Cĩ thể Triết Học mang đến sự khơ khan nếu chúng ta chỉ học Triết học để hồn tất các mơn trong Khĩa học mà quên rằng hiểu được những triết lý bên trong mơn học này là điều rất thú vị, Tri
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VĂN HÓA TINH THẦN NGƯỜI VIỆT.
GVHD : TS BÙI VĂN MƯA SVTH : MAI THỊ CHÍN
THÁNG 3 NĂM 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
YZ
Triết Học - một mơn học địi hỏi sự tư duy, nghiền ngẫm, nổ lực tìm tịi và nghiên cứu của sinh viên Cĩ thể Triết Học mang đến sự khơ khan nếu chúng ta chỉ học Triết học để hồn tất các mơn trong Khĩa học mà quên rằng hiểu được những triết lý bên trong mơn học này là điều rất thú vị, Triết học dạy chúng ta rất nhiều điều thâm thúy
về triết lý làm người v.v…
90 tiết học tuy là khoảng thời gian ngắn nhưng em đã được Thầy truyền đạt những
kiến thức quý báu về nội dung, về tư tưởng của mơn học này Tuy vẫn chưa hiểu được tất cả những triết lý sâu xa và tinh tế của mơn học nhưng em vẫn cảm nhận được những hữu ích mà mơn học đã mang lại
Em chân thành cảm ơn Thầy – TS Bùi Văn Mưa – Tiểu Ban Triết Học – Khoa Lý Luận Chính trị đã truyền đạt cho chúng em những kiến thức bổ ích cũng như những tiết học rất vui tươi Kính chúc Thầy luơn dồi dào sức khỏe và ngày càng đạt nhiều thành tựu trong lĩnh vực giảng dạy
Tp,HCM 3/2010
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Nho giáo có một vị thế hết sức to lớn trong đời sống xã hội Trung Quốc trong nhiều thế kỷ Nho giáo như là một thành tố văn hoá góp phần làm phong phú văn hoá Trung Quốc vốn được hình thành trên nền tảng của văn hoá Hán cùng với sự giao lưu tiếp xúc văn hoá với các tộc người khác Tuy nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử mất ngàn năm của Trung Quốc, Nho giáo được nhìn nhận hết sức khác nhau: có những giai đoạn lịch sử, người ta đề cao Nho giáo, coi đó như là chuẩn mực để xây dựng đời sống xã hội, lại có thời gian, người ta phê phán, bài bác, thậm chí phủ nhận Nho giáo Đương nhiên, khi đã coi Nho giáo như là một học thuyết thì việc xem xét, đánh giá trong các giai đoạn lịch sử cũng là việc làm bình thường
Ở Việt Nam trong những thập niên gần đây việc tìm hiểu Nho giáo có chiều hướng gia tăng Bên cạnh nhiều bộ sách kinh điển Nho giáo được tái bản, nhiều công trình nghiên cứu về Nho giáo lại càng trở nên càng thiết hơn, khi mà một số nước trong khu vực vốn chịu ảnh hưởng rất sâu đậm Nho giáo đang vươn lên thành những
“con rồng” Hai cuộc toạ đàm về Nho giáo diễn ra tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn giữa các nhà khoa học Mỹ và các nhà khoa học Việt Nam cũng không ngoài mục đích góp phần nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống Nho giáo
Nét đặc thù của triết học Trung Quốc nói chung hay Nho giáo nói riêng là có
xu hướng đi sâu vào giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị- đạo đức của xã hội
có nội dung bao trùm là con người, xây dựng con người, xã hội lý tưởng và con đường trị nước Ngay từ khi xâm nhập vào Việt Nam, Nho giáo đã nhanh chóng thích nghi và phát triển mạnh mẽ, sự ảnh hưởng, tác động của nó đến đời sống người Việt Nam rất sâu sắc không chỉ trong quá khứ mà vẫn còn tiếp tục phát huy đến ngày nay, góp phần phong phú thêm cho nền văn hóa Việt Nam Vì vậy, đề tài: “tư tưởng triết học của Nho giáo và những ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần người Việt” được thực hiện nhằm làm rõ hơn tư tưởng triết học chủ đạo của Nho giáo cũng như tầm ảnh hưởng sâu rộng của nó đến đời sống người Việt Nam trãi qua bao thế hệ
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO 5
1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TRUNG HOA CỔ ĐẠI 5
1.1.1 Hoàn Cảnh Ra Đời: 5
1.1.2 Đặc Điểm: 5
1.2 TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO 5
1.2.1 Lịch sử hình thành: 5
1.2.2 Các giai đoạn phát triển của nho giáo: 8
Chương 2: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NHO GIÁO 8
2.1 CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN CỦA NHO GIÁO 8
2.1.1 Ngũ Kinh: 8
2.1.2 Tứ Thư 9
2.2 TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NHO GIÁO 11
2.2.1 Tư tưởng triết học của Nho giáo nguyên thủy: 11
2.2.2 Tư tưởng triết học của Nho giáo thể hiện qua quan niệm về Đạo Đức:15 2.2.3 Tư tưởng triết học Nho giáo qua thái độ của Nho giáo đối với cuộc sống: 16 Chương 3: NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NHO GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN NGƯỜI VIỆT 18
3.1 Tiến trình du nhập của nho giáo vào Việt Nam 18
3.2 Ảnh hưởng Nho Giáo đến đời sống văn hóa tinh thần Người Việt 20
3.2.1 Ảnh hưởng của Nho giáo đến Việt Nam 20
3.2.2 Ảnh hưởng Nho giáo trong thời kỳ cách mạng dân tộc Việt Nam .20
3.2.3 Tư tưởng triết học nho giáo - nét văn hóa đặc trưng trong việc xây dựng đời sống gia đình mới Việt Nam ngày nay 21
3.3 KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 5Chương 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
Cư dân phía Bắc Trường Giang là dân tộc Hán, có nguồn gốc Mông Cổ (Hoa/Hạ) sống du mục, (thích săn bắn, chinh phục) Cư dân phía Nam Trường Giang
là các dân tộc Bách Việt, sống nông nghiệp (định canh, định cư) có nền văn hóa riêng nhưng dần dần bị dân tộc Hán đồng hóa Xã hội chia làm hai loại người (quân tử và tiểu nhân)…
Lịch sử Trung Hoa cổ đại đầy biến động, với các vương triều khác nhau đã để một nền văn hóa rực rỡ với nhiều trường phái triết học sâu sắc
• Các trường phái triết học khác nhau, vừa phê phán xung đột, vừa hấp thụ tư tưởng của nhau để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận của chính mình và chịu ảnh hưởng tư tưởng biện chứng trong kinh dịch
1.2 TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO
Trang 6đời trong xã hội Trung Quốc, chẳng hạn hệ thống gia tộc và sự thờ cúng ông bà, tổ tiên của nó, Khổng giáo đã trở thành hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất Trung Quốc, cùng tồn tại với Lão giáo (đạo) và Phật giáo qua nhiều thế kỷ Người sáng lập
ra nó đức Khổng Phu Tử (551-479 trước CN) một nhà cải cách chính trị cũng là một nhà giáo dục, ngài bất mãn với sự suy đồi đạo đức trong thời đại của mình và tìm cách khôi phục lại những giá trị mà ngài cho là những phong tục tốt đẹp của thời đại Hoàng Kim Những tư tưởng triết lý, đạo lý và tín ngưỡng đặt nền tảng cho một hệ thống đạo đức đã tồn tại qua nhiều thời gian thử thách
Trãi qua hơn hai nghìn năm, tư tưởng nho giáo ảnh hưởng đối với Trung Quốc không chỉ về chính trị, văn hóa mà còn thể hiện trong hành vi và phương thức tư duy của mỗi con người Trung Quốc Có học giả còn xem nho giáo là tư tưởng tôn giáo của Trung Quốc Trong thực tế, nho giáo là một trong rất nhiều trường phái thời cổ Trung Quốc, nó là tư tưởng triết học chứ không phải là tôn giáo và được coi là tư tưởng chính thống trong xã hội phong kiến hơn hai nghìn năm ở Trung Quốc và có ảnh hưởng tới một số nước ở Châu Á
1.2.2 Các giai đoạn phát triển của nho giáo:
Nho giáo nguyên thủy (tiền Tần/Khổng –Mạnh): Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của - Khổng Tử
là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh" Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành
Trang 7Hán Nho: Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký Hán Vũ
Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về
tư tưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy "pháp trị”
Tống Nho: Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư Tứ thư và ngũ kinh là kinh điển nho giáo Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di (Ở Việt Nam, thế kỷ thứ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học nên được gọi là "Trạng Trình") Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổng giáo" Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc
bổ sung các yếu tố "tâm linh" (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo giáo phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị)
Trang 8CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NHO GIÁO 2.1 CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN CỦA NHO GIÁO
Để hiểu được tư tưởng triết học của nho giáo lúc bấy giờ, cần điểm qua các tác phẩm kinh điển của Nho giáo gồm 02 (hai) bộ Ngũ Kinh và Tứ Thư Đây là hai bộ sách nổi tiếng mà hệ thống kinh điển đó hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ít viết về tự nhiên Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị, về đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia
2.1.1 Ngũ Kinh:
Giáo lý của Khổng Tử dựa trên sáu quyển sách cổ: Dịch, Thư, Thi, Lễ, Nhạc
Và Xuân Thu Bốn trong sáu quyển này được đề cao với từ “Kinh”- Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Nhạc Kinh vào thế kỷ thứ 2 trước CN, do bởi sách nhạc mất đi, năm cuốn còn lại được đặt tên là Ngũ Kinh
Kinh Thi là người bạn đồng hành của ngài Chắc hẳn ông ta đã thuộc lòng nó và hát nó Ngài đề cập hoặc trích dẫn nó khoảng 20 lần trong Luận Ngữ Kinh thi có 305 bài hát, bao gồm các bài hát ca tụng triều đại được hát ở triều đình nhà Chu và những bài dân ca khác biệt với những phần của đế chế nhà Chu Theo truyền thống, nhà vua phái các quan lại đi khắp nơi để thu thập các bài dân ca để ông ta có thể tìm hiểu về những gì người dân nghĩ suy nơi sự cai trị của mình
Khổng Tử giới thiệu Kinh Thi cho các môn sinh của ngài với một vài lý do Đầu tiên giúp cho họ hiểu được các phong tục, tập quán quốc gia khác nhau Thứ hai, giúp cho họ sống hòa thuận với người khác Thứ ba, nó là phương tiện hòa giải tình cảm của họ Cuối cùng, nó sẽ đưa họ đến với muôn thú và cỏ cây
Về “Kinh Thư” là sách ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ
“Kinh Dịch” là một cẩm nang về sự tiên đoán có từ đời nhà Chu và sau đó được các nhà uyên bác của đạo Khổng mở rộng Bằng cách vận dụng các cây que bằng cọng cỏ thì có thể tạo ra 64 ngôi sao sáu cánh, liên kết tất cả các cấu trúc này và biến đổi thành vũ trụ
Trang 9Không còn cốn sách “Lễ” nào tồn tại vào thời Khổng Tử Tuy vậy, cuốn Lễ ký chứa đựng các tư liệu vào đầu thời kỳ nhà Chu nhưng thực tế nó được biên soạn sau này, đưa ra tình huống cổ điển Cuốn sách này quan trọng của Lễ Nghi cũng như tạo cho nó có sự phù hợp với thời thế Ví dụ, khi một người trị vì qua đời, các quan lại và hầu thiếp đều bị chôn theo để linh hồn họ tiếp tục đi theo hầu hạ Sách lễ đã phản đối việc đó bằng cách dùng hàng mã thay thế, vừa đáp ứng cho mục tế lễ, vừa thể hiện tình cảm người sống dành cho người chết
“Kinh Xuân Thu” ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dục các bậc vua chúa Đây là cuốn kinh Khổng Tử tâm đắc nhất (Xuân thu có nghĩa là mùa xuân và mùa thu, ý nói những sự việc xảy ra)
2.1.2 Tứ Thư
Là bốn quyển sách kinh điển của văn học Trung Hoa được Chu Hy thời nhà Tống lựa chọn làm nền tảng cho triết học Trung Hoa và Khổng giáo Chúng bao gồm: Đại Học, Trung Dung, Luận ngữ, Mạnh Tử
“Đại học” là sách dùng để dạy cho học trò từ 15 tuổi trở lên, khi bước vào bậc đại học, dạy cho biết cách xử sự ở đời để lớn lên ra gánh vác việc nước
Theo các Nho gia, sách Đại Học do Tăng Tử làm ra để diễn giải các lời nói của Khổng Tử
Mục đích và tôn chỉ của sách này là nói về đạo quân tử, trước hết phải sửa cái đức của mình cho sáng tỏ để mọi người noi theo, làm sao cho đến chổ chí thiện Muốn được vậy, phải sử dụng Bát điều mục (tám điều): cánh vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Cái gốc của đạo quân tử là sự “tu thân” Cho nên trong sách Đại học có câu : “Tự thiên tữ dĩ chí ư thứ nhân, nhứt thị giai dĩ tu thân vi bổn” (Nghĩa là : “từ vua cho đến thường dân, ai ai cũng đều lấy sự sửa của mình làm gốc”)
“Trung Dung” là sách Trung Dung do Tử Tư làm ra Tử Tư là học trò của Tăng
Tử, cháu nội của Khổng Tử, thọ được cái học tâm truyền của Tăng Tử
Trong sách Trung Dung, Tử Tư dẫn những lời của Không Tử nói về đạo “trung dung”, tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa,
Trang 10không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh nhân
Cả hai quyển sách Đại Học và Trung Dung trước đây là những thiên trong Kinh Lễ, sau các Nho gia đời Tống tách riêng ra làm hai quyển để hợp với sách Luận Ngữ và Mạnh Tử thành bộ Tứ Thư
“Luận Ngữ” là sách sưu tập ghi chép lại những lời dạy của Không Tử và những lời nói của người đương thời Sách Luận Ngữ gồm 20 thiên, mỗi thiên đều lấy chữ đầu mà đặt tên, và các thiên không có liên hệ với nhau Đọc sách này, người ta hiểu được phẩm chất tư cách và tính tình của Khổng Tử, nhất là về giáo dục, ông tỏ ra
là người thấu hiểu tâm lý của từng học trò, khéo đem lời giảng dạy thích hợp với từng trình độ, từng hoàn cảnh của mỗi người Như có khi cùng một câu hỏi mà ông trả lời cho mỗi người mỗi cách
Luận Ngữ dạy đạo quân tử một cách thực tiễn, miêu tả tính tình đức độ của Khổng Tử để làm mẫu mực cho người đời sau noi theo
“Mạnh Tử” Sách Mạnh Tử là bộ sách làm ra bởi Mạnh Tử và các môn đệ của ông như : Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương… ghi chép lại những điều đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu, giữa Mạnh Tử và các học trò cùng với những lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết khác như : học thuyết của Mặc
Tử, Dương Chu Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, chia làm 2 phần: tâm học và chính trị học
Tâm học: Mạnh Tử cho rằng mỗi người đều có tính thiện do Trời phú cho Sự giáo dục phải lấy tính thiện đó làm cơ bản, giữ cho nó không mờ tối, trau dồi nó để phát triển thành người lương thiện Tâm là cái thần minh của Trời ban cho người Như vậy, tâm của ta với tâm của Trời đều cùng một thể Học là để giữ cái Tâm, nuôi cái Tính, biết rõ lẽ Trời mà theo chính mệnh Nhân và nghĩa vốn có sẳn trong lương tâm của người Chỉ vì ta đắm đuối vào vòng vật dục nên lương tâm bị mờ tối, thành
ra bỏ mất nhân nghĩa Mạnh Tử đề cập đến khí Hạo nhiên, cho rằng nó là cái tinh thần của người đã hợp nhất với Trời
Chính trị học : Mạnh Tử chủ trương: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh Đây là một tư tưởng rất mới và rất táo bạo trong thời quân chủ chuyên chế đang thịnh hành Mạnh Tử nhìn nhận chế độ quân chủ, nhưng vua không có quyền lấy dân làm
Trang 11của riêng cho mình Phải duy dân và vì dân Muốn vậy, phải có luật pháp công bằng, dẫu vua quan cũng không được vượt ra ngoài pháp luật đó Người trị dân, trị nước phải chăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân được sung túc, phải lo giáo dục dân để hiểu rõ luật pháp mà tuân theo, lấy nhân nghĩa làm cơ bản để thi hành Chủ trương về chính trị của Mạnh Tử vô cùng mới mẽ và táo bạo, nhưng rất hợp lý, làm cho những người chủ trương quân chủ thời đó không thể nào bắt bẻ được
Có thể đây là lý thuyết khởi đầu để hình thành chế độ quân chủ lập hiến sau này
2.2 TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NHO GIÁO
2.2.1 Tư tưởng triết học của Nho giáo nguyên thủy:
Là triết lý của Khổng Tử và Mạnh Tử về Đạo làm người quân tử và cách thức trở thành người quân tử, cách cai trị đất nước Nó được trình bày trong một hệ thống các tư tưởng về đạo đức – chính trị - xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau
Nho gia nguyên thủy cho rằng, nền tảng của xã hội, cơ sở của gia đình không phải là những quan hệ kinh tế - xã hội mà là những quan hệ đạo đức - chính trị tam cương là ba quan hệ vua –tôi, cha – con, chồng – vợ Các quan hệ này được Nho Gia gọi là Đạo Khi các quan hệ này chính danh, nghĩa là: vua ra vua, tôi ra tôi; cha ra cha, con ra con; chồng ra chồng, vợ ra vợ ; thì xã hội ổn định, gia đình yên vui; và ngược lại Xã hội thời Xuân Thu – Chiến Quốc loạn lạc, luân thường đạo lý suy đồi,
kỹ cương phép nước lỏng lẽo là do ba quan hệ này rối loạn, do danh – thực oán trách nhau, nghĩa là vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi; cha chẳng ra cha, con chẳng ra con; chồng chẳng ra chồng, vợ chẳng ra vợ Vì vậy muốn cải loạn thành trị, muốn thực hiện xã hội đại đồng thì phải chấn chỉnh lại ba quan hệ đó và Nho gia nguyên thủy đã lấy giáo dục đạo đức làm cứu cánh
Bên cạnh việc giáo dục để xây dựng một xã hội đại đồng, Khổng Tử và Mạnh
Tử còn tìm chỗ dựa vững chắc cho lý luận đạo đức của mình qua thuyết Thiên Mệnh Xuất phát từ vũ trụ quan của kinh Dịch, Khổng Tử cho rằng, vạn vật không ngừng biến hóa theo một trật tự không gì cưỡng lại được, mà nền tảng tận cùng là Thiên Mệnh và hiểu biết được Thiên mệnh là điều kiện tiên quyết để trở thành người hoàn thiện
Trang 12Dựa trên thuyết Thiên mệnh, Khổng Tử cho rằng: “ thiên mệnh chi vị tính, xuất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo, và tính tương cận, tập tương viễn Điều này có nghĩa là: con người có tính người, tính người do trời phú, sự phú cái tính ấy về cơ bản
là đồng đều ở mỗi con người Nhưng trong cuộc sống,do điều kiện, hoàn cảnh, môi trường khác nhau, do những tập quán, tập tục không giống nhau mà người này khác
xa người kia Vậy, tập là nguyên nhân làm biến tính con người, mất đi bản tính trời phú, làm cho con người vô đạo, thiên hạ vô đạo Vì vậy, muốn giữ được tính người phải lập đạo, làm cho thiên hạ hữu đạo
Đạo phải đi cùng với giáo mới sâu sắc, vững bền Hữu đạo là thể hiện mối quan
hệ giữa người với người, giữa người với trời đất – vạn vật một cách đúng đắn phù hợp với Thiên mệnh Khổng Tử cho rằng, nếu lập đạo của trời, nói về âm dương, nếu lập đạo của đất thì nói về cương nhu, còn lập đạo của người thì nói đến nhân nghĩa Quan niệm về nhân nghĩa là quan niệm trung tâm của đạo đức nho gia nguyên thủy Chúng hợp với các quan niệm khác tạo thành hệ thống phạm trù đạo đức của phái này: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng
• Quan niệm về Nhân:
- Theo Khổng Tử: nhân là lòng hương người (ái nhân) Muốn thực hiện đạo làm người tức muốn thực hiện đức nhân cần phải: điều gì mà mình không muốn thì cũng đừng đem áp dụng cho người khác; mình muốn lập thân thì cũng giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt; khống chế mình theo đúng lễ…người có đức nhân thì bên ngoài xã hội luôn cung, khoan, tín mẫn, huệ (cung kính, khoan hòa, tín nhiệm, nhạy bén, rộng rãi)…, bên trong gia đình luôn hiếu, đễ (hiếu thảo, nhường nhịn)…
- Quan niệm về nhân của Khổng Tử có nội dung giai cấp, Ông cho rằng chỉ có người quân tử, kẻ cai trị mới có được đức nhân
• Quan niệm về nghĩa:
- Theo Nho gia, nếu nhân là lòng thương người, đức nhân dùng để đối xử với người và tạo ra người, thì nghĩa là dạ thủy chung, đức nghĩa dùng để đối xử chính và tạo ra ta Đức nhân thể hiện trong mối quan hệ với người thì đức nghĩa thể hiện trong mối quan hệ với mình Khi làm việc gì hoặc nói điều gì ta thấy tâm thảnh thơi, thoải mái và hứng thú thì đó là làm điều nghĩa và nói điều
Trang 13nghĩa Vậy, nghĩa được hiểu là những gì hợp đạo lý mà con người phải làm bất
kể điều đó có đem đến lợi ích cho người thực hiện việc đó hay không
- Song, do hạn chế bởi lập trường giai cấp mà khổng Tử cho rằng, bậc quân tử tin tường việc nghĩa, kẻ tiểu nhân rành rẽ việc lợi Tiểu nhân và quân tử là hai loại người đối lập nhau không phải chủ yếu về địa vị xã hội mà chủ yếu là phẩm chất đạo đức
• Quan niệm về Lễ:
- Để đạt được nhân, lập lại trật tự, khôi phục lại kỷ cương cho xã hội Khổng Tử chủ trương phải dùng lễ lễ xác định được vị trí, vai trò của từng người, phân định trật tự, kỷ cương trong gia đình và ngoài xã hội; loại trừ những tật xấu và tạo ra những phẩm chất cá nhân mà xã hội đòi hỏi
- Theo Khổng Tử lễ được hiểu ở hai khía cạnh Thứ nhất, lễ được hiểu là lễ giáo phong kiến như những phong tục, tập quán; những qui tắc, qui định về trật tự
xã hội; thể chế, pháp luật nhà nước như: sinh, tử, tang, hôn, tế lễ, luật lệ, hình pháp…; thứ hai, lễ được hiểu là luân lý đạo đức như ý thức, thái độ, hành vi ứng xử, nếp sống của mỗi con người trong cộng đồng xã hội trước lễ nghi, trật
tự, kỹ cương phong kiến
- Nhân và lễ có mối quan hệ mật thiết với nhau Khổng tử cho rằng trên đời này không tồn tại người có nhân mà vô lễ
Ngoài Nhân, Lễ, Nghĩa, Nho gia còn nói đến trí là sự sáng suốt để nhận thức mọi vấn đề, hiểu đạo trời, hiểu đạo người, hiểu cả thiên hạ và biết sống với nhân; tín tức là nói đến lòng ngay, dạ thẳng, lời nói và việc làm nhất trí với nhau
Nếu Khổng Tử chú trọng đến Tam Đức (nhân, trí, dũng) thì Mạnh Tử xem Tứ Đức (nhân, lễ, nghĩa, trí) là những chuẩn mực đạo đức hoàn thiện hơn Dựa vào thuyết Thiên Mệnh Người cho rằng: “ nhân chi sỏ, tính bản thiện” – con người sinh ra
đã có sẳn tính thiện trong người, do người có nhân, lễ, nghĩa & trí Tâm là cội nguồn tính thiện trong con người Vì vậy, con người phải trường kỳ tâm dưỡng kỳ tính nghĩa
là giữ gìn cái tâm thiện ấy Mặc dù vậy, trong cuộc sống vẫn tồn tại cái ác mê hoặc lòng người, làm đảo điên trật tự, kỹ cương của xã hội Để giữ được trật tự kỹ cương phải thực hành đường lối nhân nghĩa
Trang 14Tất cả những điều nêu trên là nguyên tắc cơ bản của đạo đức Nho giáo mà người quân tử phải biết tu thân để đạt đạo Người quân tử phải đạt được chín điều: nhìn cho minh bạch, nghe cho rõ ràng, sắc mặt phải ôn hòa, tướng mạo phải trang nghiêm, khi tức giận phải nghĩ hậu quả, nói năng trung thận, làm việc phải trọng tín cẩn, nghi hoặc phải hỏi han, khi thấy lợi phải nghĩ đến nghĩa Đó là những chuẩn mực xây dựng nên mẫu người quân tử trong xã hội
Không riêng bậc quân tử mới biết tu thân, đạt đạo và hành đạo để trở thành mẫu người chuẩn mực Quan niệm về người phụ nữ trong tư tưởng Nho giáo ràng buộc bởi Tam tòng, Tứ đức
“Tam Tòng” là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: ”tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Nghĩa là người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha,lúc lấy chồng phải theo chồng, chồng mất phải theo con
“Tứ Đức” muốn nói đến bốn tính nết tốt mà người phụ nữ phải có, gồm: công dung, ngôn, hạnh Người phụ nữ phải khéo léo trong việc làm, hòa nhã trong sắc diện, mềm mại trong lời nói và nhu mì trong tính nết
Như vậy, Khổng Tử và Mạnh Tử đều nhất trí coi chuẩn mực đạo đức là tiêu chuẩn của người quân tử, muốn trở thành người quân tử phải biết tu thân Để tu thân cần phải đạt đạo, đạo chính là con đường phải theo, là quan hệ mà con người phải biết ứng xử trong cuộc sống Đó chính là đạo quân – thần, phụ - tử, phu – phụ Bên cạnh đó còn phải đạt đức là những phẩm chất tốt đẹp mà con người thể hiện trong cuộc sống Người quân tử còn phải biết: thi, thư, lễ, nhạc
Tóm lại, xuyên suốt quan điểm đạo đức – chính trị - xã hội của Khổng Mạnh là xây dựng mẫu người quân tử Người quân tử phải biết tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức nghĩa là phải biết tu thân và không chỉ có tu thân mà còn phải biết hành động tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Muốn hành động hiểu quả phải thực hành đường lối nhân trị - cai trị bằng tình người, yêu thương và xem như bản thân mình; và chính danh
Nho giáo nguyên thủy đã khát khao biến xã hội từ loạn thành trị Điều này toát lên tính nhân bản sâu sắc Nó đòi hỏi người cai trị - người quân tử là người có vốn văn hóa toàn diện Nho giáo nguyên thủy xây dựng xã hội đại đồng không dựa trên nền tảng kinh tế - xã hội, không xuất phát từ nền sản xuất vật chất mà chủ yếu dựa