1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TRIẾT học tư TƯỞNG về CON NGƯỜI TRONG TRIẾT học cổ điển đức ý NGHĨA đối với VIỆC PHÁT HUY NHÂN tố CON NGƯỜI ở VIỆT NAM

26 575 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 36,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng về con người và giải phóng con người là một trong những nội dung cơ bản mà các trào lưu triết học nói chung, triết học Mác nói riêng đều tập trung giải quyết. Tuy nhiên, ở mỗi thời đại lịch sử vấn đề đó được đặt ra và giải quyết trong những bối cảnh và nội dung khác nhau tuỳ thuộc vào thế giới quan và nhân sinh quan của các nhà triết học.

Trang 1

TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC - Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ HIỆN THỰC CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI Ở NƯỚC TA

HIỆN NAY

MỞ ĐẦU

Tư tưởng về con người và giải phóng con người là một trong những nộidung cơ bản mà các trào lưu triết học nói chung, triết học Mác nói riêng đềutập trung giải quyết Tuy nhiên, ở mỗi thời đại lịch sử vấn đề đó được đặt ra

và giải quyết trong những bối cảnh và nội dung khác nhau tuỳ thuộc vào thếgiới quan và nhân sinh quan của các nhà triết học

I ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ NÔI DUNG CƠ BẢN CỦA

TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC 1.1 Hoàn cảnh ra đời của triết học cổ điển Đức

Khái niệm “Triết học cổ điển Đức” dùng để chỉ sự phát triển triết họccủa nước Đức ở nửa cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, được mở đầu

từ hệ thống triết học của Cantơ (1724 - 1804) trải qua Phíchtơ (1762 - 1814),Sêlinh (1775 - 1854) đến triết học duy tâm của Hêghen (1770 -1831) và triếthọc duy vật nhân bản của Phoiơbắc (1804 - 1872)

Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử tưtưởng Tây Âu và thế giới cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX Đây là đỉnh caocủa thời kì triết học cổ điển phương Tây, đồng thời có ảnh hưởng to lớn tớitriết học hiện đại

Triết học cổ điển Đức ra đời và phát triển trong những điều kiện của chế

độ chuyên chế nhà nước Phổ và nó là sự bảo vệ về mặt tư tưởng cho chế độ

đó Thời kì cuối thế kỉ XVIII, cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789) ảnh hưởngmạnh đến nước Phổ, và Hêghen là một người tán dương cuộc cách mạng đó.Đồng thời xã hội Phổ lúc này với những điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt đã

Trang 2

làm nảy sinh hệ tư tưởng có tính chất tiểu tư sản, thỏa hiệp Tất cả cái đó tạonên nét riêng của triết học cổ điển Đức.

Do điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội hết sức đặc biệt của nước Đứccuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, triết học cổ điển Đức chứa đựng một nộidung cách mạng, nhưng hình thức của nó thì cực kì “rối rắm” và có tính chấtbảo thủ

Triết học cổ điển Đức ra đời trong điều kiện lịch sử hết sức đặc biệt.Nước Đức vào cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX vẫn là một nước rất lạchậu về kinh tế và chính trị so với nhiều nước ở châu Âu như Anh và Pháp Đócòn là một quốc gia phong kiến điển hình, với 360 tiểu vương quốc tự lậptrong một liên bang Đức chỉ còn là hình thức, lạc hậu về kinh tế và chính trị.Thủ công nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp bị đình đốn Triều đình vua PhổPhriđrich Vinhem (1770 - 1840) vẫn tăng cường quyền lực duy trì chế độquân chủ phong kiến, cản trở đất nước Đức phát triển theo con đường tư bảnchủ nghĩa Cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quầnchúng Đây là một trong những thời kì hèn kém nhất trong lịch sử nước Đức(Ăngghen)

Trong khi đó, chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập ở một số nước Tây Âunhư Italia, Anh, Pháp…, đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có Ởnước Pháp đã tiến hành cuộc cách mạng tư sản, ở nước Anh thực hiện cuộccách mạng công nghiệp làm rung chuyển cả châu Âu, đưa châu Âu bước vàonền văn minh công nghiệp Tấm gương của các nước Tây Âu đã thức tỉnh tinhthần phản kháng cách mạng của giai cấp tư sản Đức và những bộ phận tiến bộkhác của xã hội Đức Nhưng vì giai cấp tư sản Đức và những lực lượng tiến

bộ khác nằm rải rác ở những vương quốc nhỏ tách rời nhau, nhỏ bé về sốlượng, yếu kém về kinh tế và chính trị nên không thể tiến hành cách mạng tưsản trong thực tiễn, mà chỉ tiến hành cuộc cách mạng về phương diện tư

Trang 3

tưởng Họ muốn thỏa hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc Phổ, giữ lậptrường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề phát triển đất nước.

Tuy lạc hậu về kinh tế và chính trị, nước Đức thời kì này đạt được sựphát triển chưa từng có về triết học, văn hóa và nghệ thuật Đây là quê hươngcủa nhiều nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thế giới như Hecđơ, Gớt,Sinlơ, Cantơ… Họ, một mặt, tiếp thu những di sản tư tưởng và văn hóa Đứctruyền thống, kế thừa các quan niệm của Nicôlai Kudan, Lepnit…, mặt khác,được sự cổ vũ to lớn của tư tưởng Khai sáng và văn hóa Pháp thế kỉ XVIII.Cách mạng tư sản Pháp (1789 -1794) là hậu thuẫn thực tiễn thức tỉnh giai cấp

tư sản Đức đấu tranh vì một trật tự xã hội mới ở Đức Thể hiện nguyện vọng

đó của giai cấp tư sản, các tác phẩm của Gớt, Sinlơ, Cantơ, Phíchtơ… đềutoát lên một tinh thần phẫn nộ chống lại sự trì trệ và bất công của xã hội Đứcthời đó

Trước đòi hỏi của quá trình phát triển phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa ở các nước Tây Âu, khoa học tự nhiên đã đạt nhiều thành tựu lớn: Pháthiện ra điện, phát hiện ra ôxy và bản chất sự cháy của Antoine Lavoisier, việcphát hiện ra tế bào của Robert Hooke, định luật bảo toàn và chuyển hóa nănglượng của Lômônôxốp, học thuyết về dưỡng khí của Pritski và Sielo

Bối cảnh chính trị - xã hội và sự phát triển của khoa học ở Tây Âu vànước Đức lúc đó chứng tỏ sự hạn chế và bất lực của phương pháp tư duy siêuhình trong việc lý giải bản chất của các hiện tượng tự nhiên và thực tiễn xãhội đang diễn ra cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX Nó đòi hỏi cần có cáchnhìn mới về bản chất các hiện tượng tự nhiên và tiến trình lịch sử nhân loại,cũng như cần có quan niệm mới về khả năng và vai trò của con người Triếthọc cổ điển Đức ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đó

1.4.2 Đặc điểm Triết học cổ điển Đức

Trang 4

- Triết học cổ điển Đức chứa đựng một nội dung cách mạng nhưng hìnhthức của nó cực kỳ “rối rắm”, bảo thủ Đặc điểm này thể hiện rõ nét nhấttrong triết học của

Cantơ và Hêghen

- Đề cao vai trò tích cực của hoạt động con người, coi con người là mộtthực thể hoạt động, là nền tảng và điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học.Con người là chủ thể đồng thời là kết quả của quá trình hoạt động của chínhmình; tư duy và ý thức của của con người chỉ có thể phát triển trong quá trìnhcon người nhận thức và cải tạo thế giới

- Tiếp thu tư tưởng biện chứng trong triết học cổ đại, triết học Đức xâydựng phép biện chứng trở thành phương pháp luận triết học độc lập vớiphương pháp tư duy siêu hình trong lĩnh vực nghiên cứu các hiện tượng tựnhiên và xã hội Giả thuyết hình thành vũ trụ của Cantơ; việc phát hiện ranhững quy luật và phạm trù của Hêghen đã làm cho phép biện chứng trởthành một khoa học thực sự mang ý nghĩa cách mạng trong triết học Đây làmột đặc điểm nổi bật của triết học cổ điển Đức

- Với cách nhìn bao quát, biện chứng, nhiều nhà triết học Đức có thamvọng xây dựng một hệ thống triết học vạn năng không những làm nền tảngcho thế giới quan của con người mà còn trở thành một thứ khoa học của cáckhoa học Do vậy, trong học thuyết triết học của Cantơ, Duyrinh, Hêghenthường bàn đến nhiều vấn đề như: khoa học tự nhiên, pháp quyền, lịch sử,luân lý, mỹ học

1.2 Nôi dung cơ bản của tư tưởng về con người trong triết học cổ điển Đức

1.2.1 Tư tưởng về con trường trong triết học của Cantơ

Khác hẳn với các nhà triết học Anh, Pháp, Cantơ không chỉ bàn đến lĩnhvực bản thể luận, nhận thức luận mà còn bàn đến con người với tính cách làmột chủ thể hoạt động Trong tác phẩm “Phê phán lý tính thực tiễn” Cantơ đã

Trang 5

đưa ra quan điểm như sau: Con người là chủ thể hoạt động là nền tảng và làđiểm xuất phát của mọi vấn đề triết học Con người vừa là chủ thể, đồng thời

là kết quả quá trình hoạt động của chính mình Bản thân lịch sử là phươngthức tồn tại của con người Mỗi cá nhân hoàn toàn làm chủ vận mệnh củamình và tự ý thức về mình Bên cạnh quan điểm tiến bộ đó, Cantơ cùng bộc lộhạn chế ở chỗ, đề cao sự mạnh trí tuệ của con người tới mức cực đoan: sángtạo ra các quy luật của thế giới Thần thánh hóa con người tới mức coi bảnthân thế giới tự nhiên phải hoạt động theo ý chí con người

Về lĩnh vực nhận thức con người, khi nghiên cứu triết học Cantơ, người

ta cũng có thể thấy rất rõ thái độ trân trọng của ông đối với con người và lý trícon người Chỉ có điều, là một nhà triết học độc đáo nên việc đề cao conngười ở Cantơ cũng rất khác biệt so với các nhà tư tưởng khác Theo Cantơ,

"thế giới vật tự nó" là thế giới dành cho cảm giác

Do vậy, thế giới đó đóng kín đối với lý tính và đối với khoa học Tuythế, theo cách giải thích của Cantơ, đối với "thế giới vật tự nó", con ngườikhông phải là tuyệt nhiên không thể vươn tới được Bởi lẽ, con người, trongquan niệm của Cantơ, luôn sống trong cả hai thế giới - thế giới mà cảm giác

có thể đạt tới và thế giới mà trí tuệ có thể đạt tới (còn gọi là thế giới khả giác

và thế giới khả niệm)

Thế giới mà cảm giác có thể đạt tới, theo Cantơ, đó là giới tự nhiên Cònthế giới mà trí tuệ đạt tới - đó là thế giới của tự do Tự do trong quan niệm củaCantơ là một trạng thái mà ở đó, con người hoàn toàn không bị lệ thuộc vàonhững nguyên nhân tiền định nào đó vốn có trong thế giới có thể cảm giácđược Tự do là khả năng tiên nghiệm đặc biệt cho phép giác tính con ngườihoạt động độc lập với các quy luật tất yếu của tự nhiên trong lĩnh vực hiệntượng luận, nó tồn tại một cách tương đối trong lĩnh vực hiện tượng luận.Trong biên giới của tự do, hành động và hành vi của con người không bị chiphối bởi lý tính lý luận mà bị chi phối bởi tính thực tiễn Lý tính được gọi là

Trang 6

thực tiễn, theo Cantơ, là lý tính mà ý nghĩa chủ yếu của nó là điều chỉnh hành

vi con người Động lực của lý tính thực tiễn không phải là tư duy, mà là ý chícủa con người Cantơ gọi ý chí của con người là vương quốc của sự tự trị ởđây, ý chí của con người được quy định không phải bởi các nguyên nhân bênngoài, tức là những nguyên nhân thuộc về tính tất yếu của giới tự nhiên hoặcnhững nguyên nhân thuộc về Thượng đế Theo Cantơ, ý chí của con ngườiđược quy định bởi những quy luật, luật lệ vốn có của riêng nó Đó là nhữngquy luật, luật lệ mà ý chí tự đặt ra cho bản thân mình

Như đã nói ở trên, chính Cantơ chứ không phải ai khác, là người đầu tiên

đã đề xuất và "bảo vệ một cách quyết liệt nhất" việc phân chia nhân học thànhmột khoa học độc lập Trong so sánh với các lĩnh vực tri thức đã được xáclập, Cantơ coi nhân học, mà trước hết là nhân học triết học (philosophicalanthropology) là một ngành có đối tượng riêng của mình, có phương thứcnghiên cứu riêng của mình Theo P.S Gurevich, “nhà nghiên cứu sâu sắc hơn

cả trong tư tưởng Nga hiện đại về vấn đề con người” , thì "Cantơ là người đầutiên của nền triết học châu Âu khẳng định rằng, con người là một thực thể độcnhất vô nhị có khả năng suy tư một cách riêng biệt và độc đáo Con người - làkhách thể bí ẩn và hấp dẫn tột cùng của sự tư biện triết học Để khám phá bí

ẩn của con người, cần phải có những công cụ không tầm thường và độc lập.Trong ý nghĩa đó, nhân học triết học đối lập với khu vực tri thức triết họctruyền thống - bản thể luận (học thuyết về tồn tại), logic học, lý luận nhậnthức, lịch sử triết học, đạo đức học, thầm mỹ học, triết học tự nhiên, triết học

xã hội, triết học lịch sử” Với Cantơ, nhận thức con người cũng có nghĩa lànhận thức thế giới; chỉ có thông qua con người, các vấn đề của nhận thức thếgiới, xã hội mới được giải quyết Cantơ viết: "Mục tiêu của tất cả những thànhtựu văn hoá mà con người học được là ứng dụng những tri thức và nhữngkinh nghiệm đã thu nhận được vào thế giới Nhưng đối tượng quan trọng nhấttrong thế giới mà những tri thức này có thể ứng dụng được - đó là con người,

Trang 7

chừng nào con người còn là mục đích tự thân cuối cùng" Khi xác định nhiệm

vụ cho triết học, Cantơ tự đặt cho riêng mình 4 câu hỏi mà về sau người tahiểu đó là 4 nội dung cơ bản của toàn bộ nhận thức con người:

tôn giáo phải cắt nghĩa nhữnghy vọng thực tế và phi thực tếcủa con người Và cuối

cùng, nhiệm vụ trả lời câu hỏi thứ tư thuộc về nhân học - nhân học, màngay trong cách đặt vấn đề của Cantơ cũng đã được phân biệt rạch ròi vớinhận thức luận, với đạo đức học và với tôn giáo Rõ ràng, đây là một kiểuphân loại hết sức độc đáo mà trước đó, khoa học, tôn giáo và triết học thường

có thái độ loại trừ nhau, không thừa nhận tiếng nói và vị thế của nhau trongđời sống tinh thần con người Cách phân loại của Cantơ đặt lại vấn đề về ýnghĩa của sự tồn tại người trong chính nhận thức Hơn thế nữa, Cantơ còn chỉ

rõ thực chất của sự nhận thức thế giới nói chung đối với con người, hoá ra lạichính là, nhận thức con người; Cantơ viết: "Về thực chất, toàn bộ điều đó (4câu hỏi và sứ mệnh trả lời 4 câu hỏi ấy) có thể quy giản về nhân học Bởi vì,

ba vấn đề đầu tiên thuộc về vấn đề cuối cùng"

Kể từ Cantơ, nhân học triết học nói riêng và đặc biệt, các ngành nhânhọc thực nghiệm khác đã có những bước tiến rất dài trong nhận thức về conngười và đời sống con người Ngày nay, nhắc đến nhân học người ta rất ít nói

về Cantơ, nhưng quả thực công lao của ông đối với ngành khoa học này thìkhó có thể phủ nhận

Trang 8

Quan niệm về đạo đức: Để trả lời câu hỏi “Tôi cần phải làm gì?” Cantơ

đã xây dựng một số quan niệm về đạo đức, những quan niệm đó chứa

Ông còn cho rằng: Tự do là phạm trù trung tâm của đạo đức, là lý tưởngcao cả nhất của nhân loại, là cái cao quý nhất trên trần gian

Quan điểm đạo đức tuy có nhiều điểm không tưởng phi lịch sử, phi giaicấp, thiếu cơ sở hiện thực nhưng chứa đựng nhiều tư tưởng nhân đạo sâu sắc

vì nó góp phần xóa bỏ quan niệm ích kỷ hẹp hòi, giải phóng tư tưởng conngười khỏi gông cùm của ý thức hệ phong kiến

1.2.2 Tư tưởng về con trường trong triết học của Heghen

Ông chịu ảnh hưởng rất lớn từ tư tưởng của Cantơ, một phần từ các tácphẩm của Heraclitus và Spinoza Ông triển khai di sản triết học của Cantơ vàhình thành nên thuyết duy tâm siêu hình học của mình

Ông đề cập về con người và khả năng lớn lao của lý trí con người Hegel

đã thiết lập mệnh đề tổng quát rằng “cái gì có lý tính là hiện thực và cái gìhiện thực là lý tính”, từ mệnh đề này ông đi đến kết luận rằng bất cứ cái gì tồn

Trang 9

tại đều có thể hiểu được Điều này ông đi ngược lại với những gì mà Cantơ đã

đề cấp đến nhưng cho là không thể giải quyết được trong nhận thức của lý tríthuần tuý như: Vấn đề Thượng Đế, Bản Ngã và Vũ trụ Bằng tổng hợp triếthọc đồ sộ của mình, Hegel tin lý trí con người có thể lý giải tất cả mọi vấn đềcủa thực tại

Riêng vấn đề con người, khác với Cantơ, Hegel cho rằng các phạm trùkhông phải như là những quá trình của tinh thần mà như là những thực tạikhách quan có sự tồn tại độc lập với cá thể tư duy Ông xem xét những chủ đề

về sự tha hóa của con người khỏi Thượng Đế và sự phục hồi của sự duy nhất

bị đánh mất giữa cái hữu hạn và cái vô hạn, sự vô hạn này là đời sống sángtạo vốn ôm ấp mọi tư tưởng trong một vũ trụ duy nhất và đó chính là Thượng

Đế hay Toàn Thể hoặc là Thực tại như là một toàn thế

Trong tác phẩm chính đầu tiên của ông là Hiện tượng luận về tinh thần(Phenomenology of the Spirit), Hegel đề cập đến khả năng biện chứng củacon người, “khởi đi với những mức độ thấp nhất của ý thức và công trình củacon người một cách biện chứng hướng đến mức độ mà ở đó tâm trí con ngườiđạt tới quan điểm tuyệt đối”

1.2.3 Tư tưởng về con trường trong triết học của Phoiơbắc

Vốn là người có tư tưởng cách tân, Phoiơbắc mơ tới việc thiết kế những

đồ án cho việc cải cách triết học và ông thực sự đã làm như vậy trong 2 tácphẩm: Những luận điểm dự thảo cho cuộc cải cách triết học (1842), Nhữngluận đề cơ bản của triết học tương lai (1843) Trong các tác phẩm đó ông đãkhai mở một hướng đi mới cho các nhà triết học hậu thế, đó là truy tìm bí mậtcủa triết học ngay trong giới tự nhiên và con người: “Hãy quan sát giới tựnhiên và con người, bạn sẽ thấy trong đó những bí mật của triết học" “Quanđiểm của tôi chỉ có thể biểu đạt trong hai từ: Giới tự nhiên và con người" Vớicách đặt vấn đề như vậy, người thiết kế đồ án triết học mới này đi sâu vàoviệc nghiên cứu bản chất con người bắt đầu từ việc truy tìm:

Trang 10

1) mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên,

2) mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại,

3) mối quan hệ giữa người và người,

4) mối quan hệ giữa người và thần

Tiếp thu những thành tựu của khoa học tự nhiên trên nền tảng của chủnghĩa duy vật nhân bản, Phoiơbắc cho rằng, con người không phải là sảnphẩm của thượng đế như các nhà thần học quan niệm, nó cũng không phải là

sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối như Heghen nói, mà là sản phẩm của giới tựnhiên, ông viết: "Giới tự nhiên là ánh sáng, điện từ, từ tính, không khí, nước,lửa, đất, động vật, thực vật, là con người, bởi vì con người là một thực thểhoạt động thiếu tự chủ và vô thức" Như vậy, sự phát sinh và tồn tại của conngười cũng giống như sự phát sinh và tồn tại của của các hiện tượng tự nhiênkhác, chỉ có điều khác là: con người là sản phẩm tiến hoá cao nhất của giới tựnhiên, là một sinh vật bậc cao, có tính vượt trội so với các loài động vật khác

ở đời sống tinh thần của nó: "Sự khác biệt căn bản giữa loài người và loài vật

là gì? Câu trả lời chung rất đơn giản là: đó là sự khác nhau trong ý thức đúngvới nghĩa chân chính của từ này Bởi ý thức theo nghĩa chính xác chỉ có ởchỗ, khi chủ thể có khả năng nhận thức được loài của mình, bản chất củamình Động vật nhận thức mình như một cá thể, nó chỉ làm chủ được quátrình tự cảm giác mà thôi, chứ không phải như một loài bởi vậy, động vậtsống đơn giản một mình, còn con người sống có bạn Đời sống nội tâm củacon vật hoà đồng với thế giới bên ngoài, còn con người sống với cả hai chiều:nội tâm và thế giới bên ngoài Đời sống nội tâm của con người liên quan mậtthiết với loài và bản chất của nó Con người suy nghĩ, bàn luận và nói vớichính mình"

Toàn bộ mối quan hệ giữa giới tự nhiên và con người phản ánh mối quan

hệ giữa thế giới vô cơ và thế giới hữu cơ, phản ánh tiến trình tiến hoá của sựsống, theo nghĩa thế giới vô cơ là tiền đề, là cơ sở nền tảng của mọi sự sống

Trang 11

nói chung, của đời sống con người nói riêng Con người chỉ có thể tồn tạitrong giới tự nhiên, trong sự tiếp xúc với thế giới khách quan bên ngoài nó, vàcũng chính thế giới này quy định sự tồn tại và phát triển của các giác quancon người chứ không phải ngược lại như chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳngđịnh Ánh sáng tồn tại không phải để cho con mắt nhìn, mà con mắt tồn tạibởi vì có ánh sáng, tương tự như vậy, không khí tồn tại không phải để cho conngười hít thở mà con người hít thở bởi vì có không khí, bởi vì, nếu không cókhông khí thì sẽ không có sự sống Tồn tại một mối quan hệ tất yếu giữa thếgiới vô cơ và thế giới hữu cơ Mối quan hệ qua lại này chính là cơ sở, là bảnchất của sự sống Bởi vậy, chúng ta không có căn cứ nào để giả định rằng,nếu như con người có nhiều cảm giác hay nhiều cơ quan thì nó sẽ hiểu biếtđược nhiều thuộc tính hay nhiều sự vật của tự nhiên hơn con người có vừa

đủ những giác quan cần thiết để cảm nhận thế giới trong tính toàn vẹn và tínhtổng thể của nó

Từ việc quan sát hình thể bên ngoài của con người,.cho đến mọi hoạtđộng lao động sản xuất cũng như hoạt động tinh thần của nó, Phoiơbắc chorằng, con người là một sinh vật có hình thể vật lý -sinh lý ở trong không gian

và thời gian, nhờ vậy nó có năng lực quan sát và suy nghĩ vượt trội so với cácloài sinh vật khác Bản chất con người là một cái gì đó thống nhất toàn vẹngiữa hai phương diện thể xác (tồn tại) và tinh thần (tư duy) Sự thống nhấttoàn vẹn này đảm bảo cho con người có thể tồn tại và phát triển như một sinhvật cao nhất, hoàn thiện nhất trong mọi sinh vật hiện có.Và sai lầm của chủ

óc, nghĩa duy tầm là sự toan tính thủ tiêu sự thống nhất toàn vẹn đó của conngười, tách rời tư duy con người khỏi tồn tại của nó, biến tư duy thành mộtthực thể siêu tự nhiên có khả năng sáng tạo nên thế giới vật chất Còn sai lầmcủa chủ nghĩa nhị nguyên là đánh đồng tư duy và tồn tại, coi chúng nhưnhững thực thể tồn tại độc lập bên cạnh nhau đó là một sụ khẳng định vòng

vo, là lối nói nửa vời, tách đôi trái ngược

Trang 12

Phê phán những quan điểm sai lầm của chủ nghĩa duy tầm và chủ nghĩanhị nguyên trong việc tách đôi thể xác và tinh thần, tồn tại và tư duy,Phoiơbắc đã thừa nhận một cách dứt khoát rằng quan hệ thực sự của tồn tạiđối với tư duy là tồn tại - chủ thể, tư duy - thuộc tính Tư duy xuất phát từ tồntại, chứ không phải tồn tại xuất phát từ tư duy cơ sở của tồn tại nằm ngaytrong tồn tại chính là cảm tính, là nguyên lý trí tuệ là sự tất yếu và chân lý bản chất của tồn tại với tư cách một tồn tại chính là bản chất của giới tựnhiên Tại sao tồn tại là chủ thể, còn tư duy là thuộc tính (của chính chủ thểđó)? Để trả lời câu hỏi này, theo Phoiơbắc, chúng ta cần đến từ đâu đến, bộ óc

từ đâu đến, cơ quan cơ thể từ đâu đến, thì tinh thần cũng đến từ đấy ngay cảhoạt động tinh thần cũng là việc làm của cơ thể, của đầu óc con người, hoạtđộng đó khác với các hoạt động khác ở chỗ, nó là hoạt động của đầu óc

Không phải là người nghiên cứu sâu về sinh lý học, song Phoiơbắc cũngnhận thấy rằng, mỗi con người cụ thể bằng xương bằng thịt đang sống và hoạtđộng là những bằng chứng sinh động về sự thống nhất giữa thể xác và tinhthần, giữa phương diện vật lý và phương diện tâm lý Sự thống nhất này phảnánh sự thống nhất giữa cấu trúc và chức năng, giữa giải phẫu học và sinh lýhọc Và cũng từ đó ông dễ dàng rút ra một kết luận triết học duy vật rằng, tưduy, ý thức của con người không là cái gì khác như là thuộc tính vốn có củamột dạng vật chất có tổ chức cao - bộ óc con người Chính ở đây, ông đã phầnnào phỏng đoán được nội dung vấn đề cơ bản của triết học, điều mà sau nàyĂngghen đã phát biểu một cách rõ ràng hơn trong tác phẩm Lutvich Phơbách

và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức

Sau khi công nhận một cách dứt khoát rằng, tồn tại là chủ thể, tư duy làthuộc tính, ý thức là sản phẩm của bộ óc con người, Phoiơbắc đi đến việc tìmhiểu sâu hơn bản chất tự nhiên - sinh học của con người "Bản chất chung củacon người là gì? Những nhân tính cơ bản trong con người là gì? Đó là lý tính,

ý chí và trái tim Con người hoàn thiện có năng lực tư duy, sức mạnh ý chí và

Trang 13

nguồn lực tình cảm Năng lực tư duy chính là ánh sáng của nhận thức, sứcmạnh của ý chí chính là năng lượng của tính cách, nguồn lực tình cảm chính

là tình yêu Trong ý chí, tư duy và tình cảm luôn chứa đựng bản chất tối cao,tuyệt đối của con người và mục đích tồn tại của nó con người tồn tại đểnhận thức, yêu thương và mong muốn Nhưng mục đích của lý tính, của ý chí,của tình yêu là gì? Là để làm cho con người trở thành người tự do" Đoạntrích này là một văn bản điển hình thuộc Chương I với nhan đề Bản chấtchung của con người trong tác phẩm Bản chất Kitô giáo, do Phoiơbắc viết vàonăm 1841 Qua những lời lẽ đó, nhà triết học cổ điển Đức muốn chứng minhrằng, bản chất chung của con người là tổng hoà mọi khát vọng chính trị, mọinăng lực nhận thức và nhu cầu tự nhiên - sinh học đã trầm tích trong quá trìnhphát triển lịch sử lâu dài của nó

Ngày đăng: 13/12/2016, 20:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w