Trước đòi hỏi của quá trình phát triển phương thức sản xuất tư bản ở các nước Tây Âu, khoa học tự nhiên đã đạt nhiều thành tựu lớn: phát hiện ra điện, phát hiện ra ôxy và bản chất sự chá
Trang 1MỤC LỤC
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC 2
1 Khái niệm 2
2 Điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học và đặc điểm của triết học cổ điển Đức 2
2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học 2
2.2 Đặc điểm của triết học cổ điển Đức 3
II MỘT SỐ TRIẾT GIA TIÊU BIỂU CỦA TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC 5
1 Hêghen 5
1.1 Kết cấu của hệ thống triết học Hêghen 5
1.2 Quan niệm về thế giới 6
1.3 Quan điểm về nhận thức 8
1.4 Quan điểm về con người và chính trị xã hội 8
2 Lutvích Phoiơbắc (1804-1872) 10
2.1 Sự phê phán triết học Hêghen 11
2.2 Quan niệm về thế giới 11
2.3 Quan niệm về nhận thức 12
2.4 Quan niệm về con người 13
2.5 Quan niệm về xã hội 13
III ĐÁNH GIÁ VỀ TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC 14
Trang 2I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC
1 Khái niệm
“Triết học cổ điển Đức” dùng để chỉ sự phát triển triết học của nước Đức ở nửa cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, được mở đầu
từ hệ thống triết học của Cantơ trải qua Phíchtơ, Sêlinh đến triết học duy tâm của Hêghen và triết học duy vật của Phoiơbắc
2 Điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học và đặc điểm của triết học cổ điển Đức
2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học
Triết học cổ điển Đức ra đời trong điều kiện lịch sử hết sức đặc biệt Nước Đức vào cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX vẫn còn là một quốc gia phong kiến điển hình, với 360 tiểu vương quốc tự lập trong một liên bang Đức chỉ còn là hình thức, lạc hậu về kinh tế và chính trị Thủ công nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp bị đình đốn Triều đình vua Phổ Phriđrich Vin Hem vẫn tăng cường quyền lực duy trì chế độ quân chủ, cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng
Trong khi đó ở nước Pháp đã tiến hành cuộc cách mạng tư sản, ở nước Anh thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp làm rung chuyển châu
Âu, đưa châu Âu bước vào nền văn minh công nghiệp Tấm gương của các nước Tây Âu đã thức tỉnh tinh thần cách mạng của giai cấp tư sản Đức và những bộ phận tiến bộ khác của xã hội Đức Nhưng vì giai cấp tư sản Đức và những lực lượng tiến bộ khác nằm rải rác ở những vương quốc nhỏ tách rời nhau, nhỏ bé về số lượng, yếu kém về kinh tế và chính trị nên không thể tiến hành cách mạng tư sản trong thực tiễn, mà chỉ tiến hành cách mạng về phương diện tư tưởng Họ muốn thỏa hiệp với tầng
Trang 3lớp phong kiến quý tộc Phổ, giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề phát triển đất nước
Trước đòi hỏi của quá trình phát triển phương thức sản xuất tư bản
ở các nước Tây Âu, khoa học tự nhiên đã đạt nhiều thành tựu lớn: phát hiện ra điện, phát hiện ra ôxy và bản chất sự cháy của Lavoadie; việc phát hiện ra tế bào của Lơvenhuc; học thuyết về dưỡng khí của Pritski và Sielo Những thành tựu đó chứng tỏ sự hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình trong việc lý giải bản chất của các hiện tượng tự nhiên và thực tiễn xã hội đang diễn ra Nó đòi hỏi cần có cách nhìn mới, phương pháp mới, quan niệm mới về vai trò và khả năng của con người Triết học cổ điển Đức ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đó
2.2 Đặc điểm của triết học cổ điển Đức
Đề cao vai trò tích cực của hoạt động con người, coi con người là một thực thể hoạt động, là nền tảng và điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học Con người là chủ thể đồng thời là kết quả của quá trình hoạt động của chính mình; tư duy và ý thức của của con người chỉ có thể phát triển trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới
Tiếp thu tư tưởng biện chứng trong triết học cổ đại, triết học Đức xây dựng phép biện chứng trở thành phương pháp luận triết học độc lập với phương pháp tư duy siêu hình trong lĩnh vực nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội Giả thuyết hình thành vũ trụ của Cantơ; việc phát hiện ra những quy luật và phạm trù của Hêghen đã làm cho phép biện chứng trở thành một khoa học thực sự mang ý nghĩa cách mạng trong triết học Đây là một đặc điểm nổi bật của triết học cổ điển Đức
Với cách nhìn bao quát, biện chứng, nhiều nhà triết học Đức có tham vọng xây dựng một hệ thống triết học vạn năng không những làm nền tảng cho thế giới quan của con người mà còn trở thành một thứ khoa học của các khoa học Do vậy, trong học thuyết triết học của Cantơ,
Trang 4Duyrinh, Hêghen thường bàn đến nhiều vấn đề như: khoa học tự nhiên, pháp quyền, lịch sử, luân lý, mỹ học
Tuy lac hậu về kinh tế và chính trị, nước Đức thời kỳ này đạt được
sự phát triển chưa từng có về triết học,văn hoá nghệ thuật Gần đây cần
có cách nhìn mới về hiện tượng tự nhiên và tiến trình lịch sử nhân loại, cần có quan niệm mới về khả năng và hoạt động của con người.Và triết học cổ điển Đức ra đời nhằm đáp ứng với sứ mạng lịch sử đó của không chỉ riêng nước Đức ,mà cả phương Tây nói chung cho nên nó có những đặc điểm chính sau :
Thứ nhất đây là thế giới quan và ý thức hệ của giai cấp tư sản Đức
cuối thế kỷ 18- nửa đầu thế kỷ 19 Hầu hết các đại biểu như Cantơ, Hêghen , đều xuất thân từ những tầng lớp thượng lưu trong xã hội Nhận thấy sự trì trệ của xã hội Đức phong kiến thời đó, được sự cổ vũ của giai cấp tư sản nhiều nước nhất là cách mạng tư sản Pháp (1789-1794), họ thể hiện nguyện vọng tiến bộ của giai cấp tư sản đấu tranh vỡ một trật tự
xó hội mới ở Đức,nhằm đem lại sự thịnh vượng phồn vinh và thống nhất cho đất nước Và nói chung trong thế giới quan của cỏc nhà triết học cổ điển Đức thể hiện khá rõ mâu thuẫn giữa tính cách mạng và khoa học về
tư tưởng với sự bảo thủ, cải lương về lập trường chính trị- xã hội
Thứ hai là đặc biệt đề cao vai trò tích cực của hoạt động con người,
thực hiện bước ngoặt trong lịch sử trong lịch sử triết học phương Tây từ chỗ chủ yếu bàn về những vấn đề bản thể luận đến chỗ coi con người như một chủ thể hoạt động là nền tảng và điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học
Thứ ba, triết học cổ điển Đức là một cách nhìn biện chứng về thế
giới hiện thực Các nhà triết học cổ điển Đức, những tư tưởng biện chứng trong các di sản triết học truyền thống từ thời cổ đại, xây dựng phép biện chứng trở thành một phương pháp luận triết học trong việc nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội Triết học cổ điển Đức đã đưa lại cho
Trang 5chúng ta phương pháp tư duy biện chứng, một phương pháp tư duy mà sau này, khi được Cac.Mac và Ăngghen cải tạo trở thành "linh hồn của chủ nghĩa Mác"
Thứ tư, với cách nhìn biện chứng bao quát toàn bộ hiện thực nhiều
nhà triết học cổ điển Đức có ý đồ hệ thống hoá toàn bộ những tri thức và thành tựu mà nhân loại đạt được từ trước tới giờ.Tiếp thu những tinh hoa của siêu hình học thế kỷ17 trong việc phát triển tư duy lý luận và hệ thống hóa toàn bộ tri thức con người, các triết học từ Cantơ tới Hêghen đều có ý xây dựng một hệ thống triết học vạn năng của mình làm nền tảng cho toàn bộ thế giới quan con người, khôi phục lại quan niệm coi triết học là khoa học của mọi khoa học
II MỘT SỐ TRIẾT GIA TIÊU BIỂU CỦA TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC
1 Hêghen
Heghen sinh năm (1770 -1831) ở Stuttgart là con một công chức cao cấp Hồi còn trẻ theo học trường đại học Tubingue Sau khi tốt nghiệp ông làm giáo sư dạy tư trong các gia đình, làm hiệu trưởng trường trung học Nuremberg, rồi làm giáo sư trường đại học Heldeberg Trong quá trình giảng dạy ông để nhiều thời gian nghiên cứu và viết các tác phẩm triết học như: “Hiện tượng học tinh thần” (1807), “Khoa học logic” (1812-1814), “Bách khoa toàn thư các khoa học triết học” (1817), Hêghen là một nhà biện chứng lỗi lạc, nội dung triết học bao quát nhiều lĩnh vực Do vậy chúng ta không thể có điều kiện nghiên cứu tất cả mà chỉ nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu sau:
1.1 Kết cấu của hệ thống triết học Hêghen
Hệ thống triết học của ông gồm ba phần:
Trang 6Lôgic học, đây là học thuyết về các quy luật phổ biến của vận động
và phát triển, về các nguyên tắc lý tính dùng làm cơ sở cho mọi dạng tồn tại Lôgic học bao gồm ba bộ phận: Tồn tại, bản chất, khái niệm
Triết học về tự nhiên, đây là học thuyết về sự phát triển của giới tự
nhiên dưới hình thức duy tâm Triết học tự nhiên bao gồm cả ba bộ phận: Thuyết máy móc, thuyết hóa học, thuyết hữu cơ
Triết học về tinh thần, đây là học thuyết về lịch sử của con người
và sự nhận thức của con người, nguồn gốc tạo thành mọi dạng tồn tại Phần này được chia thành ba bộ phận: Tinh thần chủ quan, tinh thần khách quan, tinh thần tuyệt đối
1.2 Quan niệm về thế giới
Quan niệm về thế giới của ông được thể hiện trong tác phẩm
“Hiện tượng học tinh thần” và “Lôgic học”
Theo Hêghen thì đầu tiên có tinh thần tuyệt đối tồn tại, bên trong chứa đựng các mặt đối lập; hai mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau làm cho nó luôn vận động phát triển khi đạt tới dạng hoàn thiện thì “Tha hóa” (biến thành cái khác nó, nhưng chính là nó ở trạng thái khác và hình thức khác) biểu hiện thành giới tự nhiên Trong giới tự nhiên cũng chứa đựng các mặt đối lập chúng vừa thống nhất và đấu tranh với nhau cho nên tạo ta động lực thúc đẩy giới tự nhiên phát triển từ vô
cơ đến hữu cơ rồi đến con người Vì trong con người chứa đựng các mặt đối lập cho nên, luôn nằm trong quá trình hoàn thiện, nhưng không phải
là hoàn thiện mặt thể xác mà hoàn thiện, phát triển về mặt tinh thần ý thức Khi phát triển đến mức độ hoàn thiện nhất con người không những nhận thức được thế giới tự nhiên, tự nhận thức được mình mà nhận thức được tinh thần tuyệt đối biểu hiện qua hình thức tôn giáo, nghệ thuật, triết học
Trang 7Ở đây điểm khởi đầu là “tinh thần” điểm kết thúc của sự phát triển cũng là “tinh thần”, chỉ có khác lúc đầu là “tinh thần thế giới”, còn điểm kết thúc là “tinh thần tuyệt đối” tồn tại ở mỗi cá nhân con người Do đó, triết học của Hêghen xét theo hệ thống là triết học duy tâm khách quan Bởi vì, ông thừa nhận tinh thần có trước, giới tự nhiên (vật chất) có sau phụ thuộc và phát sinh từ tinh thần tuyệt đối
Hêghen còn cho rằng, khi các dạng tồn tại được “tinh thần tuyệt đối” tạo ra thì không ngừng biến đổi theo các nguyên lý:
Một là: mỗi dạng tồn tại không những khác nhau mà còn làm
“trung giới cho nhau” tức có liên hệ với nhau
Hai là: Mỗi dạng tồn tại đều trải qua quá trình vận động, phát triển;
quá trình đó được thực hiện trên cơ sở của ba nguyên tắc:
- Nguyên tắc thứ nhất: Chất và lượng quy định lẫn nhau Những
chuyển hóa về lượng dẫn đến những biến đổi về chất và người lại.
- Nguyên tắc thứ hai: Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập với tư cách là nguồn gốc và động lực của sự phát triển tạo ra
sự chuyển hóa giữa nội dung với hình thức, bản chất và hiện tượng, nguyên nhân và kết quả, khả năng và hình thức, v.v.
- Nguyên tắc thứ ba: Phủ định của phủ định với tính cách là sự phát
triển diễn theo hình thức xoáy ốc
Những nguyên lý và nguyên tắc trên là nội dung chủ yếu của phép biện chứng mà Hêghen xây dựng Phép biện chứng này tuy có hạn chế ở chỗ trình bày trên cơ sở của quan điểm duy tâm nhưng nó đã phản ánh đầy đủ quá trình vận động và phát triển chúng; trong nó đã chứa đựng hạt nhân hợp lý: không có cái gì nhất thành bất biến, mọi cái luôn biến đổi Đây là một giá trị lý luận chủ yếu của triết học Hêghen
Trang 81.3 Quan điểm về nhận thức
Quan điểm nhận thức của Hêghen được trình bày trong tác phẩm
“Hiện tượng học tinh thần” và “Lôgic học”
Nếu như Cantơ cho rằng đối tượng nhận thức là sự vật thì Hêghen lại cho rằng đối tượng của nhận thức là nguyên nhân tạo thành các dạng tồn tại tức “tinh thần tuyệt đối” Trong “Lôgic học” ông khẳng định nhận thức của con người là sự tự nhận thức “tính thần tuyệt đối”
Với quan điểm biện chứng Hêghen cho rằng, nhận thức là một quá trình phát triển, tự hoàn thiện; quá trình này gắn với lịch sử phát triển của xã hội Trong thời kỳ thượng cổ con người chỉ mới có ý thức cảm tính, người thượng cổ nhìn thế giới một cách trực tiếp Đến giữa thời kỳ chiếm hữu nô lệ theo ông, con người mới tự ý thức được sự tồn tại của chính mình Thời trung cổ, ý thức con người bước vào bất hạnh vì chỉ biết tuân theo ý chúa Chỉ đến thời kỳ khoa học phát triển thì khả năng trí tuệ của con người mới đạt tới trình độ lý tính, mới mang tính xã hội Lúc đó con người sử dụng khái niệm để tư duy do vậy mới nhận thức được “tinh thần tuyệt đối”
Mặt khác ông còn cho rằng, sự phát triển của khả năng nhận thức
cá nhân như là sự lặp lại và thu gọn toàn bộ tiến trình lịch sử mà nhận thức con người đã trải qua
Như vậy, Hêghen bộc lộ quan điểm có thể biết trên cơ sở thế giới quan duy tâm
1.4 Quan điểm về con người và chính trị xã hội
Quan điểm về con người và chính trị xã hội được Hêghen trình bày trong tác phẩm “Triết học về pháp quyền” và “Triết học lịch sử”
Khi bàn đến vấn đề con người, ông không giống như các nhà triết học Anh và Pháp thế kỷ XVI - XVIII chia tách con người thành hai phần mà ông quan niệm con người là chỉnh thể thống nhất Con người là chủ thể đồng thời là kết quả của quá trình hoạt động của chính mình, chính qua
Trang 9quá trình hoạt động mà ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức và ý chí tự do của con người mới phát triển Do đó, con người mới hoàn thiện Như vậy,
ở đây Hêghen không bàn đến con người cụ thể mà bàn đến con người trìu tượng, lý tính phi lịch sử
Quan niệm con người trong triết học Hêghen thường gắn với quan điểm về nhà nước và pháp quyền Theo ông “luận điểm khẳng định mọi người về bản tính vốn bình đẳng là không đúng , cần phải nói ngược lại rằng con người về bản tính vốn bất bình đẳng” Từ đây dẫn tới quan điểm: mọi sự bất công trong xã hội là hiện tượng tất yếu xuất phát từ bản tính con người Vì thế trong xã hội thường xuyên xảy ra những mẫu thuẫn, xung đột giữa các tầng lớp, đẳng cấp xã hội khác nhau Chính từ
đó nhà nước xuất hiện Theo Hêghen, nhà nước ra đời nhằm dung hòa các mẫu thuẫn giữa các đẳng cấp nhằm định hướng sự phát triển của xã hội Nhà nước không chỉ là cơ quan hành pháp mà là tổng thể các quy chế, kỷ cương, chuẩn mực về mọi lĩnh vực đạo đức, pháp quyền, văn hóa Vì thế nhà nước tồn tại trên bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử Nhà nước theo ông
là hiện thân của ý niệm tuyệt đối trong đời sống xã hội nó có quá trình phát triển Nhà nước Phổ là đỉnh cao của sự phát triển đó, vì nó là đại biểu cho công lý, đạo đức; nhà nước đó sẽ tồn tại mãi Bởi vì, “Cái gì hợp
lý, thì sẽ hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp lý”; ở đây, Hêghen đã lập luận để bảo vệ sự tồn tại của nhà nước phong kiến Phổ
Khi bàn đến chiến tranh, Hêghen cho rằng, chiến tranh là một hiện tượng vĩnh viễn và tất yếu trong lịch sử, nhờ có chiến tranh mà thể trạng đạo đức của dân tộc được bảo tồn; chiến tranh bảo vệ các dân tộc tránh khỏi sự thối nát
Hêghen cho rằng, lịch sử là sự thống nhất giữa tính khách quan và tính chủ quan trong hoạt động của con người Nhưng lịch sử không diễn
ra theo ý muốn chủ quan của con người mà phát triển theo xu hướng tất
Trang 10ưu việt của thời đại này so với thời đại khác Nhưng ông hiểu tự do một cách duy tâm: tự do còn thể hiện trong sự hiểu biết và làm theo ý chúa
Tóm lại, vai trò lịch sử của triết học Hêghen là ở chỗ đã xây dựng được phép biện chứng, những vấn đề cốt lõi nhất của phép biện chứng hiện đại đã được ông đề cập đến một cách bao quát và sâu sắc Vì vậy, ông được Ph Ăng ghen đánh giá rất cao "ông không chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên trong mọi lĩnh vực ông xuất hiện ra là một người vạch thời đại"
Đánh giá về tư tưởng triết học của Heghen
Đóng góp: Nêu ra được các phạm trù và quy luật cơ bản của phép
biện chứng duy tâm ; Trình bày thế giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần
dưới dạng một quá trình vận động, biến đổi và phát triển; đồng thời cố gắng vạch ra mối liên hệ bên trong của nó
Hạn chế : Phép biện chứng duy tâm của Heghen là phép biện
chứng ngược đầu: Coi biện chứng của ý niệm sinh ra biện chứng của sự vật, chứ không phải ngược lại Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó
2 Lutvích Phoiơbắc (1804-1872)
Ông là nhà duy vật nổi tiếng của triết học cổ điển Đức, sinh năm
1804 trong một gia đình luật sư ở Đức Ông theo học trường đại học tổng hợp Beclin, tham gia nhóm Hêghen trẻ Về sau tách khỏi nhóm này trở thành người phê phán Hêghen, xây dựng hệ thống triết học, duy vật của mình Ông viết nhiều tác phẩm triết học, trong đó có những tác phẩm lớn như: "Phê pháp triết học Hêghen" (1839); "Bản chất của đạo đức thiên chúa", "Luận cương sơ bộ về cải cách triết học" (1842), "Những nguyên
lý của triết học tương lai" (1843), "Bản chất của tôn giáo", v.v Học thuyết triết học của ông thể hiện qua những nội dung chủ yếu sau: