1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Về những giá trị tư tưởng triết học cơ bản của nho gia trong xã hội việt nam ngày nay

59 2,1K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Về Những Giá Trị Tư Tưởng Triết Học Cơ Bản Của Nho Gia Trong Xã Hội Việt Nam Ngày Nay
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 284,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến thế kỷ II tcn những quan điểm của Khổng Tử được danh nho nhà Hán là ĐổngTrọng Thư thần bí hoá và biến nó thành một hệ thống đạo đức, tôn giáo chínhtrị thống trị trong đời sống tinh t

Trang 1

DẪN NHẬP

Nho học là học thuyết do Khổng Tử sáng lập, thời Khổng Tử gọi là Nhohọc hay là Khổng học, là một trong những học thuyết quan trọng nhất của vănhoá Trung Hoa, văn hoá Phương Đông và loài người “Hán thư văn ký” xếpNho ở hàng đầu cửu lưu (là chín học phái khác nhau thời Tiên Tần) Nội dungcủa học thuyết này chủ yếu là “Tổ thuật Nghiêu, Thuấn, hiến chương Văn,Võ” (trình bày tư tưởng của Nghiêu Thuấn, bắt chước theo vua Văn, vua Võ)

Đề cao “Lễ nhạc” và “Nhân nghĩa” chủ xướng đạo “Trung thứ” (hết lòng vìngười, điều mình muốn đạt được cũng giúp người khác đạt được, điều gì mìnhkhông muốn, thì không áp đặt cho người khác), và đạo “Trung Dung” (khôngthiên lêch, không thừa thiếu) Về chính trị chủ trương “Đức trị” (cai trị bằngđạo đức), “Nhân chính” (chính sách nhân từ) Coi trọng việc giáo dục đạo đứcluân lý và cả sự tu thân dưỡng tính

Ở thời Chiến Quốc, Nho Gia gồm tám phái mà quan trọngnhất là haiphái Mạnh Tử, Tuân Tử Sau khi Hán Vũ Đế ( 140 TCN- 87 TCN) bãi truấtbách gia, độc tôn Nho Gia, học thuyết này dần dần trở thành dòng chính củavăn hoá Trung Hoa thời phong kiến Để đáp ứng nhu cầu của giai cấp phongkiến thống trị trãi qua các triều đại, các nhà Nho đã không ngừng từ học thuyếtcủa họ Khổng mà diễn dịch ra những lý thuyết khác nhau phù hợp với từngthời kỳ

Trong suốt quá trình phát triển của mình (tính đến thời điểm hiện naykhoảng hơn 2 ngàn năm), Nho Gia phân chia thành 2 thời kỳ lớn:

- Nho nguyên thuỷ (Nho Tiên Tần 221 TCN) gồm có các tác gia Khổng

Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử

- Giai đoạn sau nguyên thuỷ có: Hán Nho 206 tcn - 220 tcn; Nguy, Tấn,Nam Bắc Triều 220- 590; Nhà Tuỳ 590; Đường Nho 618- 906; Ngũ Đại ThậpQuốc 906 - 970; Tống Nho 970- 1209; Nhà Nguyên 1279; Minh Nho 1369-1644; Thanh Nho 1644- 1911

Trang 2

Do hạn chế về mặt thời gian, điều kiện nghiện cứu và khả năng mà luận

văn này chỉ tập trung khái quát những gíá trị triết học cơ bản của Nho Giaónguyên thuỷ và những ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội Việt Nam hiệnnay

A PHẦN MỞ ĐẦU.

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà loài người đang xích lại gầnnhau và sự giao lưu văn hoá đang diễn ra trên toàn thế giới Đó là chiều hướngtoàn cầu cầu hoá mà không một dân tộc nào có thể từ chối được Trên lĩnh vựcvăn hoá sự tiếp nối giữa quá khứ và hiện đại, sự giao tiếp giữa Đông và Tâylại trở thành vấn đề bức thiết Việc đánh giá lại vai trò của Nho Giáo tronglịch sử tư tưởng và ảnh hưởng của nó trong xã hội ngày nay đang có một ýnghĩa thiết thực Thực tế vài thập kỷ gần đây có một số nước vốn theo NhoGiáo, đã có sự phát triển nhanh chóng về các mặt kinh tế, xã hội, khoa học kỹthuật điển hình như Nhật bản, Đài Loan, Xinh - ga - po, v.v

Việt Nam là một đất nước chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết học NhoGiáo Trong công cuộc đổi mới hiện nay, một mặt nền kinh tế thị trường manglại bộ mặt mới cho kinh tế đất nước, nhưng một mặt nó gây ra vô vàn hiệntương tiêu cực trong quan hệ xã hội, nhất là trên lĩnh vực đạo đức Thái độ vàhành vi đối xử với cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh em đều có những biểu hiệnthoái hoá Chẳng hạn: bố mẹ già bị con cái hắt hủi, bỏ rơi; anh em chém giếtnhau vì tiền; con cái chống đối bố mẹ, bỏ đi “bụi đời” hút chích Nền kinh tếthị trường đang tạo ra những kẻ tán tận lương tâm giẫm đạp lên đao khổ củangười dân lương thiện để kiếm chát Chúng ta không khỏi hoang mang khitrên phương tiên thông tin đại chúng, thỉnh thoảng lại nêu lên một số cán bộlãnh đạo biến chất về đạo đức, tham ô, tham nhũng tiền của của nhà nước, làmgiàu bất chính cho bản thân Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta thấy chướngmắt khi một vài cử chỉ giao tiếp không lễ phép, không lịch sự cứ diễn ra.Trước tình hình đó vấn đề đặt ra là trong xây dựng lối sống mới, nên chăng

Trang 3

đạo đức và một số lĩnh vực tích cực khác của Nho Giáo có những điều tốt đẹp

mà chúng ta phải tiếp thu vận dụng trong quản lý giáo dục con cái, gia đình,

xã hội

Trên con đường phát triển, xã hội Việt Nam cần kế thừa nhiều truyềnthống tốt đẹp của dân tộc trong đó có Nho Giáo Kế thừa Nho Giáo chúng taphải đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin, đánh giá đúng họcthuyết Nho Giáo, gạt bỏ những yếu tố tiêu cực, khai thác nnhững yếu tố tíchcực để hộ trợ giúp đẩy đất nước đi lên, và giữ gìn văn hoá nhân loại Đó cũng

là chủ trương của Đảng ta hiện nay “đối với học thuyết ngoài học thuyết Mác

-Lê Nin, cần nghiên cứu trên quan điểm khách quan biện chứng”***

Chính vì lý do trên mà tác giả chọn đề tài “Về những giá trị tư tưởng triết học cơ bản của Nho Gia trong xã hội Việt Nam ngày nay”

Qua thực hiện đề tài này, giúp tác giả rất nhiều trong việc mở mangkiến thức về tư tưởng Nho Gia nói chung và Nho Gia ở Việt Nam nói riêng.Điều này giúp tác giả tích luỹ vốn tri thức phục vụ thiết thực cho công tácnghiệp vụ sau này

II NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Chỉ rỏ tư tưởng cơ bản của Nho Giaó nguyên thuỷ

- Chỉ rỏ ảnh hưởng cơ bản của nho Giáo nguyên thuỷ trong xã hộiViệt Nam hiện nay

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Vấn đề quan niệm thế giới, chính tri - xã hội, con người, đạo đức của cácnhà tư tưởng Nho Giáo thời nguyên thuỷ ở Trung Quốc và ảnh của Nho Giaó nguyên thuỷ đối với xã hội Việt Nam ngày nay

Trang 4

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦ ĐỀ TÀI

Đứng trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đểnghiên cứu Nho Giaó Cụ thể là: Phương pháp xuyên suốt đề tài là phươngpháp biện chứng duy vật Ngoài ra tác giả còn sử dụng phương pháp toàn diệnkết hợp phương pháp lôgíc lịch sử, phương pháp diễn dịch, phương pháp quynạp đối với các chương, phần cụ thể Đề tài cũng từng bước thu thập tài liệu,đọc và ghi chép, chắt lọc, tổng hợp tất cả các tài liệu liên quan đến đề tài màtác giả có được

V ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI.

Lần đầu thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học, lại là đề tài khó,tác giả cũng đã cố gắng rất nhiều Song trong quá trình thực hiện có nhiều hạnchế, nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong quý thầy cô vàcác bạn thông cảm và giúp đỡ

Hy vọng luận văn là nguồn tài liệu nhỏ giúp cho các bạn sinh viên thamkhảo và nghiên cứu về Nho Giaó nói chung và ảnh hưởng của nó tại Việt Namnói riêng

V BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm hai chương, chín tiết:

Chương 1 Những nội dung cơ bản của triết học Nho Gia

1.1 Vài nét về Khổng Tử - người sáng lập trường phái Nho gia - và những học trò tiêu biểu của Ông.

1.2 Những nội dung cơ bản của triết học Nho gia.

1.3 Vài nét khái quát về Đổng Trọng Thư và môn phái Hán Nho.

1.4 Nhận xét chung về triết học Nho gia.

Chương 2 Những ảnh hưởng cơ bản triết học Nho gia trong xã hội Việt Nam hiện nay.

2.1 Vài nét về sự du nhập và phát triển của Nho gia tại Việt Nam.

Trang 5

2.2 Về tư tưởng giáo dục của Nho gia với xã hội Việt Nam hiện nay 2.3 Về tư tưởng đạo đức của Nho gia với xã hội Việt Nam hiện nay 2.4 Đạo đức của Nho gia trong việc xây dựng phẩm chất người lãnh đạo hiện nay

2.5 Những ảnh hưởng tiêu cực của Nho gia đối với xã hội Việt Nam hiện nay.

Chương 1.

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC NHO GIA 1.1 Vài nét về Khổng Tử người sáng lập ra trường phái Nho Gia

và các học trò tiêu biểu của ông thời Nho Gia

Khổng Tử (551-480 TCN), sinh ra ở làng Xương Bình, huyện KhúcPhụ, tỉnh Sơn Đông ngày nay, trong một gia đình quý tộc nhỏ đang bị sa sút

Mẹ Khổng Tử là Nhan Trưng Tại còn gọi là Nhan Thị, cha là Thúc LươngNgột Khi sinh ra trên đầu gồ, giữa lõm cho nên đặt tên là Khâu (tức là cái gò).Tên tự là Trọng Ông là người sáng lập ra đạo Nho Đạo Nho chủ trương làmchính trị lấy đức làm gốc (Đức trị) nhưng có nghĩa là lấy nhân làm gốc vì theoKhổng Tử người có đức là người có nhân

Thời đại của Khổng Tử là thời đại loạn lạc Nhà Chu suy yếu, các chưhầu không nghe theo thiên tử nhà Chu mà nổi lên xưng vương xưng bá

“Vương đạo suy vi”, “Bá đạo” đang nổi lên lấn át “Vương đạo” của nhà Chutrật tự lễ phép của nhà Chu bị đảo lộn Khổng Tử than phiền rằng “Vua không

ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con” (Quân bất quân,thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử)

Trang 6

Khổng Tử muốn khôi phục lại trật tự, pháp chế, kỷ cương của nhà Chuvới một nội dung phù hợp, ông lập ra học thuyết của mình, mở trường dạyhọc, đi chu du khắp nơi (Khổng Tử đã từng đến các nước Tề, Lỗ, Vệ, Trần),tranh luận với các phái khác nhau để tuyên truyền lý tưởng của mình Saunhiều năm cùng học trò bôn ba mong gặp được người sử dụng học thuyết củamình song ý nguyện đó không thành ông quay về nước Lỗ dạy học san địnhcác sách vở đời trước(2). Tương truyền rằng học trò của Khổng Tử đông đến

3000 người và khi ông mất có người để tang ông, hàng trăm người làm nhà,lập cứ bên phần mộ của ông, tạo thành làng Khổng(3) Tư tưởng của Khổng

Tử được thể hiện trong các tác phẩm: Tứ Thư và Ngũ Kinh

Tứ thư (phần kinh điển) gồm: *Luận Ngữ: Tri Khôn, tác phẩm này củaKhổng Tử do học trò chép lại, Luận Ngữ gồm 12700 chữ là một tác phẩm triếthọc gãy gọn súc tích nhưng gợi mở Tác phẩm chia làm 20 chương *Trungdung: do Khổng Cấp (Tăng Tử) cháu nội của Khổng Tử phát triển đạo sống

“Trung Dung” của Khổng Tử *Đại học của Tăng Sâm, học trò của Khổng Tử

1000 nóivề đạo của bậc quân tử *Mạnh Tử

Sau khi Khổng Tử mất, và nhất là qua chính sách tàn khốc “Phần thưthanh nho” của Tân Thuỷ Hoàng thì sách Khổng Tử không còn giữ được baonhiêu Khi đạo Nho được phục hưng “đời Hán Vũ Đế năm 130 TCN” sáchNhạc chỉ còn một thiện được nhập vào bộ Lễ ký còn gọi là thiên Nhạc ký.Những sách khác được người đương thời sưu tầm bổ sung tạo thành năm kinhcòn gọi là Ngũ kinh gồm: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, KinhXuân Thu

Kinh thi là những bài thơ dân gian được lưu truyền trong lịch sử TrungQuốc được Khổng Tử xử lý sưu tập thành bộ Kinh Thi khoảng hơn 3000thiên, Khổng Tử san định Kinh Thi là mong người đời hiểu điều hiếu trung,biết thương, biết ghét và mở mang trí thức

Kinh Thư: bộ sách về sử của các vua chúa từ đời Nghiêu đến đời TầnMục Công (khoảng 2350 TCN đến 620 TCN) Kinh Thư là bộ kinh dạy về

Trang 7

đường lôi trị nước, về phương pháp đối nhân xử thế thuận tâm, thuận lòng dâncủa các bậc đế vương đời trước.

Kinh Lễ gồm ba phần: Chu Lễ, Nghi Lễ, Lễ Ký Trong đó Chu Lễ nói vềcách tổ chức hành chính nhà Tây Chu Nghi Lễ quy định thể thức lễ nghi trongcuộc sống Lễ Ký là phần do các môn đệ Khổng Tử bình về phong tục Kinh

Lễ là bộ sách lý luận và biện pháp tổ chức xã hội mà Khổng Tử rất tâm đắc Kinh Xuân Thu là bộ kinh sử, nó được xem như là một bộ sử có tính chất

hệ thống đầu tiên của Trung Quốc Khổng Tử chép sử nước Lỗ từ Lỗ Ân Công

722 TCN đến Lỗ Ai Công 480 tcn Trong kinh Xuân Thu với thâm ý củamình, Khổng Tử ngầm phê phán về đường lối cai trị của nước Lỗ và củaTrung Quốc nói chung ở thời đại đó và theo Khổng Tử do sự sai lầm về đườnglối chính trị đẩy đất nước vào tình trạng chiến tranh liên miên, đạo đức suygiảm Trước sự suy bại và loạn nghịch ấy Khổng Tử lấy làm lo sơ Mới biếtXuân Thu khen thiện, chê ác, dạy phép trị nước cho các Thiên tử Phép trịnước là thuyết “chính danh” thuyết xuyên suốt sách Xuân Thu mà trọn đờiKhổng Tử tuân theo

Kinh Dịch nhằm nêu lên sự biến đổi của vũ trụ và của nhân sinh

Triết học Khổng Tử được lý giải khác nhau qua các triều đại Đến thế

kỷ II tcn những quan điểm của Khổng Tử được danh nho nhà Hán là ĐổngTrọng Thư thần bí hoá và biến nó thành một hệ thống đạo đức, tôn giáo chínhtrị thống trị trong đời sống tinh thần của Trung Quốc

Mạnh Tử tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, người gốc nước Trâu thuộcmiền nam tỉnh Sơn Đông ngày nay Ông sống khoảng năm 372 đến 289 tcn, làngười theo phái Nho Gia của Tăng Tử nước Lỗ, ông thuộc dòng công tộcMạnh Tôn, cha là Khích Công Nghi, mẹ là Cừu Thị Khi ông lên ba tuổi thìcha chết, được mẹ nuôi dưỡng, giáo dục lễ nghĩa

Để bảo vệ và phát huy tư tưởng của Khổng Tử mong muốn dùng thuyếtcủa mình cứu đời Mạnh Tử đi khắp các nước chư hầu để truyền bá tư tưởng

Trang 8

và chủ trương của mình ( Mạnh Tử đã từng đi qua Tề, Lương) nhưng đi đếnđâu ông cũng không đạt được ý muốn Ông lui về dạy học cùng các học tròcủa mình xếp đặt lại thứ tự trong Kinh Thư, Kinh Thi Thuật lại các ý củaKhổng Tử , ghi lại những lời Mạnh Tử đã bàn luận đối đáp với các chư hầu vàghi lại những lời phê bình của ông đối với học thuyết khác làm ra bảy thiênsách có tên là Mạnh Tử.

Trong quá trình đấu tranh chống lại các trường phái triết học khác thờiChiến Quốc nhằm kế thừa và phát triển hơn tư tưởng của Khổng Giáo, Mạnh

Tử dựng lên một hệ thống triết học duy tâm chủ nghĩa nhà Nho, và đẩy tínhchất duy tâm trong triết học Khổng Tử lên đỉnh cao

Tuân Tử tên Huống, tự là Khanh, còn gọi là Tuân Khanh hay Tôn Khanhngười nước Triệu, ông sinh khoảng 313tcn, mất khoảng 238 tcn Tuân Tử làmột trong những Nho Gia lớn nhất thời Chiến Quốc Đó là thời kỳ xã hộiTrung Hoa ‘’như nước cuồn cuộn”, các học phái triết học, các triết gia tiêubiểu thi đua nhau xuất hiện người ta gọi là thời kỳ ‘’Bách gia chư tử” NhoGia, Lão Gia, Mặc Gia là những môn phái triết học lớn có ảnh hưỡng rộng rãi

ở Trung Quốc thời bấy giờ Các học thuyết này với thế giới quan, nhân sinhquan khác nhau, vừa kế thừa tư tưởng của nhau, vừa đấu tranh công kíchnhau Tuân Tử dựa trên thế giới quan duy vật và lối biện luận sắc sảo củamình để phản bác lại các học phái đó Trong đó có sự phê phán quan điểm về

“đạo” của Lão - Trang, học thuyết tính “thiện” của Mạnh Tử Điều đó chứng

tỏ ông là người uyên bác và những phê phán của ông đối với các học thuyết ấy

là có nhiều quan điểm rất giá trị

Tuân Tử là người theo học thuyết Khổng Tử đề cao Nhân, Nghĩa, Lễ,Nhạc và chủ trương “chủ nghĩa chính danh”, trọng vương, khinh bá, nhưng lạitương phản với tư tưởng của Khổng Tử và Mạnh Tử về cả thế giới quan lẫntriết học chính trị - xã hội Một số tư tưởng của ông như vương chế, pháphành, quân đạo lại trở thành tiền đề cho triết học Pháp Gia sau này

1 2 Những nội dung cơ bản của triết học Nho Gia

Trang 9

1.2 1 Quan điểm về thế giới quan.

Trung tâm triết học Nho Gia thời cổ đại không phải là triết học về bảnthể vũ trụ Khổng Tử, Mạnh Tử nói về vũ trụ tự nhiên không nhiều Trong họcthuyết Nho Gia ”trời” có nghĩa là bậc nhất Khổng Tử khi giảng đạo lý củamình thường nói đến ”trời”,”mệnh trời” Nhưng Khổng Tử và các đồ đệ gầngũi của ông lại không nói rõ trời một cách rõ ràng, hệ thống Người ta cảmthấy Khổng Tử, Mạnh tử, Tuân Tử khi vận dụng các khái niệm và phạm trùnhư vậy một cách trang trọng cốt chỉ đủ làm chỗ dựa mạnh mẽ, thiêng liêngcho học thuyết và đạo lý của mình là được Vì vậy các câu hỏi trời là gì? dođâu và tại sao mà có? Trời với muôn vật, muôn loài như thế nào? thì trong tàiliệu kinh điển của Nho Gia ít thấy, mà trường phái Nho Gia hay nói nhiều vềmối quan hệ giữa trời và người mặc dù không rành mạch sáng tỏ Vì thế sauKhổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử quan điểm về trời đất lần lượt được bổ sungbởi các danh Nho đời sau Trong các tác phẩm của Khổng Tử người ta khôngthấy có từ vũ trụ được dùng với tính cách là một thuật ngữ của một học thuyết

mà thông dụng nhất với tính cách đó có hai nhóm từ: Một là trời, đất và trờiđất với tinh thần trừu tượng hoà mọi vật thể trên trời dưới đất trực tiếp tácđộng vào giác quan con người, hai là nhóm Càn, Khôn và Càn Khôn được coinhư là những dấu hiệu biểu hiện trời đất những dạng vô hình của triết họcTrung Quốc cổ đại

Chịu ảnh hưởng quan điểm vũ trụ của người Trung Hoa thượng cổ,những quan điểm lưu truyền trong dân gian được ghi trong sách Dịch, quanniệm này cho rằng vũ trụ ban đầu là khối hổn mang hay còn gọi là vô cực Từcái hỗn mang chứa đựng ”thái cực”, ”thái cực” chứa đựng hai mặt đối lập liên

hệ nhau đó là âm - dương Âm - dương là hai thế lực đối lập tương tác lẫnnhau tạo ra sự biến hoá của vũ trụ Sự biến đổi vô cùng, vô tận ấy Khổng Tửgọi là ”đạo” Bởi vì đạo không có đặc tính, hình thể cho nên không xác địnhđược bản thể nhưng có thể xác định được động thể Gộp trời đất muôn vật vàomột thể Khổng Tử thường chú ý đến tính chất động nhiều hơn là tính chất

Trang 10

tĩnh Ông hình dung tất cả trôi đi, trôi mãi từ nơi này đến nơi khác, từ lúc nàyđến lúc khác Khổng Tử thường dạy học trò “cũng như dòng nước chảy mọivật trôi đi không có vật gì ngừng nghỉ”(4) (Luận Ngữ, Tư Hãn), hoặc “trời cónói gì đâu mà bốn mùa cứ vận hành, vạn vật cứ sinh hoá mãi” (Luận ngữ,Dương hoá).

Quan diểm về vấn đề này biểu hiện một cách rõ ràng đầy đủ bao quátbằng từ Dịch nghĩa là đổi, bao gồm ý nghĩa thay đổi và biến đổi Nguyên tắccủa nó được nghi trong Kinh Dịch và được Khổng Tử đem ra giảng dạy “ởtuôi 40 không mơ hồ nhầm lẫn, đến tuổi 50 biết mệnh trời, mà ước sống thêmmấy năm nữa để học Dịch”

Từ chỗ tin vào vũ trụ quan Dịch, tin vào sự biến hoá vận hành của vạnvật, cuộc vận hành ấy có trật tự hoà điệu mà con người không thể cưỡng lạiđược, Khổng Tử gọi là “thiên mệnh”, mà ông cho là trời có ý chí, trời như làmột quan toà thông minh cầm cân nảy mực phán xét mọi chuyện Trời quyếtđịnh mọi thành bại trong đời sống con người, Khổng Tử nói “đạo ta thi hànhđược cũng do mệnh trời, mà bỏ phế cũng do mệnh trời hoặc “tử sinh hữumệnh, sống chết tại thiên” (giàu sang phú quý, nghèo hèn, sống chết là do trời)

tư tưởng này được thể hiện rất rõ trong tác phẩm Trung Dung của Tử Tư Tinvào thiên mệnh, Khổng Tử coi việc hiểu mệnh trời là một điều kiện để trởthành người quân tử và theo ông, quân tử sợ 3 điều: Quân tử hữu tam uý “Uýđại nhân, Uý thiên mệnh, Uý thánh nhân chi ngôn” (Sợ mệnh trời, Sợ đạinhân, Sợ thánh nhân)

Với tư cách là học trò xuất sắc của Khổng Tử, khi bàn về thế giới, Mạnh

Tử đã khuyếch đại những yếu tố duy tâm trong học thuyết Khổng Tử biến nóthành học thuyết duy tâm tiên nghiệm thần bí Tiếp nối nhưng quan điểm củaKhổng Tử về thế giới, Mạnh Tử cũng cho rằng trời là một đấng anh minh tốicao, sáng tạo và chi phối vạn vật trong vũ trụ; trời có thể ban thưởng chứctước bổng lộc cho những người hiền đức và trừng phạt kẻ tàn ác Thậm chítheo Mạnh Tử, từ chí, khí, tâm tính con người cho đến các nguyên tắc đạo đức

Trang 11

luân lý của đời sống xã hội cũng đều trời phú cho, đó là số phận của trời địnhsẵn ”cái bản tính của trời phú cho con người, quân tử dù có đạo có được thihành lớn lao cũng không tăng thêm gì, dù mình có gặp cảnh ngộ cùng khốncũng không giảm bớt số phận trời đã định sẵn như thế” (Mạnh Tử, Tận TâmThượng),*** cho nên ông khuyên nhủ con người luôn luôn phải tuyệt đốiphục tùng mệnh trời ”không có việc gì xẩy ra mà không do mệnh trời, người

ta phải thuận theo mà nhận lấy số mệnh chính đáng ấy”(Mạnh Tử, Tận TâmThượng)***

Không những thế với chủ nghĩa duy tâm thần bí Mạnh Tử còn cho rằng

vũ trụ vạn vật đều tồn tại trong ý nghĩ của con người: ”thành là đạo của trời vàsuy nghĩ sao cho thành là đạo của người”(5) Sự thành “là hợp với đạo” khithành thì vạn vật đều ở trong ta” (Mạnh Tử, Tận Tâm Thượng)*** Bên cạnh

đó, Mạnh Tử còn xuyên tạc tính duy vật thô sơ của học thuyết Ngũ Hành gánlắp nó vào thuyết đạo đức của mình và thần bí hoá nó: Thần Mộc là Nhân,Thần Kim là Nghĩa, Thần Hoả là Lễ, Thần Thuỷ là Trí, Thần Thổ là Tín Bốnđức Nhân-Lễ-Nghĩa-Trí do Tâm (Tín) mà ra, cho nên Thần Thổ ở giữa và cómặt khắp nơi

Cũng mong muốn kế thừa và phát triển Nho Gia, Tuân Tử một trongnhững học trò xuất sắc của Khổng Tử sống vào cuối thời Chiến quốc, trongquan niệm về thế giới lập trường cơ bản của Tuân Tử là chủ nghĩa duy vật vàchủ nghĩa vô thần So với triết học Khổng Tử, triết học của Tuân Tử là mộtbước phát triển ở trình độ cao hơn Trái với học thuyết ”thiên mệnh” củaKhổng Tử, “thiên chí” của Mặc Gia coi trời là một lực lượng thiên nhiên tốicao, chi phối vạn vật và con người, Tuân Tử khẳng định rằng toàn bộ thế giới

có ba bộ phận: Trời-Đất-Người (Thiên-Địa-Nhân)”, trời có bốn mùa, đất cósản vật, người có văn trị”, mỗi lĩnh vực có quy luật vận động và chức năngriêng của nó Sự vận dộng của trời của giới tự nhiên tồn tại một cách kháchquan không phụ thuộc vào xã hội và con người, xã hội dù tốt, dù xấu cũngkhông cảm động được giới tự nhiên Ông nói: ”trời vận hành theo luật lệ sẵn

Trang 12

có không vì vua Nghiêu mà còn, không vì vua Kiệt mà mất”,*** hoặc “khôngphải người ta ghét giá lạnh mà trời bỏ mùa đông, không phải người ta ngại xaxôi mà đất rút hẹp bề mặt lại”.*** Do đó thuyết ”thiên nhân cảm ứng” là hưcấu.

Trời, đất, thiên mệnh không quyết định, không can thiệp vào công việccủa con người, con người lành dữ, vận nước thịnh hay suy, yên hay loạn là docon người làm ra Chính vì vậy, tuy vị trí của con người trong môn phái củaNho Gia như nhau đó là con người đứng giữa trời đất, nhưng đã ở tư thế khácnhau Con người trong triết học Khổng Tử, Mạnh Tử là nạn nhân của số phận,thiên mệnh Trong khi đó con người trong triết học của Tuân Tử là con ngườichống lại định mệnh, cải tạo số phận của chính mình Trong quan điểm về thếgiới, Tuân Tử còn đưa ra học thuyết về khí Ông xem khí là yếu tố vật chấtcấu tạo nên vạn vật Đồng thời dựa vào tri thức khoa học sơ khai về thiên văn,địa lý, sinh vật học, y học đạt được vào thời đó, ông vạch ra sự khác nhau giữavật chất vô cơ, thực vật, động vật và con người Ông nói: ”nước lửa có khínhưng không có sinh mệnh, cỏ cây có sinh mệnh nhưng không có tri giác, loạicầm thú có tri giác nhưng không có lễ nghĩa (tức là khuôn phép đạo đức và tổchức xã hội), cho nên “con người là cao quý nhất trong vạn vật” (Tuân Tử,Vương Chế)***

Khi bàn về yếu tố quỷ thần, các nhà triết học Nho Gia không có quanđiểm nhất quán rõ ràng Đặc biệt là Khổng Tử tin vào quỷ thần, nhưng kháiniệm quỷ thần của Khổng Tử có tính chất lễ giáo nhiều hơn tôn giáo Khổng

Tử cho rằng quỷ thần là do khí thiêng trong trời đất tạo thành, ”tuy người tatrông mà không thấy, lắng mà không nghe, thể nghiệm mọi vật mà không bỏsót” Nếu mọi người trong thiên hạ đều chay kín quần áo trang nghiêm chỉnh

tề để tế quỷ thần thì “quỷ thần vời vợi ở bên tả và hữu mình” (Trung Dung).Nhưng mặt khác, ông lại nói rằng quỷ thần không có tác dụng chi phối đờisống con người, ông phê phán mê tín quỷ thần Ông nói ”đạo người chưa biếtsao biết được quỷ thần” “Không hiểu được con người sống thì không có tư

Trang 13

cách hỏi chuyện sau khi chết”(6) ông cho rằng trí thông minh của con ngườiđối lập với mê tín quỷ thần Không phủ nhận sự tồn tại của quỷ thần, nhưngtheo Khổng Tử việc của quỷ thần là việc cao xa, u uẩn nên đối với quỷ thầncon người kính trọng nhưng chẳng gần gũi làm gì để gây thành những mối mêtín hại cho việc nhân nghĩa Cho nên Khổng Tử khuyên ”vụ dân chi nghĩa,kính quỷ thần nhi viễn chi” (vụ lấy việc nghĩa của người, còn quỷ thần thìkính mà xa ra)*** Như vậy lập trường của ông trong vấn đề này là mâuthuẫn, ông muốn gạt bỏ mà không gạt bỏ nổi quan điểm thần học từ thời Ân -Chu Quan điểm này của Khổng Tử được Mạnh Tử hệ thống hoá thành khíacạnh duy tâm trong triết học Nho Gia Riêng đối với Tuân Tử, vì ông luônphủ nhận sự can thiệp của “thiên mệnh” vaò đời sống con người và đời sống

xã hội, cho nên tư tưởng vô thần của ông rõ ràng nhất quán hơn Ông cho rằng

do tâm lý sợ hãi của con người mà sinh ra quỷ thần, không những thế quanniệm tôn giáo thần bí là không có cơ sở

1.2.2 Nhận thức luận.

Con người có nhận thức được thế giới hay không?, Tri thức bắt nguồn từđâu?, là những câu hỏi được các nhà triết học rất quan tâm giải quyết Trongchừng mực có thể bằng khả năng, lập trường kinh nghiệm, các nhà triết họcthuộc trường học Nho Gia, nhất là Khổng Tử tổng kết và đề ra được nhiều quyluật nhận thức có giá trị

Trong thuyết “chính dạnh”, Khổng Tử lấy ”danh” định “thực” (Luận Ngữ, Tử Lộ) [7***] đã đề cập đến bản thân nhận thức luận Nhưng đáng tiếc Khổng Tử đã đảo lộn quan hệ ”danh” và “thực” coi ”danh” có trước quyết định”thực” Về sau Mặc Tử, Tuân Tử đã đảo lộn lại mới phù hợp với quy luật nhận thức của con người

Về tri thức Khổng Tử cũng như các nhà thời Tiên Tần đều nhấn mạnhtri thức bắt nguồn từ học tập, mặc dù ông từng nói ”sống rồi sẽ hiểu” Khi bàn

về tri thức Khổng Tử cho rằng trời đất vạn vật rất phức tạp nhưng có thể tìm

ra điều lý, thì có thể hiểu được sự khác nhau của vạn vật, thí dụ chữ “Nhân”

Trang 14

bao hàm cả phép làm vua, làm cha, làm tôi và làm con Đấy là cái phức tạptìm ra cái đơn giản, trong cái khó tìm ra cái dễ Do đó Khổng Tử yêu cầu conngười ta phải nhớ nhiều, học nhiều, đồng thời phải tìm ra cái hệ thống điều lýtrong sự vật Đấy gọi là ”thu vào một đầu mối nhất quán”

Cũng bàn về nhận thức luận, nhưng khi kế thừa quan điểm của Khổng

Tử, những tư tưởng của Mạnh Tử có tính chất duy tâm tiên nghiệm Ông chorằng có ”Lương tri” (không lo mà biết), có “Lương Năng” (không học màđược), “vạn vật đều đầy đủ ở trong ta” Cho nên ông dạy người ta không cầntìm chân lý ở bên ngoài thế giới khách quan mà chỉ suy xét ở trong tâm mìnhtheo nguyên tắc: “Tận tâm-Tri tính-Tri thiên” là được “Tận kì tâm gia, tri kìtính giá, tri kì tính tắc tri thiên hỹ” (có nghĩa là mình đem hết lòng dạ củamình mà cung phụng các nghĩa vụ bổn phẩn làm người, đem hết tâm trí củamình mà suy xét thì mình có thể thấu đạt được cái tình, sẽ hiểu được mọi lẽhuyền vi của trời đất (Mạnh Tử Tận Tâm Thượng).*** Như vậy, trong vấn đềnhận thức luận Mạnh Tử đã tách rời nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính,phủ nhận vai trò cảm giác, đề cao tư duy lý tính

Khác với Mạnh Tử, Tuân Tử đã xây dựng nên học thuyết về nhận thứctrên nền tảng của chủ nghĩa duy vật rất đặc sắc Ông khăng định con người có

đủ năng lực để nhận thức vạn vật trong thế giới Ông coi nhận thức chính là sựphản ánh các sự vật hiện tượng khách quan bởi con người Và để nhận thứcđược sự vật con người phải dựa vào các giác quan, nhưng nếu chỉ dùng giácquan thì sự hiểu biết chỉ dừng lại ở bề ngoài, có tính chất riêng lẻ về sự vật,hiện tượng Con người phải dựa vào hoạt động của khí quan tư duy mà ônggọi là “tâm tri”: “Tâm làm rõ sự biết, có làm rõ sự biết mới nhờ tai mà nghetiếng được, mới nhờ mắt mà biết hình được”.*** Trong nhận thức luận, Tuân

Tử còn chủ trương làm trọng hơn biết Ông cho rằng “không nghe không bằngnghe, có nghe không bằng thấy, có thấy không bằng biết, có biết không bằnglàm, học đến chỗ làm được mới thôi” Những tư tưởng về nhận thức luận củaTuân Tử đã góp phần quý báu để phát triển nhận thức lý luận nhận thức trong

Trang 15

triết học Trung Quốc cổ đại lên một bậc, chống lại các học thuyết sai lầm nhưbất khả tri luận, tiên nghiệm luận đương thời Tuy nhiên, trong lý luận nhậnthức của Tuân Tử cũng đã mắc phải một số hạn chế như phóng đại vai trò, tácdụng hoạt động của tâm, coi tâm là chủ thể của ý thức, là cái cao hơn hết cóthể điều khiển ngũ quan bất thể, nên nhận thức luận của ông nghiêng về chủnghĩa duy tâm

1.2.3 Quan điểm giáo dục của Nho Gia

Một quan điểm quan trọng trong lĩnh vực nhận thức của Nho Gia khôngthể không nói đến đó là những đóng góp trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt làKhổng Tử Khổng Tử cho rằng ý nghĩa của giáo dục là cải tạo nhân tính Ông

ít nói đến nhân tính thiện ác, nhưng rất coi trọng hiệu quả giáo dục đối vớithiện ác Muốn dẫn nhân loại đến chỗ tính gần nhau, tức là bản nhiên, thì phảigiáo dục Giáo dục có thể hoá ác thành thiện “Trung Dung” viết: “Giáo dục

là tu sửa đạo làm người” “Đại học” viết: “Đạo của đại học là ở chỗ làm sángtạo đức sáng”, “Tu sửa đạo làm người” Nhưng sự giáo dục và tự giáo dục củaNho Gia không hướng vào phương diện kỹ nghệ và kinh tế mà hướng vàochuẩn mực chính trị - đạo đức đã hình thành từ ngàn xưa được nêu gươngsáng trong cổ sử Có thể kể ra đây những đóng góp lớn trong lĩnh vực giáo dụccủa trường phái Nho Gia, nhất là Khổng Tử như tư tưởng: ”Tiên phú hậugiáo”; mục đích giáo dục là ứng dụng có ích với đời, với xã hội chứ không đểlàm quan và hưởng bổng lộc; học là để có nhân cách và học để tìm tòi chân lý,hoặc Khổng Tử đã đề xuất được tư tưởng trong giáo dục gần như vĩnh cữu

“hữu giáo vô loài”(giáo dục không chia hạng người) Với luận điểm nàyKhổng Tử được lịch sử Trung Quốc đánh giá ông là người mở ra một cục diệnmới trong lịch sử Trung Quốc, đó là cục diên khanh tướng áo vải, và ông đượcxem là nhà mô phạm đầu tiên của giáo dục “hữu sinh thả cách” Không dừnglại ở đó, khi bàn về phương pháp giáo dục, Khổng Tử cũng có những tư tưởngrất quan trọng Ông viết rằng: “học nhi thời tập chi” (học để mà hành), ”học dĩtrí dũng”(???).*** Phương pháp đào tạo một người hiền tài Khổng Tử cho

Trang 16

rằng: ”Bác học thẩm vấn, thân tư, minh biện, và dốc hành” nghĩa là bác họcphải thu nhận tất cả, phải thường xuyên thu nhận, thẩm vấn để xem xét khảnăng trình độ sở trường, sở đoạn, tâm trí cụ thể của từng học trò cụ thể, qua

đó nâng dần tri thức từ khái niệm lên bậc cao hơn là suy luận không phụ thuộcvào dư luận xã hội.”***

Cùng với quan điểm và thái độ học, Khổng Tử và các đồ đệ của ôngcũng rất quan tâm đến quan điểm và thái độ trong giảng dạy Học là để chomình hiểu biết đạo Đó là việc mà các nhà hiền triết cho rằng vì đạo mà họcthì không biết chán, vì đạo mà dạy thì không biết mệt mỏi Khổng Tử và các

đồ đệ của ông đều đã mở trường lớp riêng của mình và chia thành sáu ngành:

Lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số, và bốn khoa: Đạo đức, chính trị, ngôn ngữ, văn học

Tư tưởng triết học về nhận thức chủ yếu là tư tưởng về giáo dục,phương pháp và thái độ học tập, dạy học của Khổng Tử Những tri thức vàquan điểm trác tuyệt của nó chính là bộ phận giàu sức sống nhất trong tưtưởng Nho Gia

1.2.4 Quan điểm chính trị-xã hội của triết học Nho Gia.

Có thể nói đóng góp nổi bật nhất của trường phái Nho Gia, đặc biệt làcủa Khổng Tử là lí luận về chính trị - xã hội Lịch sử Trung Hoa cổ đại chỉ rarằng, cuối thời Xuân Thu sự thay đổi các quan hệ sản xuất trong phương thứcchiếm hữu nô lệ bắt đầu dẫn đến sự thay đổi kiến trúc thượng tầng của xã hội.Một loạt các học thuyết khác nhau ra đời kèm theo đó là các luật lệ phép tắckhác nhau được giai cấp chủ nô quý tộc ban hành nhằm duy trì địa vị củamình trong xã hội Mâu thuẫn xã hội trong thời kì này diễn ra gay gắt Cácnước chư hầu không phục tùng vua Chu, không cống nạp, thôn tính lẫn nhau

để cướp ruộng đất và sức lao động Đây là thời kì của những cuộc chiến tranhlớn và khốc liệt, nhân dân Trung Quốc chịu thuế nặng nề, nạn lao dịch khổ ải,ruộng đất bỏ hoang, nạn đói triền miên hoành hành khắp nơi Xã hội rơi vàotình trạng hỗn loạn

Trang 17

Trên cơ sở những gì trực tiếp quan sát được, Khổng Tử và các đồ đệ củaông muốn xây dựng một học thuyết để giúp vua lập lại kỉ cương duy trì sự ổnđịnh trong xã hội Và để giải quyết các vấn đề xã hội, Nho Gia không xuấtphát từ việc phân tích cơ sở kinh tế xã hội, mà Nho Gia quy toàn bộ quan hệ

xã hội về những quan hệ chính trị- đạo đức, coi đó là quan hệ nền tảng của xãhội Trong các mối quan hệ xã hội triết học Nho Gia xác định năm mối quan

hệ cơ bản và thông thường của mỗi đời người trong thiên hạ gọi là ngũ luângồm các quan hệ: Vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh-em, bè-bạn (quân thần, phụ

tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu) (Trung Dung) Mỗi quan hệ lại có nhữngtiêu chuẩn riêng cho từng đối tượng như cha hiền con thảo, anh tốt em ngoan,chồng biết tình nghĩa vợ nghe lẽ phải, bề trên từ hiếu bề dưới kính thuận, vuanhân từ tôi trung Trong “ngũ luân” có ba mối quan hệ cơ bản nhất Nho Giagọi “tam cương” là “quân vi thần cương, phụ vi tử cương, phu vị thê cương”(quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ) Quan hệ thứ nhất thuộc quan hệ quốcgia, còn hai quan hệ sau thuộc quan hệ gia đình Điều này nói lên rằng trongquan hệ xã hội của Nho Gia đặc biệt quan tâm tới quan hệ nền tảng xã hội làquan hệ gia đình Quan hệ gia đình ở đây mang tính chất tông tộc dòng họ.Theo các nhà triết học Nho Gia xã hội trị hay loạn trước hết thể hiện ở chỗ cógiữ vững được ba quan hệ ấy hay không, và ba mối quan hệ trên được các nhàtriết học Nho Gia, đặc biệt là Khổng Tử đặt ra cho tiêu chuẩn riêng Chẳnghạn, trong quan hệ vua tôi Khổng Tử lên án việc chức tước duy trì theo kiểuhuyết thống, dòng dõi Theo ông, người cầm quyền phải có đức tài không cầntính đến xuất thân của họ Một ông vua tốt là một ông vua phải đảm bảo chodân được no ấm, xây dựng lực lượng quân sự hùng hậu, đặc biệt là phải chiếmđược lòng tin của dân Ngoài ra ông vua đó phải trọng dụng người đức độ và

có năng lực làm việc Trong quan hệ cha con, Khổng Tử nói đến chữ “hiếu”.Ông không nhấn mạnh đến của cải do con cái giành cho cha mẹ mà nói đến

“tâm” để đánh giá lòng hiếu thảo của con đối với cha mẹ Một người con cóhiếu không chỉ phụng dưỡng người sinh ra mình mà trước hết phải có lòngthành kính Đặc biệt quan hệ về hiếu của Khổng Tử, không phải là quan hệ

Trang 18

một chiều, không phải con cái đều nhất nhất nghe theo lời cha mẹ, bổn phậncủa con cái là phải can gián cha mẹ khi họ mắc sai lầm Và đối với quan hệvua tôi cũng thế, Khổng Tử không chủ trương ngu trung bắt buộc con ngườiphải phục tùng bề trên một cách vô điều kiện.

Lý tưởng xã hội mà Nho Gia muốn hướng tới là một xã hội “đại đồng”,nhưng khái niệm đại đồng của Nho Gia không phải là xã hội đặt trên nền tảng

xã hội sản xuất phát triển cao mà là một xã hội “an hoà”, trong đó sự an hoàđược đặt trên nền tảng của sự công bằng xã hội Khái niệm công bằng củaNho Gia không phải là thứ quan niệm “cào bằng” tiểu nông mà là công bằngtrên cơ sở địa vị xã hội của mỗi cá nhân dòng họ.(8)

Như đã nói ở trên, xã hội cuối thời Xuân Thu là xã hội của những cuộcchiến tranh liên miên, loạn lạc và mất trật tự Đứng trước tình trạng đó phươngthức để duy trì trật tự công bằng xã hội theo quan điểm Nho Gia là phải nêucao tư tưởng “chính danh” Nội dung của nó là “phàm đã là con người trong

xã hội thì ai cũng có chỗ đứng nhất định có bổn phận trách nhiệm nhất địnhtương ứng với khả năng của mỗi người” Từ đó Khổng Tử hình thành tư tưởngchính danh

Chính danh nói một cách khái quát nhất là làm việc một cách ngaythẳng, chính trực đúng với trách nhiệm và bổn phận của mình nói đi đôi vớilàm Cụ thể là: Tài đức phải phù hợp tương xứng với chức vụ được giao; Ai ởđịa vị nào thì phải làm tròn trách nhiệm và giữ phận ấy không được hưởngquyền lợi cao hơn địa vị của mình, không ở chức vụ nào thì không mưu tính ởchức vụ đó Ai giữ phận nấy cứ theo tổ chức xã hội nhà Chu mà làm thì nướcmới thịnh thiên hạ mới an bình, gọi là hữu đạo Nói năng hành động phải theochính danh (Tức lời nói và hành động phải phù hợp với nhau, không được nói

ít làm nhiều, không được lời nói thì kính cẩn mà trong lòng thì không)

Vì cho chính danh là quan trọng cho nên khi Tử Lộ, học trò thân củaKhổng Tử hỏi “nếu vua Vệ giao chính sự cho thầy thì thầy sẽ làm gì trước?”.Khổng Tử nói:

Trang 19

- Chắc chắn phải chính danh trước!

Đã mang cái danh vua thì phải làm tròn trách nhiệm của ông vua, nếukhông thì sẽ mất danh và sẽ mất luôn cả ngôi

Như vậy để có một xã hội trật tự mọi người phải “chính danh”, còn nếukhông thì xã hội ắt trở nên loạn lạc Không thể có một xã hội trị bình mànguyên tắc chính danh bị vi phạm Nhưng để thực hiện được “chính danh” thì

xã hội phải có một nền giáo dục tốt, mỗi người phải tự giáo dục và được giáodục, và có như vậy con người mới biết phận vị của mình mà nhìn nhận hànhđộng cho đúng trong cuộc sống

Trong khi những kẻ nắm quyền thuộc giai cấp chủ nô quý tộc ban hànhhết sắc luật này đến sắc luật khác, thì Khổng Tử cũng như các đồ đệ của ôngcho rằng không nên lạm dụng luật pháp Để ổn định trật tự xã hội, theo Khổng

Tử là phải thực hiện đường lối đức trị và nhân nghĩa Đạo đức cũng là công

cụ để thực hiện “chính danh” và những chuẩn mực đạo đức mà Nho Gia đềcao là: Nhân- Lễ Nghĩa -Trí -Tín (hay còn gọi là ngũ thường), và trong đónhân giữ vị trí là giá trị chính trị đạo đức đầu bảng của các giá trị Lễ là hìnhthức và chính danh là con đường đạt đến điều nhân Giữ , lễ, trí, tín mà thiếulòng nhân thì những cái đó chỉ mang ý nghĩa hình thức mà thiếu cái thực Cốtlõi nhân là lòng yêu thương con người

Trang 20

Sau này trong quan điểm chính trị xã hội của mình Mạnh Tử phái triểnquan điểm “Nhân” của Khổng Tử thành học thuyết “Nhân chính” với nhữngnội dung rất quan trọng như: Bớt hình phạt, nhẹ thuế má, tạo cho mỗi ngườidân một nghiệp để phụng dưỡng bố mẹ và nuôi vợ con, để được mùa thì no

đủ, năm mất mùa thì không chết đói Cơ sở của chủ trương này là có hằng sảnthì có hằng tâm Trên cơ sở tư tưởng nhân nghĩa và chủ trương “nhân chính”,Mạnh Tử đã đề xuất một quan điểm hết sức độc đáo đó là quan điểm dân bản.Ông cho rằng trong một quốc gia quý nhất là dân, sau đó là xã tắc và cuốicùng mới đến vua Vì có dân mới có vua So với Khổng Tử đây là một bướcphát triển Không những thế Mạnh Tử còn chủ trương thực hành nhân nghĩathì phải thực hành điền nhân, và bảo vệ dân, chống quan điểm pháp luật hàkhắc của Pháp Gia, bởi vì Mạnh Tử cho rằng bản tính con người là thiện Cũng với mong muốn kế thừa và phát triển Nho Gia, nhưng Tuân Tửcho rằng bản tính con người ác chứa đầy dục vọng, cho nên quan điểm vềchính trị của Tuân Tử có một số ít khác biệt so với người thầy của mình Ôngchủ trương đường lối trị nước kết hợp Nho Gia với Pháp Gia, Vương đạo với

“Bá đạo”, Lễ pháp kiêm trị, “Vương Bá tín dụng” (Lễ pháp đều coi trọngtrong việc cai trị, đạo Vương và đạo Bá đều được sử dụng)

Nói tóm lại, trong quan điểm chính trị xã hội trường phái Nho Gia chủtrương dùng đường lối đức trị, lễ trị, không để sự giàu nghèo tách biệt thái quá

và mong muốn xây dựng nên mẫu người quân tử, kẻ sĩ và người làm chính trị

1.2.5 Quan điểm về đạo làm người của trường phái Nho Gia

Những người sáng lập ra Nho Gia quan niệm rằng, sự vận động của trờiđất không diễn ra lộn xộn mà diễn ra theo “đạo” Khổng Tử cho rằng với conngười và xã hội loài người, vấn đề ra đạo cho thật đúng đắn thật rõ ràng làquan trọng Không biết đạo là không thể làm người, không có cuộc sống xứngđáng Con người là bộ phận tự nhiên, nếu lấy cơ thể con người mà nói thì conngười nhất luận phải tuân theo những nguyên lý “âm dương biến hoá” của đạotrời và “cương nhu tương thôi” của đạo đất Nhưng con người là một vật, một

Trang 21

loài có tâm hồn, có trí tuệ Xã hội loài người là cuộc sống xã hội và quan hệgiữa con người và cuộc sống xã hội không giống như con người với cuộc sống

tự nhiên Con người có “tính của con người” Tính là trời phú cho là “gầnnhau”, nhưng cuộc sống bằng hoàn cảnh này, môi trường khác mà gây nênnhững tập tục khác nhau Do đó, “tập là xa nhau” và nhiều người không giữđược tính trời đã mệnh nên phải “lập lại đạo người của người nói???*** nhânnghĩa” (Trung Dung) và nhân nghĩa là hai yếu tố cơ bản quyết định lớn nhấtđạo làm người

Tách riêng đức Nhân ra thì Khổng Tử, Mạnh Tử đều coi Nhân là đỉnhcao chót vót của lâu đài đạo đức con người Nhân theo quan điểm của Khổng

Tử là lòng yêu thương con người và theo Mạnh Tử “lòng trắc ẩn” hai quanđiểm đó nhất trí với nhau Như vậy Nho Gia coi Nhân là đạo đức hoàn thiệnnhất bao gồm tinh tuý của tất cả các đức khác gắn với đạo đức chung, đứcNhân thể hiện trong mối quan hệ giữa người và người(10) Trong bất kỳ mốiquan hệ nào nếu có sự hư hỏng về đức riêng thuộc mối quan hệ ấy, thì đồngthời cũng là một tình trạng trái với đức Nhân Chẳng hạn: bạn hữu không cótín với nhau cũng trái với đức Nhân, không cung kính bề trên, không trungthực với kẻ khác, không cương trực đều trái với đức Nhân Đức hiếu là gốccủa đức Nhân cho nên bất hiếu là tội nặng nề nhất Khi nói đến đức Nhân làđỉnh cao chót vót của trường phái Nho Gia, thì mặt khác ta thấy đức Nhân gầngũi với con người hơn, gần với bản chất tự nhiên của con người hơn Khổng

Tử nói: “Nhân có xa xôi gì đâu, ta muốn Nhân thế là Nhân tới” Đương nhiên,hiếm có Nhân, có nghĩa là ”không thể là Nhân”, còn “gần với Nhân” cũng cónghĩa là “chưa phải là Nhân””*** Người muốn có Nhân là phải ham học.Ham Nhân mà không ham học, cái hại che lấp cái Nhân là ngu Cho nên Nhânhay đi đôi với Trí và Dũng ở những con người có chí khí cao, sự nghiệp lớn

Để đạt được điều Nhân, Khổng Tử chủ trương dùng Lễ nhà Chu duy trìđẳng cấp trên dưới, tôn ti Khái quát quan điểm Lễ của Khổng Tử - Mạnh Tử -Tuân Tử ta thấy có hai mặt gắn bó với nhau Về mặt tổ chức xã hội, Lễ thể

Trang 22

hiện ở nghi lễ, quy chế, kỷ cương, trật tự tôn ti Ở mặt này người ta kết luận là

lễ giáo phong kiến Về mặt đạo đức Lễ thể hiện ở thái độ, ở ý thức là nếp sốngtôn ti trật tự Ai làm trái điều trên thì không có đạo đức Cho nên Khổng Tửkhuyên người ta “chớ xem điều trái lễ chớ nói điều trái lễ, chớ làm điều tráilễ”

Như vậy Nho Giáo cổ đại (hay còn gọi là Nho Giáo nguyên thuỷ hoặccòn gọi là Nho Gia) với các đại biểu tiêu biểu như Khổng Tử , Mạnh Tử, Tuân

Tử bên cạnh những hạn chế về lập trường giai cấp, về hoàn cảnh lịch sử, tưtưởng chứa đựng không ít mâu thuẫn, tư tưởng của họ không phải lúc nàocũng được trọng dụng, nhưng nó có những nét tiến bộ nhất định và tư tưởngnày có mặt trong tất cả các triều đại Trung Hoa Nó để lại dấu ấn của mìnhkhông chỉ trong sách vở mà cả trong cuộc sống thực của nhiều thế hệ

1.3 Đổng Trọng Thư và môn phái Hán Nho

Như trên đã trình bày, luận văn chỉ hạn chế ở những nội dung chủ yếucủa trường phái triết học Nho Gia, nhưng vì đạo Nho có ảnh hưởng sâu rộngđến nền văn hoá Việt Nam không đơn thuần chỉ là Nho Gia sơ kỳ, nên trongluận văn của mình, tác giả trình bày thêm một số né khái quát về Đổng TrọngThư và môn phái Hán Nho(11)

1.3.1 Một vài nét về hoàn cảnh lịch sử thời Lưỡng Hán và nhà tư tưởng Đổng Trọng Thư.

Năm 221 tcn, Tần Thuỷ Hoàng chinh phục sáu nước: Tề, Sở, Yên, HànTriệu, Nguỵ trong cục diện “thất hùng” thiết lập nên nhà nước phong kiếntrung ương tập quyền đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc Sau khi thống nhấtTrung Quốc, Tần Thuỷ Hoàng khai thác triệt để hơn tư tưởng Pháp Gia nhằmxoá sạch những vết tích còn lại của nhà nước phong kiến phân quyền và thiếtlập nhà nước phong kiến tập quyền Nhà Tần vừa bước ra khỏi cuộc chiếntranh tàn khốc, nhưng không những không khoan thư sức dân mà Tần ThuỷHoàng còn thi hành những chính sách phản nhân đạo, phản văn hoá như vơ

Trang 23

vét của cải và khai thác một cách khánh kiệt sức lực của nhân dân để xây dựngnhững công trình lớn như Vạn Lý Trường Thành, cung A Phòng và chính sáchtàn khốc nhất của Tần Thuỷ Hoàng trên lĩnh vực tư tưởng là giết nhà Nho vàđốt sách (chôn sống 460 nhà Nho ở Hàm dương) (12) Với chính sách phảnnhân đạo như vậy, lại không chăm lo phát triển kinh tế xã hội nhà Tần đã đẩy

xã hội vào tình trạng rối ren, các cuộc khởi nghĩa chống lại thể chế nhà Tầncủa nông dân đã liên tiếp nổ ra Trong đó có hai phong trào nổi bật nhất củaLưu Bang và Hán Võ, lật đổ nhà Tần năm 206 tcn dựng nên nhà Hán kéo dài

từ 206 tcn đến 220 scn, chia làm hai thời kỳ: Tây Hán 206 scn???*** đến 25scn, Đông Hán 25 scn đến 220 scn

Thời kỳ Lưỡng Hán là thời kỳ lịch sử có nhiều biến động chính trị xãhội sâu sắc đặc biệt là sự sụp đổ của nhà Tần hình thành nên nhà Hán Đây làthời kỳ nhờ những cuộc cải cách xã hội, mà kinh tế - xã hội, nền khoa học kỹthuật và văn hoá so với đời Tần có bước phát triển với những thành tựu đángkể

Với những đặc điểm lịch sử - xã hội của thời Lưỡng Hán, đặc biệt là với

sự chuyển biến về mặt chính trị, trực tiếp nhất là nhu cầu hình thành một hệ tưtưởng chính trị phục vụ giai cấp thống trị đương thời, mà bài học nhãn tiềncủa nhà Tần còn nóng hổi, trên cơ sở đó các học thuyết triết học ra đời pháttriển, thời kỳ này xuất hiện nhiều trường phái triết học, nhiều nhà tư tưởng lớnnhưng trong đó triết học duy tâm thần học của Đổng Trọng Thư là nổi bậtnhất

Đổng Trọng Thư (179 tcn đến 104 tcn), ông được đánh giá là một nhà

tư tưởng lớn, người học rộng biết nhiều, đam mê chính trị Đổng Trọng Thư

ba lần dâng đối sách cho Hán Vũ Đế Nếu như đế chế nhà Tần là đế chế hùngmạnh trong lịch sử Trung Quốc, nhà Tần tồn tại 15 năm (221- 206 tcn), thìnhà Hán kế tục nhà Tần duy trì tồn tại của mình hơn bốn thế kỷ Sự tồn tạihưng thịnh của nhà Hán có rất nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân nổibật là nhà Hán có hệ tư tưởng khá chặt chẽ đó là hệ tư tưởng Hán Nho Việc

Trang 24

chuyển Nho Gia với tư cách là học thuyết triết học chính trị - xã hội thànhNho Giáo - Hán Nho - là một hệ tư tưởng với những luật lệ khắc nghiệt tróibuộc con người, nhất là trói buộc đối với người phụ nữ, “công lao” đó thuộc

về Đổng Trọng Thư

1.3.2 Những nội dung triết học cơ bản của Hán Nho.

1.3.2.1 Quan điểm về thế giới.

Kế thừa những tư tưởng triết học của lịch sử Trung Quốc, Đổng TrọngThư cho rằng cái khí của trời - đất hợp là một, phân ra âm - dương chia ra bốnmùa, bày ra ngũ hành Âm, dương không phải là cứu cánh của vũ trụ mà chỉ là

sự biểu hiện một sự đồng nhất của vũ tru, mà nếu không có sự đồng nhất đóthì vũ trụ không thể giao hội được Đổng Trọng Thư cho rằng vạn vật trong vũtrụ đều có bắt đầu gọi là nguyên Ông viết: ”trời là tổ của muôn vật và vua củatrăm vị thần, trời đứng trên tất cả vì trời có ý chí có đạo đức, trời chi phối vạnvật” Ông khẳng định rằng không có trời thì vạn vật không sinh ra, không cómột mình khí dương, không có một mình khí âm, mà âm - dương trời đất phảitham hợp với nhau mới sinh ra vạn vật Ông khẳng định vũ trụ tạo nên tứ thậpđoan gồm: âm - dương, ngũ hành, tam tài, thiên - địa - nhân và cho rằng trời,người tương đồng với nhau từng điểm một

1.3.2.2 Quan điểm chính trị xã hội.

Đầu thời kì nhà Hán đã có ý tưởng sử dụng Nho Gia với Pháp Gianhưng không thành, đến Đổng Trọng Thư ông đã thực hiện hành công ý tưởngđó: ”dương Nho âm Pháp”, bên ngoài là Nho bên trong là Pháp Không chỉ kếthợp Nho Gia với Pháp Gia mà Đổng Trọng Thư còn kết hợp Nho Gia với thầnhọc Ông viết: ”nhà vua phải vừa là một vị giáo chủ vừa là một hoàng đế cóquyền hành tuyệt đối Bộ kinh Xuân Thu, Khổng Tử chép lịch sử nước Lỗ 722tcn - 480 tcn để bày tỏ thái độ chính trị của mình, Đổng Trọng Thư đã biếnkinh Xuân Thu của Khổng Tử thành bộ thánh kinh Nho Giáo

Trang 25

Đổng Trọng Thư cho rằng tính con người tuy thiện nhưng không phảihoàn toàn thiện, vì vậy cần có ông vua ở địa vị thật cao và quyền hành tuyệtđối để sửa trị, và ông vua đó có ba nhiệm vụ chính: Thừa thiên ý: trên là thừamệnh trời Minh giáo hoá: dưới phải giáo dục cho dân Chính pháp độ: giữ chopháp luật ngay thẳng.

Có thể nói rằng Đổng Trọng Thư đã kết hợp thành công Nho Gia vớiPháp Gia cộng thần học để đi đến một đường lối cai trị nhất nhất phỏng theođạo trời

Trên cơ sở hệ thống hoá quan điểm của Khổng Tử, Mạnh Tử , Tuân Tử

về mối quan hệ xã hội và phẩm chất của con người, Đổng Trọng Thư đã xâydựng một hệ thống các phạm trù: ”Ngũ luân”, ”Tam cương”, ”Ngũ thường” đểquản lí xã hội và giáo hoá con người, Đổng Trọng Thư gọi đó là hệ thống quyphạm đạo đức

Ngũ luân là năm mối quan hệ cơ bản giữa người trong xã hội: vua tôi,chồng vợ, cha con, anh em, bạn bè (quân thần, phu thê, phu tư, huynh đệ, bằnghữu) Mối quan hệ vua tôi được đặc trưng bằng chữ ”Trung” Mối quan hệ chacon được đặc trưng bằng chữ “Hiếu” Mối quan hệ vợ chồng được đặc trưngbằng chữ “Tiết”, cùng nhiều quy định nghiêm nghặt đối với người vợ như

“Tam tòng”, ”Tứ đức” Mối quan hệ anh em được đặc trưng bằng chữ “Đệ”.Mối quan hệ bè bạn được đặc trưng bằng chữ ”Thành”, ”Tín”

Những mối quan hệ này trước đây đã được Khổng Tử, Mạnh Tử đề cập

và nó có nghĩa vụ hai chiều, có điều kiện, chiều nào cũng có nghĩa vụ cả.Khổng Tử nói: ”Cha thì nhân từ con thì có hiếu” Thế nhưng đến Đổng TrọngThư , để phục vụ cho chế độ phong kiến trung ương tập quyền ông đã tước bỏtính chất nhân đạo và tiến bộ đó, đưa vào quan hệ một chiều khắc nghiệt,người dưới phải có nghĩa vụ phục tùng tuyệt đối yêu cầu của người trên Sựtuyệt đối hoá quan hệ một chiều đã tạo ra sự tuỳ tiện của kẻ trên và tạo nênmột quy luật đạo đức phi lí, phi nhân bản Tư tưởng này đến thời Tống càngtrở nên nghiệt ngã và đã đẩy con người ta đi đến chấp nhận chủ nghĩa ngu

Trang 26

trung, ngu hiếu (quân xử thần tử thần bất tử bất trung, phụ xử tử vong tử bấtvong bất hiếu)

Từ năm mối quan hệ kể trên rút lại còn ba mối quan hệ rường cột đó là

“Tam cương” “Tam cương” là ba mối quan hệ cơ bản: vua tôi, cha con, chồng

vợ Vua là rường cột của bề tôi, cha là rường cột của con, chồng là rường cộtcủa vợ Thực ra suy cho cùng ”tam cương để đạt mục đích cao nhất là “Trungquân” (trung thành tuyệt đối với vua) thể hiện tính tập trung, tính chuyên chếcủa chế độ phong kiến trung ương tập quyền của Trung Quốc

Ngũ thường là năm cái thường lí, thường tình của con người đó là:Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín Con người phải có đủ ”Ngũ thường” để thực hiệnđạo “Tam cương” ”Tam cương”, ”Ngũ thường” gọi tắt là “Cương thường” làcái hình thành nên chuẩn mực đạo đức và mô hình con người phong kiếnTrung Quốc Trong “Ngũ thường” Nhân, Lễ, Nghĩa là cái cốt lõi, nhưng nếurút gọn lại nữa thì còn nhân nghĩa, tiếp tục rút gọn lại nữa thì còn Nhân Nhân

ở vị trí trung tâm của “Ngũ thường” Do đó, Nho Giáo đánh giá con ngườithường quá chú trọng đến cái Đức mà ít chú trọng đến cái Tài, cái Trí

Sau dòng triết học có tính chất duy tâm thần bí và gia tăng tính chấtnghiệt ngã của Hán Nho, đặc biệt ở Đổng Trọng Thư, Nho Giáo lại có sự tiếptục biến đổi qua các thời kì như: Nguỵ-Tấn-Nam Bắc Triều (thế kỉ III-thế kỉVI) đạo Nho kết hợp với đạo Lão-Trang trở thành huyền học Đến đời Tống,Chu Hy (1130-1200) kết hợp Nho Gia truyền thống với tư tưởng Phật giáothành Nho học mới gọi là ”Tống Nho” hay ”Lí học” với hai phạm trù cơ bản

”lí”, ”khí” Thời Minh, Vương Thủ Nhân(1472-1528) phát triển theo hướngduy tâm và xây dựng nên học thuyết “tâm học” Đạo Nho được tiếp tục pháttriển cho đến đầu thế kỉ XX

1.4 Nhận xét chung về triết học Nho Gia.

1 Do không xuất phát từ cơ sở kinh tế xã hội để giải thích và giải quyếtcác vấn đề xã hội nói chung nên bất luận thế nào Nho Gia cũng rơi vào quan

Trang 27

điểm duy tâm lịch sử Chủ trương của Khổng Mạnh trong việc giải quyết cácmâu thuẫn xã hội không bắt đầu bằng đưa ra biện pháp trong kinh tế, mà đặtviệc tu dưỡng đạo đức cá nhân lên trên hết theo đúng lời dạy “kẻ quân tử lođạo chứ không lo nghèo đói” tu dưỡng không chỉ để cho mình có đạo đức màcòn nhằm mục đích trị dân trị nước, tạo ra xã hội lễ nhượng, bình trị Biệnpháp trị dân là dùng đức để nêu gương, để thu phục, dùng lễ nhạc để giáo hoá

tổ chức Nếu có một đôi lần nào đó trong học thuyết của mình Nho Gia nhắcđến vấn đề kinh tế như “kẻ có nước, có nhà không lo không đủ, không longhèo mà lo không yên, bởi vì đã đủ thì không có nghèo, đã yên ổn thì không

có nghiêng đổ” Hoặc tiến xa hơn một bước nữa khi Mạnh Tử chủ trương quyđịnh tài sản cho dân bằng cách Tỉnh Điền Nhưng những vấn đề kinh tế đókhông được đặt dưới góc độ kinh tế mà theo góc độ chính trị - xã hội, khôngđược giải quyết theo cách kinh tế mà theo cách đạo đức hành chính

2 Thế nhưng quan điểm duy tâm lịch sử đó vẫn tồn tại hàng ngàn năm

ở các nước Á Đông Không những thế việc áp dụng học thuyết Nho Gia vàoquản lý xã hội đã có nhiều trường hợp thành công trong việc duy trì trật tự xãhội phong kiến Sở dĩ như vậy vì xã hội truyền thống Á Đông về cơ bản không

có những cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất, trong kinh tế Tính tất yếucủa sự quy định từ nền tảng kinh tế đối với xã hội về cơ bản là biểu hiệnkhông rõ nét để tạo ra sự thống nhất trong xã hội trước hết không phải là nềntảng kinh tế nhất là đối với nền kinh tế tiểu nông, phân tán điều này chỉ cóđược trên cơ sở của việc nắm chắc, thống nhất xã hội về nền tảng chính trị đạođức mà thôi

3 Dù là một trường phái triết học duy tâm, song Nho Gia đặc biệt coitrọng các giá trị chính trị-đạo đức Trong những gía trị ấy ngoài ý nghĩa hạnchế của đẳng cấp, giai cấp chúng vẫn có những ý nghĩa nhân loại nhất định.Nhiều ý nghĩa giá trị của những chuẫn mực đạo đức của Nho Gia được quầnchúng nhân dân sử dụng trong nền tảng đạo đức của mình

Trang 28

4 Ngày này chúng ta đang cần giữ thế ổn định xã hội - điều mà Nho

Gia, Nho giáo hàng ngàn năm theo đuổi, nó đã suy tư rất nhiều về phương

cách thực hiện sự ổn định đó, nhưng học thuyết lấy đạo đức là ổn định xã hội

là hoàn toàn không tưởng (Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta không kếthừa được gì ở Nho Gia) - việc nghiên cứu, chọn lọc, kế thừa những nhân tốtích cực trong tư tưởng Nho gia là rất cần thiết Để giữ được thế bình ổn xãhội việc lấy pháp luật làm công cụ chính là lẽ đương nhiên Nhưng trong xãhội hiện đại này khi dấu hiệu khủng hoảng đạo đức ngày càng nhiều thì nhữnggiá trị đạo đức Nho Gia nêu ra 2500 - 2000 năm về trước, nếu biết kế thừachọn lọc một cách khoa học nó cũng sẽ hỗ trợ cho chúng ta rất tích cực

CHƯƠNG 2 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC

NHO GIA TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Vài nét đặc điểm du nhập và phát triển của triết học Nho Gia ở Việt Nam.

Nho Giáo có mặt tại Việt Nam từ thế kỷ II tcn, và khi đó là Hán Nho.Sau này là Tống Nho, Đường Nho, Minh Nho chứ không còn là Khổng học

sơ kỳ nữa Tuy vậy, nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã tiếp thu NhoGia một cách có chọn lọc Nho Gia chính thức được đề cao ở thời Lý, Trần

và phát triển mạnh ở địa vị độc tôn ở thời Tiền Lê Với Quốc Tử Giám,trường đại học của nhà nước được xây dựng đầu tiên ở Thủ đô Hà Nội (thế

kỷ X) và hàng loạt trường tư thục mở hầu hết ở các thôn xã, cùng với chế độkhoa cử ngày càng hoàn thiện, Nho Gia dường như trở thành vốn học mangtính chất nền tảng của xã hội Tri thức Nho Gia được đặt ở vị trí tôn quý trongtriều ngoài nội Nho Gia đã tồn tại và phát triển kết hợp với truyền thốngnhân đạo và yêu nước của Việt Nam, nhờ đó nó tồn tại cùng dân tộc ViệtNam và cùng tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần trong đấu tranh bảo vệđộc lập dân tộc Việt Nam suốt trên mười thế kỷ Thời kỳ đấu tranh giành độclập dân tộc (207 tcn - 938 scn) có thể thấy đây là thời kỳ ảnh hưởng ngày

Trang 29

càng rộng, ngày càng sâu của Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam.Trong đó, từ thế kỷ III đến thế kỷ VI là Hán Nho, thế kỷ VI đến thế kỷ X làTống Nho với thế Nho - Phật - Lão đồng nguyên, mà chủ yếu là Nho giáo vàPhật giáo giữ địa vị tư tưởng độc tôn trong tư tưởng dân tộc Việt Thời kỳđấu tranh gin giữ độc lập dân tộc (thế kỷ X - thế kỷ XV), Phật giáo phát triểnmạnh trở thành như quốc giáo rồi dần suy yếu, thay thế nó là Nho giáo (TốngNho) tồn tại như một hiện tượng hiển nhiên và phát triển mạnh dần thành vịtrí độc tôn trong tư tưởng dân tộc Việt Nam Ở thời kỳ ổn định và thịnh trịcủa xã hội phong kiến Việt Nam (thế kỷ X - thế kỷ XVII) Nho giáo (MinhNho) ở vị trí độc tôn trong tư tưởng cùng phát huy những tư tưởng truyềnthống dân tộc Việt Nam đã giúp triều đại phong kiến nhà Lê phát triển đếnthịnh trị Ở thế kỷ XVII - XVIII là thời kỳ khủng hoảng của Nho giáo trongđời sống tinh thần thần Việt Nam Ở thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Nho giáotrở lại vị trí độc tôn trong tư tưởng dân tộc thời kỳ nhà Nguyễn, tuy nhiên nhàNguyễn vẫn phải dựa vào Phật giáo để thu phục nhân tâm trong công cuộccủng cố vị trí và sức mạnh của vương triều

Những năm giữa thế kỷ XIX, trước sự thử thách của một cuộc xâm lượccủa đế quốc phương Tây, Nho Gia bộc lộ đầy đủ các nhược điểm của nó Uythế Nho Gia bị sụp đổ từng mảng và đổ sụp hoàn toàn trước sức mạnh củachiến thuyền và đại bác Choáng váng trước văn minh kỹ thuật châu Âu, bảnthân các nho sỹ cũng không giữ được niềm tin đối với các tín điều mà từ xưa

họ vẫn tôn thờ là thiên kinh địa nghĩa Ngay tại quê hương mình Nho Giacũng bị tấn công quyết liệt và bị đập phá không thương tiếc bởi phong tràovăn hoá mới (Tân văn hoá vận động), mà tiêu biểu là các nhà tư tưởng tiênphong như Lỗ Tấn, Hồ Thích, Trần Độc Tú, Tiền Huyền Đồng, Ngô Thu Tình hình đó được diễn lại đạt đỉnh cao trong đại cách mạng văn hoá vô sảncủa Trung Quốc

Ơ Việt Nam, mặc dù Nguyễn Ai Quốc sớm nhận định rằng chủ trương

”thế giới đại đồng” của Khổng Tử có nhiều điểm tiến bộ, có thể thích nghi dễ

Ngày đăng: 06/01/2014, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Trọng Kim. Đại Cương Triết Học Trung Quốc-Nho Giáo. Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Cương Triết Học Trung Quốc-Nho Giáo
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh
16. Tạp chí cộng sản số 9 tháng 8 năm 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí cộng sản
Năm: 1995
17. Tạp chí cộng sản Số 2 tháng 12 năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí cộng sản
Năm: 1996
1. Doãn Chính, Trương Văn Chung, Vũ Tình, Nguyễn Thế Nghĩa. Đaii cương triết học Trung Quốc. Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia. Hà Nội-1997 Khác
3. Triết Học-Đề Cương Bài Giảng dành cho học viên sau cao học-Hà Nội.1999 Khác
4. Đại cương lịch sư triết học phương đông. Võ Ngọc Huy, Nguyễn Văn Hoà. Huế - 1994 Khác
5. Tư tưởng phương đông gợi những điểm nhìn tham chiếu. Cao Xuân Huy. Nhà xuất bản Văn học Khác
6. Đoàn Đức Hiếu. Giao trình triết học. Huế -1994 Khác
7. Vũ Khiêu. (CB) Nho Giáo xưa và nay. NXB Khoa Học Xã Hội. Hà Nội- 1990 Khác
8. Nguyển Hà Giang. Nho Giaó và sự ảnh hưởng của Nho Giaó tại Việt Nam . khoá kuận tốt nghiệp Khác
9. Phan Đại Doãn (CB). Một số vấn đề Nhoa Giáo ở Việt Nam 10. Nguyễn Đăng Duy. NXB. Hà Nội-1998 Khác
11. Mạnh Tử. Linh hồn của nhà Nho. NXB. Đồng Nai Khác
13. Trung tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn quốc gia, Viên Triết Học.Nho Giaó tại Việt Nam. Nhà xuất bản khoa học xã hội. Hà Nội-1994 Khác
14. Bùi Thanh Quất, Vũ Tình. Lịch sử triết học. Nhà xuất bản Giáo Doanh nghiệp Khác
15. Đảng cộng sản Việt Nam.đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. NXB.Chính Trị Quốc Gia. Hà Nội- 1996 Khác
2. Doãn Chính, Đại cương triết học Trung Quốc, NXB Chính trị quốc gí Hà Nội, tr 47 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w