1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI-THẢO-LUẬN-LUẬT-LAO-ĐỘNG-CHƯƠNG-4

11 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 35,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây: a Phải được sự đồng ý của người lao động; b Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao

Trang 1

CHƯƠNG IV: THỜI GIỜ LÀM VIỆC - THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI

I LÝ THUYẾT

1.1 Hãy giải thích ngắn gọn các câu hỏi sau:

1.1.1 Người sử dụng lao động có vi phạm pháp luật hay không khi quy định thời giờ làm việc tiêu chuẩn của người lao động trong một ngày là 12 giờ?

CSPL: Điều 105 BLLĐ 2019

Từ quy định trên xét thấy, trường hợp thời giờ làm việc bình thường trong một ngày của người lao động là 08 giờ và không quá 48 giờ/ngày

Trong trường hợp làm việc theo tuần thì thời gian làm việc bình thường không quá

10 giờ/ngày và không quá 48 giờ/tuần

Việc quy định về thời giờ làm việc như trên là khá hợp lý, tạo hành lang pháp lý nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động trong quan hệ lao động để làm việc được lâu dài,

có lợi cho cả hai bên, có tính đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, vừa không thiệt hại cho sản xuất kinh doanh, vừa không làm giảm sút khả năng lao động, khả năng sáng tạo của người lao động, suy cho cùng là nhằm bảo vệ việc làm, tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của lao động, hướng vào chiến lược con người

Như vậy, người sử dụng lao động sẽ vi phạm quy định của pháp luật lao động nếu quy định thời giờ làm việc tiêu chuẩn của người lao động trong một ngày là 12 giờ

1.1.2 Nếu người lao động đồng ý, người sử dụng lao động có quyền sử dụng người lao động làm thêm giờ vượt mức 300 giờ/ năm hay không?

BLLĐ 2019 có những quy định về việc người sử dụng lao động sử dụng người lao động làm thêm giờ cần đáp ứng những điều kiện cụ thể tại Khoản 2 Điều 107 BLLĐ 2019

“Điều 107: Làm thêm giờ

2 Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy

đủ các yêu cầu sau đây:

a) Phải được sự đồng ý của người lao động;

b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng;

c) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.”

Như vậy người sử dụng chỉ có quyền sử dụng người lao động không quá 200 giờ trong 1 năm theo Điểm c Khoản 2 Điều 107 của BLLĐ 2019 và có sự đồng ý của người

Trang 2

lao động Vậy nếu dù người lao động có đồng ý thì người sử dụng lao động không có quyền sử dụng người lao động làm thêm giờ vượt mức 300 giờ/ năm

1.1.3 Người lao động làm việc trên 8 giờ/ngày có được xem là làm thêm giờ không?

Người lao động làm việc trên 8 giờ/ngày được xem là làm thêm giờ

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 105 BLLĐ 2019 về Thời giờ làm việc bình

thường: “1 Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá

48 giờ trong 01 tuần." Thì thời gian làm việc bình thường được quy định không quá 08 giờ trong 1 ngày

Và theo quy định tại Khoản 1 Điều 107 BLLĐ 2019 về Làm thêm giờ:” 1 Thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động."

Vậy kết hợp hai cơ sở pháp lý nêu trên thì ngoài thời gian làm việc bình thường theo quy định của pháp luật (08 giờ/ ngày) thì thời gian làm việc còn lại là thời gian làm thêm giờ Trừ trường hợp giờ làm việc bình thường được tính theo tuần quy định tại

Khoản 2 Điều 105 BLLĐ 2019: "2 Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần." Thì thời giờ làm việc 1 ngày có thể hơn 8 giờ (nhưng vẫn tính

là giờ làm việc bình thường) nhưng không quá 10 giờ và không quá 48 giờ trong 01 tuần

1.1.4 Người sử dụng lao động có bắt buộc phải bố trí cho người lao động nghỉ ít nhất một ngày cố định trong tuần trong tuần hay không?

CSPL: Điều 111 BLLĐ 2019

Như vậy, NSDLĐ bắt buộc phải bố trí cho người lao động nghỉ ít nhất một ngày

cố định trong tuần Trường hợp làm thêm vào ngày nghỉ thì NSDLĐ bắt buộc phải chi trả tiền lương làm thêm ngoài giờ và việc tăng ca phải là sự thỏa thuận đồng ý của 2 bên

1.2 Phân tích những biểu hiện của nguyên tắc bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ trong các quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi.

CSPL:

- Thời giờ làm việc (Khoản 2,3 Điều 105; Khoản 2,3,4 Điều 107 BLLĐ 2019)

- Thời giờ nghỉ ngơi (Khoản 2 Điều 109; Khoản 1,2 Điều 111; Khoản 4 Điều 113 BLLĐ 2019)

Người lao động làm việc ngoài những thời gian được xác định là thời giờ làm việc bình thường theo quy định pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động được tính là làm thêm giờ Việc người sử dụng lao động sử dụng người lao động làm thêm giờ phải đáp ứng điều kiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 107 BLLĐ 2019

Trang 3

1.3 Phân tích những biểu hiện của nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh

tế với chính sách xã hội trong các quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi.

Việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động không chỉ đặc biệt có ý nghĩa với người lao động mà còn có ý nghĩa đối với người sử dụng lao động và Nhà nước từ đó cho thấy được sụ kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách

xã hội:

- Đối với người lao động, việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có hai ý nghĩa cơ bản Đầu tiên là đảm bảo cho người lao động có điều kiện thực hiện đầy đủ nghĩa vụ lao động, đồng thời làm căn cứ cho việc hưởng thụ tiền lương, thưởng Thứ hai việc quy định giữa TGLV và TGNN có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo hộ lao động, đảm bảo quyền nghỉ ngơi của người lao động Vì mục đích lợi nhuận, người sử dụng lao động thường có xu hướng tận dụng, kéo dài thời gian làm việc để khai thác sức lao động của người lao động với năng suất tối đa nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất và ít tốn kém nhân lực Việc quy định thời giờ làm việc ở mức tối đa, thời giờ nghỉ ngơi tối thiểu hoặc rút ngắn thời giờ làm việc với người lao động có ý nghĩa quan trọng nhằm tránh sự lạm dụng sức lao động của người lao động, đảm bảo tái sản xuất sức lao động (đảm bảo nền kinh tế vững chắc và dài lâu hơn), hạn chế tai nạn lao động

- Đối với người sử dụng lao động, quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi giúp

họ xây dựng kế hoạch tổ chức sản xuất, sử dụng lao động hợp lí, khoa học, từ đó hoàn thành được mục tiêu sản xuất kinh doanh đã đề ra Căn cứ vào khối lượng công việc, tổng thời gian cần thiết hoàn thành và số thời gian làm việc pháp luật quy định với mỗi người lao động mà người sử dụng lao động xây dựng định mức lao động, xác định được chi phí nhân công và bố trí sử dụng lao động linh hoạt, hợp lí, đảm bảo hiệu quả cao nhất Mặt khác, đây cũng là cơ sở pháp lí cho người sử dụng lao động thực hiện quyền quản lí, điều hành, giám sát lao động và xử lí kỉ luật lao động

- Đối với Nhà nước, việc quy định TGLV, TGNN không chỉ thể hiện chức năng, nhiệm vụ quan trọng trong việc tổ chức, điều hành hoạt động lao động xã hội mà còn thể hiện rõ thái độ của Nhà nước đối với lực lượng lao động - nguồn tài nguyên quý giá nhất của quốc gia Ở khía cạnh khác, quy định còn phần nào cho thấy trình độ phát triển, điều kiện kinh tế của quốc gia và tính ưu việt của chế độ xã hội

 Các quy định về TGLV, TGNN chính là công cụ điều tiết của Nhà nước nhằm bảo vệ sức lao động xã hội, nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia Bên cạnh đó các quy định này còn giúp điều tiết cung cầu trong lao động xã hội, đảm bảo sự phát triển kinh tế, Các ý nghĩa này đan xen nhau, liên quan mật thiết với nhau, tạo tiền đề hình thành nên sự kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong LLĐ cụ thể là trong các chế định TGLV, TGNN

1.4 Phân tích cơ sở xây dựng và ý nghĩa của các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi.

Cơ sở sinh học

Trang 4

Lao động là điều kiện để con người tồn tại và phát triển Về mặt sinh học, lao động với nội dung và hình thức nào thì cũng là sự tiêu hao trí não, thần kinh, cơ bắp, cơ quan cảm giác… đến một giới hạn nhất định sẽ xuất hiện cảm giác mệt mỏi, kiệt sức, do đó, phải có giới hạn để đảm bảo khả năng để người lao động được nghỉ ngơi và phục hồi Dưới góc độ tâm lý, hoạt động tri giác quá lâu sẽ gây ra mệt mỏi tâm lý, các cơ quan nhạy cảm bị ức chế dẫn đến cảm giác nhàm chán, đơn điệu, thiếu hứng thú làm việc Để giải tỏa hiện tượng đó cũng đòi hỏi phải chuyển sự chú ý của hệ thần kinh sang loại hoạt động khác mang tính tự do, khác với hoạt động lao động Như vậy, thời giờ làm việc là cần có giới hạn và được nghỉ ngơi là nhu cầu sinh lí tự nhiên Điều này đòi hỏi phải thời giờ lao động và thời giờ nghỉ ngơi phải có được sự bố trí hợp lý, đảm bảo nhu cầu tự nhiên của con người và hiệu quả của lao động

Cơ sở kinh tế-xã hội

Điều kiện kinh tế-xã hội, trong đó năng suất lao động và nhu cầu của con người là nhân tố quan trọng, quyết định nhất đến việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cụ thể Cùng một khối lượng công việc và nhân công nhất định, thời gian hoàn thành công việc nhiều hay ít phụ thuộc chủ yếu vào năng suất lao động Nếu năng suất lao động thấp, thời gian lao động sẽ mất nhiều hơn và ngược lại, nếu năng suất lao động cao đương nhiên thời gian lao động sẽ ít đi, kéo theo thời gian nghỉ ngơi có nhu cầu tăng lên

Trước đây, do trình độ khoa học-kĩ thuật còn yếu, năng suất lao động thấp nên thời giờ làm việc của người lao động còn kéo dài (14 - 16 giờ/ngày) Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học-kỹ thuật, lao động chân tay đã được thay thế dần bởi phương tiện, máy móc hiện đại, năng suất lao động tăng lên, đời sống dần được cải thiện, kéo theo nhu cầu giảm giờ làm, tăng thời giờ nghỉ ngơi Điều này đã được đánh dấu bằng việc quy định thời giờ làm việc tối đa không quá 8 giờ/ngày hoặc 40 giờ/tuần ở hầu hết các quốc gia, thậm chí một số quốc gia còn quy định thời gian làm việc ít hơn, để tạo điều kiện cho người lao động nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động xã hội khác Theo thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế tại 48 quốc gia trên thế giới, có 31/48 quốc gia quy định thời giờ làm việc tiêu chuẩn là 40 giờ/tuần hoặc ít hơn, 7/48 quốc gia quy định thời giờ làm việc tiêu chuẩn từ 41 đến 47 giờ/tuần và 10 nước quy định thời giờ làm việc tiêu chuẩn là 48 giờ/tuần

Việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cụ thể ở các quốc gia khác nhau đều chủ yếu dựa trên cơ sở điều kiện phát triển của kinh tế với yếu tố quan trọng là năng suất lao động ở từng giai đoạn Bên cạnh đó, các yếu tố xã hội, phong tục tập quán cũng có những tác động nhất định Điều này cũng lí giải cho một thực tế là thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của các quốc gia khác nhau có sự khác nhau, thậm chí ngay ở các quốc gia được đánh giá có trình độ kinh tế-xã hội tương đương nhau vẫn có sự khác nhau nhất định

Cơ sở pháp lý

Nhận thức được làm việc và nghỉ ngơi là quyền cơ bản của người lao động trong quan hệ lao động, pháp luật quốc tế cũng như các quốc gia đều ghi nhận quyền này trong

Trang 5

các văn bản pháp lý có giá trị cao Trên phương diện pháp luật quốc tế, người lao động trên thế giới được hưởng chung khung thời gian làm việc nghỉ ngơi do các tổ chức quốc

tế toàn cầu như Liên hợp quốc, Tổ chức Lao động quốc tế đưa ra Điển hình là Công ước số 1 năm 1919 về độ dài thời gian làm việc công nghiệp, Công ước số 30 năm 1930

về độ dài thời gian làm việc khu vực văn phòng, Công ước số 47 năm 1935 về làm việc

40 giờ một tuần, Công ước số 106 năm 1957 về nghỉ hàng tuần, Công ước số 132 năm

1970 về nghỉ hàng năm Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng cho các quốc gia cụ thể hoá thời giờ làm việc, nghỉ ngơi phù hợp pháp luật quốc tế và đặc điểm riêng của mình

Giống như hầu hết các quốc gia khác, Việt Nam cũng ghi nhận quyền làm việc và nghỉ ngơi trong văn bản có giá trị pháp lý cao nhất - Hiến pháp ở các giai đoạn và rất nhiều các văn bản luật khác Trong lĩnh vực lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là một chương độc lập trong BLLĐ 2019 (Chương VII) với những quy định chung Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các đơn vị sử dụng lao động cụ thể hoá chế độ thời giờ làm việc, nghỉ ngơi phù hợp với điều kiện riêng của đơn vị mình

Ý nghĩa của các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

Việc quy định chế độ về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có ý nghĩa rất quan trọng, cụ thể:

- Là căn cứ để mỗi doanh nghiệp xác định sát và đúng chi phí nhân công, tổng mức tiền lương phải chi trả cho người lao động theo các trường hợp làm việc và nghỉ ngơi khác nhau

- Người lao động biết rõ chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi sẽ chủ động

bố trí quỹ thời gian cá nhân hàng ngày, hàng tuần, hàng năm, từ đó càng tự giác tuân thủ

kỷ luật và nội quy lao động của doanh nghiệp

- Chế độ thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi là căn cứ pháp lý để thanh tra lao động nói riêng và cơ quan phụ trách quản lý lao động nói chung làm chức năng bảo vệ việc thực hiện pháp luật lao động nghiêm minh, hướng dẫn tổ chức lao động hợp lý cho các nơi sử dụng lao động

1.9 Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thời giờ làm thêm giờ?

CSPL: Điều 107; Điều 108; Điều 98; Khoản 1 Điều 137; Khoản 1,2 Điều 146; Khoản 1 Điều 160 BLLĐ 2019

Dựa vào những quy định trên, chúng ta thấy được BLLĐ 2019 đã xem xét và cân nhắc kỹ hơn đến quyền quyết định của các bên đối với việc làm thêm giờ; bảo đảm sức khỏe, tính mạng của người lao động nói riêng và lực lượng lao động của xã hội nói chung; quy định cụ thể các trường hợp làm thêm giờ, cách tính lương làm thêm giờ và các trường hợp không được làm thêm giờ

Tuy nhiên, trong bộ luật chưa có sự cân nhắc đối với người lao động lớn tuổi về vấn đề tăng ca, và vấn đề tính tiền lương tăng ca chưa thật sự rõ ràng khi tăng ca vào các ngày lễ dễ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau khiến mỗi chủ thể sử dụng lao động có

Trang 6

cách áp dụng và thực hiện khác nhau, dẫn đến chưa đảm bảo được quyền lợi bình đẳng giữa người lao động với nhau

Ngoài ra, Điều 108 có quy định về trường hợp làm thêm giờ đặc biệt, nhưng lại không nói rõ là trường hợp này có được tính giờ vào quỹ tích 200 giờ/1 năm hay 300 giờ/1 năm hay không, dẫn đến nhiều trường hợp còn ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động

Vì vậy, có thể thấy, mặc dù các nhà làm luật đã bỏ công sức để đưa bộ luật vào gần gũi với cuộc sống của người dân hơn, nhưng việc áp dụng vào thực tiễn còn nhiều bất cập

từ nhiều phía, nên dù luật đã có quy định rõ ràng thì vẫn không tránh được việc quyền lợi của người lao động bị ảnh hưởng khi nhắc đến vấn đề làm thêm giờ

1.10 Đánh giá thực trạng thực hiện chế độ nghỉ hàng năm của NSDLĐ?

Theo Điều 113, Điều 114 BLLĐ 2019 về chế độ nghỉ hằng năm của NLĐ như sau:

“Điều 113 Nghỉ hằng năm

1 Người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

a) 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

b) 14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;

c) 16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

2 Người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc.

3 Trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết

số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.

4 Người sử dụng lao động có trách nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động biết Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.

5 Khi nghỉ hằng năm mà chưa đến kỳ trả lương, người lao động được tạm ứng tiền lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật này.

6 Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.

7 Chính phủ quy định chi tiết điều này.

Trang 7

Điều 114 Ngày nghỉ hằng năm tăng thêm theo thâm niên làm việc

Cứ đủ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này được tăng thêm tương ứng 01 ngày.”

Có thể thấy pháp luật quy định về việc nghỉ hàng năm rõ ràng và khá hoàn chỉnh Tuy nhiên, hiện nay tình trạng vi phạm về nghỉ hàng năm của doanh nghiệp ngày càng phổ biến Dù trong hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động với người sử dụng lao động vẫn có các điều khoản quy định về chế độ nghỉ hàng năm mà vẫn được hưởng lương, nhưng trên thực tế, người sử dụng lao động lại đặt ra những quy định khác gây khó khăn hoặc dựa vào việc người lao đông ít trình độ, phần đông còn kém trong việc nắm rõ quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi của mình, để từ đó làm hạn chế việc nghỉ hàng năm của người lao động khiến cho họ có phép mà không được nghỉ hoặc không dám sử dụng, hoặc cũng không biết rằng họ được hưởng quyền nghỉ hằng năm,

Bên cạnh đó hình thức quy định nghỉ hằng năm lại được một số doanh nghiệp, công ty biến tướng thành một dạng “lương thưởng” Việc tự ý biến đổi này làm mất đi ý nghĩa vốn có của quy định nghỉ hằng năm mà pháp luật ban hành Khoảng thời gian nghỉ hằng năm là khoảng thời gian tạo điều kiện cho người lao động có thời gian nghỉ ngơi, tái tạo lại sức lao động, đồng thời đó cũng là quyền lợi riêng tùy vào nhu cầu cá nhân của người lao động Việc người sử dụng lao động tự ý biến chuyển ý nghĩa của quy định về việc nghỉ hằng năm sẽ vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động

II BÀI TẬP TÌNH HUỐNG:

2.1 Tình huống 1:

Chị B làm việc trong điều kiện lao động bình thường, với thâm niên làm việc tính đến ngày 31/12/2020 là 11 năm 9 tháng Hãy tính số ngày nghỉ hàng năm của chị B trong năm 2020?

Trả lời:

Chị B làm việc trong điều kiện lao động bình thường, với thâm niên làm việc là 11 năm 9 tháng vì thế cho nên:

- Chị B được nghỉ 12 ngày (theo quy định nghỉ việc hằng năm trong điều kiện lao động bình thường điểm a Khoản 1 Điều 112 LLĐ)

- Chị B được nghỉ thêm 2 ngày (do chị có thâm niên làm việc là 11 năm 9 tháng, theo Điều 114 LLĐ cứ 05 làm việc tương ứng số ngày nghỉ hằng năm tăng thêm 1 ngày)

 Vậy tổng số ngày nghỉ hằng năm của chị B trong năm 2020 là 14 ngày

2.2 Tình huống 2:

Ông A là người làm việc theo hợp đồng lao động tại Doanh nghiệp Z Ông có quá trình công tác như sau:

Từ 1/1/1980 đến 31/12/1992 : làm việc tại Xí nghiệp quốc doanh X;

Trang 8

Từ 1/1/1992 đến 31/12/1999 : làm việc tại Doanh nghiệp tư nhân Y;

Từ 1/1/2000 trở đi : làm việc tại Doanh nghiệp Z

Hãy xác định số ngày nghỉ phép của ông A trong năm 2020

Biết rằng: Ông A làm việc trong điều kiện lao động bình thường; Trong năm 2020, ông đã nghỉ ốm 4 tháng.

Trả lời:

Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 113 BLLĐ 2019 về Nghỉ hằng năm

“1 Người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

a) 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường”

Theo như điều trên thì ngày nghỉ ông A được nghỉ hằng năm là 12 ngày Tuy nhiên

Điều 114 quy định đối với ngày nghỉ hằng năm tăng thêm theo thâm niên làm việc: “Cứ

đủ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này được tăng thêm tương ứng 01 ngày”

Vậy ông A làm việc ở doanh nghiệp Z từ 1/1/2000 đến năm 2020 là 20 năm nên ngày nghỉ hằng năm của ông A tăng thêm 4 ngày Vậy số ngày nghỉ phép của ông A trong năm 2020 là 16 ngày

Còn về chế độ nghỉ khi ông A ốm sẽ được thực hiện theo chế độ ốm đau mà Luật Bảo hiểm xã hội quy định Cụ thể là Điều 26 Luật Bảo hiểm xã hội 2014

2.3 Tình huống 3: Tư vấn xây dựng phần TGLV-TGNN trong NQLĐ sau:

Điều x Thời gian làm việc và thời gian nghỉ giải lao

Thời gian làm việc không vượt quá 48 giờ một tuần Thời gian biểu làm việc của người lao động sẽ được công bố hàng năm và thông báo cho tất cả người lao động trong Công ty

Hiện tại, thời gian làm việc của Công ty được quy định như sau:

Thời Gian Làm Việc Theo Ca Thời gian biểu làm việc theo

Tổng số ngày làm việc trong 2

tuần liên tiếp: 7 ngày Trong

đó:

Tuần thứ nhất: 4 ngày làm

việc, 3 ngày nghỉ;

Tổng số ngày làm việc trong

một tháng: 14–15 ngày

Ca ngày:

6.00 – 18.00

Mỗi ca làm việc bao gồm 3 lần nghỉ giải lao do trưởng ca sắp xếp Trong đó:

Lần nghỉ thứ nhất: 15 phút;

Lần nghỉ thứ hai: 30 phút;

Lần nghỉ thứ ba: 15 phút

Ca đêm:

18.00 – 6.00

Trang 9

Thời Gian Làm Việc Bình Thường (Không Theo Ca) Ngày làm việc bình thường

Thứ Hai đến Thứ Sáu

Giờ làm việc Giờ làm việc Giờ nghỉ 8.00 – 17.00 12.00 – 13.00

Điều (x+1) Thời giờ làm thêm giờ (chỉ áp dụng cho công nhân làm việc theo ca)

1 Thời giờ làm thêm giờ được hiểu là thời gian làm việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động vượt quá mức 48 giờ/tuần Đối với công nhân làm việc theo ca, thời giờ làm thêm giờ có thể bao gồm các ca làm thêm có độ dài lên đến 12 giờ với điều kiện là công nhân sẽ không bị yêu cầu làm thêm quá 2 ca trong một tuần

Điều y Nghỉ Hàng Năm

1 Công ty quy định thời gian nghỉ hàng năm có hưởng lương cho Người Lao Động có đủ

12 tháng làm việc trong một năm dương lịch, tính từ đầu năm như sau:

Từ năm làm việc thứ nhất đến năm thứ ba 14 ngày làm việc

Từ năm làm việc thứ tư đến năm thứ bảy 16 ngày làm việc

Từ năm làm việc thứ tám trở lên 20 ngày làm việc

2 Ngay khi vào làm việc, tất cả người lao động mới được tuyển dụng có thể nghỉ hàng năm theo tỷ lệ tương ứng với thời gian làm việc trong năm đó Tuy nhiên, Công ty rất khuyến khích những người lao động như vậy hạn chế nghỉ hàng năm trong 3 tháng làm việc đầu tiên để tập trung cho việc hòa nhập với môi trường làm việc

3 Công ty không cho phép chuyển ngày nghỉ hàng năm của năm này sang năm khác Những ngày chưa nghỉ hàng năm của mỗi năm sẽ bị mất vào cuối năm dương lịch đó Người lao động sẽ không được trả lương cho những ngày chưa nghỉ hàng năm, trừ trường hợp bị chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tự chấm dứt hợp đồng lao động mà chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm tính đến ngày làm việc cuối cùng, và trong trường hợp này, người lao động sẽ được trả một khoản tiền tương đương với tiền lương thông thường của người lao động trong những ngày chưa nghỉ hàng năm đó

Trả lời:

◙ Đối với Điều x Thời gian làm việc và thời gian nghỉ giải lao

Thời gian làm việc ca ngày.

Quy định tại Khoản 1, 2 Điều 105 BLLĐ 2019 về Thời giờ làm việc bình thường

“Điều 105 Thời giờ làm việc bình thường

1 Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.

2 Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.”

Trang 10

Theo điều X, công ty quy định giờ làm việc theo ca ngày từ 6:00-18:00 đã vượt quá 8 giờ làm việc trong 1 ngày, Hoặc ít hơn 10h/ ngày nhưng không quá 48h trong 1 tuần đối với điều kiện làm việc bình thường Công ty cần điều chỉnh lại thời giờ làm việc bình thường

Tại Khoản 2 Điều 109 BLLĐ 2019 về Nghỉ trong giờ làm việc: “2 Ngoài thời gian nghỉ quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động bố trí cho người lao động các đợt nghỉ giải lao và ghi vào nội quy lao động.” Theo Điều X, không đề cập

đến thời gian nghỉ giữa ca, điều này là chưa phù hợp Công ty cần bổ sung thêm thời gian nghỉ giữa ca và điều chỉnh lại thời gian nghỉ giải lao và thời gian nghỉ giữa ca cho phù hợp

Thời gian làm việc ban đêm.

Theo Điều 106 BLLĐ 2019 về Giờ làm việc ban đêm: “Giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau.” Nhưng tại Điều X quy định thời gian

làm việc ca đêm từ 18:00 – 6:00 là trái với quy định pháp luật Vì vậy, Công ty cần điều chỉnh lại giờ làm việc ca đêm 22:00-6:00

Theo Khoản 1 Điều 109 BLLĐ 2019 về Nghỉ trong giờ làm việc: “… Làm việc ban đêm thì được nghỉ giữa giờ ít nhất 45 phút liên tục.” Trong nội quy Công ty không

quy định thời gian nghỉ giữa giờ 45 phút liên tục cho ca đêm Vì vậy, Công ty cần điều chỉnh thêm thời gian nghỉ giữa giờ 45 phút liên tục, để đảm bảo quyền lợi của người lao động làm việc vào ban đêm

Thời gian làm việc bình thường.

Quy định về thời gian nghỉ 60 phút và thời gian làm việc 8 tiếng phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 105 BLLĐ 2019 Về thời giờ làm việc bình thường và Khoản 1 Điều 109 BLLĐ 2019 về Nghỉ trong giờ làm việc

◙ Đối với Điều (x+1) Thời giờ làm thêm giờ (chỉ áp dụng cho công nhân làm việc

theo ca)

Căn cứ theo điểm b Khoản 2 Điều 107 BLLĐ 2019: “Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc và

số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày, không quá 40h trong 01 tháng” Vì vậy,

với nhận định thời giờ làm thêm là thời giờ làm việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động vượt quá mức 48h/tuần Đối với công nhân làm việc theo ca, thời giờ làm thêm giờ

có thể bao gồm các ca làm thêm có độ dài lên đến 12 giờ với điều kiện là công nhân sẽ không bị yêu cầu làm thêm quá 2 ca trong một tuần là không hợp lý và không đúng với quy định của pháp luật Theo đó, sẽ không phải là quá 2 ca/tuần, suy ra không làm quá 8 ca/tháng, vì vậy trong 1 tháng không làm quá 96 giờ Do đó, quy định trên không đáp ứng điều kiện thời gian làm thêm “không quá 40h/tháng Vì vậy, công ty cần lưu ý bổ sung thêm điều này để đảm bảo quyền và lợi ích của công nhân, không vi phạm quy định BLLĐ 2019

◙ Đối với Điều y Nghỉ Hàng Năm

Ngày đăng: 05/10/2021, 15:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w