Trong số những vị vua, các nhà thiền sư của nhà Trần, thì Trần Nhân Tông nổi lên là vị hòa thượng chân tu, một nhà thiền học có công lớn nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.. Ở đây có
Trang 1Nhóm sinh viên thực hiện:
Hoàng Trần Như Ngọc, Nguyễn Thị Thu Hà
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đặc sắc của Phật giáo đời Trần là tính tích cực nhập thế Trong số những vị vua, các nhà thiền sư của nhà Trần, thì Trần Nhân Tông nổi lên
là vị hòa thượng chân tu, một nhà thiền học có công lớn nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam Ông sáng lập ra một tông phái Phật giáo mang bản sắc Việt Nam - thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Nghiên cứu triết học Phật giáo của Trần Nhân Tông có ý nghĩa vô cùng to lớn cả về thực tiễn và lý luận Với những lý do trên chúng tôi chọn
đề tài “Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học
Phật giáo của Trần Nhân Tông” để làm đề tài
Trang 32 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về những tư tưởng Phật giáo của Trần Nhân Tông Ở đây có thể nêu lên một số tác giả tiêu biểu sau: Nguyễn Đức Sự,
Lê Mạnh Thát, Nguyễn Tài Thư, Hoàng Ngọc Vĩnh, v.v
Trong quá trình thực hiện đề tài “Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo của Trần Nhân Tông” nhóm tác giả đã kế
thừa những thành tựu đã đạt được trong các công trình nêu trên là khẳng định: Phật giáo Trúc Lâm là nhập thế, phụng sự cho đời sống; giải thoát tâm linh cũng như giải thoát đời sống xã hội luôn liên quan đến nhau, bổ túc
Trang 43 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Góp phần
làm sáng tỏ vị trí vai trò của Trần Nhân Tông trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là tư tưởng về bản thể luận và nhân sinh quan của Trần Nhân Tông; những đóng góp của ông trong sự phát triển tư tưởng triết học Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Trình bày cơ
sở hình thành tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông; Làm sáng tỏ một số nội dung triết học Phật giáo cơ bản của Trần Nhân Tông như bản thể luận, nhân sinh quan; Làm rõ những đóng góp của Trần Nhân
Trang 54 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Đề tài dựa trên những nguyên tắc của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về vấn đề tôn giáo.
Phương pháp nghiên cứu: Phép biện chứng duy vật, với
những nguyên tắc khách quan, toàn diện, phát triển, lịch
sử cụ thể là phương pháp nghiên cứu xuyên suốt của đề tài; Bên cạnh đó đề tài còn sử dụng các phương pháp cụ thể khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, trừu tượng hóa, khái quát hóa v.v để thực hiện đề tài
Trang 65 Đóng góp của đề tài:
Đề tài góp phần làm sáng tỏ giá trị tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông, đặc biệt là bản thể luận và nhân sinh quan của ông; Đề tài là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến nền văn hóa Việt Nam và triết học Việt Nam nói riêng, mà
sự quan tâm này là một nhu cầu cấp bách và to lớn trong xã hội hiện nay
6 Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh
mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết
Chương 1: Cơ sở hình thành tư tưởng triết học Trần Nhân Tông
Chương 2: Những nội dung cơ bản trong triết học Phật giáo của Trần Nhân Tông
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN NHÂN TÔNG 1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
• Sau kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thắng lợi, do nhiều nguyên nhân khác nhau như mất mùa, đói kém làm nhân dân rơi vào tình trạng bần cùng hóa Trong khi đó, quan lại, quý tộc nhà Trần chiếm hết ruộng đất, ăn chơi xa xỉ, không quan tâm đến cuộc sống của người dân
• Nhận thức được những mâu thuẫn sau kháng chiến chống quân Nguyên-Mông thắng lợi, tập đoàn quý tộc tôn thất nhà Trần đã cố gắng xoa dịu mâu thuẫn.
Trang 81.2 Nguồn gốc tư tưởng
Trang 91.3 Phẩm chất đặc biệt của Trần Nhân Tông
• Không phải ngẫu nhiên lịch sử tôn vinh Trần Nhân Tông là vị anh hùng, là nhà văn hoá của dân tộc Ông là vị vua có công lớn trong việc lãnh đạo nhân dân Đại Việt hai lần đánh thắng quân Nguyên-Mông
• Trần Nhân Tông là nhà thiền sư lớn Tất cả những tư tưởng của ông đều được lãnh hội trên tinh thần dung hợp Nho, Phật và coi nó có tính chất chỉ đường cho cuộc đời hoạt động của chính mình và thế hệ mai sau
• Ngoài ra, Trần Nhân Tông còn là một nhà thơ, nhà văn có những đóng
góp cho thơ văn thời Trần lúc bấy giờ Đặc biệt là tác phẩm Cư trần lạc đạo phú.
• Xuất gia tu hạnh Đầu Đà nhưng vẫn không tách biệt với xã hội đời thường, chú trọng đến hình tướng của sự vật, hành động nhiều hơn Khuynh hướng của ông là lấy đạo giúp đời và lấy đời giúp đạo
• Trần Nhân Tông đã có những đóng góp trong việc tập hợp, xây dựng và củng cố một giáo hội Phật giáo thống nhất
Trang 10CHƯƠNG 2
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
CỦA TRẦN NHÂN TÔNG 2.1 Vấn đề thế giới quan trong tư tưởng triết học Phật giáo của Trần Nhân Tông
Trần Nhân Tông dùng khái niệm bản và gốc để làm sáng tỏ vấn đề bản thể của vũ trụ và vạn vật
• Ông dùng chữ bản là muốn nói tới cái gốc, cái ngọn nguồn, cái bản nguyên, cái đầu tiên trong vũ trụ Điều
này được ông nói trong bài Cư trần lạc đạo phú Do
ta quên gốc, “khuấy bản” phải đi cầu Phật Đến khi hiểu ra thì chính Phật là ta
Trang 11• Nếu ở Trần Thái Tông bản thể sâu trầm, trong lặng như như, không vương chút niệm lự, trong suốt, xưa nay không gợn một bụi nhơ; còn Tuệ Trung Thượng Sĩ bản thể như nhiên tự không tịnh, vằng vặc chưa hề có mê lầm; thì ở Nhân Tông bản thể lặng yên trong trẻo.
• Thực ra, tuy diễn đạt có khác nhau, nhưng tư tưởng của ba ông là một Nhưng những thiền ngữ của Trần Thái Tông thì bóng bẩy, của Tuệ Trung Thượng Sĩ thì mạnh mẽ, mãnh liệt, còn của Trần Nhân Tông thì thực tế, chững chạc
Trang 12 Bản thể, Phật tính, theo Trần Nhân Tông về thực chất thì ai cũng có đầy đủ, viên thành Trần Nhân Tông cho rằng tâm (hay lòng) là Phật, Phật là tâm (hay lòng), Phật
ở trong tâm (hay lòng), ngoài tâm (hay lòng) không có Phật
Khi đã làm cho Phật tính trong trẻo tròn đầy lại như xưa, tức là khi đã giác ngộ, thì làm gì còn tội phúc, nhân quả
Trần Nhân Tông quan niệm về nguồn gốc xuất hiện thế giới cảm tính, xuất hiện dường mối, xuất hiện hiện hữu
là do phân biệt kén chọn Ông nói: “Chỉ vì phân biệt kén chọn, nên sinh ra lắm mối nhiều đường”.
Trang 13 Điểm vượt xa hơn Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ là ở chỗ Trần Nhân Tông đề cập đến mối quan hệ giữa Phật tính và Pháp thân, giữa tâm, tính, pháp và Phật
Theo ông, Phật tính và Pháp thân như hình với bóng, không lìa nhau, “Pháp tức là tính, Phật tức là tâm, vậy thì tính nào không phải pháp, tâm nào không phải là Phật? Tâm là Phật mà tâm cũng là pháp” Phật tại tâm Với Trần Nhân Tông, Phật, tâm, pháp, tính, pháp tính, tính Phật… cũng chỉ là phương tiện, vấn đề là chứng ngộ
Trang 142.2 Vấn đề nhân sinh quan trong tư tưởng của Trần Nhân Tông
Trung thành với triết lý Phật giáo, cốt lõi nhân sinh quan của Trần Nhân Tông là quan niệm về nhân quả
• Trần Nhân Tông đã thấu hiểu nhân quả, song ông lại giải quyết theo phương pháp “đối cảnh vô tâm” Ở trình độ này, chẳng có gì có thể xen vào, gặp cảnh thì hành xử tự tại, không so sánh phân chia, áp đặt bất cứ một khái niệm, ngôn từ nào
Trang 15 Xuất phát từ quan niệm tâm chính là Phật (tức tâm tức Phật), Phật ở trong tâm (Phật tại tâm trung), Trần Nhân Tông cho rằng, chỉ cần loại bỏ được vọng niệm, ngay lập tức quay về tâm thanh tịnh là đạt đến giải thoát.
• Quan niệm tâm chính là Phật của Trần Nhân Tông đóng vai trò làm nền tảng lý luận cho giáo nghĩa của ông.
Đối với Trần Nhân Tông, con đường hiện thực để thành Phật chính là sự giác ngộ của “bản tính” trong mỗi một con người, nhấn mạnh đến truy cầu nội tại từ trong tâm Phật tính nằm ngay trong tâm mình, không cần phải hướng ngoại, truy cầu ở sự vật “Kiến tính thành Phật”, cần phải tự chứng nghiệm trong tâm thân của mình, chứ không phải là đi lĩnh hội từ sắc
Trang 16• Trên phương diện này, Trần Nhân Tông xác lập quy tắc cho Thiền phái Trúc Lâm: chú ý đến các quy phạm đạo đức, không coi nhẹ tu dưỡng ngôn - hành, chú trọng mối quan hệ giữa “đốn” và “tiệm”
Ngoài ra, ông có những kiến giải mới về sự kết hợp giữa Nho giáo với Phật giáo và những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc tạo nên con người Phật giáo của Thiền Trúc Lâm
Một trong những tư tưởng không thể không nói đến khi
đề cập đến tư tưởng thiền chính là học thuyết vô niệm của Trần Nhân Tông Thiền không phải là kinh viện, mà
là cuộc sống, do đó cần phải “bất lập văn tự”, “trực chỉ
Trang 17 Xu hướng nhập thế là một vấn đề nổi bật trong
quan niệm nhân sinh quan của Trần Nhân Tông
Nó thể hiện tư tưởng “gắn đời với đạo” của ông
góp phần đưa Phật giáo tham gia vào đời sống xã hội, vào sự nghiệp của dân tộc
• Dù chưa xuất gia nhưng tư tưởng, hành động của ông đã thấm nhuần triết lý nhà Phật Là một người
mộ đạo nhưng ông cũng là một vị vua, hơn nữa lại
là một vị vua yêu nước, ông nhận rõ những nguy
cơ đối với sự tồn vong của dân tộc Khi chiến tranh
nổ ra, ông đã cùng với quân dân nếm mật, nằm gai, chiến đấu oanh liệt cho đến ngày toàn thắng
Trang 18• Tư tưởng Phật giáo của Trần Nhân Tông đã thể hiện khuynh hướng nhập thế tích cực với mục đích cứu nhân
độ thế, giải thoát chúng sinh bằng hành động thực tế là bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc, tránh cho nhân dân khỏi cảnh cửa nát, nhà tan, lầm than, đau khổ
• Sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm chính là kết quả của những nỗ lực đưa Phật giáo sát cánh cùng dân tộc, trở thành hệ tư tưởng chủ đạo của xã hội.
• Trần Nhân Tông chủ trương tìm Phật ngay trong cuộc sống hiện tại, sống giữa đời mà vui với đạo Mấu chốt của vấn đề ở đây là “chân lý giải thoát”, mà chân lý ấy tồn tại ở khắp mọi nơi, nhất là trong cuộc đời trần tục Đạo và đời không có gì phân biệt dù ở “thành thị” gánh vác việc đời mà tấm lòng thanh tịnh thì cũng chẳng khác
gì đang phiêu diêu tự tại chốn “sơn lâm”.
Trang 19• Tinh thần “vui đạo tùy duyên” mà Trần Nhân Tông đưa
ra đã khẳng định tu ở giữa đời thì phải giúp ích cho đời
vì làm việc cho đời cũng là làm việc cho đạo Khuynh hướng này khuyến khích con người sống “tốt đời đẹp đạo”, cứu nhân độ thế bằng chính những việc làm có ích với đời
• Để thống nhất tư tưởng trong nhân dân tạo cơ sở cho
sự đoàn kết – yếu tố sống còn của dân tộc, Trần Nhân Tông đứng ra thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - một Thiền phái hoàn toàn mang màu sắc Việt Nam
Trang 20• Trần Nhân Tông lấy giáo nghĩa Phật giáo để trị nước, lấy đạo đức Phật giáo làm tiêu chuẩn cho đạo đức xã hội Song, không chủ trương loại bỏ các tôn giáo hay học thuyết khác để độc tôn Phật giáo.
• Với tinh thần nhập thể cởi mở và khai phóng như vậy, Trần Nhân Tông đã làm cho giáo pháp thiền phái Trúc Lâm trở thành cầu nối giữa triều đình và người dân Thiền học của ông không chỉ dành riêng cho một tầng lớp quý tộc hay bó buộc trong triều đình, mà đối tượng của nó thực sự được mở ra cho tất cả mọi người phù hợp với xã hội Việt Nam
Trang 21• Dù ở nơi trần tục trên ngôi cao chín bệ hay ở đỉnh Yên Tử với cuộc sống thanh tao, đạm bạc, nhưng
tư tưởng và hành động của Trần Nhân Tông đều thể hiện khuynh hướng nhập thế hết sức tích cực
• Cuộc đời của ông là ngọn đèn Thiền sáng nhất soi lối cho chúng sinh tới bến bờ giác ngộ, bất kể kẻ tăng hay tục, đời hay đạo chẳng câu nệ hình thức, chỉ cần có tấm lòng hướng thiện, vì dân vì nước thì sẽ tìm ra chân lý giải thoát
Trang 222.3 Đóng góp và ảnh hưởng của Trần Nhân Tông đối với Phật giáo Việt Nam
• Đóng góp của Trần Nhân Tông về mặt tư tưởng là ở chỗ, ông là người tổng hợp, tiếp thu, kế thừa và phát triển những tư tưởng thiền học trước ông như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Triết học Trần Nhân Tông cũng lấy thiền làm căn bản, làm gốc nhưng
đã phát triển lên một bước mới.
• Đối với Trần Nhân Tông, con người sống giữa cuộc đời trần tục vẫn có thể tu luyện để đi đến giác ngộ, vẫn có thể kiến tính tại tâm, thấy được tính sáng và gìn giữ được tính sáng Với việc chỉ ra con đường giác ngộ như vậy, Trần Nhân Tông đã làm cho Phật giáo Việt Nam mang trong mình tinh thần yêu nước
Trang 23• Một cống hiến quan trọng của Trần Nhân Tông đối với Thiền học Việt Nam thời Trần là ông đã nâng tư tưởng nhập thế của Thiền học thời Trần lên một tầm cao mới Theo ông, nhập thế không chỉ là “tại thế gian giác”, mà nhập thế phải là sự “giúp thế” có hiệu quả và ích cực hơn Giúp thế là phải có những đóng góp hết sức mình cho cuộc chiến tranh giữ nước và xây dựng nền văn minh Đại Việt hồi ấy
• Công lao lớn nhất của Trần Nhân Tông là việc tổ chức, xây dựng thiền phái Trúc Lâm - một tổ chức thống nhất mang tính cách dân tộc - để lại dấu ấn đậm nét không chỉ trong lĩnh vực chính trị và văn hóa đời Trần mà còn cả trong lịch
sử Phật giáo Việt Nam
Trang 24Với tinh thần nhập thế, cởi mở và khai phóng, Trần Nhân Tông đã khiến giáo pháp Thiền phái Trúc Lâm trở thành cầu nối giữa triều đình và người dân Đối tượng thiền học của ông đã thực sự mở ra cho tất cả mọi người, phù hợp với xã hội Việt Nam Thiền của ông không thoát ly cuộc sống, mà ngược lại, nó lúc nào cũng mang đẫm hơi thở của cuộc sống.
Trang 25C KẾT LUẬN
Triết học thiền của Trần Nhân Tông là sự kế tục và phát triển những tư tưởng truyền thống của thiền tông Việt Nam với văn hóa Việt Nam:
• Thứ nhất, trên cơ sở nội dung của khái niệm “tâm” được hình thành ở các thế hệ trước, Trần Nhân Tông đã chú trọng đến khía cạnh trạng thái, hình tướng của cái “tâm” cụ thể hóa nó, làm cho nó phong phú thêm, dễ hiểu hơn với ý thức phổ cập hóa triết lý Phật giáo trong quần chúng nhân dân.
• Thứ hai, trong quan niệm về thiền, Trần Nhân Tông không
đi sâu vào quan niệm lý luận, mà chú ý nhiều đến việc hành thiền Ông là người đầu tiên có ý thức cụ thể hóa các bước đi trong quá trình tu thiền, chọn lọc các kinh nghiệm
Trang 26• Thứ ba, phong cách diễn đạt tư tưởng về thiền ở Trần Nhân Tông có những nét độc đáo, riêng biệt: chủ yếu dùng lời lẽ bình dị, mộc mạc, cụ thể
và thực tế, vì vậy mà nó dễ đi vào lòng người
• Thứ tư, Trần Nhân Tông đã dùng chữ nôm để trình bày tư tưởng của mình trong phần cuối bài
Cư trần lạc đạo Ở đây, ông đã thể hiện rõ ý thức tách ra khỏi văn hóa Trung Hoa để xây dựng một hệ tư tưởng và tôn giáo độc lập riêng biệt tương xứng với một quốc gia độc lập, có chủ quyền dân tộc
Trang 27• Tầm cao tư tưởng và sự nghiệp vĩ đại của Trần Nhân Tông đã để lại cho các tầng lớp nhân dân nước ta ngày nay những bài học vô cùng quý giá
• Trước hết, đối với Phật tử, đó là bài học về sự chân tu theo lời dạy của Đức Phật phải kết hợp với sự tham gia tích cực vào công cuộc dựng nước và giữ nước toàn dân bảo đảm vừa tốt đời vừa đẹp đạo, vừa đi theo chính đạo của Phật giáo, vừa gắn mình với khối đại đoàn kết dân tộc và phục vụ cho lợi ích dân tộc
• Còn đối với tất cả con dân Việt Nam hôm nay đó là bài học về sự quyết tâm giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh giữ nước và trong xây dựng hòa bình để làm cho dân giàu nước mạnh, “non sông nghìn thủa vững âu vàng” Đó còn là bài học về niềm tin vào sức mạnh của đông đảo nhân dân và hết lòng quan tâm lợi ích của nhân dân