần ban hành luạt pháp và các tiêu chuẩn về môi trường phù
hợp với bối cảnh về sinh thái và trình độ phát triển của mình, nhất là ở các nước
đang phát triển
Các quốc gia cần hợp tác ngăn chặn việc chuyển giao cho quốc gia khác
bất cứ hoạt động hoặc chất gì xét thấy có hại cho sức khoẻ con người và môi
trường Các nước cố gắng đẩy mạnh quốc tế về những chi phí môi trường và sử
dụng những chế tài đối với kẻ làm suy giảm môi trường theo nguyên tắc gây ô
nhiễm phải chịu phí tổn xử lý để phục hồi môi trường
Trang 20Tuyên bố Rio 1992 và chương trình hành động 21 đánh dấu việc phát triển kinh tế trên thế giới bắt đầu chuyển sang một thời kỳ mới Đó là phát triển kinh tế bền vững nhằm mưu cầu lợi ích không chỉ cho thế hệ ngày nay mà còn cho cả thế hệ mai sau phát triển kinh tế đi liền với bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển hiệu quả đi đôi với việc thực hiện công bằng xã hội xoá đói giảm nghèo Riêng trong nông nghiệp đó là phát triển nền nông nghiệp sinh thái bền vững trên cơ sở lôi cuốn nông dân thực hiện và tham gia tổ chức, quản lý việc thực hiện
2.1.1.3 Khái niệm, đặc điểm nông nghiệp sinh thái
* Khái niệm: Nông nghiệp sinh thái là nông nghiệp vừa sản xuất được nhiều nông sản vừa bảo vệ và duy trì môi trường đảm bảo cơ sở cho nông nghiệp phát triển Vì vậy, có thể coi nông nghiệp sinh thái là mô hình nông nghiệp hữu cơ
cổ truyền với các yêu cầu cao về việc bảo toàn môi trường sinh thái
Trong hội thảo về nông nghiệp hữu cơ, giáo sư, viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng đã
chỉ rõ: "Nói đến nông nghiệp hữu cơ là đề cập đến vấn đề môi trường, trên phạm
vi rộng lớn là sự kết hợp hợp lý giữa đất, nước, lâm nghiệp với sản xuất nông nghiệp để tạo nên một nền nông nghiệp sinh thái bền vững lâu dài" Nông nghiệp hữu cơ theo quan điểm hiện đại không chỉ gắn liền với việc sử dụng các chất hữu cơ,
mà bao gồm cả mối quan hệ qua lại gắn bó giữa cây và con, giữa sinh vật với môi trường vô cơ và hữu cơ, tức với hệ sinh thái nói chung Tuy nhiên, nếu chỉ chú ý đến môi trường sinh thái thì năng suất nông nghiệp sẽ thấp ở đây cần có sự kết hợp giữa
yếu tố sinh thái và yếu tố bền vững
Như vậy, trong điều kiện ngày nay nếu phát triển nông nghiệp sinh thái theo nội dung của nông nghiệp hữu cơ trước đây thì khó có khả năng đáp ứng nhu cầu về nông sản trong khi dân số thế giới và nhu cầu nông sản ngày càng tăng về số lượng, chất lượng và chủng loại Bởi vì nông nghiệp trong điều kiện đó chỉ đáp ứng nhu cầu về an toàn của sản phẩm, cân bằng hệ sinh thái, giữ gìn cảnh
quan Yếu tố năng suất không đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết trên
Trang 21Trong bối cảnh trên, hiện nay nhiều nước hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững với sự chứa đựng các yêu cầu nông nghiệp sinh thái, trong đó các thành tựu khoa học và công nghệ được áp dụng để tạo ra mức năng suất cao của nông nghiệp đáp ứng nhu cầu cao về nông sản Những đặc trưng của nông nghiệp sinh thái, những yêu cầu của gìn giữ cân bằng sinh thái được coi như những ràng buộc của quá trình ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ vào sản xuất Đó chính là sự định hướng cho nông nghiệp phát triển theo hướng nông nghiệp sinh thái của nông nghiệp hiện nay, nhất là nông nghiệp ở ngoại ô các thành phố lớn
Vì vậy phát triển nông nghiệp các huyện ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái trong những năm tới chính là phát triển nông nghiệp bền vững Bởi vì phát triển nông nghiệp bền vững vừa đáp ứng nhu cầu nông sản của
Hà Nội, vừa tuân thủ các yêu cầu ở những mức độ khác nhau của nông nghiệp sinh thái Tuy nhiên, tôi không nói phát triển nông nghiệp bền vững ở ngoại thành Hà Nội mà nói phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái là muốn nhấn mạnh các tiêu chí của nông nghiệp sinh thái trong một số hướng phát triển của nông nghiệp ngoại thành trong những năm tới, khi sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, yêu cầu về môi trường cho dân cư Hà Nội ngày càng cao
Có khá nhiều khái niệm về nông nghiệp bền vững Ngân hàng thế giới đã
đưa ra 27 định nghĩa, trong đó mỗi định nghĩa đề cập đến những góc độ khác nhau, theo những mục đích và cách thức tiếp cận khác nhau
Tổ chức FAO đã xác định: "Phát triển bền vững là sự quản lý và bảo vệ các nguồn lợi tự nhiên Các thay đổi kinh tế và thể chế để đạt tới và thoả mãn
được nhu cầu của con người cả ở hiện tại và tương lai Phát triển bền vững không làm thoái hoá môi trường mà bảo vệ được tài nguyên đất, nước, các nguồn lợi di truyền động, thực vật, đồng thời phải thích ứng về kỹ thuật, có sức sống về kinh
tế và được chấp nhận về xã hội"
Richard R Harwood cho rằng: "nông nghiệp bền vững là một nền nông
Trang 22nghiệp trong đó các hoạt động của các tổ chức kinh tế từ việc lập kế hoạch, thực hiện và quản lý các quá trình sản xuất, kinh doanh nông nghiệp đều hướng đến bảo vệ và phát huy lợi ích của con người và xã hội trên cơ sở duy trì và phát triển nguồn lực, tối thiểu hoá lãng phí để sản xuất một cách hiệu quả các sản phẩm nông nghiệp và hạn chế tác hại môi trường, trong khi duy trì và không ngừng nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp" (Richard R.Harwood, Lịch sử nông nghiệp bền vững - Hệ thống nông nghiệp bền vững, St, Lucie Press, 1990)
Như vậy, nông nghiệp bền vững đề cập một cách toàn diện và tổng hợp
đến cả khía cạnh tự nhiên và khía cạnh kinh tế, xã hội của phát triển nông nghiệp Trên khía cạnh tự nhiên, nó là quá trình tác động hợp lý của con người
đối với các yếu tố tự nhiên (đất đai, nguồn nước, phân bón, năng lượng tự nhiên) nhằm giảm thiểu tác hại môi trường, bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên Trên khía cạnh kinh tế, nó là quá trình giảm chi phí đầu vào, nâng cao thu nhập cho các tổ chức nông nghiệp trên cơ sở thoả mãn tốt nhất nhu cầu xã hội về nông sản phẩm Trên khía cạnh xã hội, nó là quá trình xây dựng và phát triển các giá trị xã hội như sức khoẻ, văn hoá tinh thần của con người Cụ thể là:
+ Đối tượng tác động của con người trong nền nông nghiệp bền vững và cao hơn là nông nghiệp sinh thái không chỉ dừng lại ở đất đai, cây trồng, vật nuôi riêng biệt mà là một tổng hoà sinh vật - sinh thái, một hệ thống sinh vật - sinh thái
+ Sản phẩm của nông nghiệp bền vững với các yêu cầu về sinh thái không chỉ là những sản phẩm của cây trồng, vật nuôi mà còn là môi trường sinh thái phát triển hài hoà tạo cơ sở tự nhiên bền vững cho nông nghiệp phát triển ổn
định, lâu bền, cảnh quan sinh thái trong sạch tươi đẹp, dễ chịu cho cuộc sống con người và bảo vệ gen ngày càng phong phú trong quá trình đa dạng sinh học
* Đặc điểm của nông nghiệp sinh thái:
+ Nó gắn liền với việc phát triển một nền nông nghiệp văn minh hiện đại trong thế kỷ 21 trên cơ sở những phát kiến mới về khoa học sinh vật, vi sinh vật, sinh thái và các môn khoa học khác; gắn liền với sinh vật và sinh thái, những
Trang 23công nghệ mới về sinh học, những năng lượng mới, những máy móc tối tinh vi
được đưa vào sản xuất, điều khiển quá trình hoạt động của sinh vật, vừa khai thác tối đa các nguồn lực tự nhiên, vừa bảo vệ và tái sản xuất mở rộng chúng phục vụ cho các quá trình sản xuất tiếp theo
+ Đó là nền nông nghiệp tạo ra sự nhảy vọt về năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi và về cải thiện môi trường, cảnh quan sinh thái trong mối quan hệ tổng hoà giữa chúng với nhau Sinh vật sinh thái là kết quả tổng hoà của các điều kiện và yếu tố tự nhiên trên vùng lãnh thổ, lãnh hải nhất định Đó là những khu bảo vệ quỹ gen và cơ sở của du lịch sinh thái
2.1.1.4 Khái niệm và đặc điểm của nông nghiệp bền vững ven đô
Nông nghiệp là ngành có địa bàn hoạt động chủ yếu ở nông thôn, nhưng trong các thành phố, thị xã các hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn tồn tại ở trạng thái:
Thứ nhất, là bộ phận còn lại trong quá trình chuyển từ nông thôn sang thị
xã, thành phố
Thứ hai, nó được tổ chức hoạt động như là bộ phận không thể thiếu trong
cơ cấu kinh tế nội đô (tuy với quy mô rất nhỏ), với mục đích cung cấp các sản phẩm có giá trị sử dụng cao, đặc biệt tạp lập môi trường sống cho lượng cư dân tập trung cao trong các thành phố, thị xã
ở trạng thái thứ nhất, nông nghiệp cần có sự biến đổi theo sự biến đổi của cơ cấu kinh tế nội đô ở trạng thái thứ hai, nông nghiệp đã có sự phát triển cao, nhất là ở trình độ của nông nghiệp đô thị bền vững
Nông nghiệp đô thị bền vững là một nền nông nghiệp bền vững ở trong các thành phố, thị trấn hoặc các khu đô thị, sản xuất, chế biến và tiêu thụ các hàng hoá, dịch vụ nông nghiệp nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người dân đô thị, đảm bảo sự phát triển toàn diện của con người cả về sức khoẻ và giá trị văn hoá tinh thần trên cơ sở áp dụng các phương pháp sản
Trang 24xuất khoa học và các mô hình sử dụng và tái tạo nguồn lực nhằm đạt tới sự phát triển bền vững của con người, xã hội và môi trường sinh thái trong các khu đô thị Đây là nền nông nghiệp có những đặc điểm khác biệt với nông nghiệp bền vững nói chung, nhưng lại có nhiều đặc điểm mà nông nghiệp bền vững ở vùng ven đô cần hướng tới, trong đó có các huyện ngoại thành Hà Nội, nên có người coi nông nghiệp ven đô là bô phận của nông nghiệp đô thị bền vững, hay sự phát triển của nông nghiệp ven đô (nông nghiệp ngoại thành) theo hướng nông nghiệp
đô thị bền vững
Từ những lập luận trên có thể hiểu nông nghiệp bền vững ven đô là một loại hình nông nghiệp bền vững đặc thù và phát triển cao luôn gắn liền với sự đòi hỏi ngày càng cao của nhân dân thành phố về thực phẩm, về môi trường sống, về nghỉ ngơi giải trí gần gũi thiên nhiên, đảm bảo sự phát triển toàn diện của con người cả về sức khoẻ và giá trị văn hoá tinh thần trên cơ sở áp dụng các phương pháp sản xuất khoa học và các mô hình sử dụng và tái tạo nguồn lực nhằm đạt tới
sự phát triển bền vững của con người, xã hội và môi trường sinh thái
Quy mô thành phố ngày càng lớn, dân số ngày càng đông, mật độ dân số ngày càng cao và trình độ kinh tế - văn hoá ngày càng phát triển một mặt làm cho đất đai nông nghiệp ven đô thị thu hẹp nhiều, môi trường bị ô nhiễm trầm trọng, hiệu ứng về cuộc sống tù túng trong 4 bức tường bê tông cốt thép tăng lên Song mặt khác nhu cầu của nhân dân thành phối đối với nông nghiệp vốn đã cao lại càng cao theo tiêu chuẩn sinh thái - nhân văn Do vậy, nông nghiệp ven đô ở tình trạng này cần chuyển nhanh lên nông nghiệp bền vững ven đô với các đặc
điểm và nội dung theo các mô hình chủ yếu như sau:
- Mô hình sản xuất và cung cấp những thực phẩm tươi sống cao cấp như các loại rau ngon, rau thơm, thịt cá, trứng, sữa tươi và các loại thực phẩm đặc sản với chất lượng cao và dư lượng các chất hoá học, độc tố trong phạm vi tiêu chuẩn cho phép Mô hình này cần được quy hoạch phát triển từng loại trên những vùng
đất và môi trường thích hợp, cần cải tạo đồng ruộng và xây dựng chuồng trại theo
Trang 25yêu cầu thực hiện quy trình kỹ thuật thâm canh, thực hiện công nghệ tiên tiến lấy công nghệ sinh học làm trọng tâm Việc tổ chức và quản lý sản xuất, cung ứng sản phẩm phải đảm bảo chất lượng sản phẩm và môi trường Hoạt động kinh doanh trong mô hình này có thể theo mô hình công ty cổ phần, trong đó trang trại là cổ đông hoặc tổ hợp doanh là thành viên
- Mô hình nông nghiệp sinh vật cảnh là mô hình mang tính văn hoá và sinh thái cao Giá trị sản phẩm của loại hình này phụ thuộc vào mức độ tươi đẹp lâu, quý hiếm, dáng thế và gắn với các điển tích lịch sử Hoạt động trong mô hình đòi hỏi có con mắt thẩm mỹ, có bàn tay khéo léo tinh xảo, am hiểu đặc tính của các sinh vật, giàu lòng yêu nghệ thuật và tinh thần cần cù nhẫn nại, chịu khó chăm bón, tạo hình, tạo thế Kinh doanh loại hình nông nghiệp sinh thái này đòi hỏi biết kết hợp công nghệ sinh học cao với nghệ thuật thiết kế, tạo hình tinh tế, biết tổ cức liên kết nông trại sinh vật cảnh của các nghệ nhân trong các cơ sở nhà nước với các công ty kinh doanh giỏi để hình thành ngành hàng lớn đáp ứng nhu cầu của thành phố và của xuất khẩu
- Mô hình nông nghiệp sản xuất hoa tươi có nét giống mô hình nông nghiệp sản xuất thực phẩm tươi sống cao cấp, về sản xuất hàng loạt trên đồng ruộng, vừa gần gũi với mô hình sinh vật cảnh về tính tinh xảo, tính nghệ thuật, tính mỹ quan trong sáng tạo sáng phẩm
Mô hình này đòi hỏi ruộng trồng hoa phải gọn hơn, bằng phẳng hơn, tơi xốp hơn, hệ thống tưới tiêu chủ động theo ý muốn, bón phân chuồng đã qua xử lý, kết hợp với phân vi sinh, tuyệt đối không sử dụng phân hoá học Thực hiện phòng trừ sâu bệnh tổng hợp bằng công nghệ sinh học; có khả năng điều khiển quá trình sinh trưởng bảo đảm thời điểm ra hoa đúng yêu cầu trên thị trường và có trình độ tuyển chọn, lai tạo, ghép gen để tạo ra các chủng loại hoa nhiều màu, nhiều vẻ, có mùi hương thơm dịu Hoa là sản phẩm chiêm ngưỡng qua sắc màu, vẻ đẹp và hương thơm của chúng Hoa càng tươi thì độ phát triển của hoa càng cao và giá trị của nó càng lớn Do vậy kinh doanh sản xuất hoa phải hết sức nghiêm ngặt và kỹ
Trang 26tính trong thực hiện quy trình thâm canh trên ruộng phải rất cẩn thận trong thu hái, bảo quản, vận chuyển và rất năng động về tiếp thị trên thị trường
- Nông nghiệp bền vững dịch vụ picnic, cắm trai vui chơi trong những ngày nghỉ cuối tuần là mô hình thường thấy ở nông thôn gần thành phố ở các vùng này người ta trồng cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm hay trồng rừng bảo
hộ ven sông hồ có bãi đất rộng không khí trong lành có thể cắm trại ngủ qua đêm
và tổ cức các hoạt động vui chơi như: bơi lội, leo núi và thể dục thể thao Vùng nông nghiệp bền vững nghỉ ngơi này mang tính tổng hợp rất cao ở đây vườn cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm không chỉ là vườn kinh tế mà còn là vườn cảnh; rừng không chỉ để phòng hộ mà là rừng cảnh sinh thái; bãi sông - hồ - đầm trở thành những bãi tắm, bãi câu cá, ô nuôi cá cảnh; đồi núi với cảnh quan được cải tạo chăm sóc trở thành nơi dạo chơi lý thú Vùng nông nghiệp bền vững nghỉ ngơi cuối tuần nhỏ hơn, đơn giản hơn so với các vùng du lịch và an dưỡng lớn Tuy nhiên, việc xây dựng và tổ chức những vùng này cũng phải quy hoạch trên cơ sở kết hợp kiến thức nông nghiệp bền vững với kiến thức về dịch vụ cắm trại, nghỉ ngơi vui chơi giải trí cuối tuần Mô hình kinh doanh thích hợp ở đây là doanh nghiệp nông nghiệp bền vững dịch vụ cuối tuần ở xã ngoại ô
- Mô hình nông nghiệp rừng sinh thái bảo hộ là loại hình nông nghiệp sinh thái ven đô tối cần thiết và cực kỳ quan trọng đối với thành phố ngày nay Cùng với thành phố được mở rộng, các dãy rừng chắn gió bão, chắn cá bụi cũng cần
được trồng dày và kéo dài ra, diện tích rừng "lá phổi xanh" lọc không khí cũng phải lớn lên theo Trước đây, với quan niệm phòng hộ, chúng ta, nhất là những người trực tiếp làm nông nghiệp, rất thụ động và coi nhẹ phát triển nó Ngày nay mức tăng trưởng của rừng sinh thái bảo hộ, mức cải thiện môi trường sống đối với thành phố được coi là sản phẩm của xã hội - loại sản phẩm có giá trị cao gấp bội lần so với sản lượng sinh khối của nó Trong điều kiện sinh thái nhiều tầng có thể phát triển xen ghép các loại cây con đặc sản dưới tán rừng như cây thuốc,
động vật hoang dã và các loại nấm ăn được mà sự phát triển của chúng không
Trang 27ảnh hưởng tới sự ổn định và bền vững của rừng bảo hộ Mô hình nông nghiệp sinh thái rừng bảo hộ thuộc dạng kinh tế công ích toàn xã hội, đầu tư lớn và sản phẩm làm ra thuộc về tài sản chung của xã hội và dùng chung cho mọi người chứ không trở thành hàng hoá Do vậy, hình thức tổ cức sản xuất kinh doanh thích hợp với mô hình nông nghiệp sinh thái bảo hộ là các doanh nghiệp trồng và bảo
vệ rừng của nhà nước liên kết với các hộ nông dân theo cơ chế giao diện tích và khoán chi phí chọn gói cả trồng và bảo vệ, thực hiện thanh toán từng năm sau khi
đã nghiệm thu Đồng thời thực hiện chế tài phạt nặng khi không hoàn thành nhiệm vụ và rất nặng đối với việc khai báo gian dối và những hiện tượng chặt phá rừng
- Mô hình nông nghiệp sinh thái hồ, đầm được phát triển trên các hồ đầm
tự nhiên ở trong và ven thành phố có những sắc thái riêng Có loại hoàn toàn mang tính chất công ích Nhiệm vụ của nó là bảo vệ diện tích mặt hồ, giữ cho nước hồ không bị ô nhiễm; chăm sóc, bảo vệ các giống thuỷ sinh quý hiếm trong
hồ, cải tạo cảnh quan vùng hồ làm nơi tham quan nghỉ mát công cộng cho mọi người Loại hình này được quản lý theo mô hình doanh nghiệp công ích Loại thứ hai vừa mang tính công ích vừa mang tính kinh doanh Trên cơ sở bảo vệ tốt môi trường và làm đẹp cảnh quan ven hồ, mặt hồ, tiến hành kinh doanh giải trí hoặc nuôi cá kết hợp cả hai Trong loại thứ hai thường là mặt kinh doanh lấn át mặt bảo vệ và phát triển môi trường Phải thấy rằng việc bảo vệ và cải thiện môi trường là cơ sở tồn tại của việc kinh doanh Cho dù kinh doanh có đem lại thu nhập cao thì vấn đề được coi trọng số một vẫn là môi trường và phải tính chi phí môi trường vào chi phí kinh doanh, trích một tỷ lệ thu nhập nhất định cho hoạt
động bảo vệ sinh thái và cảnh quan ven hồ đầm Về vấn đề này, vai trò của chính sách có tầm quan trọng rất lớn
Hai mô hình cuối của nông nghiệp bền vững, tính chất sinh thái được biểu hiện rất rõ Từ những mô hình trên, có thể khái quát về nông nghiệp bền vững ven đô với các đặc điểm cơ bản sau:
Trang 28Thứ nhất, nền nông nghiệp đó không chỉ thoả mãn được nhu cầu về những nông sản thông dụng, mà còn cả những nông sản cao cấp, và hơn nữa còn cả những sản phẩm vô hình như môi trường sống của con người, cảnh quan, trong
đó những sản phẩm vô hình sẽ ngày càng được coi trọng hơn theo đà phát triển của đô thị hoá
Thứ hai, nền nông nghiệp đó phải đảm bảo quan hệ cân bằng giữa các yếu
tố của môi trường tự nhiên như: đất, nước, nhiệt độ, độ ẩm và sinh vật
Thứ ba, nền nông nghiệp đó phải có vai trò quan trọng hạn chế những tác
động tiêu cực của quá trình đô thị hoá Chẳng hạn, nền nông nghiệp đó phải góp phần lọc sạch bầu không khí bị ô nhiễm do đô thị hoá; góp phần làm sạch nguồn nước sạch nguồn nước thải của đô thị; góp phần làm giảm tiếng ồn của đời sống kinh tế - xã hội đô thị
Có thể nói, nông nghiệp bền vững ở ven đô giống với nông nghiệp bền vững ở đô thị về mặt yêu cầu và bản chất nhưng khác nhau về quy mô và một số mô hình phát triển
2.1.2 Nội dung của phát triển nông nghiệp bền vững và nông nghiệp bền vững ở ven đô
Với khái niệm và đặc điểm của nông nghiệp bền vững nói chung, bền vững ven đô nêu trên, việc phát triển nông nghiệp bền vững và bền vững ở ven đô
có mục tiêu: xây dựng các mô hình sản xuất kinh doanh nông nghiệp đáp ứng nhu cầu cơ bản của đại đa số dân cư trong xã hội, trước hết hướng tới mục tiêu
được ưu tiên
Điều chỉnh mô hình sử dụng nguồn lực và thiết kế hệ thống quản lý cho phép tái tạo và duy trì nguồn lực
Kiềm chế tác hại đối với môi trường không vượt quá mức đặt ra
Từ những mục tiêu trên, phát triển nông nghiệp sinh thái và sinh thái ven
đô bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
Trang 292.1.2.1 Xây dựng các mô hình nông nghiệp bền vững và bền vững ở ven đô
Mô hình nông nghiệp là một trong các biểu hiện đặc điểm của nền nông nghiệp bền vững và nông nghiệp bền vững ở ven đô Các mô hình ấy được xây dựng theo hướng kết hợp khai thác các nguồn lực trong mối quan hệ giữa các yếu
tố thời tiết khí hậu với cây trồng vật nuôi và giữa chúng với nhau Giữa yêu cầu
về các sản phẩm của nông nghiệp với khả năng khai thác và tái tạo chúng Vì vậy, đối với mỗi nước, mỗi vùng và mỗi giai đoạn sẽ có sự kết hợp khác nhau và vì vậy có những biểu hiện khác nhau về mô hình Tuy nhiên, có 2 loại mô hình:
đó là mô hình kết hợp xét trên phạm vi vùng lãnh thổ và mô hình kết hợp trong từng cơ sở kinh doanh nông nghiệp
Để có thể xây dựng được các mô hình, kể cả mô hình kết hợp chung và mô hình trong từng cơ sở kinh doanh nông nghiệp cần nắm vững các nội dung và nguyên tắc của sự kết hợp Nguyên lý về kinh tế nông nghiệp đã chỉ rõ: sự kết hợp trên phạm vi lãnh thổ cũng như trong từng cơ sở kinh doanh nông nghiệp
được dựa trên cơ sở của chuyên môn hoá kết hợp với sự phát triển đa đạng hoá các ngành sản xuất Điều đó có nghĩa là với mỗi vùng, trên cơ sở đánh giá các tiềm năng và lợi thế so sánh cần xác định các ngành chuyên môn hoá và hệ thống các ngành cùng phối hợp phát triển với chúng Sự kết hợp này dựa trên cơ sở xem xét các mối quan hệ tự nhiên, kinh tế giữa các ngành để chúng hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển Nói cách khác, xác định phương hướng kinh doanh của mỗi vùng, của mỗi chủ thể kinh doanh nông nghiệp theo hướng chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp các ngành dựa trên cơ sở khai thác tiềm năng và lợi thế của vùng sẽ cho phép xây dựng được các mô hình nông nghiệp bền vững Vì vậy để xây dựng được các mô hình nông nghiệp bền vững cũng như nông nghiệp bền vững ở ven đô cần phải tiến hành điều tra đánh giá các nguồn lực, cần lựa chọn các ngành chuyên môn hoá trên cơ sở khai thác các lợi thế và phối hợp các ngành với nhau trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc theo nguyên lý kinh tế nông nghiệp và quản trị kinh doanh trong các doanh nghiệp
Trang 30Riêng đối với nông nghiệp bền vững ở ven đô, sự kết hợp các ngành cần lưu ý tới yêu cầu về thoả mãn các nhu cầu về môi trường, về các sản phẩm vô hình như: làm giàu, làm trong sạch nguồn dưỡng khí cho dân cư nội thành, tham gia xử lý những ô nhiễm do sự tác động của công nghiệp và sinh hoạt Vì vậy, nói tới nông nghiệp bền vững nói chung, bền vững ở vùng ven đô nói riêng, sự kết hợp các ngành không chỉ trong phạm vi các ngành nông nghiệp mà cả các ngành công nghiệp và dịch vụ, nhất là các ngành công nghiệp chế biến Bởi vì công nghiệp chế biến không chỉ nâng cao giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh tế mà còn góp phần quan trọng xử lý các vấn đề ô nhiễm từ trong và sau quá trình hoạt
động sản xuất nông nghiệp gây nên
2.1.2.2.Bố trí sử dụng các yếu tố theo hướng kết hợp ngành
Về thực chất việc xây dựng các mô hình nông nghiệp bền vững đã đòi hỏi
và cho phép có sự kết hợp trong việc bố trí và sử dụng các yếu tố trong hoạt động sản xuất nông nghiệp xét theo vùng và trong từng đơn vị sản xuất kinh doanh
Điều đó biểu hiện ở việc thực hiện các nguyên tắc phối hợp các ngành trong từng mô hình xét theo vùng và trong nội bộ từng đơn vị kinh doanh Tuy nhiên, ở đây khi xem xét như là nội dung của việc phát triển nông nghiệp bền vững, sự kết hợp giữa các ngành và các yếu tố không dừng ở góc độ tổ chức mà còn bao hàm ở các hoạt động quản trị kinh doanh Những vấn đề trên đã đặt ra quá trình tổ chức sản xuất nông nghiệp trên mỗi vùng, miền phải nắm chắc mối quan hệ giữa các ngành và các yếu tố sản xuất trên phương diện tự nhiên và phương diện kinh tế,
Trang 31quan hệ giữa động vật và thực vật tạo nên mối quan hệ chăn nuôi và trồng trọt Xét trên phương diện kinh tế, các mối quan hệ tự nhiên trong chu trình tái sản xuất tự nhiên đã chi phối các mối quan hệ về kinh tế Bởi vì trong sản xuất nông nghiệp, quá trình tái sản xuất tự nhiên ăn khớp với quá trình tái sản xuất kinh tế
Sự chi phối theo chiều hướng chế ngự hoặc tương hỗ của các sinh vật đặc trưng cho từng ngành về mặt tự nhiên đồng thời cũng tạo nên các mối quan hệ đồng chiều về kinh tế
Sự phối hợp các ngành theo đúng nguyên tắc đã cho phép xây dựng một hệ thống ngành trong các đơn vị kinh doanh và trong từng vùng theo những yêu cầu của các mối quan hệ trên
Ngoài ra do những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, trước hết là về đặc
điểm của sản phẩm nông nghiệp (đó là các sản phẩm tươi sống, cồng kềnh, có nhiều sản phẩm phụ và phế phẩm) đã đặt ra yêu cầu phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản; giữa khai thác các sản phẩm chính và tận dụng các phế phụ phẩm để nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ sự trong lành của môi trường Một mô hình mang tính điển hình về sự kết hợp các ngành, các yếu tố theo hướng nông nghiệp sinh thái ở trình độ cao của Công ty mía đường Lam Sơn cần được tham khảo và nghiên cứu áp dụng, với sự tận dụng triệt để các sản phẩm chính và phụ của ngành mía và đường Ngành trồng mía cung cấp sản phẩm chính là mía cây cho nhà máy đường còn một phần cây mía non và lá mía loại thải được dùng làm thức ăn cho bò sữa Đường qua chế biến phần lớn trở thành đường hàng hoá, một phần được kết hợp với sữa của chăn nuôi
bò và lương thực để chế biến thành sữa và bánh kẹo Các sản phẩm phụ của chăn nuôi được kết hợp với sản phẩm phụ của chế biến làm phân bón đẩy mạnh thâm canh mía, ủ thành khí cung cấp nhiên liệu cho dân cư trong vùng, chế biến thành giấy, thành cồn và rượu
Nghiên cứu về nông nghiệp bền vững và nông nghiệp bền vững ở ven đô chúng tôi đã khuyến cáo các mô hình cụ thể với sự kết hợp theo từng vùng và
Trang 32từng doanh nghiệp Đó chính là sự biểu hiện của những nội dung kết hợp theo các vấn đề phân tích
2.1.2.3 Nội dung về sự kết hợp công nghệ với môi trường của nông nghiệp bền vững và nông nghiệp bền vững ở ven đô
Nông nghiệp là ngành có những vai trò quan trọng đối với đời sống con người Nó là ngành cung cấp những nông sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của đời sống Đồng thời góp phần quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái Tuy nhiên, những vai trò trên chỉ phát huy tác dụng khi nông nghiệp được phát triển theo hướng của nông nghiệp bền vững Bởi vì phát triển nông nghiệp bền vững không chỉ tạo ra lượng nông sản phục vụ nhu cầu hiện tại mà nó còn hướng tới sự bảo vệ nguồn lực đáp ứng nhu cầu tăng lên của tương lai Nó không chỉ khai thác nguồn lực mà còn bảo vệ và nâng cao chất lượng các nguồn lực
Như vậy, phát triển nền nông nghiệp bền vững bên cạnh việc khai thác nguồn lực, vấn đề bảo vệ nguồn lực, nhất là nguồn lực tự nhiên là nhiệm vụ hết sức quan trọng Sự kết hợp giữa khai thác và bảo vệ nguồn lực tự nhiên được xem xét trên nhiều phương diện, trong đó có sự kết hợp giữa công nghệ và môi trường trong quá trình hoạt động sản xuất của các đơn vị kinh doanh nông nghiệp Điều
đó được thể hiện tập trung nhất ở việc xây dựng và thực hiện quy trình sản xuất với việc áp dụng các công nghệ tiên tiến có tính đến việc bảo đảm cân bằng sinh thái của các đối tượng sinh học và tính an toàn trong sử dụng sản phẩm của con người với tư cách là một sinh vật
Với nhận thức trên, trong điều kiện hiện nay muốn có một nền nông nghiệp bền vững cần làm tốt những việc có tính nguyên tắc sau đây:
- Trên cơ sở nghiên cứu nắm vững hệ sinh thái, hệ sinh vật cả về lịch sử và hiện tại của một vùng mà lựa chọn những cây trồng, vật nuôi có lợi thế so sánh cao trên thị trường, phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng để tập trung phát triển thành các ngành hàng hoá lớn của vùng
- Xác định và thực hiện công thức kết hợp giữa trồng trọt, chăn nuôi, thả cá,
Trang 33trồng rừng với mô hình VAC trong các hộ RHĐ (ruộng - hồ - đồi) trên cả vùng lớn, trong đó có các cây con sản xuất hàng hoá chính đóng vai trò trung tâm
- Xác định và thực hiện các công thức khoa học về luân canh, xen canh, gối vụ trên đồng ruộng; về kết hợp các cây trồng trong vườn, trên đồi, về tập
đoàn con nuôi trong từng nông trại, tập đoàn tôm cá trên từng mặt nước
- Xây dựng và thực hiện các quy trình công nghệ nông nghiệp tiên tiến không chỉ riêng cho từng cây mà tổng hợp cho từng công thức luân canh, công thức kết hợp nói trên
- Đề cao tính cộng đồng hướng nông dân tập thể vào làm chủ việc xây dựng và phát triển các mô hình nông nghiệp hợp lý, mô hình sinh học
- Khu du nhập giống cây con mới từ ngoài vào, từ vùng này sang vùng kia, trước khi đưa vào sản xuất đại trà phải thông qua giai đoạn khảo nghiệm, xem lại
sự thích nghi của nó với môi trường mới Việc khảo nghiệm chúng phải đặt trong khuôn khổ một công thức luân canh hay kết hợp nhất định
2.1.3 Tiêu chí của nông nghiệp bền vững và nông nghiệp bền vững ở ven đô
- Các tiêu chí định tính: sự kết hợp các ngành, trình độ công nghệ, mức độ sạch của sản phẩm, các sản phẩm về môi trường, giá trị kinh tế của sản phẩm
- Các tiêu chí định lượng: lượng hoá các chỉ tiêu định tính bằng các công thức con số cụ thể
Với quan niệm mới về khái niệm và nội dung nông nghiệp bền vững như
đã trình bày ở trên, ta có thể rút ra những tiêu chí sau đây:
+ Chất lượng sản phẩm cây trồng vật nuôi: tỷ trọng sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, đặc biệt xuất khẩu sang các nước EU và Mỹ (có thể tính ở tiêu chí sản phẩm đạt tiêu chuẩn an toàn, ở trình độ thấp có thể tính bằng tỷ lệ sản phẩm an toàn trên tổng số sản phẩm)
+ Mức độ cải thiện môi trường đất:
Trang 34* Tỷ trọng diện tích đất bị rửa trôi trong tổng số đất canh tác, mức độ tăng giảm độ dày của tầng canh tác
* Mức độ tơi xốp của đất tăng giảm
* Độ ô nhiễm của đất
Việc phân loại đất làm thường xuyên có thể được đánh giá bằng việc thay
đổi các hạng đất qua quá trình hoạt động sản xuất nông nghiệp
+ Mức độ cải thiện môi trường không khí:
* Nồng độ các chất khí thải độc do nông nghiệp gây ra (do phun thuốc diệt cỏ, phòng trừ sâu bệnh bằng thuốc hoá học)
* Độ ẩm, nhiệt độ không khí (vi khí hậu) trên đồng ruộng dưới tán cây trong quá trình canh tác
+ Mức độ biến đổi cảnh quan sinh thái: có thể được đo bằng độ che phủ, diện tích mặt nước làm nhiệm vụ điều hoà môi trường
+ Trình độ ứng dụng công nghệ sinh học: tỷ trọng các chất sinh học trong bón phân, sử dụng các chất bảo vệ thực vật, phòng trừ cho gia súc
Về tiêu chí thứ nhất đã có sẵn tiêu chuẩn của các nước EU, Mỹ và tiêu chuẩn sản phẩm an toàn tuỳ theo từng loại (ví dụ rau an toàn, thị an toàn) Còn các tiêu chí từ 2 - 5 sử dụng cách đánh giá và chỉ tiêu đánh giá khoa học kỹ thuật nông nghiệp và khoa học môi trường, các tiêu chuẩn của chúng cũng đã được thế giới quy định
Về mặt kinh tế để thể hiện một nền nông nghiệp phát triển bền vững người
ta dùng chỉ tiêu:
EDP = GDP - (giá trị cạn kiệt tài nguyên + Giá trị suy giảm môi trường)
Đối với nền nông nghiệp bền vững ở mức độ phát triển còn thấp theo chúng tôi nên dùng các chỉ tiêu
+ Tỷ trọng giá trị sản phẩm đạt tiêu chuẩn EU và Mỹ (sản phẩm an toàn)
Trang 35- GDPsth: sản phẩm quốc nội của nông nghiệp bền vững
- GDP: sản phẩm quốc nội thông thương trong nông nghiệp
- PTng: giá trị tài nguyên thông thương trong nông nghiệp
- PMTi: giá trị môi trường thông thương trong nông nghiệp
- PCQ: giá trị cảnh quan thông thương trong nông nghiệp
Đối với nông nghiệp bền vững ở ven đô việc đánh giá cũng theo các tiêu chí trên, nhưng chú ý trên 2 phương diện sau:
+ Các tiêu chí trên được đánh giá ở mức độ cao về số tuyệt đối nếu so với nông nghiệp bền vững nói chung ở cùng thời điểm
+ Coi trọng hơn về các tiêu chí phản ánh mức độ bảo vệ môi trường và tạo
ra các sản phẩm vô hình phục vụ cho nhu cầu cao của nội và ngoại thành
2.1.4 Điều kiện của nông nghiệp bền vững và nông nghiệp bền vững ở ven
đô
Muốn có nền nông nghiệp bền vững cần có hoặc cần phải tạo ra những
điều kiện sau đây:
Trang 36+ Cần xây dựng trong mọi người một quan niệm đúng đắn về khái niệm và nội dung của nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp bền vững hiện đại, nhất là sự cần thiết phải phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp bền vững và trách nhiệm của mỗi người đối với yêu cầu phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp bền vững trước sự cám dỗ của kinh tế thị trường
+ Quy hoạch nông nghiệp phải đạt tới sự bố trí tối ưu, xuất phát từ hiệu quả hàng hoá và hiệu quả kinh tế xác định cho được tổ hợp cây và tổ hợp con có lợi thế so sánh nhất và cân bằng sinh học trên từng vùng, xây dựng các công thức kết hợp trồng trọt, chặn nuôi, VAC và luân canh khoa học trong từng trang trại, quy hoạch cải tạo đồng ruộng và chuồng trại cùng hệ thống kết cấu hạ tầng đảm bảo dịch vụ công nghệ chủ động theo ý muốn
+ Trình độ công nghệ sinh học cao làm trọng tâm Trong công nghệ sinh học gồm một loạt các công nghệ tác động vào vật sống như: lên men vi sinh vật,
cố định đạm sinh học, nuôi cấy mô tế bào, cấy phôi ở động vật, sản xuất kháng thể một dòng, công nghệ truyền vi sinh khuẩn, công nghệ di truyền cây trồng, công nghệ di truyền động vật
+ Xây dựng mô hình quản lý chất lượng trong các trang trại nông nghiệp khác
+ Chương trình bảo vệ tài nguyên môi trường được thực hiện mạnh mẽ nghiêm túc
+ Nông nghiệp sinh thái Hà Nội mang tính quốc gia cần có chính sách quốc gia về vốn về công nghệ về đào tạo, về cấp đất ngoài phạm vi
2.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững 2.2.1 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững trong nước
Nông nghiệp Việt Nam vốn là một nền nông nghiệp hữu cơ cổ truyền với những giống cây trồng địa phương và phân bón chủ yếu là phân hữu cơ như phân xanh, phân chuồng, phân rác, phân bắc, nước giải Kỹ thuật làm đất cày nông,
Trang 37bón phân cũng nông, có truyền thống đổ bùn ao vào gốc cây để bón cho cây ăn quả Lợi dụng phù sa do nước sông đem đến để thâm canh tăng năng suất cây trồng Nhiều loại cây trồng có đặc tính sinh học tốt và chất lượng sản phẩm cao như giống lúa tám, dự, nếp cái hoa vàng và nhiều loại cây ăn quả đặc sản đã phát triển ở một số vùng Trong những năm của hợp tác hoá nông nghiệp và những năm đổi mới, sản xuất nông nghiệp đã có những chuyển biến theo hướng khai thác các nguồn lực, các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Tuy nền nông nghiệp của nước ta đã phát triển theo hướng bền vững nhưng còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu thâm canh trong nông nghiệp, yêu cầu về cân bằng sinh thái ở các vùng kinh tế tự nhiên của đất nước đã bị phá vỡ
Do trình độ canh tác ở một số địa phương còn lạc hậu, kéo dài nhiều năm như phá rừng, đốt rãy, làm nương, cấy chay, chăn nuôi gia súc thả rông, nên năng suất cây trồng cũng như sản lượng chăn nuôi còn thấp Năng suất cây trồng ở các tỉnh đồng bằng có tăng, song ở một số tỉnh miền núi còn thấp, thậm chí có nơi còn giảm Diện tích đất trống đồi núi trọc còn nhiều, tới gần 13 triệu ha, làm mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng ở các vùng này Độ che phủ của thảm thực vật ở hầu hết các vùng sản xuất còn thấp xa so với mức an toàn sinh thái, do đó nhiều vùng không bảo đảm an toàn lương thực cho người dân sinh sống trong vùng
Vùng đồng bằng với khoảng 7 triệu ha đất đai, chiếm 21% đất tự nhiên của cả nước, nhất là vùng trồng lúa đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long tuy tốc độ thoái hoá đất chậm hơn so với những vùng đồi núi, song lượng dinh dưỡng khai thác từ đất rất hạn chế Để duy trì độ phì nhiêu của đất, bù đắp lượng chất dinh dưỡng lấy đi hàng năm trong quá trình sản xuất nông nghiệp và do rửa trôi
đòi hỏi phải bón phân hữu cơ và vô cơ Đối với đất trồng lúa ở các tỉnh vùng
đồng bằng sông Hồng, việc bón phân mới chỉ bù đắp được 30% lượng dinh dưỡng lấy đi, do vậy độ phì nhiêu giảm sút, không bảo đảm được phát triển nông nghiệp bền vững
Những hệ thống canh tác truyền thống như bón phân xanh, phân hữu cơ
Trang 38đôi khi bị xem là lỗi thời và thay thế bằng phương thức canh tác sử dụng hoá chất
đã tạo ra nhiều vùng hoang mạc, đất đai bị thoái hoá Do đó, cần phải phục hồi
hệ canh tác truyền thống, phục hồi độ phì nhiêu của đất, coi đất như là một cơ thể sống phải được nuôi dưỡng thường xuyên
Do nhu cầu ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm cho xã hội và xuất khẩu, những tiến bộ kỹ thuật thâm canh ngày càng được áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, chúng ta đã thực hiện bón phân hoá học cho cây trồng Ngoài ra, cũng đã không ngừng tăng số lượng và chủng loại các thuốc hoá học trong phòng trừ sâu bệnh, cũng như sản xuất hoặc nhập khẩu nhiều loại thuốc kích thích sinh trưởng đối với vật nuôi và cây trồng Cho đến nay, ngoài việc sử dụng phân bón hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp, nước ta hàng năm sử dụng khoảng 1,5 triệu tấn phân đạm urê và sunphát, hơn 60 vạn tấn phân lân và phốt phát tự nhiên các loại, hàng chục vạn tấn phân kali Các thành tựu của hoá học đã tràn vào các lĩnh vực khác như trừ cỏ, dùng chất kích thích sinh trưởng cây trồng
và gia súc Công nghệ sinh học có trình độ cao cũng đã được áp dụng trong sản xuất nông nghiệp Trước sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật được áp dụng vào nông nghiệp nước ta, những nguy cơ đe doạ sự phát triển hệ sinh thái bền vững cũng xuất hiện ngày càng trở nên trầm trọng Việc phá rừng đã dẫn đến hạn hán, lụt lội nghiêm trọng ở nhiều nơi Thuốc trừ sâu hoá học trong sản xuất
đã giết chết nhiều loại thiên địch Thâm canh cao, bón phân khoáng thiếu cân đối cũng như thiếu phân hữu cơ đã làm ảnh hưởng đến quá trình sinh học trong đất Một số giống mới đã thay thế tập đoàn giống cổ truyền của nhiều vùng như giống lúa, giống ngô Do vậy sâu bệnh hại lúa và một số cây trồng khác có xu hướng phát triển
Trước những xu hướng phát triển không bền vững trong nông nghiệp, ở nhiều địa phương nước ta đã bắt đầu quan tâm đến việc xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng sinh thái bền vững Nhiều mô hình sản xuất kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi, trồng rừng đã ra đời và ngày càng khẳng định tính ưu việt của nó như các mô hình sản xuất VAC, RVAC Các biện pháp kỹ
Trang 39thuật trong sản xuất nông nghiệp nhằm phát huy sự cân bằng của hệ sinh thái đã
được áp dụng như sử dụng các loại thiên địch để phòng bệnh cho cây trồng, ví dụ dùng loại kiến đỏ để diệt các loài sâu bệnh và rệp ở các vườn cây ăn quả Việc áp dụng các phương thức bố trí hệ thống cây trồng hợp lý như luân canh cây trồng, trồng xen, trồng gối vụ đã làm cho hệ sinh thái phong phú
Phòng chống sâu bệnh tổng hợp (IPM) là việc vận dụng quan điểm sinh thái trong phòng chống sâu bệnh Từ trước đến nay việc phòng chống sâu bệnh,
cỏ dại chủ yếu dựa vào các hoá chất độc Do sử dụng hoá chất không hợp lý đã dẫn đến những hậu quả sinh thái Thuốc hoá học tuy diệt được sâu bệnh và cỏ dại nhưng đã gây ô nhiễm môi trường, diệt các loại sinh vật có ích Các côn trùng quen dần với thuốc do đó hiệu quả của thuốc giảm Có thể còn xuất hiện các lại sâu nguy hiểm hơn IPM là phương pháp phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại dựa trên cơ sở sinh học, coi đồng ruộng là một hệ sinh thái, bằng việc áp dụng một hệ thống các biện pháp có thể dung hoà với nhau như sinh học, hoá học, canh tác và giống chống chịu sâu bệnh IPM không loại trừ việc dùng thuốc hoá học, nhưng phải dùng một cách chọn lọc để giảm độc đối với các nhân tố sinh học Các biện pháp này phải ít tốn kém, phù hợp với trình độ kinh tế - xã hội của hệ sinh thái Mục đích của IPM là hạn chế các sinh vật gây hại dưới ngưỡng kinh tế, nghĩa là chi phí các biện pháp phòng chống sâu bệnh gây hại cho cây trồng tối đa bằng thiệt hại do sâu bệnh gây nên IPM đã và đang được nông dân nước ta áp dụng rộng rãi trong trồng lúa và nhiều loại cây trồng khác
Trong hệ sinh thái nông nghiệp việc bố trí hệ thống cây trồng hợp lý nhằm tận dụng các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế, xã hội là một trong những biện pháp phát triển nông nghiệp bền vững Bằng phương pháp thực nghiệm, so sánh các công thức trồng trọt khác nhau để chọn công thức kết hợp các cây trồng trên một mảnh đất thích hợp với ừng vùng sinh thái nhằm mục tiêu đạt tổng sản lượng cao nhất với chi phí thấp nhất Biện pháp này đã và đang được nhiều địa phương quan tâm thực hiện Nhiều mô hình luân canh cây trồng hiệu quả được lựa chọn và áp dụng Tuỳ vào điều kiện tự nhiên và hệ sinh thái ở mỗi địa phương, mỗi vùng mà
Trang 40có các mô hình luân canh, xen canh, tăng vụ phù hợp Cao Bằng là một tỉnh miền núi với 60 vạn dân, điều kiện đất đai và hệ sinh thái phù hợp cho sản xuất cây lương thực và trồng cây công nghiệp ngắn ngày Để giải quyết vấn đề lương thực cho người và gia súc mà không ảnh hưởng đến môi trường sinh thái đòi hỏi phải xây dựng được một số mô hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhằm đảm bảo phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Trong những năm qua, tỉnh đã tập trung xây dựng một số mô hình luân canh cây trồng như luân canh thuốc lá xuân - lúa mùa, luân canh đậu tương xuân - lúa mùa trên đất ruộng, ngô xuân - đậu tương hè thu trên đất đồi bãi, ngô xuân (xen đậu tương) - ngô hè thu Những mô hình luân canh trên không những làm tăng sản lượng lương thực, tăng thu nhập trên 1 ha đất canh tác, mà còn thu hút thêm lao động, tăng độ phì nhiêu của đất, bảo đảm cả 3 yêu cầu về tính bền vững của hệ thống Đó là bền vững về kinh tế, bền vững về môi trường sinh thái và bền vững về mặt xã hội Một mô hình phát triển nông nghiệp sinh thái mà nhiều người biết tới đó là làng sinh thái Vĩnh Hoà, xã Triệu Vân, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị Đây là mô hình nông nghiệp sinh thái trên đất cát được Viện Kinh tế sinh thái hướng dẫn xây dựng Nhờ có tính toán, quy hoạch có tính khoa học nên bước đầu hệ đất cát ở
đây đã bị chinh phục Trên cơ sở quy hoạch đất chi tiết từng thửa, từng ô theo hình bàn cờ, diện tích mỗi ô từ 1,5 - 2ha Thiết kế các đai rừng phòng hộ cho từng ô the tỷ lệ 40% đất dành cho nông nghiệp và 60% đất dành cho trồng cây lâm nghiệp Sau đó giao đất cho các hộ gia đình và hướng dẫn họ tổ chức canh tác Tuy nhiên, với hệ sinh thái bãi cát trắng vừa khô, vừa nóng rất dễ úng ngập vào mùa mưa, cùng với gió Lào khắc nghiệt rất ít sinh vật có thể sinh trưởng
được ở đây Vì thế phải tạo ra hệ thống kênh mương thoát nước vào mùa mưa, lấy
đất đắp thành liếp để trồng cây phòng hộ Do đặc điểm của hệ sinh thái cát nên mỗi gia đình phải đào 1 sào ao sâu từ 1,5 - 2m có diện tích 80 - 100m2 để rút nước vào mùa mưa và trữ nước ngọt tới cho cây trồng vào mùa khô, đồng thời kết hợp chăn nuôi vịt, thả cá Một số giống ngô, đậu, lạc, tỏi, phi lao, keo tai tượng, keo lá tràm đã phát triển tốt Từ chỗ chỉ có 25 hộ đến nay đã lên tới 50 hộ có